Xuyên Về Làm Chủ Tiệm SáchC.3 / 36
Chương 3

Mớ Bòng Bong Dưới Ánh Đèn Dầu

Tiếng sập cầu dao bất ngờ lúc chập tối khiến cả dãy phố Trần Nhân Tôn chìm nghỉm vào bóng đêm, buộc Tuệ Anh phải mò mẫm thắp ngọn đèn dầu hỏa hoa kỳ đặt trên bệ cửa kho sau.

Chiếc hộp quẹt Diêm Thống Nhất quẹt xoẹt đến que thứ ba mới chịu bén lửa. Hai que đầu tiên đã ỉu xìu vì ngấm khí trời nồm ẩm, đầu thuốc đỏ quẹt vào dải phốt-pho chỉ rẹt lên những tia lửa lép bép rồi tắt ngấm, để lại mùi lưu huỳnh hăng hắc vương vít đầu ngón tay. Đến que thứ ba, ngọn lửa con mới chịu bùng lên vàng rực. Tuệ Anh cẩn thận chụm bàn tay che chắn, áp ngọn lửa vào đầu bấc vải sợi bông đã cháy xém một nửa. Ngọn bấc cọt kẹt hút dầu, phụt lên một đốm sáng đỏ quạch rồi từ từ tỏa rộng thành quầng sáng vàng vọt, chập chờn rung rinh theo từng cơn gió luồn qua khe liếp. Mùi dầu hỏa cay nồng xộc thẳng lên sống mũi, quyện chặt với mùi ẩm mục của vách ván gỗ tạp và thứ hương vị ngai ngái quen thuộc của hàng ngàn trang giấy cũ đang phơi mình trong hơi nước.

Bên ngoài, cơn mưa rào đầu mùa của tháng Năm đổ ụp xuống mái tôn xi măng Fibrocement từng đợt ràn rạt như trút đá. Cả khoảng không gian trên đầu cô như muốn sụp xuống dưới sức nặng của bầu trời Sài Gòn vần vũ mây đen. Nước mưa từ những rãnh nứt chân chim trên mái tôn bắt đầu rỉ tí tách, gõ nhịp *tỏng... tỏng... tỏng...* xuống chiếc thau nhôm móp méo mà cô vừa vội vã kê tạm dưới sàn. Âm thanh kim loại vang lên khô khốc, đơn điệu, hòa cùng tiếng nước chảy xối xả từ máng xối tôn rỉ sét ngoài hẻm hông, dội vào bức vách ván ép mỏng manh những rung chấn run rẩy.

Tuệ Anh nâng chiếc bóng thủy tinh eo thon úp lại ngọn đèn, khẽ vặn chiếc núm đồng răng cưa để ghìm bấc xuống, ngăn bớt luồng khói đen muội than đang cuộn lên trần nhà. Cô đưa mu bàn tay áo lau vội vệt mồ hôi đang túa ra ròng ròng trên trán, chảy dọc xuống thái dương và đọng lại bên khóe mắt cay xè. Gian kho sau thấp lè kè, lọt thỏm giữa bốn bức tường vách ván ghép tạm bợ và mảng tường gạch phía sau chưa kịp tô vữa, lộ rõ những đường mạch hồ vôi vữa đã rã mục thành bột trắng. Không khí nơi đây đặc quánh, bức bối đến nghẹt thở, như thể từng phân tử bụi bặm đã ngưng đọng lại suốt hàng thập kỷ, chỉ chờ một bước chân người khuấy đảo để bùng lên giăng mắc vào cuống họng. Cô xắn cao hai ống tay áo sơ mi vải thô bạc màu, cúi người nhìn quanh “bãi chiến trường” hỗn độn vừa được ánh lửa vàng quét qua.

Trước mắt cô là một thảm họa bảo quản thực sự.

Hàng trăm, có lẽ lên tới hàng ngàn cuốn sách, tập san, tài liệu nằm la liệt thành từng đống cao ngút ngàn, nghiêng ngả như những pháo đài bằng cellulose sắp sửa sụp đổ dưới chính trọng lượng của mình. Chúng không hề được phân loại, không có bìa bọc bảo vệ, cũng chẳng có một chiếc giá kê cách ẩm đúng quy chuẩn. Những cuốn sách giáo khoa cải cách giáo dục đầu thập niên 80 với lớp bìa in bằng giấy xi măng thô ráp, xơ xác nằm đè bẹp lên xấp tiểu thuyết ba xu in giấy xốp Bỉ vàng khè, giòn rụm chỉ chực vỡ vụn nếu lỡ tay lật mạnh. Những tập san văn nghệ, tạp chí *Văn học*, *Sân khấu*, *Kiến thức ngày nay* quăn queo bốn góc, bìa rách tả tơi, bung chỉ khâu, nằm chen chúc hỗn loạn với mớ truyện trinh thám dịch của Liên Xô khổ bỏ túi in giấy rơm xám xịt.

Ở những góc khuất sát chân tường gạch chưa trát vữa, hơi ẩm từ nền đất xông lên biến mép giấy của những chồng sách dưới đáy thành một mớ bùi nhùi nhơn nhớt, bốc lên thứ mùi chua nồng của hồ dán tinh bột đang lên men thối rữa. Nấm mốc trắng xóa lấm tấm như phấn hoa độc hại mọc lan man trên các gáy sách bọc vải simili mục nát, ăn mòn từng thớ chỉ gai buộc ruột. Lũ gián đất nghe hơi người rào rào chạy trốn vào các khe kẽ tối tăm, để lại những vệt phân đen li ti bám chặt trên mặt giấy pơ-luya mỏng tang.

“Trời đất ơi, dì Lan ơi là dì Lan...” Tuệ Anh thở hắt ra một hơi, lồng ngực thắt lại vì xót xa khôn xiết.

Với bản năng của một người đã trải qua mười năm làm nghề biên tập viên xuất bản ở thế kỷ hai mươi mốt—nơi từng ấn phẩm được nâng niu trong môi trường máy lạnh hút ẩm liên tục hai mươi tư trên bảy, được kiểm soát nhiệt độ từ mười tám đến hai mươi độ C, và được lập danh mục phân loại bằng mã vạch số hóa tinh vi—cảnh tượng này chẳng khác nào một tội ác đối với tri thức nhân loại. Từng cuốn sách đối với cô đều là kết tinh mồ hôi, nước mắt của bao con người: từ tác giả thức trắng hàng trăm đêm bên trang bản thảo viết tay, người thợ xếp chữ chì miệt mài gắp từng con chữ ngược bằng nhíp dưới ánh đèn bàn chập chờn của xưởng in typo, cho đến người thợ đóng xén hoàn thiện từng đường kim mũi chỉ khâu tay tỉ mẩn. Ấy vậy mà ở đây, giữa lòng Sài Gòn năm 1996, chúng đang bị bỏ mặc cho độ ẩm nhiệt đới xích đạo và đàn mối mọt gặm nhấm từng ngày từng giờ.

