Bữa Tiệc Chia Đôi
Tiếng máy đuôi tôm tám ngựa nổ giòn từng chập, tiếng pít-tông gõ đều đặn vào lòng xi-lanh sắt nghe êm như tiếng chày vồ giã gạo xa xa mé vườn chuối. Hơi nhớt mới âm ấm phả ra từ khe buồng máy quyện với mùi bùn non sực lên từ đáy sông Cái Mít lúc con nước ròng sát đáy. Duyên ngồi thụp nơi bậc ván sàn khoang sau, hai bắp chân còn mỏi nhừ sau một buổi chiều phụ Chú Tư ghì mỏ lết canh lại độ rơ của cốt láp. Bàn tay mặt của cô hãy còn vương mấy vệt mỡ bò nâu đen cáu cặn vào kẽ móng, mùi xăng thơm nồng chưa kịp bay hết thì chiếc điện thoại cục gạch nhét trong túi áo bà ba đã run bần bật, kèm theo tiếng chuông reo the thé đến sốt ruột.
Duyên rút điện thoại ra, ngón tay cái quẹt vội vào mép ống quần cho đỡ trơn rồi bấm nút nhận. Chưa kịp đưa ống nghe sát vành tai, giọng cô Sáu đã từ đầu dây bên kia tràn qua màng loa, xối xả như nước đổ khỏi máng xối:
“Duyên đó hả con? Bữa nay máy ghe nổ êm rơ thiệt rồi há? Tao đứng bên hàng rào dâm bụt nghe tiếng máy xuôi dòng mà mừng giùm cho hai đứa bay! Thiệt phước đức ông bà phù hộ dữ hôn! Nè, dẹp đồ nghề qua một bên đi, tao có mối tiệc thơm phức tới chân mày đây nè. Thằng cháu họ xa của tao, thằng Sang thợ hồ đó, mới cất xong cái nhà tường đàng hoàng ngoài vàm ngã ba rạch. Nó tính làm năm bàn tiệc tròn trĩnh năm mươi người đãi chòm xóm với cánh thợ hồ trưa mốt. Tao biểu nó khỏi đi kiếm đâu cho nhọc xác, kêu chiếc ghe con Duyên với thằng Bình vô nấu là nhứt xứ Cái Mít, vừa độc lạ sông nước vừa mát ruột người ăn. Năm mươi phần thôi, tụi bay nấu cái rụp là xong, lấy lại tiếng tăm bữa trước liền chớ có gì đâu!”
Duyên đứng tựa lưng vào mép be xuồng bằng gỗ sao chai đã lên nước bóng láng. Gió chướng thổi thốc từ vàm sông vô làm mấy ngọn dừa nước mé rạch dập dềnh xào xạc. Nghe trọn hai chữ “năm mươi người” từ cái miệng liến thoắng của cô Sáu, sống lưng Duyên bất giác giật thót một cái, lạnh toát như thể có ai vừa lén thả tảng nước đá vụn dọc sống áo bà ba ướt đẫm mồ hôi.
Bao nhiêu hình ảnh nhục nhã của buổi tiệc họ Phan dạo nọ tức khắc vụt hiện về, rõ mồn một tới từng chân tơ kẽ tóc. Cũng khoảng sân gạch tàu đỏ au mé sông đó, cũng cái giọng rủ rỉ “chỗ người quen xóm giềng giúp nhau là chánh”, để rồi ba mươi tám con người lục tục kéo tới ngồi chật ních, dồn hai cái bếp khè đôi dưới khoang ghe vô thế nghẹt thở. Nước sôi không kịp bốc hơi, dầu chiên không kịp nóng, khách ngồi trên bờ gõ đũa đôm đốp giục món, thằng Bình luống cuống tới mức gà luộc không kịp chín tới xương phải chặt vụn ra đơm đầy đĩa cho khuất mắt, mớ đĩa sứ men lam mượn của hàng xóm trơn dầu trượt khỏi tay rớt xuống sàn gạch vỡ toang từng mảnh. Rồi tàn tiệc, cô Sáu đứng chặn ngay cổng rào ngã ba, đè đầu hai đứa thu nóng tám trăm ngàn tiền đền đĩa vỡ lẫn tiền điện bơm nước giếng khoan. Sau cái đám đó, chiếc bọc sắt cất dưới đáy rương cạn queo, hai đứa lủi thủi chèo ghe về bến vắng với vỏn vẹn ba trăm ngàn bạc tiền lời rách mép, nuốt miếng cơm chan nước mắt nghẹn ứ nơi cuống họng.
Duyên hít sâu một hơi, lồng ngực phập phồng ép chặt vào mép be gỗ. Cô nén giọng lại thật trầm, thật vững, không còn cái điệu đon đả nhận bừa để lấy lòng như mấy bận trước:
“Cô Sáu à. Tiệc năm mươi suất là năm mâm lớn ngồi tại chỗ. Con với thằng Bình phải mở cuốn sổ tay tính toán lại tải trọng cái ghe, coi lượng nước ngọt chở nổi bao nhiêu can với đồ nghề xoong chảo chịu thấu không đã. Đúng một tiếng đồng hồ nữa, con chạy ghe qua bến nói chuyện đàng hoàng với cô.”
“Trời đất quỷ thần ơi, tiệc tới tận miệng cá mà còn bày đặt tính với toán!” Giọng cô Sáu chép miệng qua điện thoại nghe rõ mồn một vẻ bực dọc, kèm theo tiếng quạt nan phành phạch. “Thì nhận đại đi cho rồi, tao giữ cái sân gạch cho, hổng ừ lẹ là thằng Sang nó ngoắc mối nấu tiệc trên chợ Cái Răng vô làm đó đa! Tới chừng đó ngồi ngó bến sông mà tiếc!”
“Dạ, trễ nửa tiếng mà chắc bụng còn hơn nhận ẩu nhận bừa rồi giữa chừng bể tiệc người ta cô ơi. Tụi con làm ăn lâu dài chớ đâu phải bữa một bữa hai. Một tiếng nữa con qua.”
Nói dứt câu, Duyên ngắt máy cái rụp, dứt khoát không để cho bà thím kịp buông thêm một câu chèo kéo nào nữa. Tiếng bíp kéo dài rồi tắt ngấm. Cô quay ngoắt người bước thụp vào khoang giữa, nơi Bình đang ngồi chồm hổm dùng chiếc giẻ lau khô cọ từng vết ố nước trên nắp chiếc xửng hấp năm đáy bằng nhôm Hải Phòng.
Bình ngẩng mặt lên, đưa bắp tay áo lau vệt mồ hôi đang rịn thành giọt bên thái dương, ánh mắt dò xét chĩa thẳng vào Duyên. Hồi nãy đứng trong khoang hẹp, tiếng loa điện thoại the thé của cô Sáu rọt rẹt vang ra mé sông, anh đã nghe không sót một tiếng nào.
“Cô Sáu gọi mối tiệc tân gia năm chục người ngoài ngã ba hả?” Bình hỏi, giọng có phần dè dặt, tay vẫn cầm chiếc kẹp sắt gõ nhẹ nhịp đều đều lên vành xửng nhôm.
“Ừ. Năm mươi suất ăn ngồi bàn. Trưa ngày mốt làm.” Duyên ngồi bệt xuống vạt sàn gỗ mui ghe đã được chà sạch, lôi trong cái túi vải dù bạc màu ra cuốn sổ tay bìa bọc ni-lông kẻ sọc với cây bút bi bấm màu xanh đã mòn gãy mất phần cài nắp. “Bình, bỏ cái giẻ lau đó xuống đi. Lại đây ngồi tính với tao cho ra ngô ra khoai. Tuyệt đối không có cái thói ậm ừ nhận liều cho người ta vừa lòng nữa.”
Hai cái đầu chụm lại sát mép trang giấy kẻ ô li đã ngả màu ố vàng vì hơi ẩm sông nước. Bình thò tay vô giỏ mây đựng đồ gia vị, rút ra cây thước lá bằng thép đã lốm đốm vết sét, đặt cái “chát” lên mặt sàn gỗ:
“Mày coi nè Duyên. Ghe mình dài đúng chín mét phủ bì, nhưng khoang bếp thực tế chỉ có bốn mét vuông đổ lại. Hai cái lò khè đôi chiếm đứt một góc, mặt bàn sơ chế bằng tôn kẽm bọc gỗ dài có thước hai, hai người đứng xoay lưng là đụng cùi chỏ nhau bôm bốp. Nước ngọt dự trữ tối đa dưới lườn ghe chở nổi bốn can ba mươi lít—trăm hai chục lít nước đó, tao tính kỹ rồi, chỉ đủ cho mày rửa sạch mớ rau củ với tráng sơ năm mươi suất thịt cá là cạn tới đáy can. Rồi lấy đâu ra nước mà xối rửa năm mươi bộ chén dĩa, tô bàn muỗng đũa? Chưa kể cái tải trọng bữa trước Chú Tư cảnh cáo rồi: ba mươi suất cơm phần là kịch kim cho một con nước. Nếu mình nổi máu tham ôm trọn năm mươi suất tiệc ngồi bàn, vừa chiên xù cá tai tượng cho giòn vảy, vừa xào lăn thịt bò, vừa nấu lẩu cá, vừa chặt giò heo... hai cái lò khè sẽ nghẹt lửa, ghe mình sẽ chìm trong khói mỡ và vỡ trận y chang cái đám giỗ họ Phan. Mày còn nhớ cái cảnh đứng trơ mắt ngó nồi nước luộc gà nguội ngắt giữa trưa nắng chang chang hông?”
Duyên cắn chặt môi dưới, ngón tay cái miết mạnh lên mép cuốn sổ đến mức móng tay trắng bệch ra:
“Tao nhớ. Tao nhớ tới ngày tao nhắm mắt xuôi tay chớ làm sao quên nổi! Bữa đó tao nhục tới mức muốn nhảy mẹ xuống sông Cái Mít lặn một hơi cho khuất mắt bà con. Cho nên tao hổng có khùng mà đi ôm trọn gói một mình nữa.” Duyên cầm cây bút bi, gạch một đường mực xanh dứt khoát xẻ đôi trang giấy trắng thành hai cột rõ rệt. “Mày coi tao phân tích nè. Điểm mạnh lớn nhứt của cái ghe bếp mình là cái gì? Là đi đường nước luồn sâu vô rạch nhỏ, máy đuôi tôm mới làm lại cốt chạy ngọt xáng, chở đồ nặng lướt êm ru không tốn một đồng tiền xe ba gác. Và quan trọng nhứt là hai cái xửng năm đáy này, tận dụng hơi nước sôi trên sông bốc lên hừng hực, hấp đồ rất lẹ và giữ nhiệt cực kỳ sâu. Còn điểm yếu chí mạng của mình là gì? Không có mặt bằng chiên xào quy mô lớn, không đủ nước ngọt để rửa năm mươi bộ đồ ăn dơ, và hai đứa mình không có ba đầu sáu tay để vừa đứng chảo vừa bưng mâm chạy bàn trên bờ dốc trơn trượt.”
Bình chớp mắt, ánh nhìn chăm chú dõi theo từng nét chữ Duyên vừa vạch xuống trang giấy:
“Ý mày là... ghe mình chỉ nhận đúng phần việc nào nhẹ tải, lấy sở trường đè sở đoản?”
“Chớ sao nữa! Ghe mình chỉ kham đúng các món hấp và món tráng miệng. Món thứ nhứt: giò heo cuộn thảo mộc hấp nấm đông cô với hạt sen. Món thứ hai: cá chẽm hấp tàu xì hoặc làm món khai vị bánh bao chỉ hấp nóng. Món tráng miệng làm rau câu cốt dừa ba màu hấp cách thủy. Toàn bộ là đồ dùng hơi nước, sơ chế sạch sẽ từ bến nhà từ sáng sớm tinh sương, trữ vô thùng giữ nhiệt mang tới nơi chỉ việc nổi lửa canh đồng hồ là chín tới, da thịt bóng lộn không hao một giọt dầu mỡ. Còn toàn bộ các món dầu sôi lửa bỏng, đồ chiên xù cần chảo gang lớn, đồ xào nóng dọn liền tay ra bàn, cộng với năm mươi bộ bàn ghế chén muỗng... phải có người gánh trên bờ.”
Bình ngập ngừng một thoáng, đốt ngón tay gõ nhè nhẹ lên cây thước lá, mắt lóe lên vẻ e ngại:
“Người trên bờ? Ý mày muốn nói tới... chị Liên ngoài bến Cái Răng?”
“Chớ miệt này còn ai có cái bếp bờ vững vàng hơn chị Liên nữa!” Duyên gập cuốn sổ cái “bốp”, đứng phắt dậy, vạt áo bà ba bay phần phật theo luồng gió chướng. “Bếp bờ của chị Liên rộng thênh thang, có lò xào gang đôi ba ngọn lửa, có sẵn kho chén dĩa sành sứ trắng tinh cả trăm bộ, lại có đội thợ phụ bốn năm bà quen tay nhổ lông vịt lặt rau rào rạo. Mày vừa qua phụ chảo bên bến chị hai ngày trước, chị biết rõ nết làm sạch sẽ của mày. Bây giờ tụi mình nổ máy qua gặp chị Liên liền. Nói chuyện làm ăn sòng phẳng chớ không xin xỏ gì hết!”
***
Mười lăm phút sau, chiếc ghe bếp rẽ sóng rời khỏi lạch nước Cái Mít, lướt êm ru ra con rạch lớn dẫn thẳng về bến chợ Cái Răng. Buồng máy mới thay cốt chạy giòn tan, không còn một tiếng gõ lạch cạch hay mùi khét lẹt của vòng bi khô mỡ. Bến sông trước cơ sở nấu tiệc của Đỗ Thị Liên lát xi măng phẳng lì, thoai thoải dốc xuống mé nước, ghe xuồng chở rau củ quả và củi khô từ miệt vườn đổ về dập dìu.
Bước lên bậc tam cấp xi măng mát rượi, đập vào mắt Duyên là gian bếp bờ rộng gần trăm mét vuông, lợp tôn lạnh cao ráo và thông thoáng. Đỗ Thị Liên vận bộ đồ bà ba đen tuyền, vạt áo giắt gọn bên hông lườn, mái tóc dày búi củ tỏi sau gáy bằng chiếc kẹp đồi mồi sáng bóng. Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, nước da bánh mật rắn rỏi, đang đứng tựa một bên bàn inox dài bốn thước, tay cầm chiếc muỗng gang cán dài gõ đều đặn vào thành chảo, miệng chỉ đạo rành rọt bốn cô thợ phụ đang ngồi quanh mấy thau nhôm lớn nhổ lông vịt xiêm và gọt củ năng thoăn thoắt.
Mùi mỡ heo thắng giòn rụm, mùi hành phi thơm lừng quyện với mùi ớt sừng xắt sợi cay nồng bốc lên đặc quánh cả gian bếp. Tiếng dao thớt chạm nhau “chanh chách”, tiếng nước xối từ vòi máy bơm chảy ào ào át cả tiếng sóng vỗ ì oạp dưới chân cầu tàu.
Thấy bóng Duyên và Bình bước chân lên ngạch cửa, Liên buông chiếc kẹp thịt xuống khay inox, đưa cặp mắt sắc như dao cau quét một lượt từ đầu tới chân hai đứa, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười nửa giễu cợt nửa dò xét:
“Ủa, hai đứa tụi bay mới sửa máy đuôi tôm xong mà rảnh rỗi ghé qua giang sơn của tao chi vậy? Thằng Bình tính xin qua đứng chảo thêm mấy đám nữa hả? Bữa trước tao thấy mày đứng chảo xào dĩa mực tươi cũng coi được nước lắm đó, có điều cái nết nêm nếm còn nặng tay đường dữ quá, tao phải lén dằn thêm muỗng muối hột với chút nước mắm nhĩ mới vừa cái miệng ăn mặn mòi của dân miệt sông này.”
Bình gãi gãi mái tóc còn vướng chút bụi khói, cười bẽn lẽn chưa kịp thưa thì Duyên đã đĩnh đạc bước lên nửa bước, hai tay ôm cuốn sổ bọc ni-lông trước bụng, cất giọng rành mạch:
“Dạ, tụi em chào chị Liên. Tụi em ghé qua đây hổng phải để xin chân phụ bếp đứng chảo, mà là đem mối tới bàn chuyện làm ăn sòng phẳng, chia việc đôi bên cùng có lợi với chị.”
Liên nhướng đôi lông mày lá liễu cong vút, với tay lấy chiếc khăn bông trắng giắt bên hông tạp dề lau chậm rãi từng ngón tay còn dính dầu:
“Bàn chuyện làm ăn? Chiếc ghe bếp cỏn con của tụi bay bữa nay lớn gan dữ há, dám chạy thẳng tới cơ sở Đỗ Thị Liên này rủ hợp tác luôn? Nói nghe coi, gió chướng phương nào thổi tụi bay tới đây?”
“Lớn gan thì hổng dám, nhưng biết mình biết ta chị ơi,” Duyên bình thản đáp, kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ mít đặt đối diện mép bàn inox của Liên rồi ngồi xuống, đặt cuốn sổ tay ngay ngắn lên mặt kim loại láng bóng. “Cô Sáu ngoài ngã ba rạch Cái Mít vừa gọi mối tiệc mừng tân gia năm mươi suất cho trưa mốt. Ngân sách chủ nhà khoán đứt là sáu triệu đồng trọn gói năm bàn. Ghe bếp của tụi em tải trọng chỉ kham nổi ba mươi suất độc lập, nếu tham lam ôm trọn năm mươi suất là tụi em tự nhận án tử, chìm ghe bể tiệc như chơi. Cho nên tụi em tới đây đề xuất chia đôi bữa tiệc này với cơ sở của chị.”
Liên ngồi xuống chiếc ghế dựa bọc nệm đối diện, khoanh hai cánh tay chắc nịch trước ngực, ánh mắt sắc lẹm găm thẳng vào mắt Duyên:
“Chia thế nào? Nói tao nghe coi tụi bay tính khôn tới cỡ nào? Đừng có giở cái thói khôn lỏi của mấy đứa mới vô nghề ra đây nghen con.”
“Dạ, không có khôn lỏi khôn ranh gì hết chị, tụi em tính rành mạch theo đúng thế mạnh thực tế,” Bình bước tới cạnh Duyên, giọng anh trầm xuống nhưng dứt khoát lạ thường, không còn cái vẻ rụt rè của một thằng phụ bếp ngày nào. “Bếp bờ của chị Liên có chảo gang quân dụng lớn, có lò khè công nghiệp ba họng, có thợ phụ chuyên nghiệp và có sẵn kho chén dĩa năm chục bộ đồng màu đồng chất. Chị ôm toàn bộ các món chiên xào nặng lửa: gỏi ngó sen tôm thịt, bò né bông thiên lý, cá tai tượng chiên xù sốt me. Toàn bộ chén dĩa, muỗng đũa, ly tách do chị mang tới và đội phụ của chị rửa dọn sạch sẽ bằng nguồn nước máy trên bờ. Còn chiếc ghe bếp của tụi em đảm nhận trọn gói ba món hấp: bánh bao chỉ khai vị, giò heo cuộn thảo mộc hấp nấm hạt sen, và món tráng miệng rau câu ba màu nước cốt dừa. Ngoài ra, ghe tụi em kiêm luôn khâu bốc dỡ và chuyển toàn bộ bàn ghế inox, xoong chảo nặng từ bến Cái Răng này vô tận vàm ngã ba rạch bằng đường thủy. Chị khỏi tốn một đồng tiền mướn xe ba gác chạy đường đất gập ghềnh vừa xóc vừa gãy dĩa.”
Gian bếp bỗng chốc lặng ngắt. Mấy cô thợ phụ nhổ lông vịt cũng bất giác ngưng tay, ngước mắt ngó lên bàn trên. Liên im lặng hồi lâu, đôi mắt đảo qua đảo lại giữa vẻ điềm tĩnh của Duyên và dáng đứng vững chãi của Bình. Ngón tay trỏ của bà chủ bếp bờ khẽ gõ nhịp đều đặn trên mặt bàn inox, phát ra những tiếng “cắc, cắc, cắc” khô khốc, đanh gọn:
“Năm mươi suất. Bếp tao lo chiên xào nặng lửa, gánh chén dĩa, gánh chân chạy bàn. Ghe tụi bay lo đồ hấp, tráng miệng, kiêm chân cửu vạn đường thủy. Nghe qua thì xuôi tai, rất hợp lý hợp tình. Nhưng tiền bạc chia chác thế nào? Tao nói trước cho hai đứa bay biết, tao ghét cay ghét đắng cái thói làm ăn mập mờ, chia công kiểu huề cả làng rồi tới chừng hụt tiền lại nhìn mặt nhau như quân thù quân hằn.”
“Dạ, chính vì sợ mập mờ nên tụi em mới ghi chi li từng cọng hành củ tỏi vô đây,” Duyên mở cuốn sổ tay ra ngay trang kẻ cột dự toán, xoay ngược mặt giấy về phía Liên. “Ngân sách sáu triệu. Trừ tiền thuê khoảng sân gạch có mái che và tiền điện nước bơm giếng trả đứt cho cô Sáu bốn trăm ngàn đồng. Còn lại năm triệu sáu trăm ngàn. Bếp chị Liên gánh ba món chính nặng lửa, công thợ phụ dọn rửa và khấu hao chén dĩa, nhận ba triệu bốn trăm ngàn đồng. Ghe bếp của em gánh ba món hấp, tráng miệng, tiền dầu máy vận chuyển hai chiều và công bếp ghe, nhận hai triệu hai trăm ngàn đồng. Tỉ lệ chia đúng sáu mươi - bốn mươi, không ai lấn của ai một cắc. Tiền cọc bốn mươi phần trăm khách đưa chiều nay, chị giữ sáu mươi, em giữ bốn mươi để sáng mai cùng đi chợ đầu mối. Hợp đồng ba bên phải ký giấy trắng mực đen ngay tại sân nhà cô Sáu chiều nay.”
Liên cúi đầu, dán mắt vào từng dòng chữ nắn nót, từng con số cộng trừ rõ ràng, thẳng tắp trong cuốn sổ của Duyên. Đôi mày lá liễu của người đàn bà dạn dày sương gió bỗng giãn ra. Bà bật cười một tiếng giòn tan trong cổ họng:
“Con nhỏ này... coi bộ sau trận đòn bữa trước mày biết sợ và biết khôn ra rồi đó! Được! Tính toán sòng phẳng như vậy tao mới chịu nói chuyện. Thằng Bình, dọn đồ đạc lên ghe đi. Đi ra sân mụ Sáu lập giao kèo ba bên liền bây giờ. Để tao coi mụ Sáu tính giở cái trò đè đầu cưỡi cổ gì với tao!”
***
Đúng ba giờ chiều, cái nắng vàng hanh đổ dài trên khoảng sân gạch tàu đỏ au của nhà cô Sáu mé vàm ngã ba rạch Cái Mít. Dưới bóng mát của giàn hoa giấy tím rịm đan xen mái tôn che nắng, một chiếc bàn tròn inox đã được kê ngay ngắn ra giữa sân.
Cô Sáu ngồi ở đầu bàn, tay phe phẩy chiếc quạt nan đan bằng lá dừa, trố mắt nhìn ba người vừa bước lên từ mé bến. Đỗ Thị Liên ngồi chễm chệ một bên, chiếc túi da đựng sổ sách dày cộp dằn mạnh lên mặt bàn; Duyên và Bình ngồi ngay ngắn một bên, tờ giấy tập kẻ ngang hai mặt chi chít chữ đã được viết sẵn từng điều khoản chi tiết đặt ở giữa.
“Gượm đã... tụi bay làm cái giống gì mà rần rần rộ rộ kéo cả bầy qua đây vậy?” Cô Sáu đập mạnh quạt nan xuống bắp đùi, giọng the thé vẻ khó chịu. “Tao gọi con Duyên nhận nấu tiệc cho thằng cháu tao, tự dưng kéo con Liên qua đây chi cho chật sân? Lại còn giấy tờ ký tên điểm chỉ y như mấy ông công chứng ngoài huyện về phân chia gia tài vậy trời!”
“Sáu à,” Liên cất giọng lạnh tanh, ngón tay sơn móng đỏ chỉ thẳng xuống mặt bàn. “Thời buổi này gạo châu củi quế, không có cái chuyện ậm ừ rồi cuối buổi tiệc đè đầu tụi nhỏ tính ba cái phụ phí tào lao như đợt đám giỗ họ Phan nữa đâu nghen. Muốn tiệc tùng êm đẹp, mặt bằng trơn tru thì ba bên phải ngồi xuống chốt từng con số cho rành mạch. Duyên, đọc mấy khoản tao với mày đã gút lại cho Sáu nghe coi!”
Duyên hắng giọng một tiếng, cầm tờ giấy tập lên, đọc rành rọt từng chữ bằng chất giọng dõng dạc:
“Khoản thứ nhứt: Tiền thuê khoảng sân gạch có mái che từ sáu giờ sáng tới mười bốn giờ chiều ngày mốt là ba trăm ngàn đồng tiền tươi trả liền. Khoản thứ hai: Tiền điện thắp sáng quạt máy và nước giếng bơm bồn phục vụ sơ chế rửa ráy khoán đứt một trăm ngàn đồng, tụi con tự câu dây và tự kéo ống nước, cô Sáu không được viện cớ hao điện cháy máy mà thu thêm bất cứ phụ phí phát sinh nào. Khoản thứ ba: Đội phụ bếp của chị Liên có trách nhiệm quét dọn sạch sẽ toàn bộ rác rưởi, gom hết vô bao ni-lông lớn chở về bến rác lộ lớn, lau chùi lại sàn gạch trả mặt bằng tinh tươm trước mười lăm giờ chiều.”
Cô Sáu chép miệng đánh “chẹp” một cái, ngực phập phồng định mở miệng cằn nhằn thì Duyên đã đưa mắt nhìn thẳng, đọc tiếp điều khoản thứ tư không một chút ngập ngừng:
“Khoản thứ tư: Toàn bộ năm mươi bộ chén dĩa, tô bàn, ly tách do cơ sở chị Liên mang tới, có biên bản kiểm đếm giao nhận trước giờ tiệc. Nếu khách ăn tiệc hoặc người nhà cô Sáu sơ ý làm vỡ, tính tiền đền đúng giá chợ đầu mối: chén mười lăm ngàn một cái, dĩa hột xoài hai mươi lăm ngàn một cái, ly thủy tinh mười ngàn một cái. Tuyệt đối không có chuyện dĩa mượn sứt mẻ mà đè đầu bắt đền năm chục ngàn một cái như bữa trước nữa.”
Mặt cô Sáu sượng sùng thấy rõ. Bà ta lia chiếc quạt nan lia lịa trước ngực để giấu đi sự bối rối, hai con mắt đảo quanh quất:
“Mấy đứa bay... thiệt tình chớ, tính toán chi li từng cọng lông chân thế này thì ai mà nuốt trôi! Thì... thì bữa trước tao cũng bị bà con rầy rà dữ quá nên mới thu giùm đặng đền cho người ta chớ bộ tao ăn hết vô bụng chắc? Thôi được rồi, bốn trăm ngàn trọn gói mặt bằng với điện nước, tao chịu. Nhưng mà lát nữa thằng Bảy Sang—chủ nhà mới qua chốt giá, tụi bay tự mà mở miệng ra nói chuyện giá cả với nó, tao không có can thiệp đâu đa!”
Đúng bốn giờ chiều, tiếng dép lào lẹt xẹt vang lên từ con đường đất dẫn vào ngõ. Ông Bảy Sang—người đàn ông trung niên trạc năm mươi, dáng dấp thợ hồ vạm vỡ, nước da ngăm đen cháy nắng—bước vào sân, chiếc khăn rằn vắt vẻo trên vai. Vừa ngồi phịch xuống ghế, nhìn vào bản thực đơn năm món gồm bánh bao chỉ khai vị, gỏi ngó sen tôm thịt, giò heo cuộn thảo mộc nấm đông cô, cá tai tượng chiên xù sốt me, và tráng miệng rau câu ba màu với tổng giá sáu triệu đồng cho năm mươi người, ông Bảy liền xua tay lia lịa, mặt nhăn như táo tàu:
“Chèn ơi, sáu triệu dữ dội vậy bay? Tính ra một bàn tiệc tới một triệu hai trăm ngàn lận hả? Cô Sáu nói chỗ người quen xóm giềng trong rạch, tưởng đâu tụi bay bớt cho chút đỉnh mừng tao cất cái nhà tường coi chớ! Bớt cho tao mười phần trăm—sáu trăm ngàn đi, tính tròn năm triệu tư thôi. Coi như lấy lộc đầu năm đầu tháng, sau này tao đi nhận thầu cất nhà cho ai ở miệt này, tao cũng chỉ mối tiệc cho tụi bay hết, lo gì thiếu đám mà nấu!”
Nghe đòi bớt đứt sáu trăm ngàn mồ hôi nước mắt, tim Duyên bất giác thắt lại một nhịp. Cô khẽ liếc mắt sang nhìn Bình. Nếu là ngày xưa, cái dạo non nớt mới ra nghề, chắc chắn Bình đã cúi gầm mặt bối rối, còn Duyên thì bấm bụng cười trừ gật đầu bừa để mong giữ khách, rồi sau đó lủi thủi về nhà cắn răng chịu lỗ vào tiền dầu máy, tiền gia vị. Nhưng lần này, Bình ngồi thẳng thớm lưng quần, hai bàn tay đặt ngay ngắn trên đầu gối, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào người chủ nhà thợ hồ.
Chưa đợi Duyên phải lên tiếng, Liên đã cười nhạt một tiếng trong trẻo, với tay kéo tờ thực đơn về phía mình, gõ ngón tay côm cốp lên mặt bàn inox:
“Anh Bảy nè, tui nói thiệt cho anh nghe một câu ruột gan nghen. Anh đi nhận thầu cất cái nhà tường tiền trăm triệu, mấy anh em thợ hồ của anh leo giàn giáo cực nhọc đổ mồ hôi sôi nước mắt cả tháng trời, anh có bớt tiền công nhật của người ta mười phần trăm đặng lấy lộc mừng nhà mới hông? Tụi tui làm nghề dao thớt bếp núc này cũng bán sức lao động chớ hổng có đi lượm đồ trôi sông về nấu đãi khách. Tôm thẻ tươi rói nhảy soi sói, giò heo nóng hổi mới mổ ở lò, cá tai tượng còn bơi lội trong rọng, giá ngoài chợ đầu mối sáng mai anh bước ra hỏi coi có ai bớt cho anh một cắc hông? Tiền công thợ phụ bưng bê, dọn rửa năm chục bộ chén dĩa, tiền dầu máy ghe chạy ngược con nước lớn... tụi tui đã ngồi chẻ sợi tóc làm tư, tính sát rạt từng đồng bạc cắc rồi. Không có dư ra một cắc nào để bớt sáu trăm ngàn cho anh đâu.”
Duyên tiếp lời ngay tắp lự, giọng hòa nhã nhưng dứt khoát như đinh đóng cột:
“Dạ đúng đó chú Bảy. Đơn giá nhân công và nguyên liệu tươi sống tụi con giữ vững để bảo đảm mâm tiệc bưng ra đủ đầy, ngon lành, khách khứa ăn vô không ai phải chê bai độn xương độn rau. Nếu chú muốn giữ đúng ngân sách năm triệu tư để vừa vặn tiền túi, tụi con có cách tính rất vẹn toàn cho chú: mình bớt đi món bánh bao chỉ khai vị. Thực đơn rút lại còn bốn món chính thật chất lượng: gỏi ngó sen tôm thịt ăn kèm bánh phồng tôm giòn rụm, giò heo cuộn thảo mộc hạt sen ăn với bánh mì nóng, cá tai tượng chiên xù cuốn bánh tráng rau sống, và tráng miệng rau câu nước cốt dừa. Bốn món này đơm đĩa lớn, bảo đảm năm mươi anh em thợ hồ với chòm xóm ăn no nê kềnh bụng tới chiều, chú vừa giữ được thể diện sang trọng với bà con, mà vừa đúng y chóc số tiền năm triệu tư chú tính trong túi.”
Ông Bảy Sang ngớ người ra. Người thợ hồ dạn dày sương gió nhìn bà chủ bếp Liên sắc sảo, rồi lại nhìn đôi mắt sáng quắc, đĩnh đạc của hai đứa trẻ chạy ghe bếp, không hề thấy một chút biểu hiện nào của sự luồn cúi hay chụp giật hạ giá phá nghề. Ông Bảy ngồi ngẫm nghĩ một hồi, đưa bàn tay thô ráp lên vỗ đùi đánh “bốp”:
“Được! Tụi bay nói chuyện nghe có lý có tình, sòng phẳng đâu ra đó tao chịu! Thôi thì bớt món bánh bao khai vị đi, giữ bốn món kia cho thiệt ngon, đơm cho thiệt đầy đặn cho tao! Đúng mười một giờ rưỡi trưa ngày mốt phải lên mâm đủ năm bàn nghen!”
“Dạ, chú cọc trước bốn mươi phần trăm—hai triệu một trăm sáu mươi ngàn đồng tiền tươi để sáng mai tụi con đi chợ sớm lấy đồ tươi,” Duyên thoăn thoắt rút tờ biên nhận đã viết sẵn đưa qua.
Ông Bảy rút bóp da, đếm đủ từng tờ tiền polymer đặt lên bàn. Ngay tại chiếc bàn tròn đó, trước đôi mắt tròn xoe của cô Sáu, Duyên trích chia sáu mươi phần trăm tiền cọc cho Liên, giữ lại bốn mươi phần trăm cho ghe, hai bên ký tên cái rột vào mép biên nhận.
***
Sáng ngày diễn ra tiệc tân gia, con nước lớn bắt đầu dềnh lên đỏ ngầu phù sa trên khắp các nhánh sông Cái Mít. Đúng tám giờ sáng, chiếc ghe bếp của Duyên rẽ sóng tiến vào rạch ngã ba.
Tiếng máy đuôi tôm nổ giòn giã, êm ru như tiếng gió lướt qua ngọn sậy. Duyên đứng sau cần lái, khéo léo bẻ lái đưa mạn ghe áp sát vào hàng cọc cắm mé bờ sân nhà cô Sáu. Bình đứng ở mũi, cầm hai cây sào tre già cắm phập sâu xuống đáy bùn lầy, rồi nhanh tay quăng dây mũi và dây lái buộc chặt vào hai gốc dừa kiên cố trên bờ. Chiếc ghe nằm êm ru trên mặt nước dập dềnh phù sa, vững chãi như một cù lao nhỏ neo sát chân vườn.
Dưới khoang bếp ghe, Bình đã nổi lửa hai bếp khè đôi. Tiếng lửa reo “phè phè” xanh biếc phả hơi nóng rực rỡ. Hơi nước từ hai chiếc xửng nhôm tầng bốc lên nghi ngút qua các lỗ thoát khí, mang theo mùi thơm ngạt ngào của đại hồi, thảo quả, quế chi, nấm đông cô và hạt sen đang ninh thấm sâu vào từng thớ thịt giò heo rút xương cuộn chỉ sợi gai. Xửng hấp tráng miệng bên cạnh đã xếp đầy những khuôn rau câu ba màu nước cốt dừa đang đông lại mịn màng, bóng bẩy. Nguồn nước ngọt bốn can trên ghe được giữ trọn vẹn, không vơi một giọt, bởi toàn bộ khâu sơ chế thô thịt cá và ngâm rửa nấm đã được Bình giải quyết sạch sẽ từ bến nhà bằng nguồn nước máy mua của bến Bà Hảo.
Trên bờ sân gạch tàu, không khí gian bếp của Đỗ Thị Liên cũng rộn ràng không kém. Hai chiếc chảo gang quân dụng to tướng đỏ lửa rực rỡ. Liên đích thân cầm đôi đũa bếp dài bằng gỗ mun đảo thoăn thoắt mẻ thịt bò ướp tiêu sọ thơm nức mũi, hai thợ phụ đứng canh chảo dầu sôi ngập bọt để chiên giòn từng con cá tai tượng to bản, vảy dựng ngược vàng ươm như hoa cúc nở. Năm chiếc bàn tròn inox cùng năm mươi bộ chén dĩa sứ trắng muốt, muỗng inox sáng loáng đã được xếp thẳng hàng tăm tắp dưới bóng mái tôn râm mát.
Đúng mười một giờ mười lăm phút, khách khứa bắt đầu lục tục kéo tới. Đám thợ hồ áo quần chỉnh tề cùng bà con lối xóm cười nói râm ran, tiếng chúc tụng vang động cả khúc rạch ngã ba.
“Duyên ơi! Cho giò heo lên mâm!” Tiếng Liên cất lên lảnh lót từ mé sân vọng xuống.
“Dạ, có liền chị Liên!”
Duyên đứng ở mé be ghe, hai bàn tay mang đôi bao tay vải bố dày cộm, chậm rãi nhấc nắp xửng hấp khổng lồ. Một luồng hơi nước nóng rực mang theo mùi thảo mộc ngào ngạt bốc lên ngùn ngút, làm mờ cả gương mặt cô. Từng cuộn giò heo căng tròn, lớp da bóng bẩy màu cánh gián đậm đà, được Bình dùng kẹp sắt lớn gắp thoăn thoắt ra chiếc khay inox có nắp đậy giữ nhiệt. Duyên đón lấy khay thịt, bước thoăn thoắt qua chiếc cầu ván bắc chắc chắn nối từ mui ghe lên bờ gạch, giao thẳng vào tay thợ phụ của Liên.
Trên bờ, con dao bài của Liên hạ xuống thớt gỗ nghiến kêu “cồm cộp” đều đặn như máy dập. Từng lát thịt giò heo mềm rụm, xen lẫn những hạt sen bùi bùi và cánh nấm đông cô nâu sẫm, được xếp tròn xoe như những cánh hoa bung nở trên chiếc dĩa sứ trắng tinh, rưới đều lên trên lớp nước sốt nấm sánh đậm màu hổ phách. Cùng lúc đó, cá tai tượng chiên xù vàng rực cắm đứng kiêu hãnh trên dĩa hột xoài, gỏi ngó sen tôm thịt đỏ au điểm xuyết đậu phộng rang giã dập được đồng loạt bưng ra năm bàn tiệc.
Món ăn ra đều tăm tắp, nóng hổi bốc khói nghi ngút, không một bàn nào phải ngồi chờ lâu, không một đĩa nào bị vơi khẩu phần. Tiếng xao xuyến, trầm trồ của đám thợ hồ và bà con chòm xóm vang lên khắp khoảng sân:
“Trời đất, giò heo hấp kiểu này da giòn sần sật mà thịt mềm rục, hổng thấy ngấy mỡ chút nào nghen!”
“Con cá tai tượng chiên xù giòn rụm tới tận xương vi, nước sốt me chua ngọt chấm bánh tráng cuốn rau sống ăn đã cái nết dữ thần!”
Dưới khoang ghe, Bình đứng canh chảo nước sốt tráng miệng, đưa mu bàn tay áo lau mồ hôi trán, khóe môi khẽ nở một nụ cười nhẹ nhõm vô cùng. Không còn cái cảnh đứng băm gà vụn độn xương trong hoảng loạn, không còn cái cảnh nơm nớp lo hết nước ngọt giữa chừng, không còn tiếng chén dĩa rơi vỡ chan chát. Mỗi bên làm đúng một nửa phần việc sở trường của mình, nhịp nhàng ăn khớp như hai bánh răng cưa trong cỗ máy đuôi tôm vừa mới được tra dầu.
Đúng mười ba giờ ba mươi phút, tiệc tàn. Khách khứa no nê lục tục bắt tay chủ nhà ra về trong tiếng cười sảng khoái của ông Bảy Sang.
Đội thợ phụ của Liên nhanh nhẹn như sóc, thoăn thoắt dọn dẹp chén dĩa dơ, trút toàn bộ thức ăn thừa vào xô nhựa có nắp đậy kín. Chén dĩa được phân loại, xếp ngay ngắn vào các thùng nhựa lót mút xốp rồi chuyển xuống khoang ghe Duyên chở ngược về bến rửa. Mặt sân gạch tàu được nối ống nước máy bơm xối rửa sạch bóng kin kít, quét sạch từng cọng rác và lau khô ráo, không để vương lại một vệt mỡ hay mùi tanh tưởi nào.
Đúng mười bốn giờ ba mươi phút, cô Sáu bước ra sân ngó nghiêng, đưa mắt săm soi từng chân cột, từng kẽ gạch tàu mà tuyệt nhiên không tìm ra nổi một lỗi nhỏ nào để bắt bẻ hay hạch sách. Bà ta đành chép miệng, móc túi đưa chìa khóa cổng cho Liên:
“Mấy đứa bay bữa nay làm ăn coi bộ tươm tất dữ dằn. Sân bãi sạch bong kin kít, hổng mẻ một cái chén cái ly nào.”
***
Dưới bóng mát của rặng bần mé sông khi chiều buông, chiếc ghe bếp đã chở toàn bộ đồ nghề xoong chảo và thùng chén dĩa trở về cập bến Cái Răng an toàn. Ba người lại ngồi quanh chiếc bàn inox quen thuộc trong gian bếp bờ.
Liên lôi cọc tiền mặt năm triệu tư mà ông Bảy Sang vừa thanh toán đủ ra, đếm tanh tách từng tờ tiền polymer mới cáu. Mùi tiền giấy mới hòa quyện với mùi hành phi phảng phất trong gian bếp:
“Tổng thu năm triệu tư. Trừ bốn trăm ngàn tiền mặt bằng sân bãi với điện nước tao đã đưa tận tay mụ Sáu có ký nhận vô góc sổ. Còn lại đúng năm triệu chẵn. Phần bếp bờ của tao ba triệu. Phần ghe bếp của tụi bay hai triệu. Tiền cọc hai triệu một trăm sáu mươi ngàn bữa trước cấn trừ xong xuôi tiền chợ, đây là một triệu một trăm ba mươi ngàn tiền mặt còn lại của ghe tụi bay.”
Liên xòe những tờ tiền phẳng phiu đặt xuống mặt bàn, đẩy nhẹ về phía Duyên.
Duyên cầm cọc tiền lên tay, ngón tay miết nhẹ qua từng mép giấy mát rượi. Đồng tiền công sạch sẽ, kiếm được bằng sự tính toán sòng phẳng, bằng năng lực thực tế và mồ hôi chân chính; không phải bù lỗ một giọt dầu máy, không phải nợ một can nước ngọt, và quan trọng nhất là hai đứa không phải nhìn nhau bằng ánh mắt cay đắng hay hoang mang như những lần trước.
Liên nhìn hai đứa nhỏ, khẽ nhếch môi nở một nụ cười hiếm hoi:
“Bữa nay tụi bay phối hợp coi được nước lắm đó. Chiếc ghe bếp tụi bay có cái lợi thế luồn lách đường sông mà cái bếp bờ của tao không thể nào có được, nhưng nhớ lấy bài học bữa nay mà làm kim chỉ nam: Đừng bao giờ thấy tiệc lớn mà mắt sáng rỡ rồi nổi máu tham ôm trọn gói một mình. Cái ghe chật hẹp, sức người có hạn, biết mình đứng ở đâu, biết chia việc cho người khác cùng sống thì mới mong bám trụ dai dẳng trên khúc sông nước này được.”
“Dạ, tụi em cảm ơn chị Liên nhiều lắm,” Bình gật đầu thật mạnh, ánh mắt tràn đầy sự nể phục đối với người đàn bà dạn dày kinh nghiệm bếp núc.
***
Hoàng hôn đỏ ối buông xuống dòng sông Cái Mít. Chiếc ghe bếp nổ máy rù rì xuôi dòng quay về bến neo quen thuộc gần xưởng Chú Tư. Gió chiều thổi lồng lộng qua mui ghe, mang theo vị mằn mặn của phù sa non và hương hoa lục bình trôi dạt miên man trên mặt nước.
Trên sàn mui gỗ còn thoang thoảng mùi dầu máy mới, Duyên và Bình ngồi xếp bằng bên nhau. Chiếc hộp sắt đựng tiền dự phòng được mở nắp, bên trong đã nằm ngay ngắn những cọc tiền vốn lưu động tinh tươm, không còn cái cảnh rỗng không, nhẵn túi nợ nần như dạo trước.
Duyên lật một trang giấy trắng tinh trong cuốn sổ tay bọc ni-lông, nắn nót viết từng dòng chữ in hoa nát đậm:
**QUY ƯỚC VẬN HÀNH GHE BẾP** *1. Tải trọng độc lập tối đa: Không quá ba mươi suất ăn cho một khung giờ phục vụ.* *2. Đơn hàng trên ba mươi suất: Bắt buộc phải có đối tác bờ đủ chuẩn liên minh để chia việc.* *3. Giữ vững đơn giá nhân công: Tuyệt đối không giảm giá tổng gói; nếu khách giảm ngân sách, chỉ thương lượng bằng cách cắt giảm món.* *4. Mọi quyết định thay đổi thực đơn, chia việc và giảm giá phải có sự đồng thuận của cả hai người.*
Viết xong, Duyên dằn ngòi bút ký tên thật dứt khoát vào góc phải bên dưới, rồi chìa cây bút bi bấm sang cho Bình:
“Ký vô đây đi đầu bếp. Từ nay về sau, cứ chiếu theo giấy trắng mực đen này mà làm. Đứa nào phạm quy, đứa đó tự móc tiền túi ra đền cho chiếc ghe.”
Bình cầm cây bút, ngắm nhìn bản quy ước giản dị nhưng rành mạch, khóe mắt anh lấp lánh một niềm vui an tâm khôn tả. Anh ký tên mình nắn nót bên cạnh chữ ký của Duyên.
Duyên rút cọc tiền công hai triệu vừa nhận từ tay chị Liên, sau khi trừ tiền chợ mua nguyên liệu và tiền dầu máy chạy ghe hết một triệu hai trăm ngàn, số tiền lời ròng tám trăm ngàn đồng còn lại được cô chia đôi thành hai phần bằng nhau: bốn trăm ngàn bỏ thẳng vào hộp sắt dự phòng của ghe, và bốn trăm ngàn chia đều làm tiền công nhật cho hai đứa.
Cầm hai trăm ngàn tiền công sạch sẽ trên tay, Bình mỉm cười gật đầu:
“Kỳ này ghi vô sổ ngay nghen, không có để tới nửa đêm nữa.”