Xuyên Về Làm Chủ Tiệm SáchC.15 / 36
Chương 15

Bài Học Đặt Cọc Đắng Ngắt

Chiếc xe đạp chở kiện sách chuyên ngành bọc giấy báo cẩn thận dừng trước hiên Mộc, mang theo bao kỳ vọng về món tiền lời lớn nhất kể từ ngày Tuệ Anh tiếp quản tiệm sách.

Trời Sài Gòn cuối tháng Năm oi nồng đến ngột ngạt. Bầu không khí quánh đặc lại dưới sức nóng hầm hập của một buổi trưa không gợn gió, mặt đường nhựa đường Trần Nhân Tôn như đang mềm ra, bốc lên mùi hắc nồng của nhựa đường mới vá lẫn với mùi khói xăng pha chì đặc quánh của những dòng xe máy qua lại. Hơi nóng từ mặt đường cứ thế thốc thẳng vào từng thớ ván ván gỗ đã bạc màu theo năm tháng của mặt tiền tiệm Mộc, luồn lách qua khe liếp, làm không gian bên trong tiệm chộn rộn một cảm giác ngột ngạt khó tả.

Tuệ Anh vội vã quẹt hai bàn tay ướt đẫm mồ hôi vào vạt tạp dề may bằng vải thô màu nâu nhạt. Nghe thấy tiếng chuông xe đạp reo lách cách khô khốc ngoài hiên, tim cô khẽ nảy lên một nhịp rộn rã. Cô buông vội chiếc chổi lông gà đang quét dở bụi bặm trên dãy kệ sách văn học, bước nhanh ra bậu cửa xi măng loang lổ vết ố thời gian để đỡ lấy gói hàng nặng trịch từ tay người giao hàng bằng xe đạp thồ. Đó là một người đàn ông trung niên mặc áo bà ba vá vai, nước da đen sạm vì sương gió, chiếc xe đạp Phượng Hoàng của ông ta gắn hai giỏ sắt hai bên hông đẫm bụi đất Chợ Lớn.

Kiện hàng đồ sộ và vuông vức khác thường, được bọc cẩn thận tới ba lớp giấy báo *Sài Gòn Giải Phóng* đã ngả sang màu vàng vôi, góc mép báo còn thấy rõ những mẩu tin in mực đen mờ mờ từ mấy tháng trước. Những vòng dây chuối khô xé nhỏ được bện chặt, chằng néo chéo góc theo hình chữ thập đầy nhà nghề, giữ cho khối sách bên trong không hề bị xộc xệch dù đã vượt qua những đoạn đường ổ gà dằn xóc từ quận Năm sang quận Mười.

"Của cô em đây. Bộ sách cộm quá, chở mà nơm nớp sợ sụp ổ gà mé An Dương Vương," người giao hàng vừa gạt chân chống sắt rỉ sét vừa quệt mồ hôi trán bằng cánh tay áo bạc thếch, thở phào một hơi dài. "Anh Sáu dặn kỹ lắm, bảo phải trao tận tay cho cô chủ tiệm Mộc, không được để ướt hay cấn góc."

"Dạ, em cảm ơn anh nhiều lắm. Anh uống miếng nước trà đá rồi hãy đi," Tuệ Anh đon đả, hai tay đỡ lấy kiện sách nặng trĩu. Trọng lượng của nó ghì chặt xuống đôi cổ tay mảnh khảnh, nhưng trong lòng cô lúc ấy lại ngập tràn một sự phấn chấn khôn tả.

Bên trong lớp giấy báo ấy chính là trọn bộ chuyên khảo *Mỹ thuật Cổ truyền Việt Nam* gồm ba tập khổ lớn, một ấn phẩm đồ sộ và quý hiếm vô ngần. Bộ sách được đóng bìa cứng bọc vải thô màu nâu đất, in song ngữ Pháp – Việt từ những năm trước đổi mới bởi một nhà xuất bản uy tín, vốn dĩ chỉ nằm trong các thư viện chuyên ngành lớn hoặc tư gia của những học giả gạo cội. Những trang ruột in trên giấy couché dày dặn, lưu giữ những bản dập hoa văn chạm khắc tinh xảo nơi đình làng Bắc Bộ, hình vẽ thạch bản tái hiện cấu trúc kiến trúc vì kèo chùa tháp thời Lý – Trần, cho đến những bản rập đồ đồng Đông Sơn sắc sảo từng đường triện, mắt chấm, hình chim muông gãy gọn.

Để có được bộ sách quý giá này theo đúng lời thỉnh cầu khẩn thiết của một vị khách đặc biệt ghé thăm cách đây ba hôm, Tuệ Anh đã phải mạo hiểm đi một nước cờ táo bạo. Cô dồn gần như toàn bộ số tiền mặt vừa tích cóp được từ những ngày dài đứng bán xả hàng vỉa hè, cộng với toàn bộ khoản tiền cọc sách giáo trình của nhóm sinh viên Trường Đại học Kiến trúc, gom thêm từng đồng bạc lẻ từ doanh thu cho thuê truyện tranh tích cóp mòn mỏi suốt cả tuần qua trong chiếc hộp thiếc.

Ký ức về cuộc thương lượng căng thẳng sáng hôm qua tại sạp số 4 Cư xá Bưu điện vẫn còn in đậm trong tâm trí cô. Giữa không gian lắt léo như mê cung của khu chợ sách sỉ Chợ Lớn, ngập ngụa mùi giấy mục, mùi mực in và khói thuốc rê khét lẹt, Lâm Sáu Phước đã nheo đôi mắt một mí sắc như dao cau nhìn cô gái trẻ. Khi Tuệ Anh cẩn thận đặt xấp tiền mặt gồm những tờ mười ngàn đồng đỏ au, kẹp lẫn những tờ năm ngàn và cả hai ngàn đồng phẳng phiu được vuốt thẳng nếp lên mặt bàn kính đã nứt góc, ông trùm sách cũ đã trầm ngâm rất lâu.

Với sự kính nể ngầm sau lần Tuệ Anh dùng kiến thức biên tập tinh tường để vạch trần cuốn *Lục Vân Tiên* giả mạo của một tay buôn gian manh, Sáu Phước đã đồng ý nhượng lại bộ sách mỹ thuật hiếm có này với giá sỉ hữu nghị là hai trăm sáu mươi ngàn đồng. Một số tiền khổng lồ đối với tiệm Mộc lúc bấy giờ — nó tương đương với cả nửa tháng tiền thuê căn nhà phố cũ kỹ của bà Tư Lành. Nhưng đi kèm với cái giá ấy là một điều kiện nghiệt ngã mang đậm luật giang hồ bến bãi. Ông Sáu Phước rít một hơi thuốc lá thơm Đầu Lọc, nhả làn khói xám đùng đục qua kẽ răng vàng khè, giọng khàn đặc:

"Tao để bộ này cho mày vì mày biết nhìn đồ thật, lại có khách hỏi mua ngay giá tốt. Nhưng tiền hàng này tao chỉ cho mày nợ gối đầu đúng tám mươi ngàn còn thiếu trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ. Nhớ kỹ, đúng chiều thứ Sáu, tức ngày mai, mày phải mang nốt tám mươi ngàn sang đây thanh toán sòng phẳng cho tao. Đất Chợ Lớn này lời hứa quý hơn vàng, trễ một buổi là coi như tao với tiệm Mộc dứt đường làm ăn. Danh dự của mày ở cái bến này cũng trôi sông trôi biển luôn, rõ chưa?"