Tuệ Anh hít một hơi sâu, nén chặt sự choáng ngợp và tuyệt vọng đang chực trào dâng. Cô không để sự nản lòng lấn át lý trí. Tình thế lúc này không cho phép cô chùn bước. Bức tối hậu thư bảy ngày của bà Tư Lành vẫn đang treo lơ lửng trên đầu tiệm sách Mộc như một lưỡi gươm phạt; nếu không tự cứu lấy mình, không cứu lấy đống gia tài giấy mực này, cô sẽ bị tống khống ra đường với hai bàn tay trắng giữa một thời đại xa lạ.

Cô kéo chiếc ghế gỗ đẩu thấp lại gần, đặt ngọn đèn dầu lên một chiếc thùng các-tông cứng cáp ở vị trí cao ráo, nơi ánh sáng có thể rọi xiên bao quát được nửa gian kho, rồi bắt đầu xắn tay lao vào công việc.

Bàn tay cô thoăn thoắt nhấc từng chồng sách. Bụi giấy lâu năm mịn như tro tàn và muội than bám đen kịt vào từng kẽ móng tay, ngấm vào da thịt ráp ranh. Cô làm việc với tốc độ và sự chuẩn xác lạnh lùng của một chuyên gia lưu trữ thư mục được đào tạo bài bản. Không có chỗ cho sự do dự hay cảm tính: cuốn nào gáy đã đứt rời hoàn toàn, các trang ruột mục nát vì ngấm nước bùn không thể cứu vãn phần chữ, cô xếp riêng sang một góc bên trái để tận dụng làm phôi bồi phục chế, lấy giấy dó hoặc giấy nền làm cốt vá víu cho các ấn bản khác sau này; những cuốn tiểu thuyết đại chúng, truyện kiếm hiệp dịch, truyện tranh mỏng rách mép nhưng ruột chữ còn sắc nét, đọc tốt thì được cô dùng mảnh giẻ khô lau sạch lớp bụi mốc bám ngoài gáy, đập nhẹ cho bay bớt mạt giấy vụn rồi xếp vào nhóm B, chuẩn bị đưa ra quầy trước để bán tháo giải phóng mặt bằng hoặc làm mồi nhử cho dịch vụ cho thuê sách giá rẻ; còn những ấn bản văn học dày dặn có giá trị nghiên cứu, tập san chuyên khảo văn hóa nghệ thuật quý hiếm thì được cô trân trọng nâng bằng hai tay, phủi bụi từng tờ rồi chuyển ngay lên tầng kệ gỗ phía trên cao, cách mặt sàn ít nhất một mét rưỡi để tránh xa vùng nước mưa đang chực tràn qua sàn gạch tàu lồi lõm.

Tiếng sấm rền vang ngoài trời rung chuyển cả vách ván ép. Từng luồng gió rít qua kẽ hở mang theo hơi nước phả buốt lạnh vào sống lưng trần ướt đẫm mồ hôi của Tuệ Anh.

Sau gần hai tiếng đồng hồ oằn mình khuân vác, cúi gập rồi lại rướn người, khớp thắt lưng cô mỏi nhừ như muốn gãy đôi, từng khớp ngón tay run rẩy, co rút lại vì lạnh và kiệt sức. Lồng ngực cô nhói buốt theo từng nhịp thở dốc vì hít phải quá nhiều bào tử nấm mốc và mùi khói dầu hỏa đặc quánh. Nhưng đổi lại, không gian căn kho đã thoáng đãng hơn một cách rõ rệt. Những chồng sách nguy cấp nhất đã được di tản khỏi vùng trũng ngập nước; thau nhôm hứng nước mưa đã đầy đến miệng, được cô khéo léo thay bằng một chiếc xô nhựa màu xám đục vớt vát được dưới chân cầu thang gác lửng.

Và chính lúc này, khi lớp chướng ngại vật bằng giấy mục ngổn ngang được dọn dẹp sạch sẽ, khoảng trống tối tăm dưới góc tường ẩm mốc nhất của gian kho mới thực sự lộ ra trọn vẹn dưới quầng sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu.

Nằm chìm sâu dưới chân chiếc kệ ván ép mục nát, nửa tựa vào chân tường gạch loang lổ, là chiếc rương gỗ lim bọc đồng mà cô đã thoáng nhìn thấy ban chiều. Dưới ánh sáng vàng chập chờn, những tấm ốp đồng hình hoa thị ở bốn góc rương ánh lên sắc xanh rêu phong cổ kính của lớp ten đồng bị oxy hóa qua năm tháng. Gỗ lim ngàn năm dường như trơ lỳ trước thời gian, dù ngâm mình trong hơi nước rỉ rả của những mùa mưa Sài Gòn bao năm qua nhưng thớ gỗ vẫn đanh chắc, nặng trịch như một khối đá ngầm đen thẫm. Chiếc then cài bằng đồng thau dày cộp nằm ngang nắp rương, bị khóa chặt bởi một ổ khóa đồng cổ lỗ sĩ to bản kiểu Pháp thuộc, bề mặt đã đóng một lớp gỉ sét dày cộm, phong kín khe cắm chìa.

Tuệ Anh quỳ gối xuống nền gạch tàu lạnh ngắt, đưa hai bàn tay bám đầy muội than nắm lấy chiếc cùm khóa, giật mạnh thử một cái.

Ổ khóa không hề suy suyển dù chỉ một milimet. Cùm gang cứng đơ ăn sâu vào then cài, như một lời khước từ đanh thép đối với bất kỳ kẻ tò mò nào muốn xâm phạm những bí mật đang ngủ yên bên trong.

Nhớ lại từng câu từng chữ trong bức thư trăn trối run rẩy của người dì quá cố—về lời dặn dò bí ẩn nhắc nhở cô phải tìm cho bằng được “những bọc sách chuyên khảo của ba cháu để dưới đáy tủ kho”—lồng ngực Tuệ Anh đập thình thịch từng nhịp dồn dập, căng thẳng. Bản năng mách bảo cô rằng câu trả lời cho sự sụp đổ bí ẩn của tiệm sách Mộc, và cả con đường sống duy nhất của cô lúc này, đang nằm gọn trong chiếc rương nặng trịch này.

Cô đứng dậy, cầm ngọn đèn rọi quanh các ngóc ngách chân tường phế liệu, và nhặt lên một chiếc đục sắt thợ mộc đã hoen gỉ, cán gỗ nứt nẻ được quấn chặt bằng nhiều vòng dây cao su ruột xe, cùng một cây búa sắt nặng trịch rỉ sét nằm chỏng chơ cạnh đống đinh ba phân.

Quỳ một chân xuống nền gạch trơn trượt, Tuệ Anh kê mũi đục sắt sắc nhọn vào khe hở chật hẹp giữa cùm khóa và khoen rương bằng đồng. Cô hít sâu một hơi, vung cây búa sắt lên cao.

*Cộc! Cộc! Choảng!*

Âm thanh kim loại va đập chát chúa vang dội đinh tai nhức óc trong không gian chật hẹp, chói gắt lấn át cả tiếng mưa gió sấm chớp gầm thét trên nóc nhà. Vệt gỉ đồng xanh xám bắn tung tóe ra nền gạch. Cánh tay phải của cô tê dại đi vì chấn động dội ngược, nhưng Tuệ Anh không dừng lại. Cô nghiến chặt răng, dồn hết trọng lượng cơ thể và sức bình sinh của cánh tay vào mũi đục, tì mạnh đục sắt bẩy ngược lên trên.

*Rắc!*

Một tiếng gãy giòn tan, khô khốc vang lên. Chốt khóa bằng đồng thau lâu năm đã bị mủn mục bên trong gãy lìa làm đôi. Ổ khóa nặng trịch rơi bịch xuống sàn gạch ẩm ướt, làm bắn lên một lớp bụi nước xám xịt.

Tuệ Anh buông rơi chiếc búa sắt. Đôi bàn tay cô run lên bần bật vì căng cơ và hồi hộp. Cô nín thở, đặt hai bàn tay lấm lem bụi đất lên mép nắp rương bằng gỗ lim nặng trịch, từ từ dùng lực đẩy ngược lên.

Bản lề rỉ sét rít lên từng hồi ken két chói tai như tiếng kim loại cọ xát vào đá tảng. Khi nắp rương bật mở, một luồng không khí khô khan, nồng đượm mùi long não trộn lẫn mùi băng phiến nồng nặc và hương thơm thanh khiết của giấy xơ sợi cổ điển lập tức tỏa ra, xua tan hoàn toàn thứ mùi ẩm mốc, chua loét tanh tưởi của gian kho ẩm thấp.

Tuệ Anh cúi sát người xuống nhìn vào lòng rương. Không gian bên trong được lót kỹ lưỡng bằng ba lớp vải dầu chống thấm nước màu nâu sẫm, các góc gấp nếp sắc cạnh, hoàn toàn khô ráo và nguyên vẹn một cách kỳ diệu. Sự đối lập giữa sự hoang phế bên ngoài gian kho và sự bảo quản cẩn mật đến mức tôn sùng bên trong chiếc rương khiến tim cô thắt lại.

Dưới lớp vải dầu trên cùng, không phải là những chồng sách chuyên khảo in ấn thông thường như cô mường tượng ban đầu, mà là một tập hồ sơ bằng giấy bồi cứng màu vàng rơm, được cột chặt hình chữ thập bằng một sợi dây dù bện màu xanh ô-liu đã sờn mối chỉ. Bụi thời gian bám dày thành một lớp nhung mỏng trên bề mặt bìa bồi.

Tuệ Anh nâng tập hồ sơ lên bằng sự cẩn trọng tột bậc. Đặt nó lên một chiếc bục gỗ khô ráo cạnh ngọn đèn, cô tỉ mẩn tháo từng nút thắt dây dù đã khô cứng. Bên trong lớp bìa bồi là một xấp chứng từ biên nhận viết tay rời rạc, những tờ hóa đơn in giấy than xanh lét đã ố vàng mép, và đặc biệt là hai cuốn sổ tay khổ A5 nằm xếp chồng lên nhau.

Cuốn thứ nhất là một cuốn sổ cái kế toán bìa cứng bọc vải simili màu xám chuột, bên ngoài dán một mảnh nhãn giấy kẻ khung đỏ ghi nắn nót dòng chữ: *“Sổ Kế Toán – Tiệm Sách Mộc”*.

Cuốn thứ hai mỏng hơn, là một cuốn sổ tay đóng gáy chỉ kẻ ô li học sinh loại bốn mươi tám trang của nhà máy giấy Bãi Bằng, bìa ngoài được bọc cẩn thận bằng một tờ giấy báo *Nhân Dân* cũ kỹ ngả màu, tuyệt nhiên không dán nhãn mác hay ghi bất kỳ dòng chữ nào bên ngoài.

Cả hai cuốn sổ đều được viết bằng thứ mực xanh Cửu Long sắc sảo, nét chữ thanh mảnh, nghiêng đều tăm tắp, các nét gạch nối và dấu móc chữ mang phong thái của một trí thức Tây học—nét chữ rất đặc trưng, không thể trộn lẫn của dì Lương Mộc Lan.

Tuệ Anh kéo ngọn đèn dầu lại sát mép bục gỗ, đặt hai cuốn sổ song song dưới quầng sáng vàng chập chờn của ngọn lửa hoa kỳ. Một linh cảm mãnh liệt thôi thúc cô phải làm sáng tỏ bức màn nhung này.

Cô lật mở cuốn sổ cái bìa cứng màu xám ra trước.

Đây chính là cuốn sổ kế toán danh chính ngôn thuận mà ban chiều bà chủ nhà Tư Lành từng lớn tiếng xỉa xói, mỉa mai, và cũng là cuốn sổ mà dì Lan luôn dùng để đối chiếu, trình bày mỗi khi có ai đó ghé qua đòi tiền sách, tiền hàng. Từng trang giấy kẻ cột mục rõ ràng, ghi chép rành mạch các khoản thu chi vụn vặt hằng ngày suốt từ đầu năm 1993 kéo dài cho đến những ngày đầu năm 1996.

Nhưng những con số hiện lên trong cuốn sổ này chỉ toàn vẽ nên một bức tranh thảm hại, bi đát đến cùng cực:

Tiền thu bán sách lẻ mỗi ngày chỉ lẹt đẹt vài ngàn, mười mấy ngàn, hãn hữu lắm mới có ngày chạm mốc ba mươi ngàn đồng; tiền bán báo cũ, giấy vụn chỉ đủ mua vài bó rau muống và vài lạng gạo hẩm; trong khi đó, các khoản chi cố định lại đè nặng từng trang: tiền điện sinh hoạt, tiền nước máy, tiền thuế môn bài tăng dần theo từng quý; các khoản chi mua báo ế, tạp chí tồn kho chất đống không bán được; và nổi bật nhất, nhức nhối nhất là những dòng nợ tiền mặt được gạch chân bằng mực đỏ chót ở cuối mỗi tháng:

*“Nợ tiền thuê nhà tháng 2/1996: 1.200.000đ;”*

*“Nợ tiền thuê nhà tháng 3/1996: 1.200.000đ;”*

*“Nợ tiền thuê nhà tháng 4/1996: 1.200.000đ;”*

*“Cộng dồn nợ chủ nhà: 3.600.000đ.”*

Dưới cùng mỗi trang sổ là những dòng tổng kết lỗ lã triền miên kèm theo những nét mực run rẩy như tiếng thở dài nghẹn ứ: *“Thâm hụt vốn lưu động trầm trọng”, “Tiền mặt cạn kiệt, không đủ trang trải tiền thuốc men cho bệnh phổi”, “Tiệm ế ẩm, khách chỉ thuê truyện tranh vài trăm bạc”*...

Nhìn vào cuốn sổ này, bất kỳ một kiểm toán viên, một chủ nợ hay một người ngoài cuộc nào cũng sẽ đi đến một kết luận duy nhất: Tiệm sách Mộc là một con thuyền đắm vô phương cứu chữa, một gánh nặng tài chính kiệt quệ đang ngắc ngoải bên bờ vực phá sản hoàn toàn, và cái chết của bà chủ tiệm chỉ là dấu chấm hết định mệnh cho một cơ sở buôn bán thất bại thảm hại.

Thế nhưng, khi ngón tay Tuệ Anh tò mò lật mở cuốn sổ tay bìa bọc giấy báo thứ hai, đồng tử cô đột ngột co rút lại.

Trang đầu tiên mở ra không hề có những cột mục thu chi tầm thường. Thay vào đó, nó là một cuốn nhật ký nội bộ, ghi chép cực kỳ chi tiết, mạch lạc từng giao dịch ngầm, từng phi vụ trao đổi sách quý và dòng tiền thật sự chảy qua tiệm Mộc. Nét bút mực xanh Cửu Long ở đây không còn vẻ run rẩy, bi quan, cam chịu như cuốn sổ cái trưng cho thiên hạ thấy, mà đanh thép, sắc bén, cẩn trọng và mang đầy tính toán chuyên môn của một chuyên gia thư mục lão luyện.

Tuệ Anh nín thở, ngón tay run nhẹ lướt nhanh qua từng dòng chữ nắn nót:

*“Ngày 12 tháng 8 năm 1994: Thu mua trọn lô tài liệu gia đình của cụ cử nhân Mai Đăng tại Tân Định. Tổng chi tiền mặt: 4.500.000đ. Đã chọn lọc ra 12 bản khắc gỗ cổ triều Nguyễn (niên hiệu Tự Đức) và 3 tập bản thảo chữ Nôm chép tay về y thuật cổ truyền chưa từng công bố. Tình trạng: Giấy sắc phong cổ còn tốt. Đã xử lý diệt nấm mốc, niêm phong vào rương gỗ dự trữ bảo tồn.”*

*“Ngày 05 tháng 11 năm 1994: Bán kín cho nhà sưu tập Việt kiều Pháp (ông Trần Trọng V.) tập thơ in lần đầu năm 1942 của Huy Cận có thủ bút tác giả đề tặng nhà văn Nhất Linh. Thu về tiền mặt: 800 USD (quy đổi theo tỷ giá chợ đen: 8.800.000đ). Trích 5.000.000đ chuyển thẳng vào quỹ bảo trợ bản quyền tác phẩm khảo cứu văn học.”*

*“Ngày 19 tháng 3 năm 1995: Chuyển khoản thanh toán đợt 2 cho người đại diện bản quyền tác phẩm dịch khảo cứu mỹ thuật cổ Việt Nam. Ký thác bảo mật: 6.000.000đ. Đã nhận đủ bản thảo dịch đánh máy chữ kèm phụ bản tranh khắc kẽm.”*

Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng Tuệ Anh, khiến toàn bộ da gà trên cánh tay cô nổi rần rần.

Cô vội vã lật giở liên tục từng trang, đôi mắt mở to quét qua hàng loạt con số đang nhảy múa trên trang giấy kẻ ô li Bãi Bằng.

Trời đất quỷ thần ơi! Hai cuốn sổ này ghi lại hai thực tại hoàn toàn đối lập nhau!

Một cuốn sổ được trưng ra cho người ngoài, cho bà Tư Lành và các chủ nợ nhìn vào để thấy một tiệm Mộc đang giãy chết trong bần cùng nợ nần, không có nổi vài chục ngàn bạc để mua thuốc cảm; nhưng cuốn sổ nội bộ bí mật này lại chứng minh rằng dì Mộc Lan đã liên tục luân chuyển những dòng tiền mặt khổng lồ lên tới hàng triệu, hàng chục triệu đồng—vào năm 1994, 1995, đó là cả một gia tài, đủ sức mua đứt cả một căn nhà phố khang trang giữa trung tâm Sài Gòn!

Dì Mộc Lan không hề thiếu tiền đến mức bế tắc. Bà là một tay buôn sách cổ cự phách, một nhà giám tuyển tư nhân ẩn mình dưới vỏ bọc một bà già bán sách cũ lam lũ. Bà đã chủ động che giấu toàn bộ dòng tiền mặt của mình. Bà thiết lập một hệ thống sổ sách hai mặt tinh vi để tạo ra lớp vỏ bọc nghèo túng tuyệt đối cho tiệm Mộc.

Nhưng câu hỏi nhức nhối bóp nghẹt tâm trí Tuệ Anh lúc này là: Tại sao dì Lan phải làm như vậy? Bà che giấu ai? Và khối tài sản tiền mặt khổng lồ thu được từ việc bán những ấn bản vô giá ấy rốt cuộc đã chảy đi đâu?

Tuệ Anh dồn dập lật qua những trang tiếp theo, tiến dần về những trang cuối cùng của cuốn sổ tay bí mật. Tại đây, nét chữ mực xanh của dì Lan bắt đầu có sự biến đổi rõ rệt. Những con chữ không còn nghiêng đều thẳng tắp nữa, mà bắt đầu nguệch ngoạc, run rẩy và đứt quãng—hậu quả của những cơn đau thắt lồng ngực và sự hành hạ thể xác của căn bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối trong những tháng đầu năm 1996.

Tại những trang này, dòng tiền không còn chảy vào việc mua bán hay tích trữ sách hiếm nữa. Tất cả nguồn lực tài chính tích cóp được suốt nhiều năm trời bắt đầu dồn dập đổ vào một địa chỉ duy nhất: một chuỗi các khoản tạm ứng tiền mặt cực lớn cho các cơ sở in ấn tư nhân và các xưởng đúc chữ chì.

Ở trang cuối cùng của cuốn sổ, dưới dòng ngày tháng đề ngày 20 tháng 4 năm 1996—nghĩa là chỉ chưa đầy một tháng trước khi bà ngã quỵ và qua đời trong cô độc tại bệnh viện Chợ Rẫy—có một vệt mực xanh bị nhòe nước, run rẩy ghi lại dòng chữ nghẹn ngào:

*“Đã dồn toàn bộ tiền bán lô sách Pháp cổ đợt cuối: 15.000.000đ. Xưởng in An Thành – tạm ứng tiền mua giấy in ngoại nhập và giữ bộ chữ chì đúc mới cho dự án tái bản hợp pháp bản thảo gốc. Tuyệt đối không để lộ danh mục ra ngoài trước khi hoàn tất thủ tục chứng thực tác quyền. Tuệ Anh... nếu cháu đọc được dòng này, hãy nhớ: Tiệm Mộc không sống nhờ giấy vụn, Mộc sống vì linh hồn của những cuốn sách thật sự...”*

Dòng chữ kết thúc bằng một vết chấm bút sâu hoắm, ngòi bút máy đâm thủng cả thớ giấy Bãi Bằng mỏng manh, tựa như hơi thở cuối cùng cạn kiệt của người viết.

Bàn tay Tuệ Anh run lên bần bật. Ngọn đèn dầu hoa kỳ phập phồng chao nghiêng theo luồng gió luồn qua khe ván, hắt bóng khuôn mặt cô lên vách ván ép chập chờn, mờ ảo như một bức tranh khắc gỗ bi tráng.

Xưởng in An Thành? Tạm ứng mười lăm triệu đồng tiền giấy và giữ bộ chữ chì đúc mới cho một dự án tái bản hợp pháp?

Là một biên tập viên xuất bản chuyên nghiệp, Tuệ Anh hiểu rõ hơn bất kỳ ai tính chất nghiêm trọng và quy mô khủng khiếp của dòng ghi chép này.

Vào thời điểm năm 1996, mười lăm triệu đồng tiền mặt là một con số khổng lồ! Nó tương đương với hàng chục cây vàng, đủ để mua đứt cả một căn nhà nhỏ có sổ đỏ ở vùng ven Tân Bình hay Gò Vấp. Dì Mộc Lan không hề tiêu xài hoang phí cho bản thân, không cờ bạc đỏ đen, và càng không phải là một kẻ kinh doanh vụng về để tiệm rơi vào cảnh khốn cùng. Ngược lại, người đàn bà ấy là một người làm sách có một lý tưởng kiên định, mãnh liệt đến mức cố chấp và liều lĩnh!

Bà đã dùng toàn bộ lợi nhuận thu được từ việc buôn bán những cuốn sách cổ quý hiếm để âm thầm nuôi dưỡng một canh bạc lớn nhất cuộc đời mình: một dự án tái bản độc lập, chuẩn mực cho một bản thảo vô giá nào đó—có thể chính là công trình nghiên cứu để đời của cha Tuệ Anh, hoặc một di sản văn hóa đang đứng trước nguy cơ thất truyền. Dì Lan đã chấp nhận sống một cuộc đời kham khổ, ăn cơm nguội với muối vừng, mặc áo vá, chịu đựng những lời sỉ vả, khinh miệt của bà chủ nhà Tư Lành và xóm giềng, tất cả chỉ để gom góp từng đồng bạc lẻ dồn vào xưởng in.

Nhưng nghiệt ngã thay, chính canh bạc vĩ đại ấy đã rút cạn những giọt tiền mặt thanh khoản cuối cùng của tiệm Mộc. Khi cơn bạo bệnh ập đến quá nhanh, dì Lan đã không còn kịp xoay xở lấy ba triệu sáu trăm ngàn đồng tiền thuê nhà ba tháng nợ đọng, dẫn đến bi kịch bà ra đi trong cô độc trên chiếc giường bệnh viện, để lại cho Tuệ Anh một gia tài ngầm đồ sộ nhưng đồng thời cũng là một bức tối hậu thư nghiệt ngã chỉ còn vỏn vẹn bảy ngày.

“Dì Lan... dì đã đánh một canh bạc quá lớn...” Tuệ Anh thì thầm trong bóng đêm, giọng cô nghẹn lại. Nước mắt cô ứa ra, lăn dài trên đôi gò má lấm lem muội than. Lồng ngực cô vừa trào dâng một niềm kính trọng, thương cảm vô bờ bến đối với người dì kiên trinh, vừa run rẩy trước sức nặng ngàn cân của trọng trách đang đè nặng lên vai.

Bà đã dốc kiệt sinh mệnh cho cuốn sách ấy. Vậy thì Tuệ Anh, với tư cách là một người làm sách của thế hệ sau, một người mang trong mình dòng máu của gia đình này, làm sao có thể để tiệm Mộc bị xóa sổ? Làm sao có thể để tâm huyết cả đời của dì Lan biến thành mớ giấy vụn lót ổ cho chuột bọ?

Tuệ Anh gập hai cuốn sổ lại, ép chặt vào lồng ngực. Tiếng đập thình thịch từ trái tim cô dội qua lớp bìa giấy, truyền vào da thịt một luồng sinh khí mới mẻ.

Cô ngẩng đầu lên, đưa mắt nhìn quanh gian kho tối tăm, ngột ngạt. Nhưng giờ đây, trong đáy mắt cô, cái nhìn về không gian này đã hoàn toàn thay đổi.

Nơi đây không phải là một đống rác phế liệu phá sản vô giá trị như bà Tư Lành nghĩ. Nơi đây không phải là một nấm mồ chôn giấu thất bại. Đây là một mỏ quặng thô vô giá, một kho báu tri thức bị vùi lấp dưới lớp bụi bặm của thời gian, đang chờ đợi một người thợ kim hoàn có đủ tri thức, kỹ năng và tầm nhìn để đãi cát tìm vàng!

Dì Lan đã gom về đây những ấn bản phi thường, nhưng sự ra đi đột ngột của bà đã khiến mọi trật tự bị đảo lộn. Bây giờ, Tuệ Anh phải là người lập lại trật tự đó.

Với nền tảng mười năm làm nghề biên tập, am hiểu sâu sắc về thư mục học, lịch sử văn bản và thị trường xuất bản, Tuệ Anh bắt đầu vạch ra một kế hoạch tác chiến chính xác trong đầu. Não bộ cô hoạt động với tốc độ tối đa, các dữ liệu phân tích thị trường năm 1996 tự động khớp nối vào từng kệ sách trước mặt.

Theo nguyên tắc thư mục học hiện đại, việc định giá một kho sách cũ tuyệt đối không bao giờ dựa vào hình thức bóng bẩy hay độ mới cũ của lớp bìa ngoài. Giá trị thực sự của một cuốn sách nằm ở ba yếu tố cốt lõi:

Thứ nhất là tính nguyên bản và lai lịch của ấn bản (ấn bản đầu tiên - *editio princeps*, ấn bản có bổ sung lời tựa của các bậc danh nho, hoặc có thủ bút, triện son của các danh sĩ, học giả tiền bối).

Thứ hai là giá trị nội dung chuyên khảo học thuật mang tính không thể thay thế (những công trình nghiên cứu điền dã, tài liệu dịch thuật kinh điển không còn được tái bản do tính chất kén độc giả).

Và thứ ba là độ khan hiếm trên thị trường thứ cấp (cung không đủ cầu, chỉ xuất hiện nhỏ giọt qua các kênh truyền khẩu của giới sưu tầm).

Tuệ Anh đứng dậy, cầm ngọn đèn dầu soi dọc theo những dãy kệ ván ép mà cô vừa phân loại sơ bộ lúc nãy. Ánh lửa vàng ấm áp liếm qua từng gáy sách, rọi sáng những chi tiết mà một người bình thường sẽ dễ dàng bỏ qua:

Kìa, trên tầng hai của chiếc kệ ván ép sát góc trong cùng, Tuệ Anh nhìn thấy ba cuốn giáo trình khổ lớn: *Khảo cổ học đại cương* và hai tập *Lịch sử văn minh Văn Lang - Âu Lạc* do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành từ những năm 1970. Giấy in là loại giấy rơm xám xịt thời bao cấp, gáy sách bọc vải chỉ khâu tay thô sơ, mép bìa đã sờn rách. Nhưng trời ơi, đây là những công trình khảo cứu điền dã kinh điển của các bậc viện sĩ tiền bối, chứa đựng những bản vẽ phác thảo mặt cắt địa tầng di chỉ khảo cổ Đông Sơn, Gò Mun cực kỳ chuẩn xác mà các tài liệu cải cách sau này đều lược bỏ bớt.

Vào năm 1996, phong trào học tập và nghiên cứu khảo cổ, nhân văn tại Đại học Tổng hợp Sài Gòn và Đại học Sư phạm đang phát triển cực kỳ mạnh mẽ. Thư viện các trường đại học lớn thời kỳ này luôn trong tình trạng thiếu thốn tư liệu trầm trọng, sinh viên và nghiên cứu sinh phải xếp hàng dài từ sáng sớm để tranh nhau mượn một bản sao chép tay. Một cuốn giáo trình gốc như thế này, nếu đem bán đứt cho các tiệm ve chai chỉ được vài trăm đồng cân ký giấy vụn; nhưng nếu đặt đúng vào tay một nghiên cứu sinh hay một giảng viên khoa Sử, nó có giá trị không dưới ba mươi, bốn mươi ngàn đồng! Thậm chí, nếu cô giữ lại làm tài liệu gốc để lập danh mục dịch vụ “Đọc tham khảo chuyên khảo tại chỗ” hoặc liên kết nhận sao chụp trích đoạn học thuật, nó sẽ tạo ra một dòng tiền nhỏ nhưng đều đặn, bền vững cho tiệm Mộc.

Ở một góc kệ khác, nằm kẹp dưới lớp báo *Sài Gòn Giải Phóng* số ra năm 1990 dùng để lót bụi, Tuệ Anh phát hiện ra cả một cọc tạp chí *Bách Khoa* và tập san *Văn* xuất bản tại Sài Gòn giai đoạn 1960–1974. Mặc dù mép giấy đã bị ố vàng lốm đốm những vệt hoa mai nâu nhạt (*foxing*) do tác động của độ ẩm nhiệt đới, nhưng cấu trúc ruột sách hoàn toàn nguyên vẹn, không hề bị rách trang hay mất chữ.

Các bài khảo cứu về triết học Hiện sinh phương Tây, những bài dịch tác phẩm của Jean-Paul Sartre, Albert Camus do các học giả miền Nam thời đó chuyển ngữ cực kỳ công phu, chuẩn xác về mặt thuật ngữ. Giới sưu tầm sách cổ tại quận 1, quận 3, hay các giáo sư, nhà nghiên cứu lớn tuổi đang đỏ mắt lùng sục những số báo chuyên đề này để hoàn thiện bộ sưu tập cá nhân của họ. Đối với nhóm khách hàng này, tiền bạc không phải là vấn đề tiên quyết; cái họ cần là tính toàn vẹn của văn bản và sự bảo quản có tâm của người bán sách. Đây chính là Nhóm A—nguồn tài sản chiến lược mang lại giá trị thặng dư cao nhất, là chìa khóa để giải quyết những khoản nợ lớn.

Nhưng câu hỏi cấp bách nhất lúc này là: Dòng tiền ngắn hạn để trả một triệu đồng tiền cọc nhà cho bà Tư Lành trong vòng bảy ngày tới sẽ lấy từ đâu ra?

Nhóm A cần thời gian tiếp cận đúng người mua, không thể bán tống bán tháo trong một sớm một chiều kẻo bị ép giá như cho không. Câu trả lời nằm ở Nhóm B.

Ánh mắt Tuệ Anh dừng lại ở đống truyện tranh và tiểu thuyết diễm tình khổ nhỏ nằm ngổn ngang ở góc kệ ngoài cùng sát cửa kho.

Đó là hàng trăm tập truyện tranh *Doraemon* (bản dịch của Nhà xuất bản Kim Đồng đời đầu với tên chú mèo máy Đôrêmon thân thuộc), những tập *Dũng sĩ Hesman* nét vẽ sắc sảo của họa sĩ Hùng Lân in trên giấy xốp đen trắng, và những tập *Bảy viên ngọc rồng* in giấy mỏng lậu đời đầu; bên cạnh đó là những cuốn tiểu thuyết chữ khổ túi của Quỳnh Dao (*Dòng sông ly biệt*, *Hải âu phi xứ*) và truyện chưởng Kim Dung bìa mềm do các nhà xuất bản địa phương ồ ạt in ấn đầu thập niên 90.

Thời điểm năm 1996 này, văn hóa đọc bình dân của người dân Sài Gòn đang ở thời kỳ hoàng kim rực rỡ nhất! Bọn trẻ con trong các con hẻm lao động chằng chịt quanh đường Trần Nhân Tôn, học sinh các trường tiểu học và trung học cơ sở lân cận đang khao khát những trang truyện tranh này từng giờ từng phút. Một đứa trẻ con nhà lao động nghèo không thể có đủ hai ngàn rưỡi hay ba ngàn đồng tiền mặt để mua đứt một cuốn truyện tranh mới tinh thơm mùi mực ở các hiệu sách quốc doanh trên đường Nguyễn Huệ hay Lê Lợi. Nhưng hai trăm đồng, ba trăm đồng, hay năm trăm đồng tiền lẻ nhịn ăn quà sáng hoặc xin mẹ sau giờ tan học để thuê một cuốn truyện đọc ngấu nghiến ngay tại bậc thềm hiên nhà thì bất kỳ đứa trẻ nào cũng có thể xoay xở được!

Tương tự, các bà nội trợ, các chị em tiểu thương buôn bán ngoài chợ vải An Đông gần đó cũng luôn có nhu cầu thuê những cuốn truyện tình cảm diễm tình đọc giết thời gian vào những buổi trưa vắng khách.

“Phải bắt tay vào sàng lọc toàn bộ ngay trong đêm nay,” Tuệ Anh tự nhủ, hai bàn tay siết chặt lại, ánh mắt rực lên ngọn lửa quyết tâm kiên định phi thường. “Chia toàn bộ kho sách theo chuẩn thư mục ba nhóm A, B, C: - Nhóm A: Sách chuyên khảo quý hiếm, tạp chí nghiên cứu trước 1975, bản thảo có chữ ký. Lập danh mục chi tiết, bảo quản chống ẩm đặc biệt, trực tiếp đi tìm mối học giả, nhà nghiên cứu để chào bán với giá trị thực. - Nhóm B: Truyện tranh, tiểu thuyết bình dân, báo giải trí còn lành lặn. Đưa toàn bộ lên quầy phía trước, cải tạo thành dịch vụ cho thuê sách lưu động theo ngày với giá 200–500 đồng/cuốn, thế chân bằng tiền cọc nhỏ. Đây sẽ là cỗ máy tạo ra dòng tiền mặt tươi rói hằng ngày để trang trải tiền chợ và gom đủ một triệu đồng trả cọc cho bà Tư Lành! - Nhóm C: Sách nát gãy bìa, giấy rách vụn không thể đọc được. Tách lấy phôi giấy trắng, giấy pơ-luya và bìa cứng làm vật liệu bồi phục chế gáy cho sách nhóm A và B, tuyệt đối không lãng phí một centimet giấy nào!

Chỉ cần mình vận hành một cách khoa học, định giá chuẩn xác và tiếp cận đúng đối tượng độc giả, số tiền một triệu đồng trong bảy ngày tới hoàn toàn nằm trong tầm tay!”

Niềm hy vọng mãnh liệt vừa lóe lên đã lập tức xua tan đi sự mỏi mệt rã rời trong từng thớ thịt của cô gái trẻ. Tuệ Anh khẽ thở phào, đặt chiếc đèn dầu xuống bệ gỗ. Cô cẩn thận xếp xấp chứng từ và hai cuốn sổ quý giá của dì Lan vào lại chiếc hộp bìa bồi, buộc chặt sợi dây dù hình chữ thập, rồi trân trọng đặt nó trở lại đáy chiếc rương gỗ lim. Cô đậy nắp rương nặng trịch lại, lấy chiếc đục sắt gài tạm qua khoen khóa để giữ nắp không bị bật mở.

Đúng lúc Tuệ Anh vừa đứng thẳng người dậy, một vệt gió lạnh bất chợt từ đâu lùa thốc qua khe hở vách ván gỗ sát hẻm bên hông kho.

Ngọn lửa đèn dầu hoa kỳ chao đảo kịch liệt, bấc đèn kêu *lách tách* một tiếng khô khốc rồi phụt lên một làn khói đen nghi ngút. Bóng tối trong kho đột ngột giật giật, đổ dồn về một phía.

Tuệ Anh khựng lại, toàn thân cứng đờ.

Trong tích tắc ngọn lửa nghiêng mình hắt ánh sáng xiên qua vách gỗ, qua khe hở rộng cỡ hai ngón tay giữa hai tấm ván ép mục nát sát hẻm, cô bất giác nhìn thấy một vệt sáng kỳ lạ phản chiếu từ bóng tối bên ngoài.

Đó là một đôi mắt.

Một đôi mắt to tròn, đen láy, hàng mi ướt đẫm nước mưa và đôi gò má lấm lem bụi than đen nhẻm. Đôi mắt ấy đang áp sát vào khe ván, chăm chú, tò mò và đầy vẻ thảng thốt nhìn trộm vào ngọn đèn dầu, vào đống sách ngổn ngang và chiếc rương gỗ lim vừa được mở tung.

Tim Tuệ Anh thót lại một nhịp, máu dồn lên thái dương. “Ai?!”

Trước khi tiếng thốt của cô kịp thoát ra khỏi bờ môi, bóng đen nhỏ thó bên ngoài khe ván dường như cũng giật mình hoảng sợ. Cái bóng vội vã thụt lùi lại, tiếng bước chân trần giẫm bì bõm, hối hả trên những vũng nước mưa ngoài con ngõ hẹp vang lên gấp gáp: *Bõm... bõm... xoạt...* rồi nhanh chóng tắt lịm vào tiếng gió rít qua những mái tôn lân cận.

Tuệ Anh đứng chôn chân tại chỗ, bàn tay vô thức siết chặt lấy mép gấu áo sơ mi thô. Hơi thở cô dồn dập, ngực phập phồng theo từng nhịp đập hoảng hốt.

“Ai vậy cà?...” cô lẩm bẩm một mình, ánh mắt vẫn chưa rời khỏi khe ván gỗ.

Ánh mắt vừa rồi trông đầy vẻ sợ hãi, lấm lét và tò mò của con trẻ. Dường như đó chỉ là một đứa trẻ con lao động trong xóm nghèo, tình cờ đi ngang qua hẻm hông tìm chỗ trú mưa, thấy ánh đèn dầu le lói trong kho sách bèn tò mò ghé mắt nhìn trộm mà thôi.

Nghĩ đến đó, Tuệ Anh khẽ thở hắt ra một hơi dài, tự vỗ nhẹ vào ngực để trấn an bản thân rằng mình đang bị căng thẳng thần kinh quá mức sau chuỗi biến cố dồn dập từ chiều đến giờ.

Cơn mưa rào ngoài trời lúc này đã bắt đầu ngớt hạt. Tiếng ràn rạt đinh tai nhức óc trên mái tôn xi măng Fibrocement chuyển dần thành những tiếng nhỏ giọt thưa thớt, đều đặn: *tỏng... tỏng...* rơi vào đáy xô nhựa. Cả dãy phố Trần Nhân Tôn vẫn chìm nghỉm trong cảnh mất điện tối om như mực, không một bóng người qua lại. Không gian bốn bề tĩnh mịch đến mức cô có thể nghe thấy cả tiếng ve sầu mùa hạ kêu lẻ loi từ một ngọn cây dầu cổ thụ xa xa, và tiếng thở dốc nghẹn ngào của chính mình.

Mùi khói dầu hỏa hăng hắc quẩn quanh trong gian kho hẹp bốc lên từng đợt, khiến cổ họng cô khô khốc, ngứa ngáy cay xè.

Tuệ Anh cúi người, cẩn thận kiểm tra lại then cài tạm bằng đục sắt trên rương gỗ lim một lần nữa. Xong xuôi, cô với tay nâng bóng đèn dầu hoa kỳ, bước từng bước chậm rãi qua bức rèm vải bố ngăn cách giữa gian kho sau và quầy sách phía trước. Cô muốn kiểm tra lại toàn bộ then cài cửa nẻo mặt tiền một lượt cho an tâm trước khi leo lên chiếc gác lửng ọp ẹp để ngả lưng chợp mắt lấy sức cho trận chiến ngày mai.

Nhưng vừa bước chân qua khỏi mép rèm bố thô ráp, bước chân Tuệ Anh đột ngột khựng lại giữa chừng.

Toàn thân cô đông cứng như bị điểm huyệt.

*Sột... soạt... cạch...*

Một chuỗi âm thanh bất thường, khe khẽ nhưng cực kỳ rõ ràng và có chủ đích, vang lên từ phía cánh cửa gỗ ghép ván ngoài mặt tiền quầy sách!

Đó tuyệt đối không phải là tiếng gió lay rung cánh liếp. Càng không phải tiếng chuột chạy hay tiếng mèo hoang lục lọi thùng rác.

Đó là tiếng kim loại cọ xát vào khe gỗ hẹp, tiếp theo là tiếng then cài bằng gỗ lim bên trong cửa tiệm đang bị một vật mỏng lách qua khe hở giữa hai cánh cửa đẩy nhẹ từng chút một, phát ra những tiếng rung lách cách đầy thận trọng, tinh vi.

Có người đang dùng lưỡi cưa hoặc thanh sắt mỏng để cạy then cửa tiệm sách Mộc giữa đêm cúp điện!

Máu trong người Tuệ Anh như đông đặc lại thành băng. Một luồng khí lạnh buốt chạy dọc từ sống lưng lên tận đỉnh đầu, khiến từng sợi chân lông dựng đứng. Nỗi sợ hãi nguyên thủy và tột cùng của một người phụ nữ sống đơn độc giữa một thành phố xa lạ ở một niên đại cách xa thời đại của mình hơn hai mươi năm ập đến bóp nghẹt cổ họng cô.

Tiệm sách Mộc này tuy nằm ngay mặt tiền đường Trần Nhân Tôn, nhưng giữa đêm khuya mưa gió tầm tã, đường phố mất điện tối om như hũ nút, các nhà xung quanh đều đã đóng cửa cài then then sắt kín mít từ chập tối. Nếu có kẻ gian đột nhập vào đây để cướp bóc, hành hung hay làm bậy, giữa bốn bề vắng lặng này cô biết kêu cứu ai? Tiếng hét của cô liệu có lọt qua nổi những bức vách ván dày và tiếng mưa rơi?

Nhưng ngay sau khoảnh khắc nỗi sợ hãi làm tê liệt thần kinh, một luồng adrenaline dữ dội từ bản năng sinh tồn và tự vệ của Tuệ Anh bùng lên như một ngọn lửa dữ.

Không! Cô không thể để mất tiệm sách này!

Cô vừa mới xuyên không đến đây, vừa mới tìm thấy chiếc phao cứu sinh duy nhất giữa cơn bão táp, vừa mới chạm tay vào bí mật tâm huyết cả đời của dì Mộc Lan. Toàn bộ hy vọng sống sót, danh dự và tương lai của cô gắn liền với từng trang sách trong căn nhà này. Tuyệt đối không thể để bất kỳ kẻ nào phá hoại hay cướp đoạt!

Tuệ Anh nén chặt từng hơi thở, tim đập thình thịch như đánh trống trận trong lồng ngực nhưng cơ thể lại chuyển động vô cùng mau lẹ và dứt khoát.

Cô nhẹ nhàng cúi người, đặt ngọn đèn dầu xuống gầm chiếc bàn thu ngân bằng gỗ ép, dùng một tấm bìa các-tông che khuất hướng sáng hắt ra ngoài cửa để kẻ đột nhập không phát hiện ra có người đang phục kích. Bàn tay phải của cô lần nhanh vào góc tường cạnh quầy, nắm chặt lấy một thanh gỗ tròn dùng để chèn cánh cửa—thanh gỗ bạch đàn dài cỡ một mét, đanh chắc và nặng trịch.

Nắm chặt thanh gỗ trong tay, các khớp ngón tay trắng bệch vì gồng sức, Tuệ Anh bước đi rón rén trên nền gạch tàu lạnh ngắt. Cô di chuyển bằng phần ức bàn chân, không phát ra một tiếng động nhỏ nào dù là tiếng xột xoạt của vải quần áo, từng bước, từng bước áp sát về phía khung cửa chính.

*Cạch... xoẹt...*

Một tiếng kêu khô khốc vang lên. Cây then gỗ bên trong vừa bị một lưỡi thép mỏng bẩy trượt khỏi ngàm giữ trên khung cửa!

Cánh cửa gỗ ghép ván khép hờ từ từ hé mở ra một khoảng trống rộng chừng một gang tay. Gió đêm ẩm ướt mang theo hơi lạnh buốt giá của lòng đường nhựa Trần Nhân Tôn lập tức lùa thốc vào trong tiệm, thổi tung những lọn tóc mai bết dính mồ hôi trên trán Tuệ Anh.

Bên ngoài trời tối đen như mực. Ánh sáng vàng vọt, mờ ảo từ ngọn đèn đường cao áp tít đằng ngã tư xa xôi chỉ đủ chiếu lên mặt đường nhựa loang loáng những vũng nước mưa bóng nhẫy, phản chiếu một thứ ánh sáng nhờ nhờ, ma quái.

Qua khe cửa vừa hé mở, một bàn tay gầy guộc, xương xẩu với những ngón tay dài bất thường và các khớp xương nổi rõ đang cẩn thận bám lấy mép gỗ, ghìm chặt cánh cửa lại để tránh cho bản lề rỉ sét phát ra tiếng cọt kẹt kinh động người bên trong.

Rồi tiếp đó, một cái bóng đen cao kều, trùm kín chiếc áo mưa cánh dơi rách rưới, khẽ khàng lách mình qua khe cửa bước vào.

“Ai đó? Đứng yên!”

Tuệ Anh hét lên một tiếng đanh thép, tiếng thét xé toạc màn đêm tĩnh mịch của căn nhà. Đồng thời, bàn tay trái của cô chộp lấy ngọn đèn dầu từ gầm bàn thu ngân, giơ thẳng lên cao rọi luồng sáng vàng rực về phía khung cửa, tay phải vung thanh gỗ bạch đàn lên thủ thế sẵn sàng giáng xuống.

Một tiếng động khẽ phía trước quầy sách khiến Tuệ Anh giật thót, soi đèn lên chỉ thấy một bóng người cao gầy đang vội vã lùi lại.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn