Mánh Nghề Chợ Sách Cũ
Mùi giấy ải, mùi mực in dầu hỏa lẫn với khói thuốc lá rê phả ra từ những sạp sách san sát dưới mái bạt bạc màu của khu Chợ Lớn khi trời vừa mờ sáng.
Sương sớm của vùng trũng ven kênh rạch Chợ Lớn chưa kịp tan hết, còn quyện lấy hơi ẩm bốc lên từ lòng cống và mùi ngai ngái của rác rưởi trôi dạt dưới chân cầu Chà Và. Từng hạt nước li ti bám dày trên lớp ni-lông xanh rách rưới căng tạm trên các khung tre cắm xiên xẹo vào vách tường cũ. Đèn đường cao áp ánh vàng đục từ phía trục lộ Hải Thượng Lãn Ông chỉ hắt vào con ngõ sâu những vệt sáng lờ mờ, nhập nhoạng, bẻ gãy bóng người qua lại thành những mảng đen co giật. Dưới dãy mái hiên chìa ra từ Cư xá Bưu điện, bóng tối vẫn còn đặc quánh, biến cả một góc phố thành mê cung ngầm của chữ nghĩa cũ kỹ, của bụi bặm lưu cữu và giấy vụn chất chồng từ nhiều thập kỷ phế hưng.
Tuệ Anh dắt chiếc xe đạp mini Nhật màu mận chín nép sát vào gờ vách tường loang lổ rêu xanh. Bánh xe cọ vào lớp bùn nhão nơi rãnh thoát nước kêu lên một tiếng lẹt xẹt khẽ khàng, tiếng xích líp khô dầu lách cách giòn tan trong bầu không khí ẩm ướt của buổi sớm mai. Cô kéo cao cổ chiếc áo gió mỏng màu lam đã sờn mép chỉ, luồn sâu hai bàn tay vào túi áo để tìm chút hơi ấm sót lại. Đầu ngón tay cô chạm phải cộm dày của xấp tiền một trăm mười lăm ngàn đồng xếp ngay ngắn, cùng với mép xơ tước của một tấm danh thiếp cũ kỹ đã ngả màu vàng úa.
Một luồng gió chướng thổi thốc từ hướng bến Bình Đông quét qua gáy làm cô khẽ rùng mình, nhưng khứu giác cô đã lập tức bị đánh thức bởi thứ mùi vị quen thuộc đến mức thắt nghẽn lồng ngực: mùi lignin trong bột gỗ thoái hóa theo thời gian giải phóng ra hợp chất vanillin ngai ngái, ngòn ngọt, quyện chặt với mùi hồ dán nếp đã lên men chua, mùi mốc ẩm của những trang sách từng nằm qua mùa lụt Nam Bộ, và cả thứ ẩm khí hăng nồng đặc trưng của đất Sài Gòn mỗi độ giao mùa.
Đó là hơi thở của sách cũ. Thứ hơi thở mà ở năm 2026 xa xôi, Tuệ Anh chỉ có thể tìm thấy trong những phòng lưu trữ chuyên dụng của thư viện quốc gia, nơi có hệ thống điều hòa trung tâm chạy rì rầm ngày đêm để duy trì nhiệt độ hai mươi độ C và kiểm soát độ ẩm dưới năm mươi lăm phần trăm. Còn ở đây, giữa lòng năm 1996 đầy xáo động này, di sản của chữ nghĩa lại phơi mình trần trụi, run rẩy và đầy kiêu hãnh giữa những bao tải gai xơ xác, những sọt tre đan vụng và những manh chiếu rách trải vội bên mép cống hôi rình.
Cô cẩn thận tra chìa vào ổ khóa cổ chiếc xe đạp, bẻ gập chốt sắt nghe một tiếng *cạch* dứt khoát rồi cài kỹ vào mắt xích neo vào chiếc cọc sắt han gỉ chôn bên lề đường. Chỉnh lại chiếc túi vải thô đeo chéo ngang hông, Tuệ Anh hít một hơi thật sâu, dằn lại những bất an đang dâng lên nơi cuống họng, rồi cất bước đi sâu vào lòng chợ.
Lối đi giữa hai dãy sạp hẹp đến mức nghẹt thở, chỉ rộng vừa đủ cho một chiếc xe thồ ba gác lách qua nếu hai người đi bộ nép sát lưng vào vách ván ép. Dưới chân cô, nền xi măng lồi lõm sũng nước đen ngòm, rải rác những mảnh bìa carton gợn sóng rách nát dùng làm thảm lót tạm để người mua khỏi trượt ngã. Hai bên đường, những kiện sách chưa kịp khui nằm sừng sững như những bức tường thành thu nhỏ chắn ngang tầm mắt. Từng bao tải gai nặng trịch, bện bằng sợi đay xơ xác còn vương rơm rạ, được buộc thắt nút bằng dây chuối khô hoặc dây kẽm gỉ sét, phơi cái bụng phình to ra mép lối đi. Qua những vết rách toác trên vỏ bao, người ta có thể nhìn thấy những mép gáy sách vàng khè lỗ chỗ vết mọt ăn, những trang tạp chí minh họa đen trắng từ thập niên sáu mươi rách bươm mép, những tập tài liệu đánh máy ronéo nhòe nhoẹt mực tím, và cả những xấp truyện tranh in lậu lem nhem vết mực chì rẻ tiền.
Không có tiếng rao hàng đon đả, xởi lởi như ở chợ cá Cầu Muối hay chợ rau củ Cầu Ông Lãnh. Nhịp sống ở cái chợ ngầm chữ nghĩa này trôi đi bằng một thứ âm thanh đặc thù: trầm đục, sắc lạnh và lúc nào cũng ngập tràn sự cảnh giác cao độ.
Dưới những bóng đèn tròn hai mươi lăm oát ánh đỏ quạch treo lủng lẳng trên dây điện trần đung đưa theo từng cơn gió sớm, những người đàn ông trung niên mặc áo may ô ba lỗ bạc phếch, những bà mối mặt lạnh như tiền ngồi xổm bên các kiện hàng vừa được xe xích lô máy chở tới từ các vựa ve chai dọc kênh Tàu Hủ. Họ không nhìn mặt nhau khi nói chuyện. Đôi mắt họ dán chặt vào từng xấp giấy, từng thớ gáy sách đang được lật tanh tách bằng ngón tay trỏ chai sần tẩm đẫm nước bọt. Đôi tai họ lắng nghe tiếng xé giấy, tiếng gãy vụn của keo dán gáy để thẩm định tuổi thọ của từng món hàng.
"Lô này tính nhiêu?" một giọng đàn ông khàn đặc như nghẹt đờm cất lên từ góc một sạp chất đầy báo cũ đóng tập.
"Bốn chục. Bớt một xu cũng không gật. Toàn báo *Bách Khoa*, *Văn*, với mấy số đặc biệt của *Sáng Tạo* trước bảy lăm, còn nguyên bìa màu của họa sĩ Chòe." Người đàn bà trùm khăn len kín trán đáp cộc lốc, tay vẫn thoăn thoắt dùng dao bài rọc dây buộc kiện báo kế bên.
Người mua không thèm ngẩng đầu lên lấy nửa phân. Gã dùng hai đầu ngón tay khẳng khiu kẹp chặt lấy phần chân tập báo, nhấc bổng cả xấp lên để ước chừng trọng lượng giấy, rồi dùng ngón cái gạt phắt một góc trang ruột để soi vết ố nước mặn dưới ánh đèn đỏ:
"Ba hai ngàn. Ố chân trang hết nửa tập, gáy rụng mất sợi chỉ cước bên trong rồi, về phải vô keo lại toàn bộ mới đem bán cho dân nghiên cứu được. Lấy thì tôi xúc trọn sọt này, không thì bà để đấy chiều cho mối ve chai nó cân ký lô đổi lấy thau nhựa."
Người đàn bà liếc xéo gã một cái, môi bĩu ra nhưng tay đã xòe ra:
"Ba lăm. Đếm tiền lẹ giùm cái, còn dỡ lô khác."
Một giao dịch trị giá vài chục ngàn bạc diễn ra vỏn vẹn trong chưa đầy ba mươi giây. Từng tờ tiền giấy cotton mệnh giá năm ngàn, mười ngàn nhăn nhúm được người mua rút ra từ chiếc túi bao tử đeo xệ bên hông, vuốt phẳng thô bạo trên đùi rồi nhét tọt vào tay bạn hàng. Kiện báo cũ lập tức bị quăng mạnh sang một góc khác, rơi đánh *huỵch* xuống nền xi măng ướt để chờ buộc lên yên sau chiếc xe Honda Dame gỉ sét đang nổ máy xình xịch xả khói mù mịt ngoài đầu hẻm.
Ở góc bên kia, cách đó chừng vài bước chân, hai gã thanh niên tóc dài phủ gáy đang ngồi chồm hổm bới tung một sọt truyện tranh thiếu nhi. Từng cuốn *Dũng sĩ Hesman*, *Doraemon*, *Thám tử lừng danh Conan* bìa gập bốn màu lem nhem được lật giở dứt khoát đến tàn nhẫn. Nếu cuốn nào còn nguyên bốn góc bìa và trang cuối không bị bàn tay trẻ con xé mất ô tô màu, chúng sẽ được xếp riêng sang một chồng phẳng phiu; cuốn nào sứt góc hay mất bìa sau lập tức bị ném vèo sang đống giấy vụn chờ đem bán theo cân cho các lò tái chế bên Bình Chánh.
Ở đây, giá trị của từng trang giấy được định đoạt bằng ánh mắt săm soi tinh quái, sự am hiểu lạnh lùng về thị hiếu của đám học sinh thị thành và những cú ngã giá cộc cằn. Không có chỗ cho sự hoài niệm lãng mạn, càng không có chỗ cho lòng thương hại đối với những ấn bản từng một thời làm say mê bao thế hệ độc giả.
Tuệ Anh bước chậm lại, khẽ nghiêng vai né một người phu đang gò lưng vác một bao tải sách to tướng trĩu nặng lướt sượt qua người. Mùi mồ hôi chua nồng trộn lẫn bụi giấy bốc lên từ lưng áo rách của người phu xe khiến sống mũi cô cay xè. Mắt cô lia qua các tấm biển hiệu vẽ sơn tạm bợ treo trên vách ván ép đã ngả màu xám xịt: *Sạp Ba Cảnh – Chuyên thu mua sách cũ*, *Sách cũ Nam Hà*, *Đại lý sách báo Tiến Đạt*... Mỗi sạp sách là một lãnh địa riêng biệt, được bảo vệ cẩn mật bởi những chiếc rương gỗ thông, những thùng đạn đại liên tận dụng làm hộp đựng tài liệu quý, và những ánh nhìn dò xét đầy phòng thủ ném về phía cô gái trẻ lạ mặt đang một mình đi vào chợ lúc tảng sáng.
Một đứa con gái trẻ măng, mặc áo gió lam bình dị, dáng người mảnh dẻ nhưng ánh mắt lại nhìn xoáy vào từng gáy sách với một vẻ chăm chú khác thường, tuyệt đối không phải là đối tượng khách vãng lai hay sinh viên săn sách giáo trình giảm giá. Những ánh mắt cú vọ của cánh đầu nậu khẽ nheo lại khi bóng cô lướt qua, như thể một sinh vật ngoại lai vừa bước chân vào vùng nước sâu của loài săn mồi.
Tuệ Anh phớt lờ tất cả. Cô đếm từng khúc quanh trong trí nhớ, lần theo những chỉ dẫn sơ lược được ghi lại trong cuốn sổ tay bìa cứng của người dì quá cố. Đến khúc quanh cuối cùng của dãy hành lang Cư xá Bưu điện, nơi ánh sáng đèn đường hoàn toàn bất lực trước bóng tối của góc chết hình chữ L, mùi khói thuốc lá rê thơm nồng xộc thẳng vào cánh mũi cô.
Sạp số 4 nằm thụt sâu vào trong góc khuất ấy.
Nó tách biệt hẳn với sự ồn ào xô bồ, chụp giật của những sạp xả hàng ký lô bên ngoài. Ở đây, không có những chồng sách đại chúng đổ đống ngổn ngang dưới đất cho người ta giẫm đạp. Toàn bộ không gian chật hẹp chỉ kê ba chiếc tủ kính khung nhôm đã xỉn màu, mặt kính cáu bẩn bởi dấu tay và khói thuốc, cùng bốn chiếc rương gỗ lim đen nhánh đóng nẹp sắt xếp thành hình chữ U bao quanh một khoảng trống nhỏ vừa đủ kê một chiếc bàn con.
Chiếc bàn con ấy được kê bằng hai chồng tạp chí ngoại văn dày cộp, bên trên phủ một tấm bạt nhựa sọc xanh đỏ đã rách góc. Ngồi phía sau bàn là một người đàn ông trung niên chừng hơn năm mươi tuổi. Ông ta mặc chiếc áo sơ mi lính bạc phếch xắn tay áo lên quá khuỷu để lộ bắp tay gân guốc chằng chịt những vết sẹo cũ. Trên cổ ông ta quấn một chiếc khăn rằn Nam Bộ đã ngả màu cháo lòng, hai đầu khăn buông thõng trên ngực áo phập phồng theo từng nhịp thở nặng nề.
Trên môi ông ta kẹp một điếu thuốc lá đen cuộn tay cháy dở. Đốm lửa đỏ lập lòe trong bóng tối nhập nhoạng, một dải tàn thuốc dài ngoằng trắng xám chực rụng xuống trang sách chữ Pháp khổ lớn đang mở rộng trên đùi. Ông ta không đeo kính, nhưng đôi mắt một mí ti hí ẩn sâu sau hàng chân mày rậm rạp hoa râm lại toát ra một thứ hàn quang sắc lẻm, lạnh lùng như mắt loài bò sát.
Phía trên đầu ông ta, treo xiêu vẹo trên một sợi dây kẽm gỉ sét, là một tấm bảng gỗ nhỏ quét vôi trắng, bên trên viết bốn chữ sơn dầu màu đỏ đã tróc vảy từng mảng lớn: *Văn Hóa Sài Gòn*.
Tuệ Anh dừng bước ngay trước mép bạt của sạp, nơi ranh giới giữa ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn hành lang và vùng bóng tối tĩnh mịch của sạp số 4. Cô đứng im vài giây, hít sâu một hơi không khí lạnh buốt để ổn định lại nhịp tim đang đập thình thịch trong lồng ngực, rồi cất tiếng chào bằng chất giọng trầm tĩnh, rõ ràng:
"Dạ, cháu chào chú Sáu."
Người đàn ông không đáp lại ngay. Điếu thuốc trên môi ông ta khẽ co giật theo từng nhịp rít sâu. Một làn khói xanh đặc quánh, khen khét phả ra từ hai lỗ mũi và khóe môi thâm sì, cuộn tròn quanh chiếc chao đèn bằng tôn thiếc tráng men treo lơ lửng trên đỉnh đầu. Dưới làn khói mờ ảo ấy, đôi mắt ti hí của ông ta chậm rãi liếc xéo nhìn cô gái trẻ từ đầu đến chân. Cái nhìn săm soi, lạnh lùng và đầy trần trụi: từ đôi dép nhựa Tiền Phong sờn quai dính bùn đất, chiếc quần tây đen ống đứng đã bạc màu nơi đầu gối, cho đến vạt áo gió lam bạc phếch bụi đường.
Ánh mắt ấy dừng lại rất lâu trên gò má thon gầy, sống mũi cao thẳng và vầng trán thanh tú của Tuệ Anh. Một thoáng ngỡ ngàng cực nhanh lướt qua đáy mắt người đàn ông, nhưng rồi con ngươi ông ta lập tức co thắt lại. Khóe miệng dưới lớp ria mép rậm rạp nhếch lên thành một nụ cười nửa miệng đầy vẻ mỉa mai, làm lộ ra hàm răng xỉn màu vì khói thuốc và nhựa trầu.
"Ai như... con bé cháu gái bà Mộc Lan bên tiệm Mộc đường Trần Nhân Tôn?"
Ông ta gõ nhẹ tàn thuốc vào một chiếc gạt tàn tự chế làm bằng phần đáy của một vỏ đạn pháo sáng sáng loáng. Giọng nói của ông ta khàn đặc, the thé và cào cước như tiếng kim loại cọ vào đá mài giữa đêm thanh vắng:
"Sao? Tiệm Mộc rốt cuộc cũng tới ngày đứt hơi rồi hả? Dì ruột của mày vừa mới nằm xuống bệnh viện Chợ Rẫy chưa ráo mồ ráo mả, mày đã vội vã mò sang cái đất Chợ Lớn này từ tờ mờ sáng để tính thanh lý nốt mấy cái xác tủ mục với đống giáo trình rách nát đem cấn nợ à?"
Tuệ Anh không hề lùi bước, cũng không để lộ ra sự bối rối hay tức giận trước thái độ cay nghiệt ấy. Cô đứng thẳng lưng, hai vai mở rộng tự nhiên, ánh mắt điềm tĩnh không né tránh cái nhìn sắc nhọn của gã đầu nậu lão luyện:
"Dạ, tiệm Mộc vẫn mở cửa bình thường thưa chú Sáu. Cháu là Tuệ Anh. Cháu sang tìm chú sáng nay không phải để bán tháo tiệm hay dẹp tiệm, mà là để tiếp tục công việc của dì cháu."
"Tiếp tục?"
Lâm Sáu Phước bật ra một tiếng khịt mũi giễu cợt qua kẽ răng. Tiếng khịt mũi khô khốc như tiếng gió rít qua khe nứt của cánh cửa mục. Ông ta nhổ toẹt một bãi nước bọt lẫn tàn thuốc xuống nền xi măng, rồi dùng mũi dép cao su dập nát nó một cách chậm rãi, tàn nhẫn:
"Con nít miệng còn hôi mùi sữa mẹ mà bày đặt ăn to nói lớn giữa chốn giang hồ chữ nghĩa này. Dì Lan của mày cả đời ôm đống chữ nghĩa thanh cao, coi khinh chuyện cơm áo gạo tiền, rốt cuộc thì được cái tích sự gì? Chết trong nghèo túng, nợ tiền nhà ngập tới đầu gối, nợ tiền sách gối đầu khắp cái đất Chợ Lớn này. Mày có biết riêng cái sạp số bốn này, cuốn sổ nợ của tao vẫn còn ghi rành rành trắng đen mực tím không? Hai năm trước bả vác về ba thùng sách địa chí Nam Bộ với tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn, trả được một nửa tiền mặt, còn thiếu tao bốn trăm hai mươi ngàn tiền mua chịu chưa chịu dứt điểm. Bốn trăm hai mươi ngàn thời đó mua được cả chỉ vàng chứ ít ỏi gì! Mày nói tiếp tục là tính sang đây móc túi trả nợ thay cho bả, hay là định giở cái bài nước mắt ngắn dài than nghèo kể khổ để thằng già này xé giấy xóa nợ?"
Không khí bên trong hốc tường chữ L lập tức chùng xuống, căng thẳng như một sợi dây đàn đáy bị siết quá mức chỉ chực đứt phựt. Mấy người khách đang đứng lật sách ở sạp kế bên cũng ngưng tay, tò mò dỏng tai liếc mắt nhìn sang xem màn kịch đầu ngày.
Tuệ Anh vẫn giữ nguyên nét mặt bình thản. Cô thò tay vào túi áo gió trong, ngón tay nhẹ nhàng rút ra tấm danh thiếp cũ màu vàng ố đã tìm thấy từ kẽ nứt của bức vách gỗ gác lửng chiều hôm qua. Cô tiến lên một bước, đặt tấm danh thiếp lên mặt bàn kính trước mặt Lâm Sáu Phước một cách cẩn trọng, không tạo ra bất kỳ tiếng động thừa thãi nào:
"Nợ của dì Lan với chú, nếu có sổ sách ghi chép đối chiếu rõ ràng giữa hai bên, cháu nhất định sẽ hoàn trả sòng phẳng từng hào, không thiếu của chú một cắc nào khi tiệm Mộc thu xếp xong tài chính. Nhưng hôm nay cháu đến đây trước hết là vì dòng chữ này của dì cháu để lại trước lúc lâm chung."
Sáu Phước cụp mắt nhìn xuống mặt kính. Khi đôi mắt ti hí của ông ta chạm phải dòng chữ viết bằng mực Cửu Long màu tím thanh mảnh nhưng run rẩy ở mặt sau tấm danh thiếp: *“Bộ chữ chì và bản thảo gốc năm 1943 đang ở chỗ anh Sáu. Tiệm Mộc sống hay chết, trông cậy cả vào chuyến này...”*, đuôi lông mày hoa râm của ông ta khẽ giật giật.
Một tia sáng cực kỳ phức tạp — nửa ngỡ ngàng, nửa hoài nghi, pha lẫn một thoáng xót xa kín đáo — lóe lên trong đáy mắt gã buôn sách lõi đời. Nhưng sự biến đổi ấy chỉ diễn ra trong một phần mười giây, rồi lập tức bị che giấu hoàn hảo sau vẻ mặt lạnh lùng, dửng dưng như một pho tượng đá vôi phơi nắng mưa.
Ông ta ngửa đầu ra sau tựa vào lưng chiếc ghế bố, hai tay khoanh lại trước ngực, nhìn Tuệ Anh bằng một ánh mắt đã bớt đi phần khinh bạc nhưng lại tăng thêm mười phần săm soi, dò xét:
"Chà... Ra là mày đã lục tới tận đáy hòm gia bảo của bà Lan rồi. Khá khen cho con nhỏ có mắt nhìn, biết tìm ra manh mối. Nhưng con nhỏ ơi, cái nghề buôn sách cũ ở đất Sài Gòn này nó không giống như mấy sạp bán bánh bò bánh tiêu ngoài chợ chồm hổm đâu. Có gan tìm tới được sạp số bốn này là một chuyện, còn có đủ cặp mắt để sống sót nổi giữa cái đất Chợ Lớn đầy cạm bẫy này hay không lại là chuyện hoàn toàn khác. Dì mày ngày xưa con mắt tinh tường như rận, chỉ cần ngửi mùi giấy thoang thoảng cũng biết sách in ở nhà in nào bên Chợ Cũ hay đường Catinat từ thời Tây. Còn mày... một đứa biên tập viên non nớt vừa tốt nghiệp trường ốc, ngoài mấy cuốn sách giáo khoa in hàng loạt bằng máy in Liên Xô thời nay ra thì biết cái quái gì về sách cổ?"
Sáu Phước ngừng lại một chút, nheo mắt nhìn Tuệ Anh đầy vẻ khiêu khích, khóe môi giật giật:
"Muốn nói chuyện làm ăn lâu dài với Sáu Phước này, muốn lấy được hàng xịn giá gốc hay muốn hỏi thăm tung tích mấy thứ di cảo năm xưa mà bà Lan gửi gắm, thì trước hết mày phải qua được bài thử của tao đã. Ở cái chợ này, không có chỗ cho kẻ mù chữ giả danh trí thức, càng không có đất sống cho những đứa thừa kế bất tài chỉ biết ăn mày dĩ vãng."
Nói đoạn, không đợi Tuệ Anh kịp lên tiếng chấp nhận hay từ chối, Sáu Phước liền cúi rạp người xuống gầm bàn. Ông ta đưa tay kéo mạnh chiếc chốt đồng của chiếc rương gỗ lim đặt ngay sát chân bàn. Tiếng bản lề gỉ sét rít lên ken két khô khốc trong bóng tối ẩm thấp.
Từ đáy rương sâu hoắm chất đầy những lớp vải dầu chống ẩm và bao bố gai vụn, ông ta cẩn thận lôi ra một bọc nhung điều cũ kỹ đã sờn rách bốn góc, bề mặt nhung bám một lớp bụi xám mỏng.
Bàn tay thô ráp đầy sẹo của Sáu Phước mở từng lớp vải nhung một cách chậm rãi, nâng niu đến mức kỳ lạ đối với một kẻ vốn thô lỗ như ông ta. Lớp vải nhung mở ra, để lộ một cuốn sách khổ 16x24 cm khá dày dặn, gáy sách vuông vức phẳng phiu.
Cuốn sách toát lên một vẻ sang trọng, cổ kính đến choáng ngợp lòng người. Toàn bộ phần bìa ngoài được bọc bằng da cừu thuộc màu nâu cánh gián sẫm, chất da bóng mờ, bốn góc bìa được bọc bằng kim loại đồng chạm trổ hoa văn dây leo uốn lượn cực kỳ tinh xảo theo phong cách mỹ thuật Art Nouveau cuối thế kỷ mười chín. Chính giữa bìa trước là dòng tựa đề mạ nhũ vàng lấp lánh rực rỡ dưới ánh đèn tròn: *Lục Vân Tiên Truyện*, phía dưới ghi rõ xuất xứ và niên đại bằng cả chữ Pháp lẫn chữ Quốc ngữ: *Imprimerie Nationale – Paris, 1899*.
Sáu Phước trịnh trọng đặt cuốn sách lên trên mặt miếng vải nhung trải phẳng trên bàn kính, dùng hai đầu ngón tay đẩy nhẹ nó về phía mép bàn nơi Tuệ Anh đang đứng. Đoạn, ông ta ngửa người ra sau chiếc ghế bố, rút một điếu thuốc lá rê khác châm lửa, nhả ra một ngụm khói dày đặc làm mờ mịt cả không gian chật hẹp:
"Nhìn cho kỹ đi cô em. Đây là bản dịch và chú giải *Lục Vân Tiên* song ngữ Pháp - Việt in lần đầu tiên tại Paris vào cuối thế kỷ trước, bìa bọc da cừu mạ vàng nguyên bản do chính các nghệ nhân đóng sách thủ công bậc thầy của Pháp thực hiện. Tao vừa mới cất công lặn lội săn được từ một gia đình cựu đốc phủ sứ dưới miệt Bạc Liêu đem lên hồi tuần trước. Khắp cái đất Sài Gòn này, đố mày tìm ra được cuốn thứ hai còn lành lặn, nguyên vẹn tới từng góc đồng như thế này đấy."
Ánh mắt Sáu Phước lấp loáng những tia ranh mãnh, khóe môi nhếch lên thành một nụ cười nửa thật nửa hư đầy vẻ thách thức:
"Bà Mộc Lan ngày xưa mê pho này dữ lắm. Bả từng năn nỉ gạ tao đổi cả một tủ sách nghiên cứu văn hóa dân gian quý hiếm để lấy nó mà tao chưa chịu nhả ra. Nay nể tình mày là cháu gái duy nhất của bả, lại có cái gan dám mò tới đây nhận lại cơ nghiệp, tao để lại cho mày cuốn này làm bảo vật trấn tiệm. Giá hữu nghị mở hàng đầu ngày cho mối quen cũ: đúng một cây vàng lá SJC. Hoặc nếu mày trả bằng tiền mặt thì tao lấy tròn sáu triệu đồng. Mày dám ôm cuốn này về chưng lên cái kệ gỗ chính giữa tiệm Mộc không? Tao bảo đảm với mày, chỉ cần đặt nó ở gian trước, đám học giả, giáo sư đại học với mấy tay sưu tầm cộm cán khắp cái thành phố này sẽ nườm nượp kéo tới tiệm của mày bái phục sát đất."
Sáu triệu đồng.
Một con số khổng lồ, như một tảng đá ngàn cân rơi xuống không gian chật hẹp của sạp số 4. Ở thời điểm năm 1996, khi một tô phở bò tái nạm thơm phức ngoài phố chỉ có giá năm ngàn đồng, lương công chức bậc trung chỉ vỏn vẹn ba bốn trăm ngàn một tháng, thì sáu triệu đồng là cả một gia tài, đủ sức mua được một mảnh đất nhỏ ở vùng ven hay một chiếc xe Honda Dream Thái mới toanh. Con số ấy đủ sức đè bẹp toàn bộ vốn liếng còm cõi một trăm mười lăm ngàn đồng trong túi áo của Tuệ Anh lúc này.
Nếu là một cô gái trẻ tuổi bình thường của năm 1996, hoặc một người thừa kế nghiệp dư vừa mới chân ướt chân ráo bước vào nghề buôn bán sách cũ, hẳn đã bị vẻ hào nhoáng lộng lẫy của lớp bìa da thuộc mạ vàng cùng những cái tên hoa mỹ làm cho lóa mắt, hoặc sẽ run sợ trước cái giá trên trời mà lập tức thoái lui, cúi đầu nhận mình bất tài.
Nhưng Tuệ Anh không phải là một cô gái bình thường.
Trước khi một tai nạn bất ngờ đẩy ý thức của cô ngược dòng thời gian ba mươi năm về trước, cô đã có gần một thập kỷ lăn lộn trong ngành biên tập và xuất bản sách tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2026. Cô từng tham gia các dự án số hóa văn bản Hán Nôm cổ, từng trực tiếp làm việc nhiều tháng trời với các chuyên gia phục chế tài liệu Hán Nôm và sách Tây phương tại Thư viện Khoa học Tổng hợp, từng tận tay cầm nắm, thẩm định và lập hồ sơ bảo tồn cho hàng trăm ấn bản quý hiếm từ thế kỷ mười bảy đến đầu thế kỷ hai mươi.
Tuệ Anh không vội vàng trả lời. Cô kéo nhẹ chiếc ghế đẩu bằng gỗ con kê sát mép bàn, chậm rãi ngồi xuống đối diện với Sáu Phước. Cử chỉ của cô thong thả, điềm đạm và ung dung đến kỳ lạ, hoàn toàn không có lấy một nét hoảng hốt hay tự ti.
Từ chiếc túi vải thô, cô rút ra một chiếc khăn tay bằng vải xô màu trắng tinh khiết, sạch sẽ không một hạt bụi. Cô nhẹ nhàng quấn chiếc khăn quanh bốn đầu ngón tay của bàn tay phải, chừa lại ngón cái để làm điểm tựa.
Một hành động cực kỳ nhỏ, nhưng lại mang tính nguyên tắc nghề nghiệp tuyệt đối của giới chuyên gia bảo tồn văn bản cổ: tuyệt đối không bao giờ để mồ hôi, chất muối và dầu tự nhiên từ da tay trần tiếp xúc trực tiếp lên bề mặt của những hiện vật giấy và da dễ bị tổn hại.
Ánh mắt Sáu Phước khẽ biến sắc khi nhìn thấy chiếc khăn xô trắng quấn quanh ngón tay cô gái trẻ. Điếu thuốc lá rê trên môi ông ta khựng lại giữa chừng, tàn thuốc ngưng rơi. Đôi mắt ti hí bỗng chốc mở to thêm một chút.
Tuệ Anh đặt bàn tay quấn khăn lên bề mặt cuốn sách.
Đầu tiên, cô không hề lật mở bìa sách ra ngay như cách mà những kẻ tò mò hay làm. Cô dùng mu bàn tay khẽ trượt nhẹ dọc theo phần gáy da cừu màu cánh gián. Bề mặt da cừu trơn láng, mát rượi, nhưng khi đầu ngón tay cô lướt qua đường rãnh gân tiếp giáp giữa bìa trước và sống gáy, cô lập tức cảm nhận được một độ cứng bất thường dưới lớp da mỏng.
Một bản đóng bìa thủ công kiểu Pháp cuối thế kỷ mười chín thường sử dụng phương pháp khâu tay luồn dây gai hoặc gân chỉ bện bằng sợi lanh tự nhiên thắt nút qua các lỗ đục thủ công trên từng tay sách, tạo nên độ mềm dẻo, có độ đàn hồi tự nhiên rất riêng khi gập mở. Nhưng ở cuốn sách này, phần gờ gáy lại thẳng tắp một cách cơ học, cứng đơ như khúc gỗ, hoàn toàn thiếu đi độ nhún của kết cấu sợi dệt tự nhiên. Đó là dấu hiệu rõ ràng của một thanh nẹp gia cố bằng nhựa tổng hợp hoặc bìa ép công nghiệp hiện đại.
Cô nâng cuốn sách lên cách mũi chừng năm phân, khẽ nhắm mắt lại và hít một hơi thật sâu qua cánh mũi.
Không có mùi chua ngai ngái, hơi nồng của keo xương động vật — thứ chất kết dính hữu cơ duy nhất được các phường thợ đóng sách Paris sử dụng vào giai đoạn năm 1899. Thứ xộc thẳng vào khứu giác nhạy bén của cô là một mùi hăng hắc quen thuộc: mùi dung môi hòa tan cao su tổng hợp kết hợp với mùi dầu hỏa thoang thoảng chưa bay hết của mực in máy offset đời cũ.
Tuệ Anh khẽ mở mắt, khóe môi thoáng hiện một nụ cười kín đáo. Cô nhẹ nhàng lật mở bìa trước của cuốn sách.
Tờ gác đầu tiên dán sát vào mặt trong của bìa cứng là loại giấy hoa văn cẩm thạch (marbled paper) màu lam ngọc pha những vệt vân vàng kim uốn lượn, thoạt nhìn rất ra dáng phong cách cung đình châu Âu thời cận đại. Nhưng khi ngón tay quấn khăn của cô miết nhẹ vào mép dán ở góc trên cùng bên phải, lớp giấy hoa văn khẽ bong ra, để lộ một khe hở chưa đầy một milimét.
Dưới khe hở hẹp ấy, ẩn dưới ánh sáng đèn điện, là một vệt keo dán màu trắng sữa đã khô cứng và giòn tan thành từng mảng nhỏ.
"Chú Sáu dùng keo sữa PVAc loại của nhà máy hóa chất Đức Giang pha loãng với cồn chín mươi độ để dán tờ gác cẩm thạch này đúng không ạ?"
Tuệ Anh ngước mắt lên, nhìn thẳng vào con ngươi đang giãn ra của Sáu Phước, giọng nói dịu dàng nhưng rành rọt từng chữ:
"Mép dán này không phải quét cọ thủ công bằng hồ tinh bột nếp lên men tự nhiên như người xưa vẫn làm. Keo sữa tổng hợp thời nay quét lên giấy mỏng khi gặp nhiệt độ cao hoặc phơi quạt gió sẽ bị hiện tượng co rút cục bộ do mất nước quá nhanh, làm cho mép giấy hoa văn ở góc này bị giương lên thành những gợn sóng nhỏ li ti thế này đây. Thợ của chú miết chưa kỹ, nên lớp màng keo polyme vẫn còn vương lại một vệt bóng mờ ở mép rãnh bìa."
Sáu Phước không nói một lời nào. Điếu thuốc trên môi ông ta bắt đầu run nhẹ lên một nhịp ngắn.
Tuệ Anh không dừng lại ở đó. Bàn tay cô chuyển động vô cùng cẩn trọng, lật tiếp qua tờ gác để đi vào trang bìa giả, rồi dừng lại ở trang bìa chính. Tên sách *Lục Vân Tiên Truyện* cùng dòng chữ *Imprimerie Nationale – Paris, 1899* hiện ra rõ mồn một trên nền giấy ngả màu vàng sẫm. Từng con chữ La-tinh sắc sảo, đường nét thanh đậm cân đối, màu giấy trông rất tự nhiên như thể đã trầm tích qua trăm năm sương gió của xứ nhiệt đới.
Cô đưa ngón tay trỏ miết thật khẽ lên bề mặt các con chữ in trên trang giấy.
"Kỹ thuật in typo cổ điển cuối thế kỷ mười chín của Nhà in Quốc gia Pháp sử dụng các con chữ chì đúc rời sắp trên bàn khuôn, rồi dùng lực ép cơ học từ bàn ép kim loại cực nặng đè trực tiếp lên bề mặt giấy ẩm. Chính vì lực ép cơ học đó, mặt sau của trang giấy bao giờ cũng để lại những vết hằn lún nhẹ của từng con chữ chì — dân trong nghề phục chế bọn cháu gọi đó là vết đập chữ nổi (impression mark). Người đọc chỉ cần nhắm mắt, dùng đầu ngón tay lướt qua mặt sau là có thể đọc được độ lồi lõm của con chữ."
Tuệ Anh khẽ lật sang mặt sau của tờ bìa chính, vuốt nhẹ ngón tay trần qua bề mặt trang giấy phẳng phiu:
"Nhưng trang bìa này của chú... hoàn toàn nhẵn thín. Từng nét chữ phẳng lì như một tờ giấy trắng, không hề có một chút độ sâu cơ học hay vết lún của lực ép bàn in chì nào cả."
Cô hơi nghiêng trang sách dưới ánh sáng đỏ quạch của ngọn đèn tròn hai mươi lăm oát, nheo mắt quan sát các đường viền mép của những con chữ in hoa:
"Chưa hết đâu chú Sáu. Mực in sách cuối thế kỷ trước được chế tạo từ muội than đèn dầu hỏa pha trộn với dầu hạt lanh tự nhiên, nét chữ sau trăm năm tiếp xúc với không khí sẽ bị ô-xy hóa chậm, ngả sang màu xám đen ánh nâu và thẩm thấu sâu vào từng thớ sợi cellulose của loại giấy rag làm từ vải vụn. Còn loại mực trên trang này bám rất mỏng trên bề mặt, bề mặt mực có độ bóng nhẹ của phụ gia dầu mỏ. Đặc biệt, nếu nhìn kỹ dưới ánh sáng nghiêng, viền chữ có những hạt tram siêu nhỏ bị nhòe nhẹ — đó là hiện tượng tán xạ quang học tất yếu khi người ta đem một bản gốc chụp lại bằng máy ảnh âm bản rồi chuyển sang bản kẽm. Đây là kỹ thuật in offset chụp ảnh từ một bản gốc thực sự, rồi đem in lại trên máy in offset hai màu đời cũ, chứ tuyệt đối không phải là bản sắp chữ chì nguyên bản của năm 1899."
Sắc mặt của Sáu Phước bắt đầu biến đổi từ lạnh lùng sang căng cứng. Những đường gân trên mu bàn tay ông ta nổi cộm lên khi ông ta vô thức siết chặt chiếc khăn rằn quanh cổ.
Tuệ Anh nhẹ nhàng lật tiếp vào phần ruột sách, ngón tay dừng lại ở trang thứ mười lăm, nơi có một đoạn thơ lục bát kèm phần chú giải tiếng Pháp dài dặc. Cô dùng hai ngón tay kẹp mép trang giấy, khẽ xoa nhẹ rồi đưa mép giấy lại sát mí mắt để nhìn thấu cấu trúc thớ sợi dưới ánh đèn:
"Chất liệu ruột sách này là giấy xốp sản xuất công nghiệp từ bột gỗ nghiền cơ học, loại giấy in thông dụng của các nhà máy giấy bãi Bằng thời kỳ bao cấp. Người làm giả đã xử lý làm cho giấy ngả vàng nhân tạo bằng cách quét nước trà mạn đậm đặc pha với một tỷ lệ phèn chua nhất định để cầm màu, sau đó đem sấy khô bằng bàn ủi hoặc đưa vào buồng sấy nhiệt. Chú ngửi kỹ xem, mép gáy và các góc trang sách vẫn còn đọng lại mùi phèn chua rất gắt, lấn át cả mùi ẩm mốc tự nhiên."
Cô ngước nhìn Sáu Phước, giọng nói vẫn êm ả như một lời tâm tình chuyên môn:
"Nếu là loại giấy rag cổ làm hoàn toàn từ sợi lanh hay sợi bông nguyên chất của châu Âu thời kỳ 1899, dẫu có để qua trăm năm trong môi trường nhiệt đới ẩm gió mùa của đất phương Nam, giấy chỉ ngả sang màu cánh gián loang lổ dạng đồi mồi (foxing) do phản ứng sinh hóa của nấm mốc tự nhiên trên các vết kim loại trong bột giấy, chứ không bao giờ có chuyện giấy vàng đều tăm tắp, phẳng lỳ từ trang đầu tiên cho đến trang cuối cùng như được nhuộm màu đồng loạt thế này."
Cuối cùng, Tuệ Anh dựng nghiêng cuốn sách lên mặt bàn, ngón tay chỉ thẳng vào phần rãnh chỉ khâu lộ ra ở giữa các tay sách:
"Và điều sơ hở lộ liễu nhất, đáng tiếc nhất của cuốn sách này chính là đường chỉ khâu gáy. Người thợ phục chế của chú quả thực rất khéo tay khi đã cất công tìm được sợi chỉ dù màu nâu nhạt để may giả những đường khâu tay cổ điển kiểu Pháp. Nhưng tiếc thay, người làm lại quá lười biếng hoặc không đủ kiên nhẫn để khâu trọn vẹn từng tép giấy theo đúng kỹ thuật khâu luồn gân. Họ đã dùng máy ép nhiệt công nghiệp dập một đường keo nhiệt nóng chảy (hot-melt adhesive) dọc theo suốt sống lưng của ruột sách để cố định các trang giấy cho nhanh, rồi sau đó mới lấy dùi sắt đâm vài ba lỗ ở hai đầu gáy, xỏ vài đường chỉ dù làm cảnh nhằm đánh lừa thị giác của những người nghiệp dư."
Tuệ Anh khép nhẹ cuốn sách lại. Cô cẩn thận xếp ngay ngắn hai vạt vải nhung điều phủ kín lên trên bề mặt bìa da thuộc mạ vàng lộng lẫy, đẩy nhẹ cuốn sách trở lại vị trí ban đầu trước mặt người đàn ông trung niên, rồi tháo chiếc khăn xô trắng trên ngón tay ra, gấp phẳng phiu nhét vào túi áo.
Cô ngẩng đầu lên, ánh mắt trong veo nhưng sáng quắc nhìn thẳng vào gương mặt đang sững sờ của Sáu Phước:
"Vỏ bìa sách đúng là da cừu thật, kỹ thuật thúc nổi mạ nhũ vàng ở các góc đồng cũng rất tinh xảo, có thể là vỏ bìa của một cuốn kinh thánh hoặc cuốn từ điển tiếng Pháp cổ nào đó bị rách nát toàn bộ phần ruột nên được người ta tận dụng lại. Nhưng phần ruột bên trong chỉ là một bản chụp in lại bằng máy in offset trên giấy xốp sấy phèn chua, tuổi đời của nó nhiều nhất cũng chỉ khoảng hai đến ba năm trở lại đây mà thôi. Đây là một bản phục chế đánh tráo ruột cực kỳ tinh vi, tạo ra cốt để lừa những tay nhà giàu mới nổi thích chơi đồ cổ theo phong trào để khoe mẽ trong phòng khách. Cuốn này chú đem bán cho mấy quán cà phê sang trọng ở mạn Quận 1 để họ bày trong tủ kính trang trí thì được chừng sáu chục, bảy chục ngàn là cùng. Còn cái giá một cây vàng lá hay sáu triệu bạc mà chú vừa nói... cháu e là tiệm Mộc của cháu không dám gánh nổi cái họa rước đồ giả về làm sập mất uy tín ba đời của dì cháu đâu ạ."
Từng lời Tuệ Anh thốt ra nhẹ nhàng, bình thản như một làn gió sớm, nhưng lại sắc bén, chuẩn xác và lạnh lùng như một lưỡi dao phẫu thuật mổ xẻ từng thớ giấy, từng giọt mực, bóc trần đến tận chân tơ kẽ tóc mánh khóe làm sách giả tinh vi bậc nhất của giới buôn sách cũ Chợ Lớn.
Không gian bên trong sạp số 4 rơi vào một sự im lặng tuyệt đối đến nghẹt thở.
Gió sớm thổi qua khe bạt rách làm ngọn đèn tròn thiếc chao đảo qua lại, hắt những vệt bóng dài ngoằng, méo mó co giật liên hồi trên vách gỗ ép. Điếu thuốc lá trên môi Sáu Phước đã tàn lụi từ lúc nào không hay, một mẩu tàn thuốc dài rụng xuống mặt bàn kính vỡ vụn ra thành đám bụi xám xịt mà ông ta chẳng buồn để mắt tới.
Hai mắt Sáu Phước trừng trừng dán chặt vào Tuệ Anh. Những nếp nhăn sâu hoắm trên vầng trán đen sạm của ông ta giật liên hồi, hàm răng nghiến chặt lại dưới lớp ria mép rậm rạp. Bầu không khí căng thẳng đến mức tưởng chừng như chỉ cần một tiếng thở mạnh hay một cái chớp mắt cũng có thể khiến gã đầu nậu khét tiếng nổi trận lôi đình, hất tung chiếc bàn kính và đuổi thẳng cổ đứa con gái xấc xược ra khỏi sạp.
Thế nhưng, chỉ ba giây sau, một âm thanh hoàn toàn bất ngờ vang lên phá vỡ bầu không khí ngột ngạt ấy.
"Ha ha ha... Khá! Khá lắm con nhỏ!"
Sáu Phước bất thần ngửa mặt lên trần bạt, bật ra một tràng cười sảng khoái rung chuyển cả lồng ngực vạm vỡ. Tiếng cười khàn đục, vang dội của ông ta làm mấy người bán sách và phu khuân vác ở các sạp lân cận phải giật mình trố mắt nhìn sang xem chuyện gì đang xảy ra ở sạp của gã đầu nậu nổi tiếng khó tính.
Ông ta vỗ mạnh bàn tay hộ pháp xuống mặt bàn kính một cái *rầm*, làm chiếc gạt tàn bằng vỏ đạn pháo sáng nảy lên ken két:
"Mẹ kiếp! Con nhỏ này... Cặp mắt của mày không phải mắt người phàm nữa rồi, mà là mắt thần! Mày nói đúng đến từng dấu chấm, dấu phẩy không sai một ly một hào nào! Thằng Ba thợ đóng sách bên Xóm Củi làm cú này công phu mất đứt của tao nửa tháng trời, lừa được cả mấy tay cò sách gạo cội bên đường Đặng Thị Nhu chạy mất dép, thế mà vừa đưa vào tay mày chưa đầy năm phút đã bị mày lột trần truồng không còn lấy một manh giáp che thân!"
Sáu Phước lắc đầu quầy quậy, vừa châm lại điếu thuốc mới vừa nhìn Tuệ Anh bằng một ánh mắt hoàn toàn khác trước: không còn sự khinh khỉnh, mỉa mai hay đề phòng của một gã lái buôn cáo già đối với một kẻ nghiệp dư non nớt, mà là sự kiêng nể, thán phục thực sự của một kẻ lăn lộn cả đời trong nghề đối với một bậc thầy thực thụ.
"Tao chịu mày rồi đó con bé." Sáu Phước nhổ toẹt một sợi thuốc lá dính trên đầu lưỡi, giọng nói tuy vẫn the thé nhưng đã mềm đi rất nhiều, ánh mắt lộ rõ vẻ nhẹ nhõm: "Bà Mộc Lan dưới suối vàng coi như cũng nhắm mắt được rồi. Tiệm Mộc có một đứa kế nghiệp sở hữu cặp mắt sắc như dao cạo thế này thì con mẹ Tư Lành hay bất cứ đứa nào muốn dìm chết tiệm của mày cũng không dễ đâu."
Ông ta vung tay gạt phắt cuốn sách bìa da mạ vàng giả mạo sang một bên góc bàn như một món đồ chơi hết giá trị, rồi kéo chiếc ghế đẩu lại gần mép bàn hơn, hai cùi chỏ chống lên mặt kính, nhìn thẳng vào Tuệ Anh:
"Được rồi. Người trong nghề gặp nhau, tao không chơi cái trò mèo vờn chuột rẻ tiền đó nữa. Mày lặn lội qua đây lúc sáng sớm tinh mơ thế này, chắc chắn không phải chỉ để biểu diễn tài giám định giấy cổ cho thằng già này coi chơi. Nói thẳng đi, mày cần sách gì để cứu cái tiệm Mộc? Cần bao nhiêu cuốn? Lâm Sáu Phước này tuy có tiếng là con buôn thực dụng, thấy tiền là sáng mắt, nhưng một khi đã chịu nể mặt ai thì chữ tín nặng hơn cả vàng lá."
Tuệ Anh khẽ thở phào một hơi nhẹ nhõm trong lồng ngực. Tảng đá vô hình đè nặng lên vai cô suốt từ lúc bước chân vào con ngõ tối tăm này cuối cùng cũng được dỡ bỏ một nửa. Cửa ải khó khăn nhất, hiểm hóc nhất đã được vượt qua một cách sòng phẳng bằng chính tri thức và năng lực thực tế của cô, chứ không phải bằng sự van xin hay dựa dẫm vào danh tiếng của người đã khuất.
Cô cẩn thận rút từ túi vải ra cuốn sổ tay carô nhỏ bìa màu xanh lục, lật đúng trang danh mục đặt sách theo yêu cầu mà cô đã cẩn thận ghi chép, hệ thống lại từ chiều hôm qua, rồi đẩy nhẹ sang trước mặt Sáu Phước:
"Cháu cần tìm mấy đầu sách chuyên khảo này gấp cho khách quen của tiệm, chú Sáu xem trong kho có thể xuất cho cháu được không ạ: thứ nhất là bộ *Dân luật giản yếu* của giáo sư Vũ Văn Mẫu, đặc biệt là cuốn tập hai về *Tài sản và Khế ước*; thứ hai là cuốn *Luật học chuyên khảo* tập hai; và một số đầu sách văn học tiền chiến của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, bản in của nhà xuất bản Đời Nay trước năm một chín bốn lăm nếu chú còn giữ."
Sáu Phước cầm cuốn sổ carô lên, ngón tay trỏ đen sạm vì khói thuốc lướt nhanh qua từng dòng chữ nắn nót, rõ ràng và khoa học của Tuệ Anh. Đôi mắt ti hí của ông ta nheo lại, cái đầu lắc lư theo từng nhịp đọc, thỉnh thoảng lại gật gù:
"Hai cuốn luật của Vũ Văn Mẫu với cuốn *Luật học chuyên khảo*... Hừm, con nhỏ này chọn hàng bén thật, trúng ngay tim đen của thị trường lúc này. Mấy pho luật cũ này bên giới luật sư, công chứng với tòa án đang lùng ráo riết để tra cứu mấy vụ tranh chấp nhà đất phức tạp sau thời mở cửa. Luật mới chưa bao quát hết, người ta phải lần lại án lệ với khế ước thời trước để cãi nhau. Bình thường mấy cuốn này tao ém kỹ ở kho trong, khách quen ngoài phố hỏi mua lẻ tao chém không dưới bốn chục, năm chục ngàn một cuốn mà họ vẫn phải bấm bụng móc bóp."
Sáu Phước ngước mắt nhìn Tuệ Anh, giọng trầm xuống:
"Nhưng đã hứa với mày thì tao giữ lời danh dự của dân Chợ Lớn: tao tính mày đúng giá sỉ hữu nghị, hai mươi ngàn một cuốn, trọn bộ ba cuốn luật đó là sáu chục ngàn đồng chẵn."
Ông ta lật tiếp trang sổ, gõ ngón tay vào dòng chữ ghi tên nhóm Tự Lực Văn Đoàn:
"Còn đống văn học Tự Lực Văn Đoàn bản in của Đời Nay thì hiện tại tao chỉ còn sót lại đúng hai cuốn: cuốn *Hồn bướm mơ tiên* của Khái Hưng và cuốn *Đoạn tuyệt* của Nhất Linh. Giấy ngả vàng tự nhiên, gáy khâu chỉ còn chắc chắn, bìa gốc do họa sĩ vẽ minh họa vẫn còn nguyên vẹn, chỉ sờn nhẹ ở mép dưới. Tao để lại cho mày hai mươi lăm ngàn cả cặp. Tổng cộng hết thảy là tám mươi lăm ngàn đồng chẵn. Chịu được giá đó không?"
Tám mươi lăm ngàn đồng.
Một con số nhảy múa cực nhanh trong đầu óc sắc sảo của Tuệ Anh. Cô đang có trong tay một trăm mười lăm ngàn đồng tiền mặt tự do. Trừ đi tám mươi lăm ngàn tiền lấy năm cuốn sách quý này, cô vẫn còn dư lại đúng ba mươi ngàn đồng tiền mặt làm vốn lưu động dằn túi để trang trải chi phí sinh hoạt khẩn cấp và tiền chợ búa.
Trong khi đó, riêng đơn hàng của Luật sư Nguyễn Phan ở tận Cần Thơ đã cam kết bằng điện tín sẽ trả gấp đôi, thậm chí gấp ba giá gốc cho những cuốn sách luật chuyên khảo chuẩn xác; còn hai cuốn tiểu thuyết tiền chiến kia nếu giao đúng hẹn cho nhóm học giả hưu trí của giáo sư Trịnh thì mức lợi nhuận ròng thu về ít nhất cũng từ bốn mươi đến năm mươi ngàn đồng nữa.
Chỉ cần hoàn tất hai giao dịch này trong ngày hôm nay và ngày mai, dòng tiền mặt của tiệm Mộc sẽ lập tức được nhân lên gấp bội, đủ sức tích lũy thành một khoản tiền đáng kể để chuẩn bị đối phó với tối hậu thư đòi nợ đầy đe dọa của bà Tư Lành vào trưa Chủ nhật tới!
"Dạ, cháu hoàn toàn đồng ý với mức giá của chú Sáu." Tuệ Anh dứt khoát gật đầu, ánh mắt ánh lên niềm vui kín đáo.
Cô mở chiếc ví vải bố nhỏ đeo bên hông, cẩn thận đếm từng tờ tiền giấy cotton mệnh giá mười ngàn và năm ngàn, vuốt phẳng phiu từng nếp gấp rồi đặt ngay ngắn thành một xấp tám mươi lăm ngàn đồng trên mặt bàn kính.
Sáu Phước nhận tiền, những ngón tay thô ráp thoăn thoắt đếm lại một lượt với tốc độ kinh ngạc của dân nhà nghề, rồi nhét tọt xấp tiền vào chiếc túi bao tử xệ ngang hông.
Ông ta đứng dậy, quay lưng bước về phía gian kho tối om nằm sâu phía sau ba chiếc tủ kính. Tiếng bước chân lẹp xẹp, tiếng lục lọi thùng gỗ, tiếng thùng carton xê dịch lách cách vang lên trong bóng tối chừng mười phút đồng hồ. Khi trở ra ngoài ánh sáng đèn, trên hai tay ông ta là một chồng sách dày dặn gồm năm cuốn vuông vức. Chúng đã được bọc cẩn thận trong một tờ báo *Sài Gòn Giải Phóng* cũ khổ lớn, buộc chặt bốn góc bằng sợi dây chuối khô dẻo dai.
Ông ta đặt gói sách trước mặt Tuệ Anh, nhưng bàn tay to bè đầy lông lá và gân guốc vẫn giữ chặt lấy mép gói báo, chưa chịu buông ra ngay.
Khuôn mặt Sáu Phước đột nhiên trở nên nghiêm nghị một cách lạ thường. Đôi mắt ti hí của ông ta nheo lại, ánh lên những nét âu lo sâu sắc. Ông ta ghé sát người lại gần Tuệ Anh, hạ thấp giọng xuống đến mức chỉ vừa đủ cho hai người nghe thấy giữa những âm thanh ồn ào, huyên náo đang bắt đầu rộ lên của buổi chợ sáng:
"Sách của mày đây, cầm về kiểm tra cho kỹ từng trang. Nhưng mà con nhỏ ơi, tao có một tin này muốn báo cho mày biết để mày liệu đường mà thủ thế, kẻo có ngày bị người ta bẻ gãy lưng lúc nào không hay."
Tuệ Anh khựng lại, ngón tay đang chạm vào gói sách dừng lại giữa chừng. Cô ngước mắt nhìn thẳng vào gương mặt sạm đen của ông ta:
"Tin gì vậy chú Sáu?"
"Mấy bữa nay, có một thằng quản lý bên cái Nhà sách Minh Châu lớn đùng ngoài mặt phố lớn... hình như tên nó là Khôi, Lê Bá Khôi gì đó, cứ lượn lờ suốt ngày bên mấy sạp đầu mối lớn của cái Chợ Lớn này."
Sáu Phước nheo mắt lại, giọng nói đanh lại đầy vẻ khinh ghét nhưng không giấu được sự cảnh giác:
"Thằng đó nhiều tiền lắm, đi chiếc xe Dream II màu nho chín láng coóng, đầu vuốt keo láng mướt, cổ đeo cà vạt đỏ chót. Nó đang ráo riết dùng tiền tươi thóc thật đè người, gom sạch sành sanh toàn bộ nguồn truyện tranh Nhật Bản nhập lậu chưa kiểm duyệt với mấy đầu sách văn học dịch tái bản không phép từ các lò in chui dưới miệt Chợ Lớn này đem về độc quyền phân phối cho hệ thống của nó. Đáng nói là, nó còn kín đáo rỉ tai dặn mấy mối hàng lớn ở đây rằng: nếu thấy người của tiệm Mộc bên đường Trần Nhân Tôn sang lấy truyện hay sách mới thì lập tức chặn nguồn, tuyệt đối không cho lấy giá sỉ, ép cho tụi mày phải tự động dẹp tiệm vì thiếu hàng phục vụ thanh thiếu niên."
Tuệ Anh siết chặt hai quai túi xách vải thô trong lòng bàn tay.
Người đàn ông mặc âu phục xám, đi xe Dream II bóng lộn mà bé Hạnh từng nhìn thấy lén lút dò hỏi đám người thu mua ve chai quanh con hẻm tiệm Mộc hôm trước... Hóa ra chính là kẻ này! Một mạng lưới cạnh tranh thương mại ngầm, tàn nhẫn và đầy mưu mô đã bắt đầu giăng ra nhắm thẳng vào sự tồn tại mong manh của tiệm sách nhỏ nhoi của cô. Những chuỗi nhà sách tư nhân lớn đang dùng quy mô tài chính và các thủ thuật chèn ép nguồn cung để bóp nghẹt những hiệu sách cũ độc lập.
"Cháu hiểu rồi. Cháu cảm ơn chú Sáu đã có lòng cảnh báo cho cháu biết." Tuệ Anh trầm giọng đáp. Ánh mắt cô không hề lộ ra một chút hoang mang hay sợ hãi nào, mà ngược lại, nó trở nên sâu thẳm và kiên định hơn bao giờ hết. Sự từng trải của một biên tập viên từng đối mặt với những cuộc chiến bản quyền khốc liệt ở thế kỷ hai mươi mốt giúp cô giữ được sự tỉnh táo tuyệt đối.
"Chưa hết đâu... Còn một chuyện hệ trọng này nữa."
Sáu Phước ngập ngừng một thoáng hiếm hoi. Ông ta đưa mắt nhìn quanh quất ra phía lối đi giữa hai dãy sạp, như thể sợ có tai vách mạch rừng đang rình rập trong bóng tối. Đoạn, ông ta chống hai bàn tay thô ráp xuống mép bàn kính, chồm người tới trước, nhìn sâu vào đáy mắt cô gái trẻ:
"Dì Mộc Lan của mày... trước lúc bả ngã bệnh nặng phải đưa vào nằm cấp cứu bên Chợ Rẫy chừng một tháng, bả có ghé qua cái sạp số bốn này của tao lúc nửa đêm. Bả gom hết toàn bộ số tiền vàng dành dụm cuối cùng của cuộc đời, đặt cọc cho tao để nhờ tao gom bằng được một lô di cảo bản thảo viết tay trước năm một chín bốn lăm của một nhà văn lớn thời tiền chiến."
Trái tim Tuệ Anh khẽ nảy lên một nhịp mạnh mẽ trong lồng ngực:
"Bản thảo viết tay năm 1943 mà dì cháu ghi phía sau tấm danh thiếp này phải không chú?"
"Chính là nó!"
Sáu Phước thở dài một tiếng nặng trĩu, làn khói thuốc lá phả ra mang theo bao nỗi ngậm ngùi thế thái nhân tình:
"Bà Lan sống chết muốn có được lô bản thảo gốc đó cùng với một bộ chữ chì đúc riêng theo kiểu chữ cổ điển thời Pháp thuộc, để thực hiện cho bằng được cái ước mơ lớn nhất đời bả: tự tay in ấn và tái bản một ấn phẩm văn học để đời cho tiệm Mộc. Một ấn phẩm đàng hoàng, có bản quyền tác giả hợp pháp, có tôn nghiêm và linh hồn của những người làm sách chân chính, chứ không phải cái thứ đồ in lậu chụp giật, sai be bét chính tả để kiếm chác mấy đồng bạc lẻ như thiên hạ đang làm. Tiếc thay, bả chưa kịp nhìn thấy mặt mũi lô di cảo đó thì cơn bạo bệnh đã cướp bả đi quá đột ngột..."
Sáu Phước thò tay vào chiếc túi áo ngực bạc màu của chiếc áo sơ mi lính, cẩn thận móc ra một mảnh giấy tập học sinh đã ngả màu ố vàng, gấp làm tư vuông vức. Mép giấy đã sờn rách, nát vụn vì mồ hôi và vì được người giữ cất giấu quá lâu ngày.
Ông ta đặt mảnh giấy gấp tư ấy lên trên bọc sách báo cũ, đẩy nhẹ về phía Tuệ Anh:
"Bộ chữ chì mười lăm triệu đồng mà bà Lan đặt đúc riêng thì hiện tại vẫn đang nằm nguyên xi trong hòm gỗ niêm phong bên xưởng in An Thành, tao không giữ thứ đó. Nhưng địa chỉ ghi trong mảnh giấy này... chính là nơi cất giấu tập di cảo bản thảo gốc năm 1943, và cũng là nơi ở của người thừa kế duy nhất nắm giữ bản quyền tác phẩm tuyệt bản năm xưa mà dì mày đã trăn trối trước lúc lâm chung. Tao đã giữ trọn lời hứa danh dự với bà Lan suốt mấy tháng trời qua, nay tao giao lại cái gánh nặng ngàn cân này cho mày."
Tuệ Anh run run đưa bàn tay đón lấy mảnh giấy nhỏ.
Dưới ánh sáng đỏ quạch của ngọn đèn tròn, những nét mực bút bi xanh đã phai màu theo năm tháng hiện lên rõ ràng: một địa chỉ nhà cũ kỹ nằm sâu trong một con hẻm cổ kính rợp bóng cây cổ thụ của vùng Đa Kao, Quận 1.
Trước khi Tuệ Anh kịp mở lời cất tiếng cảm ơn, Sáu Phước đã dứt khoát phẩy mạnh bàn tay hộ pháp, quay ngoắt lưng lại với cô. Ông ta rút một điếu thuốc lá mới, đánh diêm châm lửa, tiếng que diêm bùng lên xé toạc bóng tối:
"Cầm lấy đi rồi biến về tiệm mà lo dọn dẹp mở cửa đón khách sớm đi con nhỏ. Nhớ kỹ lấy lời của thằng già Sáu Phước này: cái đất Chợ Lớn đầy cạm bẫy này tuyệt đối không bao giờ nuôi dưỡng những kẻ yếu đuối và mềm lòng. Giữ lấy cái tiệm Mộc cho đàng hoàng, giữ lấy cái tôn nghiêm của nghề sách cho tử tế, đừng bao giờ để tao thấy mày phải vác sách ra vỉa hè bán tháo tháo gỡ nợ nần một lần nào nữa!"
Tuệ Anh không nói thêm lời nào. Cô trân trọng ôm gói sách dày dặn vào lòng, cẩn thận nhét mảnh giấy ghi địa chỉ vùng Đa Kao vào nơi sâu nhất của túi áo gió trong, sát cạnh lồng ngực đang đập rộn ràng. Cô cúi đầu chào người đàn ông trung niên quấn chiếc khăn rằn Nam Bộ một cách cung kính từ tận đáy lòng, rồi quay gót bước nhanh ra khỏi hốc tường chữ L của Cư xá Bưu điện.
Khi cô dắt chiếc xe đạp mini Nhật bước ra khỏi con ngõ sâu hun hút của khu chợ sách cũ, mặt trời buổi sớm đã bắt đầu nhô lên khỏi những mái ngói rêu phong cổ kính của khu phố người Hoa Chợ Lớn.
Ánh bình minh rực rỡ xé toang màn sương mù ẩm ướt của vùng kênh rạch, rải những vạt nắng vàng ươm, ấm áp lên từng mái nhà, từng con đường và từng góc phố đang bắt đầu thức giấc. Tiếng chuông leng keng của những chiếc xe điện cũ hòa cùng tiếng còi xe máy, tiếng rao hàng hủ tiếu gõ và mùi cà phê kho thơm lừng từ các góc phố người Tiều tạo nên một bản hòa âm sống động, đầy nhựa sống của Sài Gòn những năm chín mươi.
Tuệ Anh đạp chiếc xe mini Nhật thong dong trên con đường quay trở về tiệm Mộc. Gió sớm mơn man trên mái tóc, thổi tung vạt áo lam bạc màu sương gió. Cảm nhận sức nặng ấm áp, chắc nịch của những pho sách luật và văn học quý giá sau yên xe, cùng sức nặng của mảnh giấy định mệnh đang áp sát vào nhịp đập nơi lồng ngực, cô biết rằng tiệm Mộc của cô không còn đơn độc trên con đường sinh tồn đầy bão táp giữa lòng Sài Gòn năm 1996 này nữa.
Và khi bánh xe chầm chậm dừng lại trước hiên nhà số 42 đường Trần Nhân Tôn, tiếng chuông gió bằng vỏ ốc biển khẽ leng keng ngân vang trên bậu cửa gỗ cũ kỹ, đón chào một ngày mới ngập tràn ánh nắng ấm áp và hương thơm nồng nàn của những trang sách cũ giữa lòng thành phố thân thương.