Lúc đó, Tuệ Anh đã tự tin gật đầu dứt khoát không một chút đắn đo. Sự tự tin của cô hoàn toàn có cơ sở, bởi vì nằm gọn gàng trong ngăn kéo quầy thu ngân lúc bấy giờ là một tờ phiếu hẹn mang mã số ĐS-004. Tờ phiếu ghi rõ thỏa thuận bán lại trọn bộ chuyên khảo cho vị khách sang trọng với mức giá ba trăm sáu mươi ngàn đồng. Một trăm ngàn tiền lời thuần túy — một con số trong mơ đối với một tiệm sách mới chập chững hồi sinh. Món lợi nhuận ấy có thể giải tỏa ngay lập tức cơn khát vốn lưu động đang bóp nghẹt tiệm Mộc, bù đắp thẳng vào chi phí mua sắm gỗ pallet để Vĩnh dựng thêm dãy kệ treo tường, và giúp cô thanh toán dứt điểm tiền vật tư dây điện, bóng đèn cho Quốc Dũng mà không cần phải dè sẻn từng bữa cơm đĩa hay nhịn ăn sáng.

Mọi chuyện bắt đầu từ ba ngày trước, vào một buổi sáng đầu tuần râm mát, khi một người đàn ông trạc ngoài bốn mươi tuổi bước chân vào ngưỡng cửa tiệm Mộc.

Người đó có một phong thái vượt trội hẳn so với những khách vãng lai thông thường của khu phố nghèo này. Ông ta mặc một bộ âu phục màu xám tro cắt may đo đan cẩn thận, từng đường ly quần thẳng thớm như chuốt chỉ, áo sơ mi trắng muốt bên trong với phần cổ cồn cứng cáp phẳng phiu. Trên cổ tay người đàn ông lấp lánh chiếc đồng hồ Seiko cơ mạ vàng sáng bóng, phản chiếu ánh sáng lấp lánh mỗi khi ông ta đưa tay lên chỉnh gọng kính đồi mồi, và đôi giày da lộn màu nâu sẫm dưới chân bóng bẩy không vương một hạt bụi đường.

Người khách tự giới thiệu mình là giám đốc mỹ thuật cho một dự án phục dựng công trình văn hóa quy mô lớn, có vốn liên doanh với đối tác Pháp. Phong thái của ông ta đĩnh đạc, từng cử chỉ đều toát lên vẻ lịch lãm, điềm đạm. Giọng nói của ông ta trầm ấm, tròn vành rõ chữ, mang âm sắc pha trộn giữa giọng Hà Nội gốc và sự cởi mở của người miền Nam lâu năm. Ông ta không vội vã hỏi mua sách ngay mà chậm rãi rảo bước quanh các kệ gỗ, ngắm nghía những cuốn tiểu thuyết văn học tiền chiến, lật giở từng trang khảo cứu địa chí Nam Kỳ với ánh mắt soi xét đầy thấu hiểu của một bậc thức giả thực thụ.

Ông ta buông ra những lời khen ngợi tinh tế về cách phân loại thư mục khoa học của Tuệ Anh — cách mà cô áp dụng từ quy chuẩn biên mục hiện đại của thế kỷ hai mươi mốt để sắp xếp các dòng sách lịch sử và triết học — khiến một người làm nghề biên tập lâu năm như cô cũng cảm thấy mát lòng mát dạ. Trong bầu không khí đượm mùi tri thức ấy, người khách thở dài bày tỏ sự trăn trở về việc đang ráo riết săn lùng trọn bộ chuyên khảo *Mỹ thuật Cổ truyền Việt Nam* để phục vụ khẩn cấp cho các bản vẽ chi tiết gửi sang Paris duyệt vào cuối tuần.

Khi Tuệ Anh ngập ngừng nói rằng cô có thể nhờ các đầu mối quen bên Chợ Lớn lùng sục được bộ sách nguyên vẹn trong vòng hai ngày, nhưng giá của nó khá đắt đỏ, chạm mức ba trăm sáu mươi ngàn đồng, người đàn ông ấy không hề chớp mắt. Ông ta xua tay cười lớn, một nụ cười sảng khoái và độ lượng:

"Kiến thức và tư liệu chuẩn xác thì vô giá cô em à! Ba trăm sáu mươi ngàn cho một công trình nghiên cứu công phu như thế là quá rẻ mạt. Tôi duyệt luôn cái giá đó, miễn sao cô lấy được sách đúng hẹn giúp tôi."

Đoạn, ông ta rút từ trong túi áo ngực ra một chiếc ví da cá sấu đắt tiền. Nhưng khi mở ví ra, người đàn ông khẽ tặc lưỡi ái ngại, vẻ mặt thoáng chút ngượng ngùng rất đỗi tự nhiên:

"Kẹt quá, phiền cô chủ nhỏ quá chừng. Sáng nay tôi vừa ghé ngân hàng nộp toàn bộ tiền mặt vào tài khoản hợp đồng cơ quan, trong ví giờ chỉ còn toàn tiền mặt chẵn niêm phong gửi thủ quỹ, tiền tiêu vặt cá nhân lại vừa khéo chỉ còn sót lại có ba mươi lăm ngàn đồng lẻ. Thôi thì tôi gửi cô ba mươi lăm ngàn này làm tiền cọc tượng trưng nhé? Cơ quan tôi ngay góc đường Pasteur đằng kia thôi, cách đây mấy bước chân. Chiều mốt tôi cho xe hơi cơ quan ghé qua lấy sách rồi thanh toán một thể trọn vẹn, gửi thêm cô chút tiền trà nước công xá cho vui vẻ đôi bên."

Kèm theo xấp tiền ba mươi lăm ngàn đồng vuốt phẳng phiu là một tấm danh thiếp sang trọng làm bằng giấy bìa cứng ngà voi, dập nổi dòng chữ mạ nhũ vàng: *Viện Nghiên cứu Mỹ thuật và Thiết kế Ứng dụng Đông Dương – Giám đốc Mỹ thuật: Nguyễn Hoài Khang*. Phía dưới có in rõ địa chỉ: *Số 124 đường Pasteur, Quận 1* cùng một số điện thoại bàn sáu chữ số: *829415*.

Ba mươi lăm ngàn đồng. Nó chưa đầy mười phần trăm của tổng giá trị ba trăm sáu mươi ngàn đồng.

Một biên tập viên kỳ cựu với bảy năm kinh nghiệm quản trị xuất bản, từng ký kết hàng trăm hợp đồng bản quyền và mua bán tư liệu ở năm 2026 như Tuệ Anh lẽ ra phải bật còi báo động ngay trong khoảnh khắc đó. Nguyên tắc thương mại sắt đá mà cô từng truyền đạt cho cấp dưới luôn là: đối với những mặt hàng đơn chiếc, có tính thanh khoản thấp và giá trị cao, mức cọc bắt buộc phải từ ba mươi đến năm mươi phần trăm để khóa chặt rủi ro người mua bỏ cọc. Chính trên tấm bảng nội quy viết bằng phấn trắng treo góc tường tiệm Mộc, cô cũng từng nắn nót ghi dòng chữ: *"Sách đặt riêng yêu cầu đặt cọc trước 30%"*.

Nhưng hỡi ôi, đứng giữa không gian tiệm sách nghèo nàn những năm chín mươi, đối diện với một vẻ ngoài đạo mạo, một giọng điệu phong lưu am tường nghệ thuật và một chiếc danh thiếp dập nổi bóng bẩy, sự cảnh giác nhà nghề của Tuệ Anh đã bị che mờ. Cô nhìn vào chiếc két sắt rỗng tuếch của tiệm, nghĩ đến những khoản chi phí ngổn ngang đang chờ chực, nghĩ đến việc người ta đi xe hơi, làm công trình văn hóa lớn thì hà cớ gì lại đi lừa lọc vài chục ngàn bạc của một tiệm sách nhỏ nhoi bên lề đường? Sự ngộ nhận về tầng lớp trí thức, cộng với lòng tham và sự nôn nóng muốn giải quyết nhanh bài toán dòng tiền, đã đánh gục hoàn toàn lý trí sắc bén của một chuyên gia xuất bản thời hiện đại.

Để rồi giờ đây, sự trả giá bắt đầu giáng xuống như một gáo nước lạnh buốt rát giữa buổi trưa hè.

***

Hạn hẹn giao sách ghi rõ ràng trên tờ phiếu ĐS-004 là mười hai giờ trưa ngày thứ Tư.

Hôm nay đã là chiều thứ Sáu. Đã quá hạn hẹn tròn ba ngày đằng đẵng.

Suốt ba ngày qua, Tuệ Anh sống trong tâm trạng của một kẻ ngồi trên đống lửa. Ban ngày, cô không dám bước chân ra khỏi tiệm lấy nửa bước, tai căng ra nghe từng tiếng rà thắng của những chiếc xe máy lướt qua trước cửa. Cứ mỗi lần có tiếng pô xe Dream nổ giòn giã hay tiếng bánh xe hơi trườn chậm trên mặt đường nhựa ngoài kia, tim cô lại thắt lại, vội vã ngước mắt lên với một tia hy vọng mong manh, để rồi nhận về chỉ là sự hụt hẫng ê chề khi chiếc xe cứ thế lướt qua. Ban đêm, cô trằn trọc trên chiếc giường bố ọp ẹp trong căn buồng xép, giấc ngủ chập chờn bị bủa vây bởi những cơn ác mộng về việc Sáu Phước dẫn người đến xiết nợ, dán giấy niêm phong tiệm Mộc.

Bộ sách ba tập nằm ngay ngắn trên góc bàn thu ngân gỗ thông, được phủ cẩn thận một tấm khăn vải mộc màu xám để chắn bụi than đường phố. Nhưng đối với Tuệ Anh lúc này, tấm khăn ấy chẳng khác nào một tấm vải liệm phủ lên một sai lầm chết người. Ba pho sách dày cộp, nặng trịch ấy đè nghẹt lồng ngực cô, biến từng hơi thở thành những cơn co thắt buốt nhói.

Mười hai giờ trưa nay, khi ruột gan cồn cào như có hàng trăm ngọn lửa thiêu đốt, Tuệ Anh không thể chịu đựng thêm được nữa. Cô khóa tạm cánh cửa liếp của tiệm sách, dặn với bé Hạnh đang ngồi chơi ô ăn quan dưới bóng râm gốc me vài câu, rồi chạy vội ra bốt điện thoại bàn Daewoo màu cam đặt tại quán nước trà đá của dì Năm ở đầu hẻm.

Bàn tay cô ướt đẫm mồ hôi, run rẩy nhét đồng xu một ngàn đồng bằng kim loại mạ niken vào khe máy. Ngón tay trỏ run rẩy đặt vào từng lỗ tròn trên ổ quay cơ học, xoay từng nấc nặng trịch theo đúng dãy số in trên tấm danh thiếp: *8... 2... 9... 4... 1... 5*.

Tiếng cơ khí của ổ quay lách cách nhả về vị trí cũ nghe như tiếng kim đồng hồ đếm ngược sinh mệnh. Hồi chuông tút dài vang lên khô khốc bên tai cô. Một hồi... hai hồi... rồi đến hồi thứ tư, tiếng lách cách kim loại vang lên báo hiệu có người nhấc máy. Nhưng thay vì một giọng nữ nhân viên văn phòng nhẹ nhàng hay chất giọng sang sảng của vị giám đốc mỹ thuật, đập vào tai Tuệ Anh là một mớ âm thanh hỗn tạp, chát chúa của tiếng búa đập sắt, tiếng xích sắt kéo lê trên nền xi măng, kèm theo giọng nói the thé, đanh đá của một người phụ nữ trạc ngũ tuần:

"A-lô! Ai gọi đó? Cửa hàng sắt phế liệu Ba Đô bến Hàm Tử nghe đây! Bán sắt vụn hay hỏi mua tôn cũ thì nói lẹ lên, tiệm đang bận cân hàng mệt nghỉ đây!"

Tuệ Anh sững sờ, toàn thân cô đông cứng lại, hơi thở nghẹn ứ nơi cuống họng như vừa nuốt phải một ngụm khí độc:

"Dạ... dạ làm ơn cho cháu hỏi... đây có phải số máy của Viện Nghiên cứu Mỹ thuật và Thiết kế không ạ? Cháu muốn xin gặp anh Nguyễn Hoài Khang..."

"Viện cái con khỉ mốc gì! Lại nhầm máy nữa rồi cô em ơi!" Tiếng người phụ nữ gắt gỏng chửi đổng, tiếng quạt máy kêu rè rè phả qua ống nghe. "Đây là vựa ve chai phế liệu bến Hàm Tử! Mấy bữa nay ngày nào cũng có dăm ba đứa dở hơi bấm lộn cái số này hỏi ông Khang ông Khiếc gì đó. Đừng có gọi quấy nữa nha, rảnh rỗi sinh nông nổi à!"

*Rụp!*

Tiếng gác máy dứt khoát và lạnh tanh vang lên như một phát búa nện thẳng vào thái dương Tuệ Anh.

Cô đứng chết trân trong buồng điện thoại chật hẹp, ngột ngạt mùi dầu gió và mùi khói thuốc rê của những người khách trước để lại. Chiếc ống nghe bằng nhựa đen bóng nhờn vì mồ hôi vẫn áp chặt vào tai, nhưng bên trong chỉ còn lại tiếng ù ù vô hồn của đường dây bận. Mồ hôi lạnh từ chân tóc túa ra, chảy dài xuống thái dương, thấm ướt đẫm cả mảng lưng áo sơ mi trắng. Một cảm giác lạnh toát từ từ bò dọc sống lưng, lan tỏa khắp tứ chi.

Không! Vẫn chưa thể kết luận được điều gì! Có thể trên danh thiếp in nhầm số điện thoại của nhà in! Số điện thoại ở đất Sài Gòn này vừa mới đổi từ năm số lên sáu số cách đây không lâu, chuyện nhầm lẫn đầu số của bưu điện là điều hoàn toàn có thể xảy ra!

Tự bấu víu vào một tia hy vọng hão huyền đến tội nghiệp, Tuệ Anh cuống cuồng chạy sang quán nước, hỏi mượn chiếc xe đạp mini Trung Quốc cọc cạch của dì Năm. Không kịp đội nón lá, cô lao ra đường, đạp như điên dại giữa cái nắng chói chang, bỏng rát của một giờ trưa Sài Gòn. Bánh xe đạp rảo nhanh qua những con phố đầy bụi bặm, từ đường Trần Nhân Tôn quẹo qua Ngô Gia Tự, đâm thẳng sang khu vực trung tâm Quận 1 rợp bóng những hàng cây me cổ thụ trên đường Pasteur.

Nhưng khi chiếc xe đạp thắng kin kít bên lề đường, trước số nhà 124 đường Pasteur, đôi chân Tuệ Anh hoàn toàn mất hết lực.

Trước mắt cô không hề có bất kỳ một viện nghiên cứu mỹ thuật sang trọng hay một văn phòng đại diện liên doanh nước ngoài nào cả. Địa chỉ số 124 thực chất chỉ là một khoảng đất trống rộng lớn bị bỏ hoang phế từ nhiều năm nay. Bốn bề khu đất được quây kín bằng những tấm tôn rỉ sét, mục nát, bên ngoài dán chằng chịt những tờ áp-phích quảng cáo các chương trình ca nhạc tạp kỹ đã rách bươm, bạc phếch vì mưa nắng. Phía sau hàng rào tôn thủng lỗ chỗ là một bãi sình lầy cỏ dại mọc lút đầu gối, ngổn ngang xà bần và rác rưởi.

Tuệ Anh đứng tựa vào chiếc ghi-đông xe đạp, đôi mắt dại đi vì bàng hoàng. Một người đàn ông luống tuổi kê chiếc bàn gỗ nhỏ bán thuốc lá dạo và nước sâm bên vỉa hè đối diện, nhìn thấy bộ dạng thất thần của cô gái trẻ với khuôn mặt trắng bệch không còn một giọt máu, liền thở dài một tiếng rồi cất giọng ngao ngán:

"Khỏi đứng ngó nữa cô em ơi. Lại bị lừa rồi đúng không? Cái số nhà 124 ma này từ đầu tháng tới giờ tôi thấy có tới bốn, năm người tới đây đứng ngơ ngác như cô rồi đó. Hết mấy tay giao rượu ngoại, tiệm may âu phục cao cấp, rồi tới mấy ông chở đồ gỗ mỹ nghệ... Toàn bị một thằng cha bảnh bao, mặc đồ vest xám xịt, xưng là giám đốc viện này viện nọ tới đặt hàng rồi cho cái địa chỉ ma này để lừa lấy cọc hoặc gạt mối hàng. Thời buổi này quân lừa đảo ăn mặc sang hơn cả bộ trưởng, nhẹ dạ cả tin là chỉ có nước húp cháo rùa thôi!"

Từng lời nói của người bán thuốc lá dạo như những nhát dao cứa thẳng vào lòng tự trọng của Tuệ Anh.

Cô không nhớ nổi mình đã dắt xe và đạp ngược trở về tiệm Mộc bằng cách nào. Gió bụi đường phố quất rát buốt vào mặt, mắt cô cay xè vì bụi than và ánh nắng chói chang, nhưng nỗi đau thể xác ấy chẳng thấm tháp vào đâu so với nỗi nhục nhã, bẽ bàng đang cắn xé tâm can cô.

Cô là ai? Cô là Lương Tuệ Anh! Một biên tập viên dày dạn thương trường của một tập đoàn xuất bản lớn năm 2026, người từng ngồi vào những bàn đàm phán bản quyền quốc tế phức tạp, từng kiểm duyệt hàng ngàn điều khoản hợp đồng kinh tế ngặt nghèo, từng tự hào về khả năng nhìn thấu tâm lý đối tác và quản trị rủi ro tuyệt đối. Vậy mà khi bị ném ngược trở lại không gian của năm 1996 này, chỉ cần một bộ âu phục thẳng thớm, một chiếc đồng hồ mạ vàng, vài ba câu khen ngợi ngọt ngào về mỹ thuật và một tờ danh thiếp in nổi rẻ tiền, cô đã hoàn toàn mất cảnh giác.

Cô đã biến mình thành một kẻ ngờ nghệch nhất trần đời! Nôn nóng vì lợi nhuận một trăm ngàn đồng, cô đã đem toàn bộ số vốn lưu động ít ỏi — dòng máu nuôi sống tiệm Mộc từng ngày — ném vào một món hàng tồn đọng vô phương cứu vãn. Ở cái đất Sài Gòn năm 1996 này, mức sống của người dân còn chật vật lo từng bữa cơm, người đọc sách bình dân chỉ dám bỏ ra vài ngàn đồng thuê cuốn truyện tranh hay cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp, thì ai sẽ là người bỏ ra ba trăm sáu mươi ngàn đồng — bằng cả chỉ vàng — để rước về một bộ chuyên khảo mỹ thuật cổ ba tập dày cộp, kén người đọc đến cùng cực?

Đó không phải là một món hàng quý nữa. Nó là một bản án tử hình tài chính treo lơ lửng ngay trên đầu tiệm Mộc.

***

Khi Tuệ Anh dắt chiếc xe đạp cọc cạch trả lại cho dì Năm rồi lảo đảo bước vào hiên Mộc, đôi chân cô mềm nhũn đến mức suýt ngã sụp xuống bậu cửa xi măng.

Bên trong quầy thu ngân, chiếc két sắt mini bằng sắt tây gỉ sét nằm dưới gầm bàn vẫn đang mở toang cánh cửa. Đáy két trơ trọi một mảnh giấy báo cũ ố vàng, bên trên chỉ còn lăn lóc vài đồng xu lẻ hai trăm đồng và năm trăm đồng xỉn màu. Chiếc hộp thiếc Danisa tròn màu xanh — nơi cô cẩn thận cất giữ từng đồng tiền mồ hôi nước mắt chắt chiu từ đợt bán sách vỉa hè đầy tủi nhục, từng đồng bạc lẻ nhàu nát của lũ trẻ con trong xóm thuê truyện Doraemon — giờ đây trống rỗng đến rợn người.

Vốn lưu động của tiệm Mộc đã hoàn toàn rơi vào trạng thái số không tròn trĩnh.

Áp lực hoàn vốn đè nặng lên từng tế bào thần kinh của Tuệ Anh. Cô ngồi thụp xuống chiếc ghế đẩu sau quầy, hai tay ôm chặt lấy đầu, các ngón tay cào mạnh vào chân tóc như muốn xé rách mớ bòng bong đang bóp nghẹt tâm trí. Cô ngước mắt nhìn lên tờ lịch bloc treo trên vách ván: một tờ lịch mỏng manh in hình cầu Mỹ Thuận đang thi công.

Hôm nay là chiều thứ Sáu.

Thời hạn bốn mươi tám tiếng đồng hồ mà Lâm Sáu Phước ấn định cho cô đang trôi dần về những phút cuối cùng. Đúng sáu giờ chiều, sạp số 4 Cư xá Bưu điện sẽ đóng cửa. Tám mươi ngàn đồng nợ gối đầu — số tiền không quá lớn với một thương nhân Chợ Lớn, nhưng đối với Tuệ Anh lúc này, nó xa vời tựa như chạm tay lên trời.

Nếu chiều nay cô không có tiền mang sang trả cho Sáu Phước, chữ tín mà cô đã đánh đổi bằng biết bao mồ hôi và trí tuệ để tạo dựng trước mặt ông trùm sách cũ sẽ tan thành mây khói trong nháy mắt. Sáu Phước nổi tiếng là người trọng chữ tín nhưng cũng tàn nhẫn vô cùng với kẻ thất hứa. Ông ta sẽ không bao giờ để tiệm Mộc lấy dù chỉ một cuốn sách nợ gối đầu nữa. Nguồn cung cấp sách sỉ giá rẻ và dồi dào duy nhất của tiệm sẽ vĩnh viễn bị cắt đứt.

Và tệ hại hơn cả, lời cảnh báo của Sáu Phước về âm mưu của Lê Bá Khôi — tên quản lý quỷ quyệt của Nhà sách Minh Châu — sẽ lập tức biến thành hiện thực. Khôi đang ráo riết dùng tiền bạc thâu tóm các đầu mối sách cũ để cô lập tiệm Mộc. Một khi tiệm Mộc mất uy tín ở Chợ Lớn, Khôi sẽ chẳng cần tốn một viên đạn nào cũng có thể bóp chết tiệm sách nhỏ nhoi này. Mất nguồn hàng, cạn sạch tiền mặt, trong khi món nợ một triệu tám trăm ngàn đồng tiền thuê nhà của bà Tư Lành chỉ còn đúng một tuần nữa là chạm hạn chót trưa Chủ nhật tuần sau.

Một hiệu ứng domino sụp đổ kinh hoàng đang hiện rõ trước mắt Tuệ Anh. Chỉ một sơ suất nghiệp vụ, một khoảnh khắc lơ là trong quản trị cọc, cô đã tự tay đẩy tất cả công sức gầy dựng của bản thân và mọi người xuống vực thẳm.

"Chị Tuệ Anh..."

Một tiếng gọi rụt rè, mảnh dẻ vang lên từ phía ngạch cửa cắt đứt dòng suy nghĩ hoảng loạn của cô.

Tuệ Anh giật mình ngẩng đầu lên, vội vã đưa tay quẹt ngang khóe mắt. Bé Hạnh đang đứng lấp ló sau khung cửa gỗ bạc màu. Trên tay con bé vẫn ôm khư khư tập vé số kiến thiết chiều nay chưa bán hết, mấy tờ giấy in hình đài Tây Ninh phe phẩy trước gió. Khuôn mặt con bé đen nhẻm vì dầm nắng, hai gò má đỏ ửng lên, mồ hôi nhễ nhại bết chặt những lọn tóc cháy nắng vào trán. Nhưng đôi mắt đen láy, to tròn của nó lại ánh lên một vẻ lo lắng, bồn chồn khác lạ khi nhìn vào khuôn mặt thất thần, trắng bệch của Tuệ Anh.

"Hạnh... sao em chưa về nhà với mẹ?" Tuệ Anh cố gượng nở một nụ cười méo mó, nhưng giọng cô run rẩy và khàn đặc như nghẹn nước.

Hạnh bước rón rén vào trong tiệm, đôi dép nhựa mòn vẹt gõ nhẹ trên nền gạch tàu. Con bé nhìn quanh quất ra ngoài đường như sợ có ai theo dõi, rồi ngập ngừng thò bàn tay gầy gò, lấm lem bụi đất vào túi chiếc áo bà ba rách mép sứt chỉ. Nó rút ra một mảnh giấy nhỏ bị vo tròn méo mó, cẩn thận đặt lên mặt bàn thu ngân trước mặt Tuệ Anh:

"Dạ... em bán còn mười mấy tờ nữa mới đủ chỉ tiêu mẹ giao... Nhưng mà ban nãy, lúc em đi ngang qua quán cà phê cóc sau gốc cây điệp ở ngã ba... em thấy cái ông bữa trước ghé tiệm mình đó chị. Cái ông bận áo vest màu xám tro, xức nước hoa thơm phức, đi chiếc xe Dream bóng loáng đó..."

Tim Tuệ Anh đập thót một cái:

"Ông Khang? Em thấy ông ta ở đâu?"

"Dạ, ổng đứng nói chuyện thì thầm với cái chú đeo kính trắng, thắt cà vạt đỏ chót, người mập lùn hay chạy xe Dream lùn màu nho chín bên Nhà sách Minh Châu á chị!" Giọng Hạnh nhỏ lại nhưng đầy vẻ quả quyết. "Em thấy hai người đó đứng nép sau thân cây điệp, cười nói gì đó khoái chí lắm. Em nghe loáng thoáng cái chú cà vạt đỏ nói cái gì mà 'kẹp chết dòng tiền tiệm Mộc', rồi 'cho con nhỏ biên tập viên nếm mùi thương trường'. Xong rồi cái ông mặc áo vest xám móc bóp da lấy bao thuốc lá 555 ra hút, lúc rút gói thuốc thì làm rớt mảnh giấy này xuống rãnh nước dưới chân. Em thấy có con dấu đỏ lòm, nghĩ là giấy tờ quan trọng nên đợi hai người đó lên xe chạy mất tiêu rồi em mới dám lội xuống lượm lên đem về cho chị coi nè..."

Một luồng điện giật chạy dọc từ gáy xuống tận sống lưng Tuệ Anh. Bàn tay cô run rẩy đưa ra, nhặt mảnh giấy ẩm ướt, mép giấy còn dính chút bùn khô nơi đáy rãnh. Cô cẩn thận dùng đầu ngón tay vuốt phẳng từng nếp gấp nhăn nhúm trên mặt gỗ thông.

Đó là một tờ phiếu chi nội bộ đã bị xé vội một góc mép. Và điều khiến đồng tử của Tuệ Anh co thắt dữ dội, khiến toàn bộ máu trong cơ thể cô như đông cứng lại, chính là con dấu mộc vuông bằng mực đỏ tươi rói in rõ ràng ở góc trên cùng bên trái:

*CÔNG TY PHÁT HÀNH SÁCH VÀ THIẾT BỊ VĂN HÓA MINH CHÂU* *PHÒNG KINH DOANH VẬT TƯ – THỊ TRƯỜNG*

Phía dưới con dấu, những dòng chữ viết tay bằng mực bút bi đen nguệch ngoạc nhưng sắc nhọn hiện ra rõ mồn một: *"Nội dung chi: Tạm ứng chi phí tiếp thị thực địa và xử lý nguồn sỉ Chợ Lớn. Số tiền: 50.000đ (Năm mươi ngàn đồng chẵn). Người nhận: L.B.K."*

Lê Bá Khôi!

Không còn một chút nghi ngờ nào nữa. Mọi mảnh ghép rời rạc, mọi sự trùng hợp kỳ lạ trong suốt mấy ngày qua bỗng chốc khớp nối lại với nhau một cách hoàn hảo đến rợn người.

Không hề có một vị giám đốc mỹ thuật nào cần sách gấp cho dự án liên doanh với Pháp. Không hề có một sự tình cờ màu nhiệm nào của số phận đưa một khách hàng sộp đến với tiệm Mộc nghèo nàn. Tất cả, từ đầu chí cuối, là một cái bẫy hoàn hảo, một đòn hiểm độc được tính toán chi li đến từng chi tiết bởi cái đầu đầy toan tính của Lê Bá Khôi.

Khôi biết rõ tiệm Mộc đang cạn kiệt tài chính sau đợt sửa chữa nâng cấp không gian và trả bớt nợ cho bà Tư Lành. Hắn cũng biết rõ Tuệ Anh vừa mới khai thông được mối quan hệ làm ăn quý giá với Lâm Sáu Phước bên Cư xá Bưu điện. Vì vậy, hắn đã thuê một tay diễn viên kịch nghệ hoặc một tay cò mồi lão luyện, trang bị từ đầu đến chân vẻ ngoài trí thức thượng lưu, học thuộc vài ba thuật ngữ mỹ thuật để dẫn dụ Tuệ Anh.

Cái bẫy này được thiết kế để đánh trúng vào tử huyệt lớn nhất của một người kinh doanh sách nhỏ đang khát vốn: khát khao kiếm được một món tiền lời lớn và nhanh chóng. Bằng cách mồi chài Tuệ Anh gom hết số vốn lưu động ít ỏi còn lại để ôm về một bộ sách "chết" — một bộ sách chuyên khảo đỉnh cao nhưng thị trường tiêu thụ cực hẹp — Khôi đã phong tỏa hoàn toàn mạch máu tiền mặt của tiệm Mộc.

Hai trăm sáu mươi ngàn đồng tiền vốn bị chôn vùi trong ba tập sách bọc vải thô. Tiền mặt trong két sạch bách. Hạn trả nợ cho Sáu Phước đã điểm. Hắn không cần dùng đến một tên côn đồ nào đập phá, không cần dùng đến thủ đoạn bạo lực hạ đẳng, mà dùng chính sự non nớt và lòng tham của Tuệ Anh để bóp chết tiệm Mộc từ bên trong. Cô sẽ tự động mất uy tín với đầu mối Chợ Lớn, tự động phá sản vì không có tiền trả tiền thuê nhà, và tiệm Mộc sẽ biến mất khỏi bản đồ sách cũ Sài Gòn mà không ai có thể oán trách Nhà sách Minh Châu lấy nửa lời.

"Thâm độc... thật sự quá thâm độc..."

Tuệ Anh lẩm bẩm, các khớp ngón tay cô siết chặt lấy mảnh giấy chi tiêu đến mức trắng bệch, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau điếng.

Cơn thịnh nộ bùng lên dữ dội trong lồng ngực cô, làm hai bên thái dương giật thắt liên hồi. Nhưng ngay sau cơn giận dữ tột cùng ấy là một cảm giác bất lực đến tê dại. Biết rõ kẻ đứng sau giật dây thì đã làm được gì? Một mảnh phiếu chi nhặt ngoài cống rãnh, một giao kèo miệng không có giá trị pháp lý, một gã đàn ông dùng tên giả và địa chỉ ma... Xét về mặt lý lẽ lẫn luật pháp của năm 1996, cô hoàn toàn trắng tay. Cô là kẻ thua cuộc toàn diện vì sự chủ quan và ngây thơ của chính mình.

Ngoài trời, bầu trời Sài Gòn đang sụp tối nhanh chóng với một tốc độ đáng sợ. Những đám mây đen vần vũ từ phía Tây kéo về, che khuất hoàn toàn ánh nắng cuối chiều. Tiếng sấm đầu mùa ầm ì vọng lại từ phía chân trời xa xôi, báo hiệu một cơn dông lớn sắp trút nước xuống thành phố.

Đã năm giờ mười lăm chiều.

Chỉ còn chưa đầy bốn mươi lăm phút nữa là sạp của Lâm Sáu Phước đóng cửa. Tám mươi ngàn đồng nợ gối đầu vẫn chưa có lấy một xu. Và ba tập sách *Mỹ thuật Cổ truyền Việt Nam* vẫn nằm im lìm trên mặt bàn gỗ như một tảng băng vĩnh cửu không thể tan chảy.

Tuệ Anh gục mặt xuống hai cánh tay đặt trên bàn thu ngân. Lần đầu tiên kể từ cái ngày định mệnh ngã xuống cầu thang ở năm 2026 và mở mắt ra trong thân xác nghèo khó của cô gái năm 1996, cô cảm thấy kiệt sức hoàn toàn. Sự cô độc của một linh hồn lưu đày vượt thời gian ùa về, bóp nghẹt lấy trái tim cô giữa bốn bề sách cũ ẩm mốc và bóng tối đang dần bao trùm. Nước mắt cô rốt cuộc không thể kìm nén được nữa, lặng lẽ rơi xuống mặt gỗ thông ráp ráo.

***

*Kẹt... ách...*

Một tiếng cọt kẹt khô khốc quen thuộc vang lên từ phía cánh cửa liếp ngăn cách giữa gian nhà trước và kho sách ẩm thấp phía sau.

Vĩnh bước ra.

Chiếc áo sơ mi bộ đội màu xanh bạc phếch của anh ướt đẫm mồ hôi, dán chặt vào tấm lưng rộng lớn và hai bả vai vạm vỡ. Trên tóc, trên mặt và cả hai cánh tay cuồn cuộn gân guốc của anh bám đầy một lớp bụi mùn cưa mịn màng cùng những vệt vôi vữa trắng xóa. Trên tay phải của anh vẫn còn cầm chiếc thước cuộn bằng sắt đã tróc sơn và một mẩu bút chì thợ mộc to bản đã mòn vẹt đầu.

Suốt từ đầu giờ chiều đến giờ, Vĩnh đã tự giam mình trong góc kho tối tăm, cặm cụi cưa đục, hoàn thiện nốt những thanh giằng chữ X cuối cùng cho hệ vì kèo gỗ thông độc lập nhằm gia cố bức tường nứt nẻ, hoàn toàn không hay biết gì về những cơn sóng ngầm nghiệt ngã vừa quét qua gian nhà ngoài.

Nhìn thấy dáng vẻ gục ngã đến thảm hại của Tuệ Anh trên bàn thu ngân, nhìn thấy giọt nước mắt lăn dài trên gò má cô và mảnh giấy nhàu nhát vứt trơ trọi bên cạnh xấp vé số của bé Hạnh, bước chân của chàng sinh viên kiến trúc khựng lại.

Đôi lông mày rậm của Vĩnh khẽ nhíu lại. Anh đưa mắt nhìn sang bé Hạnh đang đứng nép mình bên kệ truyện tranh với vẻ mặt đầy âu lo, rồi ánh mắt anh dừng lại rất lâu trên bộ sách ba tập bọc vải thô màu nâu đất đang nằm trơ trọi trên bàn.

Vĩnh không cất tiếng hỏi dồn dập. Anh lặng lẽ đặt cây thước sắt và mẩu bút chì thợ mộc lên mặt chiếc ghế đẩu, bước từng bước chậm rãi đến bên cạnh bàn thu ngân gỗ thông — chiếc bàn mà chính tay anh đã bào nhẵn từng thớ gỗ cho cô cách đây chưa lâu.

Đôi bàn tay thô ráp của Vĩnh, đầy những vết chai sần vì cầm đục và những vết xước rướm máu do dằm gỗ thông cào xước, nhẹ nhàng chạm vào mép bìa của cuốn chuyên khảo *Mỹ thuật Cổ truyền Việt Nam*.

Anh lật giở trang bìa lót bằng một sự nâng niu kỳ lạ. Từng trang giấy couché dày dặn lật qua dưới ngón tay anh. Những bản vẽ mặt bằng tỉ mỉ của chùa Bút Tháp, những nét vẽ bằng mực nho phân tích tỷ lệ thức cột gỗ lim của đình làng Đình Bảng, những bản dập hoa văn rồng thời Lý với từng đường cong uốn lượn hình túi nước tinh xảo hiện ra dưới ánh sáng vàng vọt của bóng đèn tròn hai mươi lăm oát treo lơ lửng trên trần nhà.

Ánh mắt Vĩnh bừng sáng lên một vẻ say mê thuần khiết — ngọn lửa đam mê của một người tôn sùng cái đẹp và kết cấu kiến trúc cổ truyền. Nhưng ngay sau đó, ánh mắt anh tối sầm lại khi nhìn thấy tờ phiếu hẹn ĐS-004 bị gạch chéo bằng mực đỏ kẹp ở trang đầu, cùng với những dòng ghi chú hủy cọc run rẩy của Tuệ Anh.

"Người ta không đến lấy sách... phải không Tuệ Anh?"

Giọng Vĩnh cất lên, trầm thấp, ấm áp và bình thản đến lạ lùng. Trong thanh âm ấy tuyệt nhiên không có lấy một chút trách móc, oán hờn hay hoảng hốt.

Tuệ Anh không dám ngẩng đầu lên đối diện với anh. Cô chỉ khẽ gật đầu, hai bờ vai gầy rung lên bần bật trong tiếng nấc nghẹn ngào mà cô đã cố sức kìm nén:

"Tôi... tôi làm hỏng hết tất cả rồi Vĩnh ơi... Tôi đã dồn hết số tiền mặt cuối cùng của tiệm... dồn cả tiền cọc sách của bạn bè anh... để mua bộ sách này về. Tôi ngu ngốc quá, tôi tham lam lợi nhuận, tôi tin vào vẻ ngoài hào nhoáng của người ta... Bây giờ trong két không còn lấy một đồng bạc lẻ. Chiều nay là hạn chót trả nợ cho chú Sáu Phước rồi... Tôi đã tự tay đẩy tiệm Mộc vào đường cùng..."

Tiếng khóc nghẹn ngào của người con gái vang lên trong không gian tĩnh mịch của tiệm sách, hòa cùng tiếng gió rít qua khe cửa liếp, nghe xót xa đến quặn lòng. Bé Hạnh đứng bên cạnh rơm rớm nước mắt, hai bàn tay nhỏ xíu bối rối nắm chặt lấy gấu áo bà ba, không biết phải làm sao để xoa dịu nỗi đau của người chị mà nó hằng yêu quý.

Vĩnh lặng lẽ đứng yên bên cạnh cô. Anh không vội vã thốt ra những lời an ủi sáo rỗng, cũng không hề buông một tiếng thở dài thất vọng. Bàn tay anh khẽ siết chặt lại thành nắm đấm, rồi chầm chậm thả lỏng ra. Anh bước vòng qua quầy thu ngân, thò tay vào túi chiếc quần kaki lính đã bạc màu, rút ra một chiếc khăn tay bằng vải xô màu xanh nhạt được giặt giũ sạch sẽ, gấp ngay ngắn, đặt nhẹ nhàng lên mặt gỗ thông ngay trước mặt Tuệ Anh.

Sau đó, Vĩnh dứt khoát quay người bước về phía góc phòng kho, nơi chiếc cặp vẽ kiến trúc bằng da simili màu nâu cũ kỹ của anh đang dựa vào chân tường.

Đó là chiếc cặp vẽ to bản khổ A2 đã sờn rách bốn góc mép, những đường chỉ may tay chắp vá chằng chịt — người bạn đồng hành trung thành đã theo anh suốt ba năm ròng rã trên giảng đường đại học, từ những ngày đầu tiên đạp xe từ Cai Lậy lên đất Sài Gòn phồn hoa này nhập học.

Vĩnh quỳ một chân xuống sàn gạch tàu bám đầy bụi mùn cưa. Anh kéo khóa chiếc cặp vẽ, cẩn thận lấy ra xấp giấy can khổ lớn vẽ đồ án chi tiết cấu tạo kiến trúc gỗ mà anh đã thức trắng bao đêm để hoàn thành, xếp gọn gàng sang một bên mặt bàn. Tiếp đó, anh quay lại bàn thu ngân, đón lấy từng tập của bộ *Mỹ thuật Cổ truyền Việt Nam*. Đôi bàn tay thợ mộc thô ráp nhưng cẩn trọng lạ thường bọc từng cuốn sách vào lại ba lớp giấy báo cũ, rồi dùng những sợi dây chuối khô buộc chặt lại theo đúng quy cách ban đầu.

Tuệ Anh ngơ ngác ngẩng khuôn mặt đẫm nước mắt lên nhìn anh, đôi mắt sưng mọng vì khóc:

"Vĩnh... anh đang làm cái gì vậy?"

Vĩnh ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt cô. Ánh mắt anh sáng ngời, kiên định và vững chãi như những khối gỗ lim rường cột ngàn năm của những ngôi đình cổ miền Tây sông nước mà cha ông anh từng chạm khắc:

"Bộ sách này không phải là một món đồ chết, Tuệ Anh. Đối với những kẻ buôn gian bán lận ngoài chợ hay những người đọc sách giải trí bình thường, nó là một món hàng đắt đỏ vô dụng, một gánh nặng tiền bạc. Nhưng đối với dân kiến trúc và mỹ thuật tụi tôi, đây là vàng ròng, là châu báu."

Anh cẩn thận đặt ba tập sách dày cộp vào ngăn chính của chiếc cặp da simili, kéo khóa lại một cách chắc chắn:

"Thầy Trương bên bộ môn Lịch sử Kiến trúc của trường tôi suốt mấy tháng nay đang đỏ mắt tìm kiếm tài liệu đối chiếu hoa văn thời Lý – Trần để hướng dẫn cho nhóm sinh viên năm cuối làm đồ án tốt nghiệp về trùng tu di tích chùa chiền phía Bắc. Thư viện trường tôi nghèo lắm, chỉ có vài bản chụp photocopy mờ căm mờ cịt, mất trang rách gáy lung tung. Tuần trước thầy Trương còn than phiền trên xưởng vẽ là thầy sẵn sàng nhịn ăn, bỏ cả tháng lương giảng viên ra để mua được một bộ khảo cứu in thạch bản chuẩn xác như thế này."

Vĩnh đứng thẳng dậy, xốc chiếc quai đeo bằng vải dù to bản của chiếc cặp vẽ nặng trịch lên bờ vai rộng lớn của mình:

"Bây giờ là năm giờ hai mươi. Trên khoa Kiến trúc bên đường Pasteur Quận 3, các thầy và nhóm sinh viên làm đồ án tốt nghiệp vẫn còn đang chấm bài và làm mô hình trên xưởng vẽ tầng ba đến tận đêm muộn. Tôi sẽ đạp xe lên trường ngay bây giờ. Tôi sẽ mang bộ sách này đến gặp trực tiếp thầy Trương để thầy thẩm định giá trị học thuật của nó. Nếu thầy không đủ tiền mua đứt trọn bộ một mình, tôi sẽ kêu gọi anh em sinh viên trong xưởng vẽ cùng khóa hùn tiền lại mua chung làm tư liệu dùng chung cho đồ án. Hoặc thầy Trương sẽ viết giấy giới thiệu bảo lãnh để tôi đem thẳng bộ sách này sang Viện Quy hoạch Kiến trúc thành phố tìm người mua lại đúng với giá trị thực của nó."

Tuệ Anh hốt hoảng đứng bật dậy, hai tay bám chặt vào mép bàn gỗ thông:

"Nhưng từ đây đạp xe lên trường Kiến trúc xa lắm! Trời sắp đổ mưa dông lớn rồi, sấm chớp ầm ầm ngoài kia kìa! Với lại... còn chú Sáu Phước thì sao? Chiều nay là hạn chót của chú Sáu rồi, nếu trễ hẹn..."

"Chuyện chú Sáu Phước, cô cứ để tôi lo liệu," Vĩnh cắt ngang lời cô bằng một giọng nói trầm thấp nhưng chứa đựng một sức nặng trấn an vô bờ bến. "Từ đây lên trường, tôi sẽ đạp xe tạt ngang qua Cư xá Bưu điện trước. Tôi sẽ vào sạp số 4 gặp chú Sáu, đưa thẻ sinh viên Đại học Kiến trúc của tôi và gửi lại bộ đồ nghề đục mộc gia truyền bằng thép nhíp xe lửa mà cha tôi để lại làm tin. Tôi sẽ xin chú Sáu thư thả cho tiệm Mộc đúng hai mươi tư tiếng đồng hồ. Chú Sáu là dân Chợ Lớn sành sỏi, chú ấy nhìn chiếc cặp vẽ đồ án và bộ đồ nghề thợ mộc của tôi, chú ấy sẽ hiểu chúng ta là người đàng hoàng, không phải phường trốn nợ giật hụi."

Vĩnh bước đến sát mép bàn thu ngân, đứng đối diện với Tuệ Anh.

Khoảng cách giữa hai người gần đến mức cô có thể cảm nhận được hơi thở ấm áp, nghe rõ mùi mồ hôi nồng nàn, mùi gỗ thông mới cưa và mùi vôi vữa bám trên vạt áo anh. Vĩnh nhìn thẳng vào đôi mắt ướt đẫm của người con gái trước mặt, ánh mắt anh chan chứa sự tin cậy, thấu hiểu và một sự che chở thuần khiết không vướng chút toan tính:

"Tuệ Anh, cô đừng tự trách mình nữa. Cô đã làm rất tốt rồi. Cô đã cứu tiệm Mộc qua bao nhiêu lần ngặt nghèo, cô đã đem lại ánh sáng cho kho sách tối tăm này, dạy chữ cho mẹ con bé Hạnh và cho tụi sinh viên nghèo tỉnh lẻ như chúng tôi một nơi chốn đàng hoàng, ấm cúng để đọc sách và nuôi dưỡng ước mơ. Một lần vấp ngã này không thể nào đánh gục được cô đâu. Tin tôi đi. Tôi nhất định sẽ mang tiền về cho tiệm."

Nói dứt lời, không để cho Tuệ Anh kịp nói thêm một câu nào, Vĩnh quay ngoắt người, sải những bước chân dài và dứt khoát ra phía cửa tiệm.

Anh dắt chiếc xe đạp khung đòn dông Thống Nhất cũ kỹ xuống lòng đường Trần Nhân Tôn. Chiếc cặp vẽ to bản khổ A2 đeo chéo ngang lưng khiến dáng người cao lớn của anh hơi nghiêng đi vì sức nặng của ba pho sách quý, nhưng từng vòng đạp của anh nhấn xuống bàn đạp sắt lại mạnh mẽ, dứt khoát phi thường.

Bóng lưng rộng lớn, vững chãi của chàng sinh viên kiến trúc hòa vào dòng người đang hối hả chạy mưa trên phố, lao vun vút về phía cơn gió ngược đang bắt đầu cuộn tròn bụi đường, cuốn theo những đám lá me bay xào xạc dọc khắp vỉa hè.

Tuệ Anh đứng chết trân bên bậu cửa gỗ, hai bàn tay bấu chặt vào khung cửa đã tróc sơn, dõi mắt nhìn theo bóng lưng anh cho đến khi nó khuất hẳn sau khúc quanh ngã ba đường. Nước mắt cô lại một lần nữa trào ra, nóng hổi trên đôi gò má tái nhợt. Nhưng lần này, giọt nước mắt ấy không còn mang vị đắng cay của sự nhục nhã hay tuyệt vọng, mà nó thấm đẫm một cảm giác ấm áp, nghẹn ngào đang lan tỏa khắp lồng ngực.

Ở giữa cái thời đại xa lạ năm 1996 này, giữa những cạm bẫy thương trường lọc lừa, nghiệt ngã và những toan tính lạnh lùng của những kẻ như Lê Bá Khôi, cô không hề đơn độc. Tiệm Mộc này không hề đơn độc. Những con người nhỏ bé, nghèo khó nhưng giàu lòng trắc ẩn và sự chính trực đang đứng cạnh nhau, chống đỡ lấy mảnh không gian văn hóa này bằng tất cả danh dự và niềm tin của họ.

"Chị Tuệ Anh ơi... anh Vĩnh nói đúng đó, chị đừng buồn nữa nha..."

Một bàn tay nhỏ xíu, ram ráp khẽ chạm vào mu bàn tay đang run rẩy của cô. Bé Hạnh ngước đôi mắt tròn xoe, trong veo như hai hòn bi ve lên nhìn cô chủ tiệm. Con bé thò tay vào túi áo, lôi ra mấy tờ giấy bạc lẻ nhàu nát gồm hai tờ hai ngàn đồng và mấy tờ năm trăm đồng, cẩn thận đặt vào lòng bàn tay Tuệ Anh:

"Hồi nãy em bán vé số còn dư được bốn ngàn đồng tiền lời nè chị... Em đưa chị bỏ vô hộp thiếc Danisa để phụ chị trả tiền điện cho chú Dũng nha... Mai em đi bán sớm hơn, em kiếm thêm tiền đưa chị..."

Tuệ Anh không kìm được lòng mình nữa. Cô ngồi sụp xuống nền gạch tàu, ôm chầm lấy thân hình gầy guộc, nhỏ bé của cô bé bán vé số vào lòng. Mùi nắng gắt, mùi mồ hôi chua nồng và mùi bụi đường bám trên mái tóc xơ xác của con bé phả vào cánh mũi cô, khiến sống mũi cô cay xè buốt nhói.

Cô siết chặt lấy bé Hạnh, hít một hơi thật sâu để nén từng cơn thổn thức đang chực vỡ òa, rồi nhẹ nhàng đưa tay xoa mái tóc khét nắng của con bé:

"Chị cảm ơn Hạnh nhiều lắm... Chị không sao nữa rồi. Tiền này em cất kỹ đi, lát về đưa cho mẹ mua gạo và mua thuốc cho em nhỏ. Chị hứa với em, chị sẽ không bao giờ bỏ cuộc đâu. Tiệm Mộc này nhất định sẽ đứng vững."

Tuệ Anh buông bé Hạnh ra, dùng chiếc khăn tay vải xô màu xanh của Vĩnh lau khô những vệt nước mắt còn đọng lại trên mặt. Cô đứng thẳng dậy, hít một lồng ngực đầy ắp mùi giấy cũ, mùi gỗ thông và mùi đất ẩm nồng nàn đang bốc lên trước cơn mưa rào.

Tâm trí cô đã hoàn toàn thoát khỏi vũng lầy hoảng loạn, lấy lại sự sắc lạnh, tỉnh táo và điềm tĩnh vốn có của một người làm quản lý. Cô bước quay trở lại sau quầy thu ngân.

Dù lúc này chiếc két sắt dưới gầm bàn vẫn rỗng tuếch, dù tài khoản tiền mặt của tiệm đã thực sự trở về con số không, nhưng ý chí của cô đã được tôi luyện lại sau cơn bão. Cô kéo cuốn sổ bìa da ghi chép theo dõi đơn đặt sách ra, mở trang giấy trắng tinh, cầm cây bút máy Kim Tinh vỏ kim loại màu xanh lục lên. Bằng những nét chữ nghiêng đều đặn, dứt khoát và sắc sảo, cô nắn nót ghi lại bài học xương máu đắt giá của ngày hôm nay vào trang nhật ký vận hành tiệm:

*"Quy tắc sống còn số 1 trong quản trị tiệm sách cũ: Tuyệt đối không bao giờ tin vào giao kèo miệng, danh thiếp bóng bẩy hay vẻ ngoài sang trọng của khách hàng. Đối với các đơn hàng chuyên khảo đặc thù, giá trị cao và tính thanh khoản thấp: bắt buộc thu cọc tối thiểu 50% bằng tiền mặt tại chỗ, đồng thời phải trực tiếp xác minh nhân thân và địa chỉ thực địa trước khi xuất kho nhập hàng."*

Gió ngoài đường Trần Nhân Tôn bắt đầu rít lên từng hồi dữ dội qua những tàn cây me già. Những hạt mưa rào đầu tiên to bằng hạt ngô bắt đầu đập lách tách, lộp độp lên mái hiên tôn cũ kỹ của tiệm, làm bốc lên một làn hơi đất ngai ngái, nồng nặc mùi mùa hạ Sài Gòn.

Giữa lúc Tuệ Anh ngồi thẫn thờ trước quầy thu ngân rỗng tuếch, ông giáo Trịnh bước vào tiệm cùng một nhóm bạn hưu trí.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn