Ghe Bếp Đi Theo Con NướcCh.9 / 12
Chapter 9

Đong Nắng Đổi Mùa

Gió chướng bắt đầu thổi rát mặt sông Cái Mít báo hiệu mùa thu hoạch rộ ở các dải vườn, Duyên cầm lái đưa ghe vào rạch Vàm Dừa để thực hiện chuỗi đơn đặt cơm trọn gói năm ngày cho các tổ thợ hái trái cây.

Ngọn gió chướng cuối năm không êm ả như những cơn gió nam thổi lướt qua rặng bần mùa nước nổi. Nó từ mạn biển phía đông thốc ngược vào lòng sông Tiền, tràn qua những doi đất bồi, gom theo cái lạnh hanh hao làm se rát da mặt người đi sông. Trên những dải cù lao trù phú của miệt Ba Tri, Chợ Lách kéo dài xuống tới Cái Mít, những vườn cam sành trĩu quả bắt đầu ngả sang sắc vàng rám nắng, còn những liếp bưởi da xanh chuyền cành thì da dẻ đã căng mọng, chuẩn bị đón những cữ cắt hàng dồn dập cung ứng cho thương lái khắp các tỉnh lền về gom mối. Tiếng vỏ lãi gầm rú xé nước chở theo những rổ cần xé tre, tiếng người gọi nhau ơi ới đầu ngọn rạch hòa cùng tiếng lá xào xạc trong gió chướng, tạo nên một nhịp sống tất bật, hối hả đến nghẹt thở của ngày mùa.

Đợt này, Võ Thành Nam ký đơn khoán gọn: mỗi ngày đúng ba mươi suất ăn trưa cho hai tốp thợ hái cam sành và cắt bưởi chuyền cành. Ngân sách cố định bốn mươi ngàn một phần, nhưng khác với những đợt trước phải chạy theo từng đòi hỏi thất thường của chủ đất, lần này Nam đồng ý để ghe bếp tự lên thực đơn trọn gói năm ngày. Miễn sao bữa ăn đủ ba món mặn, xào, canh, cơm nóng đầy đặn để thợ trèo cây từ sáng không bị hụt hơi giữa cữ trưa.

Việc tự chủ thực đơn cho phép Bình tính toán trước lượng thịt heo, cá sông và rau củ, ghé bến mua sỉ theo từng ngày để ghìm chi phí. Với một người đứng bếp kỹ tính và chắt chiu từng cắc từng đồng như Bình, bản hợp đồng miệng nhưng rành mạch ấy là cơ hội bằng vàng để ghe bếp tích lũy. Trên tờ giấy tập học trò đã sờn mép kẹp bên hông vách gỗ, Bình đã tỉ mẩn kẻ từng cột, dự trù chi li từng ký thịt ba rọi, từng mớ tép bạc, từng tép hành củ tỏi cho tới lượng nước mắm, muỗng đường cát sao cho vừa khớp định mức mà vẫn đảm bảo mâm cơm bưng lên chòi lá bốc khói nghi ngút, đậm đà ngon mắt.

Mới hơn bốn giờ rưỡi sáng, sương lạnh còn bốc mờ mịt trên mặt nước lượn lờ sóng, Duyên đã nổ máy đuôi tôm chạy tà tà ra ngã ba sông lớn.

Con nước ròng sát đáy để lộ ra những bãi bùn đen nhẫy hai bên bờ rạch, rễ bần chìa ra tua tủa như những cánh tay khẳng khiu vươn lên từ lòng đất lạnh. Sương mai dày đặc phủ một lớp màng bàng bạc lên mui ghe, đọng thành từng giọt nước tí tách rơi xuống sàn gỗ sau lưng lái. Duyên kéo sụp vành nón lá, hai bàn tay nắm chặt cần lừa của chiếc máy đuôi tôm, mắt căng ra dò từng vệt nước tối màu để tránh dải lục bình trôi ngầm hay những nhánh chà gãy chìm dưới lòng lạch. Hơi lạnh phả buốt từng lóng tay, nhưng trong lồng ngực cô gái trẻ lại nhen nhóm một niềm phấn khởi khó tả. Năm ngày, một trăm năm mươi suất ăn, tổng thu trọn gói sáu triệu bạc. Nếu khéo co kéo, dè sẻn từng đồng chợ búa, chuyến này ghe bếp không chỉ có tiền công nhật mà còn có thể dôi dư ra một món tiền phòng thân kha khá.

Điểm ghé đầu tiên là Bến Chợ Nổi Cái Mít – nơi các ghe buôn miệt vườn đổ về dập dềnh như những ngôi nhà nổi kết bè.

Trời vừa hừng đông le lói ở chân trời phía hạ lưu. Tiếng máy ghe nổ lụp bụp, tiếng còi toe toe xé tan màn sương sớm, quyện với mùi dầu khói nồng hắc, mùi rơm rạ mục và hơi ẩm nồng nặc của bùn non phù sa. Hàng trăm chiếc ghe lớn nhỏ neo đậu san sát nhau, mũi ghe này gác hờ lên be xuồng kia. Trên những cây bẹo bằng tre dài ngoẵng cắm dựng đứng trước mũi mỗi chiếc ghe buôn, người ta treo tòn ten những củ cải, trái bầu, bắp cải hay chùm ớt hiểm để chào hàng. Dưới ánh đèn bình ắc quy vàng vọt còn chưa kịp tắt, tiếng ngã giá, tiếng gọi bạn hàng, tiếng cân sắt va vào thành sàn sắt lách cách tạo nên một bản hòa âm xao động cả khúc sông rộng.

Duyên thuần thục lòn lách mũi ghe qua một chiếc trét chở dừa khô, cột dây mũi ghe vào một cọc tiêu xi măng ven bến, nhảy thoăn thoắt lên mạn ghe buôn của một bạn hàng chuyên cất rau củ từ miệt Vĩnh Long sang. Đó là một chiếc ghe chài trọng tải ba chục tấn, lòng khoang sâu hoắm, chất ngất từng sọt tre đan mắt cáo chứa đầy nông sản tươi rói vừa được cẩu lên từ mạn sông Tiền đêm qua.

Bên khoang hàng loại một, những sọt bắp cải Đà Lạt cuộn tròn cứng ngắc, bẹ trắng ngần lấp lánh hơi nước đá, từng lớp lá ngoài cùng xanh bóng như thoa mỡ, xếp khít khao lớp lang. Bên cạnh là những rổ củ cải trắng thon dài, mập mạp, da láng mướt không tì vết, râu rễ được tỉa tót sạch sẽ, nằm ngay ngắn dưới lớp bao tải ẩm. Bạn hàng xáng một rổ bắp cải lên cân, giọng giòn tan át cả tiếng máy nổ chung quanh:

“Mười tám ngàn một ký bắp cải lựa, củ cải mười lăm ngàn. Lấy sỉ nguyên sọt tao bớt cho mỗi ký một ngàn coi như mở hàng lấy hên sớm mai. Cải này chở đêm bằng xe lạnh qua phà Đình Khao rồi sang ghe tao liền, bao giòn ngọt tới từng cuống lá nghen em gái!”

Duyên đứng trên be ghe, cúi xuống mân mê một bắp cải chắc nịch, mát rượi trong lòng bàn tay. Cô tính nhẩm nhanh trong đầu. Ba mươi suất thợ ăn khỏe sau nửa ngày quăng quật trên đọt cam đọt bưởi, nếu xào bắp cải với lòng mề và hầm củ cải với xương heo thì cần ngót nghét chục ký mỗi loại. Nếu lấy hàng loại một này, riêng tiền rau củ cho bữa trưa đầu tiên đã ngốn đứt hơn ba trăm ngàn đồng. Con số ấy cắn đứt một góc đáng kể trong định mức chợ sáng mà cô và Bình đã vạch ra trên tờ giấy nháp hôm qua kẹp ở vách mui ghe.

Đang lúc ngần ngại nâng lên đặt xuống, mắt Duyên chợt lia sang mép sàn phía đuôi ghe buôn, nơi ánh đèn bình mờ tối không soi tới trọn vẹn.

Ở đó, hai chiếc cần xé đại chất đầy những bắp cải bị bóc trơ cuống, bẹ ngoài dập nát do dằn xóc trên sóng lớn suốt chuyến đi dài. Những vết thâm tím loang lổ xen lẫn bùn đen bết chặt vào các kẽ lá gãy vụn. Cạnh đó là đống củ cải trắng gãy đôi, gãy ba, vỏ sần sùi có chỗ úng nước mềm nhũn, ruột hở ra bám đầy xơ chỉ và đất cát, nằm chỏng chơ trong góc kẹt ẩm thấp, nước rỉ ra đọng thành vũng đen ngòm dưới đáy sàn gỗ.

Chị chủ ghe thấy Duyên nhìn chằm chằm liền phẩy tay xua ruồi, cười hề hề vẻ xởi lởi:

“Đống rau củ dạt này hôm qua dỡ hàng từ ghe lớn về bị đè dập chút đỉnh. Mày coi, ghe chèn ép dữ quá nên nó trầy da tróc vảy chớ ruột rà bên trong còn trắng tinh à em gái. Bán đổ bán tháo tống khứ cho rảnh sàn đặng lát tao cất đợt dưa leo mới: bắp cải bảy ngàn, củ cải năm ngàn một ký. Gom hết hai giỏ lớn tao tính tròn một trăm ba mươi ngàn, bao chở luôn!”

Một trăm ba mươi ngàn cho gần ba mươi ký rau củ.

Con số rành rành đập vào mắt Duyên như một món hời từ trên trời rơi xuống giữa cữ chợ sớm. Giá chưa bằng một nửa, thậm chí chưa tới một phần ba so với hàng loại một nằm kiêu hãnh trên giàn gỗ. Duyên sờ tay vào túi áo ngực, nơi cất xấp tiền chợ ít ỏi mà những ngón tay cô đã vuốt phẳng từng mép gấp từ đêm qua. Cơn thèm kéo dãn khoản lời ròng bùng lên cồn cào trong bụng cô. Duyên nghĩ bụng: rau củ thì rốt cuộc cũng chỉ là bắp cải với củ cải đem nấu chín, đem về cho Bình gọt tỉa bỏ lớp vỏ ngoài bầm giập, rửa sạch bùn đất phù sa rồi xắt mỏng xào lên thì vô nồi canh, đĩa xào ai mà phân biệt được dạt với không dạt. Người ăn chỉ biết trên bàn có đĩa rau xào nóng hổi, có tô canh ngọt lịm xương hầm. Rẻ được hơn một nửa tiền rau nghĩa là cuốn sổ tay cuối tuần sẽ có thêm một khoản dư dôi để bù vào tiền dầu nhớt của chiếc máy đuôi tôm đang ăn xăng cộ như rồng cuốn nước.

Nghĩ là làm, Duyên không buồn gọi điện hỏi ý Bình như giao kèo mỗi lần đi chợ gom hàng. Cô rút ví trả ngay một trăm ba mươi ngàn tờ tiền lẻ, rồi cùng bạn hàng xốc nách hai giỏ cần xé nặng trịch, dính bê bết sình lầy quẳng thẳng xuống sàn trước khoang bếp của chiếc ghe. Mùi ẩm mốc và bùn sình xộc lên nồng nặc, nhưng Duyên chỉ thấy nhẹ nhõm vì đã "tiết kiệm" được một khoản tiền không nhỏ ngay trong ngày mở màn chuỗi hợp đồng.

***

Khi ghe quay đầu rẽ vào ngọn rạch Vàm Dừa, trời đã rạng sáng.

Nắng non bắt đầu xuyên qua những tán lá dừa nước rậm rạp mọc ken dày hai bên bờ kinh, rọi những vệt sáng lốm đốm xuống sàn gỗ khoang trước. Gió chướng thổi ngược luồng rạch làm nước cuộn xoáy quanh mũi thuyền. Trong không gian kín gió của lòng lạch, hai cần xé rau củ dạt bắt đầu bốc lên một thứ mùi khó chịu: mùi chua nồng của nước ủng hòa lẫn với mùi lá bắp cải rữa nát bị hun nóng dưới ánh mặt trời vừa lên.

Thanh Bình từ trong mui bước ra, tay cầm chiếc tạp dề vải thô quen thuộc đã ngả màu khói bếp. Anh hít một hơi dài định đón lấy gió sông cho tỉnh táo sau giấc ngủ chập chờn, nhưng lồng ngực anh lập tức thắt lại bởi mùi xú khí lạ lẫm. Vừa nhìn thấy đống rau củ lù lù chắn ngang lối đi giữa khoang bếp, chân mày Bình chau lại ngay tắp lự.

Bình bước tới, không nói một lời, ngồi xổm xuống bên cạnh hai chiếc cần xé. Anh nhấc một bắp cải dập lên xem xét. Bàn tay chai sạn của người thợ nấu ấn mạnh vào phần cuống úng, nước nhớt màu nâu xám ứa ra qua kẽ tay, rỉ từng giọt tanh tưởi xuống sàn gỗ vừa mới được lau chùi sạch bóng hồi sớm mai. Anh bẻ đôi một củ cải gãy, phần thịt củ bên trong đã ngả màu chì xám xịt, xốp rỗng như ruột mướp khô, bốc ra mùi ủng của củ héo để lâu ngày trong kho ẩm.

“Duyên mua đống này ở đâu vậy?” Giọng Bình trầm hẳn xuống, phẳng lặng một cách đáng sợ, không có chút gắt gỏng nhưng nặng như một tảng đá ném xuống bùn lầy.

“Ở bến chợ nổi Cái Mít chớ đâu,” Duyên cười hề hề, cố làm ra vẻ đắc thắng để lấp liếm sự chột dạ đang manh nha trong bụng, tay tiện thể kéo vạt áo lau mồ hôi trên trán. “Thấy rẻ quá trời quá đất, có bảy ngàn bắp cải, năm ngàn củ cải! Tao hốt trọn ổ, bớt được hơn phân nửa tiền rau sáng nay đó Bình. Mày chịu khó gọt gọt bớt cái vỏ dập là xài ngon ơ à! Mình làm ăn lấy công làm lời mà!”

Bình không đáp. Ánh mắt anh dừng lại trên những đốm bùn đen bết chặt vào từng thớ lá bắp cải. Anh buông bắp cải xuống sàn nghe đánh bịch một tiếng, thở hắt ra một hơi dài nghe nặng trĩu rồi lặng lẽ với lấy con dao bài cùng chiếc thau nhôm lớn thường ngày dùng để lặt rau.

Và cái giá của món hời lập tức bắt đầu đòi nợ một cách tàn nhẫn.

Suốt ba tiếng đồng hồ liền sau đó, Bình không thể rời chân khỏi góc sàn bếp chật hẹp chỉ vỏn vẹn bốn mét vuông giữa lòng ghe.

Anh phải còng rạp lưng trên chiếc đòn gỗ thấp tè, hai đầu gối mỏi nhừ tỳ vào thành ván. Mũi dao bài sắc lẹm của Bình liên tục gọt, khoét, bạt đi từng mảng thối sâu hoắm ăn luồn vào tận lõi củ cải. Càng lột vào trong, sự thật phũ phàng càng phơi bày trần trụi: lớp bẹ bắp ngả màu vàng đục nhơn nhớt không chỉ dừng ở hai ba lớp ngoài như Duyên tưởng mà ngấm sâu vào quá nửa bắp. Cứ một bắp cải nặng hơn một ký bạc mua từ chợ nổi, sau khi cắt bỏ phần thối nhũn, bầm đen chỉ còn lại một nắm lõi bằng quả cam sành nhỏ xíu, lá nhăn nheo, dai ngoét và hôi mùi ủng nước.

Bùn đất phù sa bết chặt trong kẽ cuống rau gặp nước ngọt xối rửa bắt đầu tan ra, biến sàn ghe thành một bãi lầy lội trơn tuột. Nước rửa rau hòa lẫn cuống lá mục đen sì nghẽn ứ cả lỗ thoát nước ở mạn ghe. Bình phải liên tục dùng gàu múc rác rưởi đổ vào xô chứa chất thải để không làm ô nhiễm dòng rạch Vàm Dừa vốn đang mùa lấy nước tưới vườn. Lưng áo Bình ướt đẫm mồ hôi, dán chặt vào cột sống, bắp tay anh mỏi rã rời vì liên tục dùng lực để cạo gọt những thớ rau xơ xác.

Nghiêm trọng hơn cả là nguồn nước ngọt và chất đốt – hai thứ tài sản sống còn của chiếc ghe bếp khi hoạt động độc lập giữa vùng nước lợ miệt vườn.

Để khử sạch cái mùi chua ủng bám dai dẳng trên những cọng bắp cải dập ngấm nước sình, Bình buộc phải bắc một nồi nước ngọt lớn lên bếp gas khè. Anh đập dập một củ gừng già, ném vào nhúm muối hột rồi đun sôi sùng sục để chần sơ toàn bộ số rau củ sau khi gọt rửa trước khi đem xào với lòng mề.

Ngọn lửa xanh lè của chiếc bếp gas đôi gầm rú liên tục dưới đáy nồi, phát ra những tiếng rít chói tai. Tiếng nước sôi ùng ục át cả tiếng gió chướng đang thổi phần phật ngoài rặng bần mé sông. Hơi nóng hầm hập phả ra từ đáy nồi inox hun đặc khoang bếp chật chội khiến không khí trong ghe trở nên ngột ngạt như một cái lò nung. Bình vừa dùng chiếc vá lỗ đảo mớ củ cải sần sùi trong nồi nước trụng, vừa nghe tiếng bình gas loại mười hai ký đặt dưới gầm sàn rung lên bần bật. Do xả van liên tục với công suất cực đại trong một thời gian dài, lớp vỏ thép của bình gas bị hạ nhiệt đột ngột, đóng một lớp sương trắng xóa lạnh toát bên ngoài, báo hiệu lượng gas lỏng bên trong đang bốc hơi với tốc độ chóng mặt.

“Xong chưa Bình ơi? Mười giờ rưỡi rồi, thợ sắp nghỉ cữ tỉa đó!” Duyên đứng ở mũi ghe ngó vô, hai tay bồn chồn bấu chặt vào cột mui, sốt ruột giục giã khi thấy kim đồng hồ trên vách đã nhích dần về trưa.

Bình tắt bếp cái rụp. Tiếng lửa khè phụt tắt đột ngột để lại một khoảng im lặng nặng nề đến nghẹt thở. Anh đặt con dao bài xuống mặt thớt gỗ nghiến nghe một tiếng cộp đanh gọn, rồi quay người lại nhìn Duyên.

Hai mắt Bình đỏ hoe vì khói gừng và hơi nóng hầm hập phả thẳng vào mặt suốt mấy giờ liền. Mười đầu ngón tay anh tái nhợt, nhăn nheo, trầy xước vì ngâm nước rửa bùn và cọ xát với cuống rau thối.

“Mày ra đây coi giùm tao một cái,” Bình chỉ tay vào góc bếp, giọng nói khàn đặc.

Duyên ngập ngừng bước từng bước dè dặt lại gần.

Dưới sàn ghe lúc này là ba chiếc xô nhựa hai mươi lít chứa đầy ắp cuống bắp thối rữa, vỏ củ cải đen ngòm và bùn sình nhão nhoẹt bốc mùi nồng nặc. Cạnh đó, chiếc cân lò xo năm ký dùng để chia định lượng chỉ vỏn vẹn gần sáu ký ruột bắp cải teo tóp và bốn ký củ cải đã gọt sạch – tổng cộng chưa đầy mười ký rau củ dùng được thực tế. Nghĩa là số rau dạt mà Duyên hí hửng vác về đã hao hụt mất hơn hai phần ba trọng lượng ban đầu chỉ sau một công đoạn sơ chế.

Bình quẹt mu bàn tay áo lên trán gạt dòng mồ hôi đang chảy ròng ròng xuống cằm, giọng anh đanh lại nhưng rành rọt từng chữ, từng con số ghim thẳng vào lòng Duyên:

“Duyên tính bớt được bảy mươi ngàn tiền rau chợ nổi, đúng không? Mày tưởng mày khôn hơn bạn hàng trên bến Cái Mít? Nhưng mày coi lại đi: tao ngồi gọt, rửa, móc bùn mất đúng ba tiếng đồng hồ từ lúc hừng đông tới giờ. Trong ba tiếng đó, tao trễ cữ ướp ba rọi kho tiêu, trễ cữ chiên cá đồng, mọi thứ dồn cục lại một đống. Rồi can nước ngọt ba mươi lít của bến bà Hảo tốn năm ngàn bạc đã đi đứt gần một can chỉ để rửa trôi đống bùn rác này. Chưa hết, cái bình gas mười hai ký mới đổi tuần trước, bình thường tao xài dè sẻn bốn ngày rưỡi, nay đun nồi nước trụng khử mùi úng này mất đứt một lượng gas bằng cả buổi nấu tiệc giỗ. Mày cộng tiền công ba tiếng tao làm phu cạo rác không công, cộng tiền can nước ngọt, cộng một phần ba bình gas bay mất, coi thử cái rẻ của mày nó nuốt chửng bao nhiêu tiền lời rồi?”

Duyên đứng chết trân tại chỗ. Cô nhìn đôi bàn tay nhăn nheo, trắng bệch vì ngâm nước lạnh của Bình, rồi nhìn sang chiếc vỏ bình gas đang toát mồ hôi lạnh ngắt dưới góc gầm bếp. Cổ họng Duyên nghẹn ắng lại, không thốt ra được nửa lời biện bạch.

Từng con số Bình vừa liệt kê rơi trúng vào những chỗ cô đã cố tình lờ đi lúc đứng trên mạn ghe buôn ở bến Cái Mít. Cô chỉ nhìn thấy một trăm ba mươi ngàn tiền mặt bỏ ra ít hơn số tiền dự trù trên giấy, mà hoàn toàn quên mất rằng chiếc ghe này là một hệ thống khép kín trôi nổi trên sông nước. Nó không phải cái bếp xây bằng gạch đá trên bờ; ở đây, từng giọt nước ngọt phải chắt chiu chở bằng can từ bến dân sinh, từng ngọn lửa xanh phải trả bằng tiền đổi bình gas đắt đỏ, và sức lực của người đứng bếp là thứ có hạn, một khi bị vắt kiệt vào những việc vô bổ thì cả quy trình sẽ đổ vỡ dây chuyền.

“Tao… tao tính không tới,” Duyên lí nhí, hai gò má nóng bừng, cô cúi gằm mặt nhìn vũng nước bùn còn sót lại dưới chân.

“Lần sau đừng thấy rẻ mà ham,” Bình thở dài, giọng dịu đi một chút nhưng vẫn giữ vẻ nghiêm nghị của một người giữ lửa cho gian bếp. “Hàng chợ dạt nó không tự nhiên rẻ. Người ta trừ tiền dập thối vô giá bán, còn cái cực nhọc với hao tổn nhiên liệu thì đổ hết lên đầu đứa nấu. Chiếc ghe này chật, mình không có chỗ để chứa rác của người khác đâu.”

Nói đoạn, không để lãng phí thêm một giây phút nào, Bình cúi xuống bưng thau lòng heo xào bắp cải đã chần kỹ qua nước gừng, thoăn thoắt bật bếp khè nổi lửa xào nhanh trên chảo gang lớn. Tiếng xèo xèo giòn giã cùng mùi thơm của tỏi phi, tiêu sọ bốc lên nghi ngút, tạm thời xua đi bầu không khí ngột ngạt và mùi xú khí vừa bao trùm gian bếp nhỏ.

***

Đúng mười một giờ kém mười lăm, khi mặt trời đã đứng bóng trên ngọn dừa nước, chiếc vỏ lãi composite bóng loáng của ông Ba Cương – chủ dải vườn sầu riêng và cam sành lớn nhất miệt Vàm Dừa – xé nước chạy xộc tới, tạo nên những đợt sóng dập dềnh cập sát mạn ghe bếp.

Chiếc vỏ lãi gắn máy Honda chín ngựa lướt êm ru, mũi ghe cắm cờ đuôi nheo đỏ chót. Ông Ba Cương trạc ngoài năm mươi, dáng người đậm đà, phốp pháp, cổ đeo sợi dây chuyền vàng to bằng ngón tay út lấp lánh dưới nắng trưa, đầu đội nón nỉ sành điệu kiểu mấy ông điền chủ miệt vườn thời trước. Ông ta với tay nắm chặt lấy then gỗ mạn ghe Duyên, ghìm chiếc vỏ lãi lại rồi ngoác miệng cười sang sảng:

“Bếp ơi bếp! Bữa nay tổ thợ của thằng Nam hái vườn cam bên tao, tao ghé dặn cái này chút coi!”

Duyên vội vàng bước ra mé mạn ghe, vịn tay vào cột chống mui để giữ thăng bằng trước những đợt sóng dập dềnh:

“Dạ chú Ba, cơm nước tụi con nấu sắp xong xuôi hết rồi, chuẩn bị dọn lên chòi cho thợ đây chú.”

Ông Ba Cương xua xua bàn tay đeo đầy nhẫn vàng mặt đá ruby, móc trong túi áo bà ba ra một bao thuốc lá thơm năm số ba, rút một điếu châm hút phì phèo:

“Cơm thì cứ đưa lên đúng cữ mười một giờ rưỡi, tụi nó làm mệt là đói rã ruột. Nhưng mà tao ghé là muốn đổi cái nồi canh trưa nay chút đỉnh. Đám thợ hái cam nắng nôi cực khổ quá, tao muốn tụi nó ăn ngon miệng chút đặng chiều ráng ráng leo trèo hái cho dứt điểm bờ mẫu phía sau đặng mai ghe lái vô cân. Bỏ cái canh củ cải thịt bằm đi. Đổi qua cho tao nồi canh chua cá lóc nấu bông điên điển nghen!”

Duyên chớp mắt, tim cô thót lại một nhịp. Canh chua cá lóc nấu bông điên điển?

“Ủa chú Ba, mùa này gió chướng mới chớm thổi, nước nổi rút cạn queo từ tháng trước rồi, điên điển đâu ra mà nấu chú?”

“Mày ra chợ nổi thiếu cha gì!” Ông Ba Cương nhả một làn khói mù mịt phả vào mui ghe, hất cằm vẻ kẻ cả của một người quen xài tiền ra lệnh. “Mấy ghe miệt trên Đồng Tháp hay Chợ Mới chở bông điên điển trái mùa về bán rầy rộ bên bến Cái Mít đó. Điên điển giòn ngọt, nấu canh chua cá lóc ăn nó mới mát ruột, giải nhiệt mùa nắng. Mày đổi qua món đó đi, tao giữ nguyên giá bốn mươi ngàn một phần như thằng Nam báo, hổng bớt của tụi bay đồng nào đâu mà sợ thiệt thòi!”

Bình đứng bên trong bếp nghe rõ từng lời, tay đang xóc chảo thịt kho tiêu bỗng khựng lại giữa chừng. Anh liếc nhìn Duyên qua ô cửa sổ mui ghe, ánh mắt lộ rõ vẻ căng thẳng tột độ.

Quy ước vận hành ghe bếp mới ký tuần trước còn nằm rành rành trong ngăn kéo hộp sắt: *Không giảm giá tổng gói, không tự ý thay đổi khi chưa có sự đồng thuận, và thực đơn trong ngân sách cố định phải do ghe chủ động quyết định dựa trên tính khả thi thực tế.*

Nếu là Duyên của những ngày đầu tiên mới chập chững bước xuống ghe mở nghề, chắc chắn cô đã gật đầu cái rụp để chiều lòng vị chủ vườn giàu có, có máu mặt trong rạch. Cô sẽ hớt hải nổ máy chạy ngược ra chợ nổi Cái Mít lùng mua bằng được mớ bông điên điển trái mùa với cái giá cắt cổ hai ba trăm ngàn một ký, để rồi cuối buổi lại ngậm đắng nuốt cay ôm khoản lỗ nặng nề vào người chỉ để đổi lấy một lời khen suông. Nhưng vết thương từ những lần bù lỗ chè bưởi, từ những ngày máy gãy cốt láp nằm ụ ở xưởng Chú Tư vì cạn tiền bảo dưỡng vẫn còn đau nhói trong tâm can cô.

Duyên hít một hơi thật sâu, đón lấy luồng gió chướng khô khốc thổi qua lòng rạch. Cô đứng thẳng lưng bên mạn ghe, giữ nét mặt tươi tỉnh, hòa nhã nhưng giọng nói dứt khoát rành mạch từng lời:

“Chú Ba thương thợ, muốn thợ ăn mát dạ thì tụi con quý dữ lắm, làm thợ ai gặp chủ vườn như chú Ba cũng mừng. Nhưng mà chú Ba ơi, bông điên điển tháng này là hàng trái mùa, ghe buôn người ta giấm đá ướp lạnh mang về giá mắc gấp năm lần bông mùa nước nổi. Đơn cơm này thằng Nam khoán trọn gói bốn mươi ngàn một suất, tụi con đã cân đong từng cọng rau miếng thịt vừa khít định mức để nuôi ghe. Giờ chú đổi bông điên điển trái mùa mà giữ nguyên giá bốn mươi ngàn thì chiếc ghe tụi con chỉ có nước móc tiền túi ra đền phần chênh lệch, mà chuyến này tụi con làm ăn kiếm cơm bữa chớ đâu có dư dả gì.”

Nụ cười hào sảng trên mặt ông Ba Cương tắt ngấm. Ông ta nhíu đôi mày rậm, giọng hơi gắt lên, bàn tay gõ cồm cộp vào mạn xuồng composite:

“Gớm, có một nồi canh chua cho ba mươi miệng ăn mà tụi bay tính toán chi li dữ vậy? Khách quen trong rạch không, xởi lởi một chút sau này tao còn kêu nấu tiệc giỗ tiệc quảy cho vườn tao chớ! Làm ăn mà căn ke từng cọng rau cọng cỏ coi sao đặng!”

“Dạ chú Ba tính chuyện lâu dài tụi con đội ơn nhiều lắm,” Duyên không hề nao núng, ánh mắt cô vẫn bình thản nhìn thẳng vào mắt ông Ba Cương. Cô mỉm cười nhẹ nhàng rồi đưa tay chỉ lên rặng me cặp mé mương vườn nhà ông Ba ngay cạnh bến neo, nơi những cành me đang đung đưa rười rượi. “Nhưng con làm ăn ngay thẳng, lời ăn lỗ chịu theo giấy trắng mực đen chớ không dám nói dối chú. Nếu chú Ba muốn thợ có nồi canh chua thanh nhiệt để ăn cho đã nết đặng chiều leo hái cam, con tính cho chú phương án này vừa ngon vừa không tốn thêm đồng bạc nào: Chú cho con bẻ một rổ đọt lá me non ngay đầu bờ mẫu của chú. Con biểu thằng Bình lấy cá lóc tươi nấu một nồi canh chua cá lóc lá me non, dằn thêm chút ngò gai với ớt xắt. Lá me non đầu mùa chua thanh dịu ngọt, nấu với cá lóc béo múp trưa nắng nuốt tới đâu mát tới đó, bảo đảm thợ ăn sạch trơn không chừa một giọt nước, mà chú cháu mình hổng ai phải lấn cấn chuyện bù tiền chợ.”

Ông Ba Cương đứng sững lại trên mạn vỏ lãi. Điếu thuốc lá thơm trên môi ông ta cháy đỏ một góc tàn trắng rụng xuống mặt nước.

Ánh mắt soi xét của người đàn ông từng trải miệt vườn dời từ gương mặt quả quyết, đàng hoàng của Duyên sang rặng me trĩu trịt lá non mơn mởn đang đung đưa trong gió chướng mé bờ kênh. Vị chua thanh của đọt me non nấu với cá lóc đồng vốn là món ruột của dân sông nước những trưa hè nắng cháy, một hương vị mộc mạc nhưng thấm thía hơn nhiều thứ bông điên điển ngậm đá chở đò xa.

Một thoáng im lặng trôi qua giữa hai mạn thuyền, chỉ có tiếng sóng vỗ ì oạp vào be gỗ. Rồi bất chợt, ông Ba Cương bật cười khà khà, tiếng cười giòn tan vang động cả một khúc rạch vắng. Ông vỗ đùi đánh đét một cái:

“Mẹ cha mày! Con nhỏ này cái miệng sắc bén y như mũi dao tiện của Chú Tư Máy vậy! Nói chuyện nghe vừa tai mà có lý quá chừng, hổng bắt bẻ vô đâu được. Ừa, lá me non vườn tao đang ra đọt non mơn mởn đó, ra bẻ thoải mái, bẻ cho đầy rổ nấu cho đậm đà nghen! Miễn sao đám thợ húp cạn nồi canh trưa nay là tao ưng bụng!”

“Dạ, con cảm ơn chú Ba nhiều!” Duyên cười rạng rỡ, quay phắt sang nhìn Bình.

Bình bên trong bếp khẽ thở phào nhẹ nhõm, tảng đá đè nặng trong lòng anh rớt xuống cái thịch. Khóe môi người đầu bếp trẻ nở một nụ cười tán thưởng hiếm hoi dành cho sự khéo léo của bạn đồng hành. Anh nhanh tay với lấy chiếc rổ tre sạch sẽ đưa qua khung cửa sổ mui cho Duyên:

“Bẻ nhanh đi Duyên, đọt nào non xanh màu lá mạ hẵng hái! Nước sôi tao hạ lửa nhỏ dằn chút muối hột chờ sẵn rồi!”

***

Mười một giờ ba mươi phút trưa, nắng chói chang đổ lửa xuống những tán cam sành trĩu quả. Hơi nóng từ mặt đất bốc lên hầm hập làm rung rinh cả không gian tĩnh lặng của bờ bao. Tiếng kéo cắt cành tanh tách vang vọng suốt buổi sáng tạm ngưng bặt. Ba mươi người thợ hái cam và cắt bưởi chuyền cành, đầu đội nón lá rách vành, khăn rằn quấn cổ, áo quần ướt sũng mồ hôi bết chặt vào lưng, lục tục kéo nhau về căn chòi lá dựng giữa rặng dừa nước ven bờ rạch.

Trên chiếc bàn dài ghép bằng những tấm ván gỗ tạp kê trên mấy gốc dừa mục, bữa cơm trưa của ghe bếp đã được dọn ra tươm tất, thẳng thớm từng dãy chén sành và đũa tre sạch bong không một hạt bụi.

Nồi cơm lớn mở nắp nghi ngút khói trắng, hạt cơm gạo nàng hoa miệt Chợ Đào trắng ngần, dẻo quánh và thơm phức mùi lúa mới. Món thịt ba rọi kho tiêu đen bóng được múc đầy đặn trong ba chiếc tô lớn: từng miếng thịt vuông vức săn chắc, mỡ trong veo xen lẫn nạc mềm, nước kho quánh kẹo thơm lừng mùi hành lá và tiêu sọ giã dập cay nồng. Đĩa lòng mề gà xào bắp cải – nhờ bàn tay khéo léo và nhẫn nại của Bình đã chần kỹ qua nước gừng khử sạch mùi úng, xào lửa lớn giữ trọn độ giòn ngọt – bóng bẩy những sợi bắp non điểm xuyết những lát cà rốt đỏ au bắt mắt.

Và ngay chính giữa bàn, thu hút mọi ánh nhìn thèm thuồng, là chiếc nồi nhôm đại đựng món canh chua lá me non nấu cá lóc đồng. Nước canh trong veo nhưng đậm đà một màu xanh nhạt tự nhiên của đọt me vừa chín tới, từng khứa cá lóc đồng mập mạp, thịt trắng phau bốc khói nghi ngút, rắc ngò gai xanh mướt và vài lát ớt sừng trâu đỏ tươi cắt xéo cay nồng.

Mấy anh thợ hái mệt lả sau nửa ngày đánh đu trên ngọn cây cao, vừa ngồi phịch xuống băng ghế gỗ đã vội vàng cầm muỗng múc một chén canh chua húp thử. Một anh thợ lớn tuổi, da dẻ đen cháy vì dầm nắng dầm sương, tặc lưỡi đánh sụp một cái, mặt mày giãn ra đầy sảng khoái:

“Trời đất coi kìa! Canh chua lá me non nó thanh tao gì đâu á! Nuốt miếng nước canh vô nó róc cổ họng, giải nhiệt đã đời hơn ba cái đồ me vắt chợ nhiều! Vị chua này nó thấm vô khứa cá lóc béo ngậy, ăn vô tỉnh cả người!”

“Ăn đi mấy cha nội! Thịt kho tiêu này cay cay mặn mặn đưa cơm dữ dội lắm!” Một cậu thợ trẻ vừa và liền ba miếng cơm lớn vừa cười hỉ hả, mồ hôi còn lấm tấm trên trán.

Không khí căn chòi lá rộn rã hẳn lên giữa trưa hè oi nồng của miệt vườn. Ba mươi suất cơm hết veo trong vòng chưa đầy nửa tiếng đồng hồ. Những thau cơm trắng được vét sạch trơn đến hạt cuối cùng, những đĩa xào bóng loáng không còn một cọng bắp cải, và nồi canh chua đại chỉ còn trơ lại vài lát ớt chỉ thiên cay nồng nằm dưới đáy nồi nhôm.

Ông Ba Cương đứng dựa lưng vào cột chòi, tay cầm ly trà đá mát lạnh, nhìn đám thợ của mình ăn uống ngon lành, no say hể hả mà mặt mày giãn ra đầy vẻ mãn nguyện. Ông bước tà tà tới mé cầu ván nơi mạn ghe Duyên và Bình đang lui cui thu dọn xoong chảo, gật đầu khen tấm tắc:

“Tụi bay làm ăn coi bộ được việc dữ dằn. Cơm dọn đúng bon giờ giấc, đồ ăn nóng sốt, vừa miệng thợ thầy dữ lắm. Con Duyên biết linh hoạt xoay trở mà thằng Bình nêm nếm khéo tay quá chừng. Bốn ngày tới cứ giữ nguyên phong độ vậy nghen con, tao ưng cái bụng rồi đó!”

Võ Thành Nam đứng cạnh đó, tay cầm cuốn sổ điểm danh thợ và cây bút bi cài tai, nhìn Duyên nháy mắt cười đầy vẻ an tâm và tin tưởng. Cái gật đầu của Nam ngầm khẳng định rằng quyết định giao trọn gói thực đơn cho ghe bếp là một lựa chọn hoàn toàn chuẩn xác.

***

Chiều Chủ nhật, chuỗi hợp đồng năm ngày trọn gói cho tổ thợ miệt vườn của Nam chính thức khép lại suôn sẻ.

Năm ngày ròng rã, chiếc ghe bếp đã chạy dọc theo những con rạch ngoằn ngoèo của vùng Vàm Dừa, phục vụ đều đặn mỗi ngày ba mươi phần cơm trưa không sai sót một phút. Không có món nào bị đổi bậy bạ làm hỏng kế hoạch tài chính, không có cữ ăn nào trễ giờ khiến thợ phải chờ đợi dưới nắng, và quan trọng nhất là không phát sinh thêm một đồng chi phí vô lý nào ngoài kế hoạch dự toán ban đầu.

Chiếc ghe bếp nổ máy chạy tà tà ra bến Cái Mít, neo mình dưới rặng bần xanh mát quen thuộc, cách xưởng Chú Tư Máy chừng một trăm mét. Gió chiều thổi lồng lộng qua mui ghe, mang theo hơi thở mằn mặn của dòng nước lớn đang bắt đầu trườn mình lên mé bờ rạch. Những cánh hoa bần trắng muốt rụng lả tả trên mui tôn, trôi lững lờ trên mặt sóng dập dềnh.

Trên sàn mui gỗ còn thơm mùi dầu máy mới và mùi khói bếp thân thương, Duyên và Bình ngồi xếp bằng đối diện nhau. Chiếc hộp sắt đựng tiền dự phòng đặt ở giữa, bên cạnh là cuốn sổ tay bọc ni-lông mở rộng trang tính cuối tuần. Ánh sáng vàng vọt của buổi hoàng hôn hắt qua ô cửa sổ, rọi sáng từng con số được ghi chép cẩn thận.

Duyên cầm cây bút bi, nắn nót ghi từng con số thu chi của trọn vẹn năm ngày phục vụ:

**TỔNG THU (150 suất x 40.000 đồng): 6.000.000 đồng**

Bên cột chi phí, từng dòng được kê ra rành rọt, minh bạch không thiếu một cắc: - Tiền chợ nguyên liệu (thịt heo, cá, rau củ năm ngày): 2.850.000 đồng - Tiền đổi bình gas đôi (đã bù trừ hao hụt ngày đầu): 380.000 đồng - Tiền nước ngọt (bến Bà Hảo): 120.000 đồng - Tiền đá lạnh ướp đồ tươi: 80.000 đồng - Tiền dầu diezen chạy ghe máy đuôi tôm: 170.000 đồng - Tiền bao bì, rác thải và lặt vặt: 50.000 đồng

**TỔNG CHI PHÍ TRỰC TIẾP: 3.650.000 đồng**

Lấy sáu triệu trừ ba triệu sáu trăm năm mươi ngàn, số tiền chênh lệch còn lại là hai triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng.

Duyên ngẩng lên nhìn Bình. Giọng cô chậm rãi, trầm tĩnh nhưng chắc nịch từng tiếng:

“Theo quy ước ghe mình đã thống nhất, công lao động của hai đứa mình tính sòng phẳng hai trăm ngàn một người mỗi ngày. Năm ngày làm việc cật lực, tiền công của mày là một triệu, tiền công của tao là một triệu. Đúng chưa đầu bếp?”

Bình mỉm cười, đôi mắt ánh lên sự nhẹ nhõm:

“Đúng. Rành mạch vậy mới bền được.”

Duyên đếm tanh tách hai cọc tiền mặt năm trăm ngàn phẳng phiu, đẩy một cọc sang phía Bình, cọc còn lại cô cất cẩn thận vào túi áo ngực mình. Đồng tiền công sạch sẽ, minh bạch, được trả xứng đáng cho mồ hôi, nước mắt và kỹ năng của từng người, không phải lấy công làm lời một cách mù quáng, không phải cắn răng chịu đựng trong uất ức sau những giờ lao động cực nhọc.

Sau khi trừ hai triệu tiền công lao động của cả hai, cuốn sổ tay lần đầu tiên hiện ra một con số thặng dư bằng mực xanh rực rỡ:

**SỐ DƯ RÒNG: 350.000 ĐỒNG**

Ba trăm năm mươi ngàn đồng.

Nó không phải một món tiền khổng lồ có thể làm giàu sau một đêm, nhưng nó là đồng tiền lãi ròng thực sự đầu tiên sau bao nhiêu thăng trầm. Nó chứng minh rằng cỗ máy ghe bếp đã bắt đầu vận hành đúng quỹ đạo: nó tự nuôi sống chính nó, tự trả đủ chi phí nhiên liệu, khấu hao thiết bị và nuôi sống đàng hoàng hai con người đang chèo chống nó giữa dòng đời trôi nổi.

Duyên rút ba trăm năm mươi ngàn đồng tiền mặt phẳng phiu đặt lên mặt sổ, ngẩng lên nhìn Bình với ánh mắt tràn đầy sự tin cậy:

“Khoản lời ròng này, tao tính vầy: trích hai trăm ngàn đem qua xưởng gửi Chú Tư Máy. Cốt máy bãi bữa trước chú cho nợ một phần ân nghĩa, mình gửi chú đặng chú thấy mình làm ăn đàng hoàng, có trước có sau, không phải thứ quỵt nợ. Còn một trăm năm mươi ngàn, bỏ thẳng vô hộp sắt, lập cái quỹ riêng để sau này bảo dưỡng ghe với thay nhớt định kỳ. Mày thấy sao?”

Ánh mắt Bình sáng lên một niềm vui sâu lắng, ấm áp. Anh đưa bàn tay thô ráp vỗ nhẹ lên vai Duyên, giọng anh trầm ấm lạ thường giữa tiếng gió chướng rít qua mạn thuyền:

“Tính vậy là quá trúng rồi đó Duyên. Làm nghề trên sông, giữ được cái máy ghe cho ngon lành với giữ được chữ tín của người ta là giữ được cái cần câu cơm cho cả đời mình.”

Duyên cất một trăm năm mươi ngàn vào góc hộp sắt, tra chìa khóa then cẩn thận. Cô cầm hai trăm ngàn bước vội sang triền đà xưởng Chú Tư Máy.

Lúc quay trở lại ghe, trời đã sụp tối hẳn. Gió chướng thổi qua rặng dừa nước xào xạc mang theo những giọt mưa giông đầu mùa lành lạnh rớt lách tách trên mái tôn mui ghe.

Mây đen vần vũ phía rạch Bưng Sen mang theo tin nhắn dồn dập từ Phúc: đội công trường cần cơm gấp cho chiến dịch vá đê xuyên đêm.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories