Nằm Bến Chờ Lượt
Khói dầu máy khét lẹt bao trùm sàn sau của ghe khi chiếc xuồng máy của người quen kéo họ cập triền đà Xưởng Chú Tư Máy, nơi mùi mỡ bò và tiếng gõ búa chan chát chào đón Duyên bằng vẻ mặt nghiêm nghị của người thầy cũ.
Nước sông Cái Mít lúc này đang đứng lớn, mặt nước phẳng lì một màu xám đục ngầu phù sa, dềnh ứ rác rưởi, lục bình và những mảng bọt nhớt dạt vào chân cầu tàu. Từng đợt sóng ngầm do ghe đò tải trọng lớn ngoài luồng chính cứ thúc dồn dập vào mạn, làm chiếc ghe cải hoán tròng trành, lắc lư vô hồn như một khúc thân cây trôi dạt. Dưới đáy lườn, tiếng kim loại cọ quẹt vào vách gỗ nghe khô khốc, trơ trọi, từng hồi cộc cạch nặng nề báo hiệu một sự đổ vỡ bên trong khoang máy.
Người đàn ông chạy chiếc xuồng composite kéo giùm họ từ ngã ba vàm chỉ kịp gạt cần ga về số không, tháo sợi dây thừng ni-lông to bản đang buộc ghì mũi ghe bếp quăng trả lại lên sàn. Ông ghé mắt nhìn khoang máy đang tỏa khói âm ỉ, chép miệng một cái rồi đón lời cảm ơn lí nhí, đứt quãng của Duyên bằng một cái vẫy tay hờ hững. Tiếng máy đuôi tôm của chiếc xuồng rồ lên giòn giã, lách vội ra dòng nước xoáy sông Cái để tiếp tục hành trình chở chuối, bỏ mặc hai con người cùng chiếc ghe bếp nằm dạt vào mé sình đen đặc, hôi nồng mùi bùn rác của triền đà.
Mùi mỡ bò thối khẳm quyện lẫn mùi dầu cặn bốc lên từ lòng rạch. Dưới mé nước, những cọc tràm cắm làm bờ kè đã mục rỗng, bám đầy hà bám và rong rêu trơn tuột. Đất ở triền đà bị ngâm trong dầu thải qua hàng chục năm nên có màu đen kịt như hắc ín, mỗi bước chân dẫm xuống đều phát ra tiếng lẹp bẹp nhơm nhớp.
Chú Tư Máy đứng sừng sững trên sàn gỗ lim bóng nhẫy nhớt đen của gian nhà xưởng lộ thiên. Hai tay ông chắp sau lưng, cái mỏ lết mười bảy đã mòn vẹt miệng giắt ngang lưng chiếc quần bà ba cối bạc phếch màu chàm, ống thấp ống cao bết đầy mạt sắt. Cặp mắt ti hí kèm nhèm rỉ mắt và mỡ bò của ông quét chầm chậm từ mũi ghe, lướt qua khoang bếp trống hoác với mấy chồng thau nhôm còn vương váng mỡ, rồi dừng lại trơ trẽn ngay bệ máy đuôi tôm đang bốc hơi ngùn ngụt. Bọt khói màu xám tro còn lởn vởn quanh nắp quy-lát, mang theo cái mùi khen khét của ron cao su bị nung chảy và kim loại ma sát khô khốc.
"Dính chấu nữa rồi hả mầy?"
Chú Tư không buồn bước xuống mé nước. Giọng ông càu cạu, khàn đặc như tiếng sắt cùn mài trên đá lửa, khô khốc và không chứa một mảy may thương hại.
"Hồi sáng sớm tao đứng trên cầu sắt thấy cái bóng ghe cải hoán cắm cờ xanh chạy tà tà vô rạch Ba Cương, tao đã biểu thằng đệ ngoài bãi coi chừng. Con nước ròng bữa nay gắt như quỷ, đáy rạch toàn gốc bần gãy với miểng chai, tụi bay ham chạy ráng cho kịp mấy buổi chợ là có ngày ôm hận rớt máy giữa dòng. Tao nói có sai chữ nào hổng Duyên?"
Duyên bước vội ra sàn sau, hai bàn chân trần bấm chặt vào be ghe trơn tuột váng dầu để giữ thăng bằng. Mặt cô sạm đen vì nắng gió sông rạch, hai bên thái dương mồ hôi rịn ra kéo thành từng vệt ngoằn ngoèo qua lớp nhọ nồi chưa kịp chùi sạch sau buổi nấu trưa. Bắp chân cô run lên từng chặp vì mệt lả sau nửa ngày đánh vật với con nước ngược và cái máy chết lâm sàng giữa vàm.
"Chú Tư ngó giùm con cái máy…" Duyên thở hắt ra, giọng khản đặc vì khói dầu. "Đang êm ru ra tới vàm, chuẩn bị lách qua mé luồng đò thì tự dưng nó ré lên một tiếng rợn người, rồi khựng cứng ngắc. Bánh đà đứng tròng luôn, khói xả mù mịt sàn sau làm con với thằng Bình trở tay không kịp."
Bình đứng bên trong khoang bếp, hai tay bấu chặt vào mép vách ngăn bằng gỗ tạp đóng tạm bợ ngăn cách giữa nơi nấu nướng và khoang lái. Anh không dám thở mạnh, cả người thu lu lại trong bóng tối nhờ nhờ của góc mui ghe. Chiếc tạp dề sọc ca-rô dính đầy những vệt vàng ố của nghệ tươi, vết tương đen và mùi mỡ kho cá trưa nay vẫn còn treo lủng lẳng trước ngực, trĩu nặng như một cái gông vô hình xiết lấy cổ họng anh. Anh nhìn Chú Tư, rồi lại nhìn bờ vai gầy guộc của Duyên, hai bờ môi mím chặt không thốt nên lời.
Chú Tư khạc một bãi đờm đặc quánh xuống dòng nước đục ngầu, chậm rãi tụt xuống mấy bậc thang gỗ lim đóng tạm bợ bên mép vách triền đà. Đôi dép lào mòn vẹt của ông dẫm lên mép be ghe làm chiếc vỏ gỗ nghiêng nhẹ sang một bên, nước sông đập vào lườn ghe kêu "bộp" một tiếng nặng nề. Không thèm hỏi thêm câu nào, ông rút phắt cây mỏ lết mười bảy giắt bên hông, gõ côm cốp vào vỏ hộp số gang, đoạn khom người xuống, đặt bàn tay hộ pháp đầy vết thẹo vào tay quay khởi động.
Ông nghiến răng giật mạnh một cái. Cái bánh đà bằng gang nặng trịch chỉ nhích được chừng nửa phân rồi khựng lại với một tiếng "khực" khô khốc, phát ra tiếng kim loại cọ nghẹt thở bên trong thân máy.
"Mở nắp hộp bảo vệ ra." Chú Tư hất hàm, mắt không nhìn Duyên mà dán chặt vào khe hở bệ máy.
Duyên quýnh quáng chụp lấy cây tuýp số mười hai nằm lăn lóc dưới sàn máy, quỳ sụp hai đầu gối xuống lớp ván dính đầy nhớt đen. Bốn con ốc bắt nắp hộp bảo vệ đã rỉ sét vì nước mặn và hơi ẩm sông rạch rên rỉ ken két dưới lực tay run rẩy của cô. Cô siết răng, dùng cả sức nặng của thân người tì lên cán tuýp để bẻ từng vòng ren cứng ngắc. Bàn tay cô trượt đi một nhịp, mu bàn tay đập mạnh vào góc sắt nhọn của bệ máy rướm máu, nhưng cô không buồn xuýt xoa, chỉ vội vàng kéo tung nắp tôn chắn bụi ra ngoài.
Khi nắp tôn vừa bật mở, một luồng khí nóng hầm hập mang theo mùi kim loại bị nung cháy khét nghẹt xộc thẳng vào mặt cả ba người. Nhớt máy đen sì đặc quẹt như hắc ín hòa lẫn với vô số vụn mạt sắt li ti trào ra qua khe phốt cao su rách bươm, nhơn nhớt và lấp lánh như bụi chì dưới ánh nắng chiều oi ả.
Chú Tư không sợ dơ. Ông đưa ngón tay trỏ chai sần như da cóc thọc sâu vào khoang nhớt, miết nhẹ hai đầu ngón tay vào nhau nghe sột soạt, rồi đưa lên mũi ngửi. Ánh mắt kèm nhèm của người thợ già tối sầm lại. Ông rút trong túi áo ngực ra một cây đèn pin mắt ếch bọc cao su vàng, bấm công tắc rọi luồng sáng trắng đục thẳng vào cụm cốt máy nối ra trục láp.
"Gãy ngàm cốt máy rồi." Chú Tư buông cây mỏ lết xuống sàn gỗ nghe một tiếng "cốp" dửng dưng.
Cái âm thanh ấy rơi tõm vào không gian tĩnh mịch, đè nặng lên ngực Duyên như một tảng đá.
"Cái ngàm này bị nứt ngầm từ cái dạo tụi bay cắm đầu cào bùn ngoài rạch Bưng Sen hôm rằm tháng Chạp chứ đâu xa lạ gì," Chú Tư tiếp tục, giọng ráo hoảnh như thể đang đọc một bản án đã tuyên từ lâu. "Bữa đó kéo ghe về đây, tao đã dặn mầy đứt đuôi là phải rã máy ra, đưa lên bàn máy tiện canh lại tim cốt, kiểm tra bộ nhông truyền lực. Tụi bay tiếc tiền, chỉ chịu bấm bụng thay cái phốt láp hai trăm ngàn cho khỏi rỉ nhớt rồi ráng nhét tải cho nặng, rồ ga ép máy chạy vớt vát mấy bữa chợ. Trưa nay chạy ngược nước lớn ra vàm Cái Mít, dòng chảy cuộn xoáy, máy gồng quá trớn vượt tua. Ngàm gãy lìa làm đôi, kéo theo bánh răng ăn khớp bể nát răng trỏng luôn rồi. Giờ cái cốt cong queo như lưỡi câu, kẹt cứng ngắc vô lốc máy, có vác búa tạ tám ký đập cũng hổng nhúc nhích nổi một ly."
Duyên chết lặng. Hai đầu gối cô quỳ rạp trên sàn gỗ bỗng mềm nhũn ra. Cổ họng nghẹn ắng lại như có ai nhét đầy bùn non.
Cô nhớ như in cái trưa rằm tháng Chạp nắng cháy da ngoài Bưng Sen. Nước ròng sát đáy lòi cả những bãi bùn lồi lõm, chân vịt chém phầm phập vào gốc tràm mục ngầm dưới đáy rạch làm chiếc ghe khựng lại giật bắn. Lúc đó, tiếng máy gằn lên từng hồi đau đớn, máy hú rít như xé ruột xé gan. Khi về xưởng, Chú Tư bảo phải rã máy hết một triệu mấy, cô tiếc số tiền lời gom góp của cả tuần chợ Tết nên nài nỉ xin thay tạm cái phốt cao su để cầm cự. Cô cứ ngỡ chiếc ghe sẽ ráng gượng được qua mùa nước cạn, ngờ đâu vết nứt ngầm vô hình đã âm thầm ngoạm sâu vào từng thớ thép, gặm nhấm bên trong vỏ gang suốt từng hải trình, cho đến trưa nay thì bung toác hoàn toàn.
"Thay cốt máy bãi với bộ nhông khác hết bao nhiêu chú Tư?" Duyên run run hỏi, mắt dán chặt vào bóng lưng còng còng của ông thợ già, hai bàn tay chắp lại trước ngực trong vô thức. "Chú thương tình cho thợ kéo ghe con lên triền đà liền đi chú… Làm gấp giùm con chiều nay đặng mai con còn nhận mối tiệc nhỏ bên rạch Cỏ Ống… Người ta đặt cọc tiền rau cải hết trơn rồi chú ơi…"
"Kéo lên triền?"
Chú Tư từ từ đứng thẳng dậy. Khớp lưng của ông phát ra tiếng kêu răng rắc. Ông rút chiếc giẻ lau dính đầy mỡ bò đen nhẻm bên hông ra, chùi chầm chậm từng kẽ ngón tay cáu bẩn, rồi nhìn thẳng vào mặt Duyên. Ánh mắt ông không chút gợn sóng, lạnh ngắt và dứt khoát như một nhát kìm bấm đứt sợi kẽm gai.
"Mầy tính kéo lên rồi cho chiếc ghe chình ình chiếm chỗ của người ta hả Duyên? Tiền bạc chuyến trước mầy tính sao rồi?"
"Dạ… con có đem theo đây mà chú…" Duyên lúng túng thọc bàn tay dính đầy dầu nhớt vào túi quần bà ba, lôi ra một chiếc phong bì thư bằng giấy báo gấp tư đã cũ mềm, mép giấy nhăn nhúm vì mồ hôi và hơi ẩm sông rạch. Trên mặt phong bì còn nét chữ bằng bút chì mờ nhạt: *Trả nợ máy Chú Tư Máy chiều nay*.
"Bao nhiêu trỏng?" Chú Tư nhướng đôi lông mày rậm rạp bạc trắng, hất cằm cộc lốc.
"Dạ… hai trăm ngàn tiền phốt láp chuyến rồi con hứa dứt khoát với chú…" Giọng Duyên nhỏ dần, chìm nghỉm giữa tiếng gió sông rít qua rặng tràm.
Chú Tư bật ra một tiếng cười khẩy. Nụ cười khô khốc làm những nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt ông giật giật:
"Hai trăm ngàn đó là tiền cái phốt cao su với lon nhớt mười lăm ngày trước mầy nợ tao! Còn tiền công tao mài mặt bích, tiền ba con tán đồng tao tiện giùm mầy hôm rằm mầy để đâu? Cả thảy nợ cũ sổ sách xưởng tao ghi rành rành là năm trăm ngàn chẵn. Mầy đừng có tưởng xưởng Chú Tư Máy này là cái kho từ thiện của cái sông Cái Mít này! Quy tắc ở đây tao nói một lần cho mầy nhớ: nợ cũ chưa dứt điểm, tao không cho kê kích kéo ghe lên đà, cũng không bao giờ có chuyện xếp lượt cho mầy sửa tiếp. Mầy ngó ra sau lưng mầy coi, chiếc ghe cào của thằng Ba Đực đang nổ máy chờ ngoài mé vàm từ trưa tới giờ kìa!"
Duyên cắn chặt môi dưới, cắn mạnh đến mức vị tanh mặn của máu rỉ ra nơi khóe miệng. Gió sông Cái Mít thốc từng cơn lạnh buốt vào khoang máy trống hoác. Cô ngoái đầu nhìn ra mặt nước mênh mông, chiếc ghe cào mũi sơn đỏ của Ba Đực quả nhiên đang nổ máy xình xịch, lững lờ trôi cách mũi ghe cô chừng hai chục thước, khói xả đen ngòm phả lên mặt sông như một lời thúc giục tàn nhẫn.
Bình ở trong khoang bếp không kìm được nữa, anh bước xăm xăm ra sàn sau, gương mặt thường ngày hiền lành bỗng tái mét vì lo lắng. Anh vội vã thò tay vào túi áo bà ba mỏng dính, nơi đang cất hai tờ bạc một trăm ngàn phẳng phiu vừa mới được Duyên chia công sau buổi chợ trưa:
"Duyên… tao còn hai trăm ngàn tiền công hồi trưa mày chia nè… để tao đập vô phụ với mày trả cho Chú Tư…"
"Không được!"
Duyên quay ngoắt lại, gạt phắt tay Bình ra bằng một lực mạnh bất ngờ. Giọng cô run lên bần bật, nhưng cương quyết đến mức gắt gỏng:
"Tiền công mồ hôi nước mắt của mày trưa nay đứng chảo rát mặt, mày cất kỹ đó cho tao! Mày không được đụng vô một cắc nào hết!"
"Nhưng mà cái ghe nằm đây thì tụi mình chết đứng cả đám!" Bình dằn giọng, mắt đỏ hoe nhìn Duyên. "Mày giữ cái tự ái đó làm cái giống gì giữa lúc này?"
"Tao bảo cất là cất!"
Duyên dằn từng tiếng qua kẽ răng. Cô quay ngoắt trở lại khoang lái, bước sầm sập trên những tấm ván sàn ọp ẹp. Cúi rạp người xuống gầm bệ lái, cô giật tung cánh cửa tủ gỗ bằng ván ép ẩm mốc, lôi chiếc hộp sắt đựng bánh quy cũ kỹ rỉ sét ra ngoài. Tiếng chốt khóa kim loại bật mở "cạch" một tiếng khô khốc, vang vọng trong không gian chật hẹp của con thuyền.
Đôi bàn tay nứt nẻ, lem luốc dầu mỡ của Duyên run rẩy thọc sâu vào đáy hộp. Cô bốc sạch từng tờ tiền giấy bên trong rải ra sàn ván. Từng tờ bạc thấm đẫm mồ hôi, mùi hành tỏi và mùi nước mắm cá cơm bốc lên nồng nặc: hai tờ một trăm ngàn cô cố chắt bóp để dành trả nợ cũ cho Chú Tư; một tờ một trăm ngàn cùng bốn tờ mười ngàn tiền lời ròng vừa thu từ tay thằng Nam sau buổi bán cơm dĩa chật vật ngoài bến; và gom góp thêm từng tờ năm ngàn, mười ngàn nhàu nhĩ của phần tiền vốn mặt còm cõi còn sót lại sau chuỗi ngày chợ ế ẩm—vỏn vẹn một trăm mười ba ngàn đồng.
Duyên ngồi bệt xuống sàn, dùng những ngón tay khô ráp vuốt phẳng phiu từng nếp gấp của từng tờ bạc. Cô đếm đi đếm lại, tay run bần bật, gom thêm mấy đồng tiền cắc năm ngàn nằm lăn lóc nơi đáy hộp để làm tròn đủ năm trăm ngàn đồng chẵn.
Đáy chiếc hộp sắt giờ đây trống trơn, trơ trọi lớp thiếc ố vàng như lòng sông mùa hạn kiệt cùng. Trong người cô, trên chiếc ghe này, không còn sót lại lấy một đồng bạc cắc dự phòng cho bữa ăn ngày mai.
Duyên hít một hơi sâu, cầm xấp tiền bước thẳng lên bậc thang gỗ của triền đà. Cô chìa xấp tiền còn vương mùi mắm muối và dầu máy ra trước mặt người thợ già:
"Con trả dứt điểm năm trăm ngàn nợ cũ cho chú. Chú đếm lại giùm con cho rõ ràng."
Chú Tư liếc nhìn xấp tiền nhàu nát, rồi nhìn vào đôi mắt trừng trừng không chịu chớp của Duyên. Ngón tay trỏ chai sần của ông thoăn thoắt miết từng mép tiền, đếm ro ro một cách thuần thục của dân làm nghề sông nước. Ông không ngạc nhiên, cũng chẳng lộ vẻ hài lòng, chỉ lẳng lặng nhét xấp tiền vào túi áo ngực đã cài sẵn kim gút, kéo khóa lại nghe một tiếng "xoạt" dứt khoát.
"Đủ năm trăm." Chú Tư ngước lên, ánh mắt sắc như dao rọi thẳng vào mặt Duyên. "Bây giờ tính tới cái chuyện cốt máy gãy nát của mầy. Cốt bãi của cái dòng máy tám ngựa đuôi tôm này bực này hiếm như lá mùa thu. Muốn kiếm cái cốt còn xài được, tao phải sai thằng đệ chạy xe máy xuống tận mấy bãi rã ghe bên Bình Minh, lùng sục từng đống phế liệu mới mong có đồ vừa ngàm. Cốt mới keng xà beng nhập từ hãng về thì giá bạc triệu, thứ dân chạy ghe chợ như mầy rớ vô là phỏng tay liền. Cốt bãi rẻ nhất, bớt nước bớt cái cũng phải bảy trăm ngàn. Thêm tiền công rã máy, tiền tiện lại bạc lót, công kéo đà lên kê kích bét nhất cũng bốn trăm ngàn nữa. Tổng cộng một triệu mốt chẵn. Mầy có tiền mặt dằn túi đằng này không đặng tao sai người đi lấy đồ ngay bây giờ?"
Duyên đứng chết trân trên sàn gỗ lim. Hai cánh tay cô buông thõng dọc theo ống quần, trống rỗng và rã rời.
Một triệu mốt. Con số đó giữa lúc này đối với cô chẳng khác nào một gia tài ngoài tầm với.
"Con… con hết sạch tiền mặt rồi chú Tư." Giọng Duyên lạc hẳn đi, yếu ớt và chìm lỉm giữa tiếng đe tiếng búa chan chát dội ra từ sâu trong xưởng cơ khí.
"Hết tiền thì neo ghe nằm bến đó mà chờ." Chú Tư nói gọn lỏn, xoay lưng bước ngược lên dốc xưởng. "Chừng nào có tiền mặt tao mới cho thợ đi lùng phụ tùng bãi rã. Mà tao nói trước cho mầy liệu đường tính: cốt máy đời này bên Bình Minh hổng phải bữa nào rã máy cũng có sẵn đâu. Nhanh nhất cũng phải bốn ngày nữa mới có đợt ghe cào sắt dưới biển kéo về rã xác. Tụi bay lo mà neo sát vô mé lùm sậy đằng kia, cột dây cho chắc, đừng có nằm chình ình cản đường kéo ghe của bạn hàng tao."
Bóng lưng to bè, sực nức mùi nhớt máy và sự lạnh lùng của Chú Tư khuất dần sau những đống khung sắt, vỏ máy nổ và đống xích sắt ngổn ngang.
Bốn ngày.
Hai chữ ấy dội vào màng nhĩ Duyên như một tiếng sét giữa trời quang. Bốn ngày nằm ụ nơi triền đà đồng nghĩa với việc không có chợ sáng, không có khói bếp trưa bốc lên từ mui ghe, không có chén cơm nào được bán ra để thu về những đồng bạc cắc. Bốn ngày thời gian chết trên sông nước là bốn ngày hai miệng ăn phải tự gặm nhấm sự túng quẫn, trong khi chiếc ghe bếp—cần câu cơm duy nhất, chốn dung thân duy nhất của họ—bị biến thành một khúc gỗ mục bất động dạt bên mé sình lầy.
Bình thở dài một hơi thật khẽ sau lưng cô. Anh lẳng lặng quay vào khoang bếp, gom mấy cái thau nhôm úp lại cho ngay ngắn, tiếng nhôm va vào nhau nghe lẻng xẻng xót xa. Bỗng nhiên, tiếng chuông điện thoại reo vang từ chiếc túi vải treo trên vách gỗ, phá tan cái bầu không khí ngột ngạt đang quánh đặc lại như keo.
Bình vội vã lôi chiếc điện thoại cũ nát ra, nhìn màn hình hiển thị rồi ngập ngừng bấm nút nghe, giọng run run:
"Dạ… chị Liên… Dạ, em Bình đây chị…"
Duyên khựng người lại. Từng thớ cơ trên lưng cô cứng đờ. Cái tên Đỗ Thị Liên vừa thốt ra từ miệng Bình rớt vào tai cô như một vết rạn nhói buốt.
"Dạ… tiệc cưới ba mươi bàn ở bến đò Cái Răng hả chị?… Dạ, thiếu người đứng chảo chính với chia phần… Ngày mai với ngày mốt luôn hả chị?… Dạ… thù lao ba trăm ngàn một ngày… Dạ, em… em nhận được chị. Ghe tụi em đang nằm xưởng Chú Tư Máy bị gãy cốt láp, chắc mấy bữa nữa chưa nhúc nhích được… Dạ, sáng mai năm giờ em có mặt đúng giờ bên cơ sở bếp của chị."
Bình bấm nút cúp máy, vừa xoay người lại thì bắt gặp ngay ánh mắt của Duyên đang trừng trừng nhìn mình từ bệ lái.
Ánh mắt ấy không chỉ có giận dữ, mà chứa đầy một nỗi cay đắng, bẽ bàng và hụt hẫng đến tận cùng ruột gan. Duyên tựa lưng vào vách gỗ, môi mím chặt đến trắng bệch. Cô ngỡ như toàn bộ sàn gỗ dưới chân mình vừa sụp đổ một nửa. Bình nhận lời người ta nhanh đến thế sao? Chị Liên—người đàn bà từng đứng ở sân cô Sáu lớn tiếng chê bai chiếc ghe bếp bẩn thỉu, mỉa mai cách làm ăn chụp giật của dân sông nước, người nắm trong tay một cơ ngơi tiệc bờ lộng lẫy với những hợp đồng tiền triệu. Bình đi phụ bếp cho Liên, nhận ba trăm ngàn một ngày đều đặn, sạch sẽ, an nhàn hơn gấp vạn lần cái cảnh phải chui rúc dưới lòng ghe thấp tè, hít khói dầu khét lẹt và chia nhau từng cắc bạc lẻ bấp bênh này.
Có phải Bình đang tìm đường lui? Có phải Bình đã nhìn thấy sự sụp đổ không thể cứu vãn của chiếc ghe này, nên đang chuẩn bị dứt áo bỏ ghe mà bước chân lên bờ?
"Mày… mày tính bỏ ghe đi làm luôn cho bả hả Bình?" Duyên hỏi, giọng cô run lên bần bật, từng chữ rớt ra chua chát như ngậm phải trái bần non.
Bình ngẩng lên nhìn cô, ánh mắt anh thoáng chút bàng hoàng rồi nhanh chóng chuyển thành sự mệt mỏi, bất lực cùng cực:
"Mày nói cái giống gì vậy Duyên? Ghe nằm chết dí ở đây bốn ngày trời, tiền túi mày vét sạch trơn trả nợ cũ rồi, ngày mai lấy cái gì đổ vô họng hai đứa mình? Tao đi làm kiếm sáu trăm ngàn hai bữa tiệc đặng đắp đổi qua ngày, có tiền mua gạo mua mắm với gom thêm vô cho đủ tiền mua cốt máy bãi cho mày, chớ tao bỏ đi đâu?"
"Tao không cần mày phải đi làm mướn cho bả để nuôi cái ghe này!" Duyên gắt lên, lòng tự ái nghẹn ứ nơi cuống họng làm mặt cô đỏ bừng. "Bả khinh tụi mình chưa đủ hay sao mà mày còn vác mặt qua đó cho bả sai vặt như đứa ở? Mày quên bả nói gì ở bến cô Sáu rồi hả?"
"Bả khinh hay bả trọng thì người ta cũng trả tiền công sòng phẳng bằng đồng tiền tươi!" Bình gằn giọng, hai mắt long lên. Đây là lần đầu tiên anh lớn tiếng quát lại Duyên kể từ cái ngày họ mở cuốn sổ nợ ở sân cô Sáu. "Bả trả ba trăm ngàn một ngày công thật, tính bằng sức tao đứng chảo rát mặt từ sáng tới tối, chớ bả có xin xỏ hay bố thí cho tao cắc nào đâu? Mày coi lại chiếc ghe này coi, bao nhiêu lần tụi mình cắm đầu làm thục mạng, thức khuya dậy sớm rồi cuối cùng cầm về mấy tờ giấy nợ trừ cơm của thằng cha Phúc, hay mấy trăm ngàn tiền đền chén đĩa bể của cô Sáu? Tao không chê cái ghe này, nhưng tao không thể ngồi trơ mắt ngó cái ghe chết dí bên bãi sình mà bụng hai đứa đói meo được!"
Nói một hơi xong, ngực Bình phập phồng dữ dội. Anh không nhìn Duyên nữa, giật phắt chiếc nón lá rách treo trên vách, xốc lại quai nón rồi bước thẳng lên bờ đê triền đà. Bước chân anh nện thình thịch trên con đường đất lầy lội, hướng thẳng ra phía lộ lớn dẫn về bến xe buýt, để lại Duyên đứng trơ trọi một mình giữa sàn sau trống hoác.
Gió chiều từ sông Cái Mít thổi thốc vào rát rạt cả mặt. Duyên ngồi thụp xuống bậc sàn sau, hai gối co ro lại, vùi mặt vào hai lòng bàn tay chai sạn. Mùi khói dầu khét lẹt bám trên tóc, trên da thịt cô xộc thẳng vào khoang mũi cay sè. Chưa bao giờ trong suốt ba mươi tư năm cuộc đời, cô thấy mình bất lực, trơ trọi và cô độc đến mức này. Đôi bàn tay cô—đôi bàn tay từng tự hào có thể vặn từng con ốc, siết từng cọng dây curoa, bẻ lái con thuyền vượt qua bao nhiêu ngọn sóng dữ ngoài vàm sông lớn—giờ đây lại hoàn toàn bất lực trước một khúc sắt cốt máy bị gãy lìa và một túi tiền rỗng tuếch.
Điện thoại trong túi quần Duyên bỗng rung lên từng hồi bần bật, kéo theo tiếng chuông đơn âm khô khốc.
Duyên giật mình, vội vàng quẹt tay vào ống quần rồi lôi chiếc máy cũ ra. Trên màn hình mờ ố hiện lên hai chữ: "Má Hương".
Trái tim Duyên thắt lại đau điếng. Cô hít một hơi thật sâu, cố nuốt ngược sự run rẩy xuống lồng ngực, đưa tay vuốt mạnh lên mặt để xua đi cảm giác rã rời, hắng giọng mấy cái cho tiếng mình nghe có vẻ bình thường nhất rồi mới dám bấm nút nghe:
"A lô, má… má mới đi chợ về hả má?"
"Ừ, má mới về tới nhà, đang lặt mớ rau muống ngoài sau hè," Giọng bà Hương vọng qua ống nghe, đều đều, sắc sảo nhưng không giấu nổi sự săm soi quen thuộc của một người mẹ cả đời lăn lộn với gánh hàng rong. "Bữa nay ghe chạy đi đâu? Buôn bán bên mé cồn có trôi chảy không? Tiền bạc đợt này thu vô có đủ trả dứt điểm cho người ta chưa, hay lại khất lần khất lữa rồi ôm thêm nợ vô thân nữa đó?"
Như mọi lần, Duyên đã chuẩn bị sẵn trong đầu những lời dối trá ngọt ngào và trơn tru nhất: *Dạ êm xuôi hết trơn má ơi, bạn hàng đông lắm, con mới trả xong nợ xưởng rồi, má đừng có lo lung tung cho mệt người.* Nhưng chiều nay, khi nhìn buồng máy đen ngòm trơ trọi những mảng nhớt thối, nhìn chiếc hộp sắt rỗng không dưới bệ lái và bóng lưng cô độc của Bình vừa khuất sau rặng dừa nước, tất cả sự cứng cỏi giả tạo mà cô cố công gầy dựng bỗng chốc vỡ vụn ra thành trăm mảnh.
Cổ họng Duyên nghẹn đắng lại, sống mũi cay xè dữ dội. Cô mím chặt môi, cố nén một tiếng nấc nhưng một giọt nước mắt nóng hổi đã không kìm được, lăn dài qua gò má lem luốc dầu mỡ rồi rớt "độp" xuống sàn gỗ dưới chân.
"Sao nín thinh vậy mầy? Có chuyện gì hả Duyên?" Giọng bà Hương bên kia đầu dây bỗng hạ thấp xuống một nhịp, bớt đi vẻ gắt gỏng thường nhật, thay vào đó là một sự căng thẳng dồn nén.
"Má…" Duyên nấc nghẹn lên một tiếng, nước mắt trào ra giàn giụa không còn cách nào ngăn lại được nữa. "Ghe… ghe con bị gãy cốt máy rồi má ơi… Giờ đang nằm ụ dưới xưởng Chú Tư… Con… con nhẵn túi rồi má ơi…"
Đầu dây bên kia im bặt một hồi lâu. Không gian tĩnh lặng đến mức Duyên có thể nghe rõ mồn một tiếng gió xào xạc qua rặng tre sau nhà má ở quê, tiếng con gà mái nhảy ổ kêu quang quác bên chái bếp. Duyên nín thở, nhắm nghiền mắt lại chờ đợi một trận lôi đình trút xuống đầu, chờ đợi câu mắng mỏ quen thuộc mà má vẫn thường buông ra mỗi khi cô thất bại: *Tao đã bảo mày rồi mà mày không chịu nghe lời tao, con gái con lứa không lo kiếm tấm chồng mà bày đặt ôm cái ghe rách buôn bán ngoài sông cho rước nợ vô thân!*
Thế nhưng, bà Hương không la mắng. Tiếng thở dài của bà trút qua ống nghe, nghe nặng trịch và chua xót:
"Rồi thằng Bình đâu? Hai đứa tính xoay xở làm sao?"
"Bình… Bình nhận lời qua phụ tiệc cho người ta để kiếm tiền công nhật… Còn con… tiền túi gom góp trả nợ cũ hết sạch trơn rồi, không có tiền mua cốt máy bãi… Xưởng bắt neo ghe nằm chờ ít nhất bốn ngày nữa má ơi…" Duyên nấc lên từng chặp, ngón tay bấu chặt vào mép ván sàn.
"Gãy cốt thì phải thay, chớ mầy ngồi đó khóc lóc nước mắt có mọc ra được cái cốt máy mới không?" Giọng bà Hương cất lên, nghe đanh thép, cứng cỏi nhưng không còn sự cay nghiệt thường ngày. "Má nói cho mầy nghe nè Duyên. Nhà mình hổng phải cái kho bạc mà hễ ghe mầy đụng chuyện là má móc tiền ra đắp vô cho mầy gỡ gạc đâu. Má hổng có tiền cho mầy mượn. Mầy muốn làm chủ chiếc ghe, mầy muốn tự quyết cái nghề của mầy thì mầy phải tự chịu trách nhiệm với cái máy mầy chạy, với con nước mầy đi qua. Nhưng nếu cùng đường quá, chịu hết nổi cái cảnh lênh đênh bấp bênh rày đây mai đó này… thì bán quách cái ghe đi, dắt lưng vài đồng về nhà với má. Cơm mắm có nhau, hổng có ai để mầy chết đói đâu mà sợ."
Duyên quệt mạnh mu bàn tay lên khóe mắt, lau sạch những vệt nước mắt nhạt nhòa trên gò má sạm đen:
"Dạ… con hiểu rồi má. Con không bán ghe đâu. Con tự lo được mà má."
"Tự lo được thì ráng mà đứng dậy, đừng có ngồi đó mà rên rỉ như con nít." Bà Hương cúp máy dứt khoát.
Tiếng tút tút kéo dài trong ống nghe như từng nhát búa gõ vào tâm trí Duyên. Cô nắm chặt chiếc điện thoại trong lòng bàn tay nóng rực. Lời nói của má như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt giữa trưa hè, làm tan biến hoàn toàn sự yếu đuối, bi lụy vừa chực trỗi dậy. Đúng vậy, má không nợ cô một chiếc máy mới, và dòng sông này cũng chẳng nợ cô một chuyến đi bình yên. Chiếc ghe này là do chính cô chọn mua, con đường này là do chính cô vạch ra, thì dẫu có phải lột da tróc vảy, chính đôi bàn tay cô phải giữ cho nó tiếp tục nổi trên mặt nước.
Duyên đứng bật dậy. Cô chùi sạch nước mắt, vuốt lại mái tóc bết dính dầu mỡ, xốc lại ống quần bà ba rồi bước thoăn thoắt lên dốc triền đà, đi thẳng một mạch vào khu nhà xưởng ngổn ngang của Chú Tư Máy.
Chú Tư lúc này đang đứng bên chiếc máy tiện con sâu đời cũ, đeo cặp kính bảo hộ mờ đục vì bụi than, lúi húi gọt một đầu trục láp bằng thép đặc. Tiếng dao tiện rít lên rin rít chói tai, từng dải phôi thép màu xanh biếc xoăn tít bắn ra tung tóe xuống khay hứng.
"Chú Tư!" Duyên gọi to, giọng cô đanh lại, át cả tiếng mô tơ điện gầm rú.
Chú Tư gạt cần tắt công tắc điện. Chiếc máy tiện quay chậm dần rồi dừng hẳn. Ông tháo kính bảo hộ xuống, nheo cặp mắt kèm nhèm nhìn cô gái trẻ:
"Gì nữa mầy? Kiếm đâu ra tiền mà đứng đó kêu réo?"
"Con không có tiền mặt, nhưng con có sức lực!" Duyên đứng thẳng người, hai chân giang rộng vững chãi như thế đứng lái ghe qua vàm, mắt nhìn xoáy vào người thầy cũ. "Bốn ngày ghe con nằm đây chờ phụ tùng bãi rã, chú cho con làm công nhật ở xưởng của chú đi. Bất cứ việc gì thợ chú chê nặng, chê dơ, chê độc hại, chú cứ giao hết cho con làm. Cạo rỉ vỏ ghe sắt, rửa đồ lòng máy nổ bằng dầu hôi, hay tiện ốc bù lon, cái gì con cũng làm được hết. Chú cứ tính công nhật con theo giá thợ phụ ngoài bãi, rồi trừ dần vô tiền công rã máy với tiền kéo đà cho con!"
Chú Tư nheo mắt nhìn Duyên từ đầu đến chân. Ánh mắt nghiêm khắc của người thợ già lướt qua đôi bàn tay thô ráp đầy sẹo của cô, nhìn thấy vệt nhọ nồi bết dính trên trán và ánh mắt lì lợm, quật cường không chịu cúi đầu.
"Mầy tưởng xưởng tao thiếu thợ phụ hả con nhỏ kia?" Chú Tư hừ một tiếng qua kẽ răng, nhưng khóe miệng hơi giật giật. "Việc cạo rỉ vỏ ghe sắt của thằng Ba Đực bụi sét dữ dội lắm, hít vô phổi mục phổi ráng chịu à nghen. Rồi đống ốc bù lon mười bốn ở góc đằng kia kìa, tao cần tiện lại bước ren nhuyễn cho đội ghe cát ngoài bến, một trăm con cả thảy. Tiện sai một con, lờn một bước ren là tao trừ vô tiền công mầy gấp đôi. Làm nổi hổng?"
"Nổi! Chú đưa đồ nghề với phôi ốc đây cho con!" Duyên không chớp mắt lấy một lần, đáp ngay tắp lự.
Chú Tư không nói thêm lời nào, chỉ hất cằm về phía đống vỏ ốc bằng sắt rỉ sét nằm lăn lóc bên cạnh chiếc máy tiện phụ ở góc xưởng.
Suốt từ hai giờ chiều hôm đó cho đến tận trưa ngày hôm sau, góc xưởng của Chú Tư Máy không ngớt vang lên tiếng búa đục rỉ sắt chan chát và tiếng rít đều đặn của máy tiện ren. Duyên không nghỉ tay lấy một phút. Dưới cái nóng hầm hập như thiêu như đốt phả xuống từ mái tôn xi măng thủng lỗ chỗ, người cô ướt sũng mồ hôi, chiếc áo bà ba dán chặt vào lưng. Da mặt, cổ áo và hai cánh tay cô bám đầy một lớp bụi rỉ sắt đỏ quạch quyện lẫn mùi dầu cắt gọt kim loại nồng nặc đến nghẹt thở.
Từng con ốc bù lon rỉ sét được cô dùng kẹp sắt gá chặt lên mâm cặp, đưa mũi dao tiện hợp kim vào chuẩn xác từng mi-li-mét. Đôi tay Duyên vặn tay quay nhịp nhàng, mắt dán chặt vào từng đường ren xoắn ốc đang dần hiện ra bóng loáng, sắc lẹm dưới dòng dầu làm nguội chảy róc rách. Đôi bàn tay cô phồng rộp lên những nốt bọng nước đau rát vì ma sát với kim loại nóng bỏng, nhưng cô chỉ nghiến răng xé vội miếng băng keo cá nhân dán đè lên rồi tiếp tục siết ốc, không để cho cỗ máy dừng lại dù chỉ một vòng quay.
Đến trưa ngày thứ hai, khi tiếng còi tan ca của xưởng đóng tàu bên kia sông Cái Mít hú lên một hồi dài xé toạc không gian tĩnh lặng, Duyên mới gạt cần tắt máy tiện. Bụng cô sôi lên ùng ục vì đói, hai bắp tay mỏi nhừ đến mức không nâng nổi chiếc giẻ lau.
Dưới ghe bếp, đồ ăn chẳng còn gì ngoài một ơ cơm nguội khô khốc và nửa hũ mắm quẹt tóp mỡ từ hôm qua còn sót lại. Duyên trút hết phần cơm nguội vào chiếc cặp lồng nhôm cũ kỹ ba ngăn, bắc chiếc bếp dầu lên hâm lại chén mắm quẹt cho sôi lục bục, thơm lừng mùi tiêu sọ và hành phi, rồi cẩn thận đậy nắp gài then mui ghe lại. Cô xách chiếc cặp lồng nhôm, bước chân trần đi bộ men theo con đường đan nhỏ hẹp ven sông chừng hơn một cây số để tìm đến ngã ba bến đò Cái Răng—nơi đặt cơ sở bếp tiệc bề thế của Đỗ Thị Liên.
Duyên không có ý định đến để làm phiền hay van xin Bình trở về. Nhưng cô nhớ rõ sáng nay Bình đi từ tờ mờ sáng, bụng đói meo chưa kịp có hột cơm dằn bụng. Và sâu thẳm trong lòng, một nỗi bứt rứt không tên thôi thúc cô phải tận mắt chứng kiến người bạn đồng hành của mình đang sống và làm việc ra sao ở cái thế giới trên bờ kia.
Cơ sở nấu tiệc của Liên là một khu nhà kho rộng thênh thang nằm sát mặt lộ nhựa lớn, mái tôn cao vút có gắn dàn quạt hút công nghiệp chạy ro ro êm ru, liên tục đẩy hơi nóng và mùi khói ra ngoài. Khác xa với cái không gian chật chội, lắc lư chực lật úp của chiếc ghe chín mét nơi Duyên và Bình phải khom lưng lách qua từng can nước ngọt, ở đây là ba dãy bàn inox dài ngoằng, sáng choang không một hạt bụi. Hàng chục chiếc bếp khè công nghiệp xếp thẳng tắp như hàng quân, ngọn lửa xanh biếc bốc lên phần phật dưới đáy những chiếc chảo xào khổng lồ sâu lòng.
Duyên nép mình bên cánh cửa sắt kéo, đứng lặng đi nhìn vào bên trong.
Và cô sững sờ.
Bình đang đứng sừng sững ở vị trí chảo chính ngay trung tâm gian bếp. Anh mặc chiếc áo đầu bếp màu trắng tinh tươm có thêu logo đỏ của cơ sở tiệc, đầu đội nón vải trắng ngay ngắn, tươm tất. Đôi bàn tay thường ngày quen bưng thau nước rửa chén cáu bẩn dưới sàn ghe giờ đây đang thoăn thoắt, điêu luyện điều khiển chiếc vá gang lớn. Anh hất chảo một nhịp dứt khoát, ngọn lửa bùng lên liếm quanh vành chảo, đảo đều hàng chục ký mực tươi và tôm sú đang chín tới bốc khói thơm lừng. Động tác của anh chuẩn xác, tự tin và uyển chuyển như một người nghệ sĩ đang làm chủ hoàn toàn sân khấu của mình.
"Tổ ba, chuẩn bị năm mươi dĩa gỏi ngó sen tôm thịt!" Tiếng Bình cất lên, vang rền và đanh gọn, át cả tiếng quạt hút công nghiệp. Đó hoàn toàn không phải là giọng điệu rụt rè, cả nể, ngập ngừng của anh chàng phụ bếp mỗi lần đối mặt với khách hàng khó tính ngoài bến sông. "Định lượng tôm hai con, mực ba miếng đúng chuẩn công thức, không đơm dư làm hao hụt, không đơm thiếu làm mất mặt chủ tiệc! Bàn giao ca mười một giờ ba mươi phải ra đủ mười lăm bàn đầu tiên cho đội bưng mâm!"
Ba người phụ bếp trẻ tuổi răm rắp dạ ran, nhanh tay chuyển từng khay thức ăn theo đúng sự điều phối nhịp nhàng của Bình. Không có sự cập rập, hoảng loạn; không có cảnh thiếu nước ngọt phải chạy đôn chạy đáo xách từng xô; cũng không có cảnh phải độn xương gà hay băm vụn thịt để cứu vãn khẩu phần như bữa tiệc thảm hại ở sân cô Sáu. Ở đây, giữa ánh điện sáng choang và những dãy bàn inox lộng lẫy, Bình là một người thợ bếp thực thụ—tự tin, đĩnh đạc và nắm giữ toàn bộ quyền uy trong không gian ẩm thực chuyên nghiệp.
Đỗ Thị Liên đứng ở đầu bàn chia món, tay cầm tập phiếu thứ tự, mắt đảo qua chảo xào của Bình rồi khẽ gật đầu, nở một nụ cười hiếm hoi:
"Chảo xào độ lửa vừa khít đó Bình. Mực giòn sần sật, không bị ra nước làm hỏng rau củ. Cứ giữ đúng cái trớn này cho mười lăm bàn sau nghe em."
Duyên siết chặt quai xách của chiếc cặp lồng nhôm trong tay. Những khớp ngón tay cô trắng bệch ra vì dùng lực.
Một cảm giác nghẹn ngào khó tả dâng lên, bóp nghẹt lồng ngực cô gái trẻ. Bình giỏi đến thế kia mà. Anh có tài, có tay nghề, anh xứng đáng được đứng ở một nơi sạch sẽ, đủ đầy trang thiết bị, được đồng nghiệp nể trọng và được trả công xứng đáng với từng giọt mồ hôi đổ ra. Anh đâu có đáng phải chịu cảnh chui rúc dưới mui ghe thấp lè tè, vừa nấu vừa nơm nớp lo sóng đánh lật chảo dầu, vừa chia cơm vừa phải nhìn nét mặt từng người khách đò để đoán xem trưa nay người ta có quỵt nợ hay không. Chiếc ghe bếp cũ kỹ của cô… phải chăng chính là sợi dây xích vô hình đang ghì kéo bước chân anh lại giữa dòng sông tăm tối?
Duyên cắn môi, toan xoay lưng bước đi để giấu đi bộ dạng nhếch nhác của mình thì Bình đã vô tình ngoái đầu lại và bắt gặp ánh mắt cô qua khe cửa kính.
Bình sững người lại một giây. Anh buông chiếc vá gang xuống mép chảo, nói nhỏ với người phụ tá bên cạnh vài câu rồi cởi chiếc tạp dề trắng bước nhanh ra phía cửa sắt.
"Duyên? Mày tới đây chi vậy trời?" Bình ngạc nhiên nhìn bộ dạng lem luốc đầy bụi sắt đỏ quạch của cô, rồi ánh mắt anh rơi xuống chiếc cặp lồng nhôm cũ kỹ trên tay Duyên.
"Tao… tao sợ mày sáng giờ đi vội chưa có gì lót dạ, nên mang miếng cơm nguội với mắm quẹt hôm qua qua cho mày dằn bụng…" Duyên ấp úng, giấu vội bàn tay rộp máu dán băng keo cá nhân ra sau lưng áo.
Bình nhìn chiếc cặp lồng nhôm trầy xước, rồi nhìn lớp bụi rỉ sắt bám đầy trên vành tai, trên cổ áo và hai hốc mắt sâu hoắm vì thiếu ngủ của Duyên. Gương mặt anh chùng xuống, ánh mắt dịu lại hoàn toàn, không còn chút dấu vết nào của sự giận hờn, gay gắt của buổi chiều hôm trước.
"Mày làm thợ phụ cho Chú Tư thiệt đó hả?" Bình khẽ hỏi, giọng chùng xuống.
"Ừ. Tao cạo rỉ vỏ ghe sắt với tiện ốc ren. Tiện được sáu mươi con ốc rồi." Duyên gượng cười, cố làm ra vẻ cứng cỏi như mọi khi. "Ở đây… đồ đạc bếp núc ngon lành quá há Bình. Mày đứng chảo coi bộ hạp dữ, oai như bếp trưởng nhà hàng vậy."
Bình thở dài một hơi thật khẽ. Anh đưa tay đón lấy chiếc cặp lồng nhôm từ tay Duyên, mở nắp ra ngay tại bậc thềm cửa sắt. Mùi mắm quẹt tóp mỡ đậm đà, thơm nồng mùi đồng nội bốc lên ngào ngạt giữa không gian sực nức mùi bơ sữa và gia vị công nghiệp của tiệc cưới. Bình bốc một miếng cơm nguội quệt đẫm vào chén mắm quẹt, đưa vào miệng nhai chậm rãi. Anh nhìn thẳng vào mắt Duyên, ánh mắt kiên định và ấm áp:
"Bếp bờ nó khỏe cái lưng, đủ đồ nghề, làm xong ca là phủi tay lãnh ba trăm ngàn tiền tươi bỏ túi. Nhưng nó là bếp của chị Liên, công thức nêm nếm của chị Liên, tiệc tùng ngon dở gì cũng theo ý người ta định đoạt. Còn cái ghe dưới bến Cái Mít kia… dẫu nó có chật chội, có cực như chó, có hay gặp trắc trở hư máy bể lườn, thì nó là cái bếp của tụi mình. Tự tụi mình tính toán chén cơm manh áo, tự tụi mình chịu trách nhiệm với khách ăn. Tao qua đây phụ hai ngày kiếm sáu trăm ngàn đặng đập vô mua cái cốt máy bãi cho mày, chớ tao hổng có bỏ ghe đâu mà mày đứng đó trố mắt ngó như sắp mất của vậy con khỉ."
Duyên chớp mắt lia lịa để ngăn giọt nước mắt chực trào ra nơi khóe mi. Khóe miệng cô bất giác cong lên một nụ cười nhẹ nhõm, bao nhiêu gánh nặng đè nén trong lòng suốt hai ngày qua bỗng chốc tan biến:
"Mày… mày thiệt tình à…"
"Ăn hết miếng cơm này rồi tao vô làm tiếp cho xong đợt gỏi," Bình giục giã, xúc thêm một miếng cơm nguội nữa vào miệng nhai ngấu nghiến. "Mày mau mau quay về xưởng lo tiện cho xong bốn chục con ốc còn lại đi. Chiều nay tao lấy sáu trăm ngàn tiền công hai ngày tiệc đem về đập vô với tiền công nhật của mày, đặng dí ổng Chú Tư kéo ghe lên đà lắp máy lẹ lẹ. Đừng có để con nước rằm tới nó qua mất, uổng công bạn hàng ngoài bến chờ đợi!"
Duyên gật đầu thật mạnh, không nói thêm lời nào nữa. Cô xoay người rảo bước thật nhanh trên con đường đan ven sông. Bước chân cô thoăn thoắt, lồng ngực phập phồng nhẹ bẫng như vừa trút được một tảng đá ngàn cân đè nặng bấy lâu.
Chiều muộn buông xuống dòng sông Cái Mít. Ánh hoàng hôn đỏ ối như lòng đỏ trứng gà dát một lớp vàng sẫm rực rỡ lên mặt nước đang bắt đầu dềnh lên cuồn cuộn theo con nước lớn.
Tại góc xưởng cơ khí tăm tối, Duyên vừa vặn xong con ốc bù lon thứ một trăm. Tiếng ren sắt ăn khớp vào nhau kêu "cạch" một tiếng dứt khoát. Cô thở phào, tắt công tắc điện của máy tiện, dùng mảnh giẻ rách lau sạch phoi sắt trên bàn trượt, rồi cẩn thận xếp ngay ngắn một trăm con ốc ren mới tinh tươm thành mười hàng đều tăm tắp trên chiếc khay gỗ lim.
Tiếng dép lào lẹt xẹt quen thuộc vang lên phía sau lưng. Chú Tư Máy chậm rãi bước tới, trên tay cầm theo chiếc thước kẹp cơ khí bằng thép trắng bóng. Ông không nói một lời nào, khom lưng nhặt ngẫu nhiên năm con ốc ở năm góc khác nhau trên khay gỗ lên để kiểm tra.
Mũi thước kẹp kẹp chặt vào từng bước ren, xoay nhẹ từng vòng một cách tỉ mỉ.
Chú Tư giơ từng con ốc lên ngắm nghía dưới ánh sáng vàng vọt của bóng đèn tuýp nhà xưởng. Từng đường ren được tiện thẳng tắp, nhẵn thín, không một vết răng cưa gãy khúc, rãnh ren sâu đúng chuẩn nửa phân, không chệch dù chỉ một phần mười mi-li-mét so với thông số của đội ghe cát.
Ông đặt con ốc cuối cùng xuống khay, khẽ gật đầu một cái thật nhẹ—một cái gật đầu hiếm hoi mà suốt mấy năm theo học nghề sửa máy ở đây, Duyên mới được nhìn thấy lần thứ hai.
"Tay nghề tiện ren của mầy chưa bị lụt." Chú Tư cất chiếc thước kẹp vào túi áo ngực, ngoái đầu ra cửa xưởng gọi lớn bằng chất giọng rổn rảng: "Thằng Đực đâu! Dắt chiếc xuồng ba lá qua kho bãi rã bên Bình Minh, lấy cái cốt máy tám ngựa tao dặn hồi sáng về đây mau!"
Duyên giật bắn mình, hai mắt mở to nhìn người thầy cũ với vẻ hoài nghi tột độ:
"Chú Tư… Chú… chú dặn lấy cốt máy cho con từ hồi sáng rồi hả chú?"
"Hổng dặn trước thì đợi tới mùa quýt năm sau mới có đồ ráp cho mầy hả con khỉ?" Chú Tư càu cạu mắng, nhưng trong đáy mắt kèm nhèm của ông ánh lên một nét cười kín đáo, ấm áp lạ thường. "Thằng Bình trưa nay có ghé ngang xưởng đưa tao ba trăm ngàn tiền ứng trước của tiệc cưới. Cộng với một trăm con ốc mầy tiện ngay ngắn đực cái này, tao trừ sạch tiền công kéo đà với công rã máy cho mầy rồi. Coi như tụi bay vừa khít tiền sắm cái cốt bãi này, hổng nợ tao thêm một cắc bạc nào nữa hết."
Duyên đứng lặng đi giữa gian xưởng sực nức mùi dầu máy. Hai bàn tay rướm máu vì phôi sắt siết chặt lấy vạt áo bà ba, sống mũi lại cay xè, nhưng lần này không phải vì tủi nhục hay bế tắc, mà là vì một niềm xúc động nghẹn ngào đang trào dâng trong lồng ngực.
Nửa tiếng sau, chiếc xuồng máy chở khúc cốt máy bằng thép tôi đen bóng cập bến triền đà. Chú Tư không để cho đám thợ phụ đụng tay vào, đích thân ông xách giỏ đồ nghề bước xuống mé nước, lách thân hình hộ pháp chui tọt vào khoang máy chật hẹp phía sau ghe của Duyên.
Duyên lanh lẹ nhảy tót xuống theo. Cô cầm cây đèn pin mắt ếch rọi luồng sáng trắng thẳng vào buồng máy, hai tay thoăn thoắt chuyền từng chiếc cờ-lê, tròng vặn và tuýp siết ốc cho ông thợ già. Từng chiếc bánh răng ăn khớp mới tinh được tra đẫm một lớp mỡ bò vàng óng, trượt êm ru vào trục láp. Cốt máy bãi được Chú Tư dùng thước canh tim thẳng thớm từng ly một, rồi bắt chặt vào bệ gỗ lườn ghe bằng bốn chiếc bu-lông mạ kẽm sáng loáng.
Hoàng hôn tắt hẳn trên dòng sông Cái Mít, nhường chỗ cho bóng đêm mịt mùng và những ánh đèn dầu le lói từ các ghe thuyền xuôi ngược ngoài luồng chính. Dưới ánh đèn pin tù mù của khoang máy, tiếng siết ốc ken két vang lên giòn giã, nhịp nhàng như một khúc ca lao động quen thuộc của đời sông nước.
Chú Tư siết con ốc cuối cùng rồi nhìn Duyên lau mồ hôi: "Máy chạy lại rồi, nhưng cái đầu tụi bay đã biết khi nào nên dừng chưa?"