Câu Lạc Bộ Bạn Đọc Dưới Ánh Đèn Bàn
Tiếng gậy gỗ gõ lốc cốc trên bậc thềm báo trước bước chân của ông giáo Trịnh cùng ba vị cựu giáo chức hưu trí bước vào đúng lúc Tuệ Anh đang ngồi thẫn thờ nhìn cuốn sổ quỹ thâm hụt sau vố bùng cọc đau đớn.
Hơi ẩm của buổi chiều muộn Sài Gòn mang theo mùi đất ngai ngái luồn qua khe cửa liếp, phả vào gian trước tiệm Mộc một luồng gió lành lạnh ran rát da thịt. Khoảng trời bên ngoài khung cửa chớp xám xịt màu chì, những rặng mây đùng đục từ phía sông Sài Gòn ùn ùn kéo về, trĩu nặng thứ nước mưa chưa kịp trút. Dưới ánh sáng vàng vọt còn sót lại của buổi hoàng hôn tắt sớm, trang sổ cái mở toang dưới mắt Tuệ Anh như một vết thương chưa kịp kéo da non. Những con số mực tím học trò đều đặn thẳng tắp do chính tay cô ghi chép giờ đây trơ trọi, buốt nhức: khoản tiền mặt lưu động dự phòng cho cả tháng xem như cạn kiệt; món nợ gối đầu tám mươi ngàn đồng bên sạp chú Sáu Phước ở chợ sách cũ Đặng Thị Nhu chỉ vừa được Vĩnh đem chiếc thẻ sinh viên trường Kiến trúc cùng bộ đồ nghề đục gỗ gia truyền của cha anh đi xin hoãn thêm vỏn vẹn hai mươi tư giờ đồng hồ.
Và chua xót hơn cả là bài học đắt giá về sự lọc lừa chốn thương trường của tay quản lý Lê Bá Khôi bên nhà sách Minh Châu hãy còn rát bỏng trong lồng ngực cô. Hắn đã thuê người đóng giả vị khách sang trọng Nguyễn Hoài Khang, đặt cọc mồi vỏn vẹn ba mươi lăm ngàn đồng để dụ tiệm Mộc dốc cạn vốn lưu động ôm trọn bộ ba tập chuyên khảo *Mỹ thuật Cổ truyền Việt Nam*, giăng bẫy kẹp nghẹt dòng tiền và đẩy cô vào nguy cơ vỡ nợ trước hạn trả tiền sỉ cho chú Sáu Phước. Mảnh phiếu chi nội bộ của Minh Châu mà bé Hạnh nhặt được chính là minh chứng đanh thép cho đòn triệt hạ thâm độc ấy. Tuệ Anh siết chặt cây bút máy Kim Tinh vỏ nhựa xanh lục trong tay, đầu ngón tay gầy guộc tì mạnh lên thân bút đến mức các khớp ngón trắng bệch vì gồng nén. Từng giọt mực Cửu Long màu tím sẫm rỉ ra nơi đầu ngòi ngấm vào mặt giấy xơ xác, loang thành một chấm tròn thẫm tối như chính nỗi bế tắc đang bủa vây lấy tiệm sách non trẻ này.
"Cô Tuệ Anh, chúng tôi đến có đường đột quá không?"
Giọng trầm ấm, khàn đục đặc trưng của một người cả đời đứng trên bục giảng hít bụi phấn vang lên từ ngạch cửa, phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch nặng trĩu tựa hồ sắp đông đặc lại.
Tuệ Anh giật bắn mình. Phản xạ tự nhiên khiến cô vội vàng khép cuốn sổ cái lại, đẩy sâu nó vào ngăn kéo dưới gầm bàn thu ngân rồi gượng gạo nở một nụ cười, đứng bật dậy khỏi chiếc ghế xoay bọc giả da màu mận chín đã sờn rách hai bên mép:
"Dạ, con kính chào thầy Trịnh, chào các bác! Thưa thầy, không có đường đột chút nào đâu ạ. Mời các bác vào trong nhà, ngoài trời gió chướng đang nổi lên dữ quá, bụi đường ngoài ngã tư bay mù mịt cả rồi."
Đi sau lưng ông giáo Trịnh Văn Nghiêm là ba ông cụ tóc bạc phơ phác. Dù tuổi tác đã ngót nghét thất thập, các cụ vẫn giữ nguyên cái cốt cách tề chỉnh của giới trí thức cựu trào: áo sơ mi cộc tay bằng vải dệt nội hóa màu cỏ úa hoặc trắng ngà, cổ áo cài khuy ngay ngắn tới tận nấc trên cùng, ống quần ủi thẳng nếp dù gấu quần đã có chỗ tưa chỉ vì sương gió thời gian. Dưới nách mỗi người đều kẹp chặt những tập sách cũ bọc giấy báo cẩn thận, có mép giấy đã ố vàng màu trà khô.
Đó là thầy Bửu – cựu giáo viên vạn vật học lừng danh của trường Chu Văn An thuở nào, người có đôi mắt tinh anh sau tròng kính tròn viền đồi mồi; thầy Chương – từng bao năm gieo rắc tình yêu văn chương cổ điển cho bao thế hệ học sinh trường Petrus Ký với dáng đi ung dung, đĩnh đạc; và cụ Tôn Thất Khang, một cụ già dáng người gầy guộc, sống mũi cao thanh tú mang nét trầm mặc cố đô, người luôn đeo chiếc kính lão trễ xuống tận cánh mũi mà Tuệ Anh từng đôi lần nhìn thấy thoáng qua trong các buổi họp mặt của hội đồng hương Thừa Thiên.
Ông giáo Trịnh chống cây gậy bằng gỗ căm xe có bịt một mấu đồng tròn dưới đáy bước qua bậc cửa gỗ lim. Đôi mắt già nua nhưng quắc thước của ông khẽ đảo quanh gian tiệm nhỏ đang bị thu hẹp đáng kể so với thường nhật. Kể từ buổi chiều định mệnh hôm bức tường kho sau bị rò điện âm tường, Tuệ Anh và Vĩnh đã phải đánh vật suốt đêm để dời toàn bộ số hàng ra phía trước. Hàng trăm cuốn sách nghiên cứu triết học, thi ca cận đại và các tập san chuyên khảo quý hiếm được Tuệ Anh dồn hết ra gian trước, tỉ mẩn xếp chồng lên nhau thành từng dãy ngay ngắn sát chân tường quét vôi vàng bong tróc để cách ly khỏi hơi ẩm bốc lên từ nền đất. Dẫu trong cảnh ngổn ngang, cơ cực, khoảng trống ở giữa hai hàng kệ gỗ thông ghép mà Vĩnh đóng vẫn được quét dọn sạch bong, không vương một hạt bụi hay cọng rác nào.
Ánh mắt tinh tường của ông già ngoài bảy mươi tuổi liếc qua mép ngăn kéo bàn thu ngân – nơi vạt bìa cuốn sổ quỹ vừa bị giấu vội – rồi dừng lại thật lâu trên nét mặt hãy còn gợn chút xanh xao, mệt mỏi của cô chủ trẻ.
"Thầy nghe thằng Vĩnh trên đường đạp xe hộc tốc lên trường Kiến trúc có ghé tạt qua nhà thầy gửi ấm trà tim sen," ông Trịnh khẽ nói, hạ giọng xuống thật thấp, vừa đủ để Tuệ Anh nghe thấy giữa tiếng gió rít qua khe cửa chớp. "Chuyện thằng Khôi bên Minh Châu giở trò tiểu nhân bỉ ổi, thầy đã nắm được phần nào. Chốn thị thành xô bồ thời mở cửa, người ta tranh nhau từng đồng bạc lẻ bằng mưu sâu kế bẩn, con đừng để những thứ bụi bặm tanh tao ấy làm đục đi cái tâm làm sách, yêu sách của mình."
"Dạ con hiểu, thưa thầy," Tuệ Anh đáp, nghe nơi cuống họng mình dâng lên một vị đắng chát nghẹn ngào. "Con chỉ giận bản thân mình đã quá nôn nóng mở rộng nguồn sách mà mất cảnh giác, để người ta nắm thóp. Tiền bạc mất đi thì cắn răng làm lụng chắt bóp cũng có ngày gỡ lại được, nhưng nhìn anh Vĩnh phải đem cả chiếc thẻ sinh viên lẫn bộ đồ nghề đục gỗ gia truyền – kỷ vật duy nhất mà ba anh ấy để lại trước ngày mất – đi cắm quán để bảo lãnh nợ cho tiệm, con thấy ray rứt, cắn rứt lương tâm quá chừng."
"Cái tiệm sách Mộc này đứng vững được giữa ngã tư này đến ngày hôm nay không phải vì nó có nhiều vốn liếng bạc tiền, mà vì nó tụ được những tấm lòng thơm thảo," ông Trịnh gõ nhẹ đầu gậy căm xe xuống nền gạch tàu đỏ au, âm thanh vang lên giòn giã và quả quyết. "Tiền tài danh lợi ở đời chỉ như nước thủy triều, lúc vơi thì ắt có lúc đầy. Nhưng sinh khí của một chốn đọc sách, cái hồn cốt văn hóa kết nối giữa người với người mà lụi tàn đi thì bạc vạn cũng không mua lại được. Chiều nay trời trở gió, thầy dắt mấy ông bạn già này đến đây đâu phải chỉ để mượn đôi ba cuốn tạp chí chuyên ngành về đọc giải khuây. Chúng ta đã ước hẹn với nhau từ tuần trước về việc khai mở buổi sinh hoạt đầu tiên cho 'Câu lạc bộ Bạn Đọc Mộc', con nhớ không? Thay vì ngồi đây giam mình trong bốn bức tường u uất với mớ nợ nần sổ sách, sao ta không nhóm lên chút lửa chữ nghĩa ngay tối nay để xua đi cái rét mướt ngoài trời?"
Tuệ Anh ngước nhìn ông. Dưới hàng lông mày bạc trắng như cước, đôi mắt người thầy già hưu trí lấp lánh sự kiên định lạ lùng và một niềm bao dung sâu thẳm như lòng biển rộng.
Trong một thoáng chốc ngưng đọng, ký ức của một biên tập viên xuất bản kỳ cựu từ năm 2026 bỗng trỗi dậy cuộn trào trong tâm thức cô. Ở thời đại vị lai cách đây tròn ba mươi năm, cô từng chứng kiến biết bao người trẻ tài hoa dễ dàng suy sụp, buông xuôi trước những bảng báo cáo tài chính đỏ lòm, những chỉ số KPI tụt dốc không phanh, rồi tự giam mình trong căn phòng máy lạnh ngột ngạt cùng chứng trầm cảm và nỗi cô đơn cùng cực. Người ta tìm kiếm sự an ủi nơi những màn hình phát quang vô cảm. Nhưng ở đây, giữa mảnh đất Sài Gòn năm 1996 còn bộn bề gian khó này, người đứng trước mặt cô là một chứng nhân lịch sử từng đi qua bao tao loạn dâu bể của thời cuộc, một người thầy đang dùng chính sự nhẫn nại và đức tin son sắt vào tri thức để nhắc nhở cô: sự sẻ chia dung dị giữa con người với con người mới chính là phương thuốc mầu nhiệm duy nhất để chữa lành những thương tổn tinh thần.
"Thầy dạy chí phải ạ," Tuệ Anh hít một hơi thật dài, buồng phổi cô ngập tràn mùi giấy cũ và mùi gỗ thông khô ráo, cảm giác như dòng máu nóng ấm đang dần tìm lại được nhịp đập rạo rực trong huyết quản. "Chúng con không thể để tiệm Mộc chìm trong bóng tối ủ rũ được. Con sẽ dọn dẹp ngay khoảng trống trước quầy để các thầy có chỗ đàm đạo."
Vừa dứt lời, ngoài bậu cửa gỗ lim bỗng vang lên tiếng lách cách quen thuộc của líp xe đạp cọ vào xích. Vĩnh đã quay về. Chiếc xe đạp sườn ngang hiệu Phượng Hoàng cũ kỹ cọc cạch dừng lại bên mép hiên. Chiếc áo sơ mi công nhân màu xanh biển của anh ướt đẫm mồ hôi, dính chặt vào bờ lưng vạm vỡ, hai bên bắp tay cuồn cuộn lấm lem những vệt bụi than đường phố, nhưng trên gương mặt chữ điền góc cạnh lại rạng ngời một nụ cười rạng rỡ.
Đi liền sau anh là Tuấn và Nam – hai người bạn chí cốt cùng học năm thứ ba khoa Kiến trúc thuộc trường Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh. Tuấn vắt ngang vai chiếc túi vải thô bạc màu cắm tua tủa những cây thước chữ T bằng gỗ dán và những ống giấy can cuộn tròn, còn Nam thì khệ nệ ôm trước ngực một bọc báo Nhân Dân và Tuổi Trẻ dày cộp được buộc chặt bằng dây chuối khô.
"Tuệ Anh ơi! Tin mừng đây!" Vĩnh gạt chân chống xe đạp đánh 'cạch' một tiếng vang rền trên thềm xi măng, vừa bước nhanh qua ngưỡng cửa vừa thở dốc nhưng đôi mắt sáng quắc như sao đêm. "Thầy Trương bên bộ môn Lịch sử Kiến trúc đã xem qua rồi. Thầy giữ lại bộ ba cuốn *Mỹ thuật Cổ truyền Việt Nam* để hội đồng khoa đối chiếu làm căn cứ duyệt mua bổ sung cho thư viện trường vào đầu tuần sau! Thầy khen nức nở tiệm mình săn được bản in khắc gỗ đời đầu nguyên vẹn thế này. Còn chú Sáu Phước bên Đặng Thị Nhu ban nãy tôi ghé qua gửi ít bánh in, chú cười xòa bảo cứ thong thả gom tiền mà trang trải, thẻ sinh viên với hộp đục chú cất kỹ trong tủ kính tiệm chú, hổng ai đụng vô đâu mà sợ! Chiều nay tôi đạp ngang ngõ nhà thầy Trịnh, nghe thầy dặn tụi thằng Tuấn có rảnh thì ghé phụ tiệm, nên tôi réo tụi nó tạt qua luôn nè!"
Nhìn thấy gương mặt phong trần lấm lem bụi đường của Vĩnh, nghe giọng nói sang sảng đầy ắp sinh lực của anh và bắt gặp ánh mắt nhiệt thành, vô tư lự của hai chàng sinh viên trẻ tuổi, tảng đá nghìn cân đè nặng lên lồng ngực Tuệ Anh suốt từ sáng sớm bỗng chốc vỡ tan thành từng mảnh vụn. Sóng mũi cô cay xè, cô vội cắn nhẹ vành môi dưới để ngăn giọt nước mắt chực trào ra, rồi nhanh nhẹn bước tới đỡ lấy chiếc túi đựng ống vẽ từ tay Vĩnh:
"Cảm ơn anh nhiều lắm... Cảm ơn hai bạn đã không ngại đường xa mưa gió ghé qua tiệm lúc này."
"Chị chủ khách khí quá làm tụi em ngại!" Tuấn xua tay lia lịa, để lộ hàm răng khểnh trắng bóng và nụ cười hào sảng đậm chất miệt vườn. "Nghe anh Vĩnh quảng cáo tiệm Mộc tối nay nhóm họp buổi đầu của câu lạc bộ đọc sách, tụi em háo hức muốn chết. Cả tuần nay trên giảng đường tụi em tối tăm mặt mũi với hình chiếu phối cảnh, mặt cắt dầm conson với kết cấu bê tông cốt thép, đầu óc căng như dây đàn. Chiều nay được ngồi ké nghe các bậc trưởng lão đàm đạo điển tích văn chương thì có cho tiền tụi em cũng hổng đổi!"
"Đúng đó chị!" Nam tiếp lời, vừa cẩn thận đặt bọc báo xuống mặt quầy vừa đưa tay áo quẹt mồ hôi trán. "Tụi em còn vác theo mớ giấy báo cũ gom ở ký túc xá đây, lát nữa chị em mình lót thêm dưới đáy mấy kệ sách cho nó hút ẩm."
Không để lãng phí thêm một khoảnh khắc quý giá nào, khoảng không gian vỏn vẹn chừng sáu mét vuông nằm kẹp giữa kệ sách văn học thiếu nhi và quầy thu ngân lập tức biến thành một công trường thu nhỏ tràn ngập tiếng cười nói rộn rã. Dưới sự điều phối tháo vát của Tuệ Anh, mọi sự u uất ban chiều bị cuốn phăng đi không dấu vết.
Những chồng sách dày cộp dời ra từ kho sau được Nam và Tuấn chung sức bưng bê, cẩn thận xếp thành hình bậc thang tựa vững chãi vào góc chân cầu thang gỗ dẫn lên gác lửng, tạo thành một vách ngăn bằng giấy mộc mạc mà kiên cố, vừa ngăn bớt gió lùa từ cửa nách, vừa phảng phất hương thơm trầm mặc của giấy bãi bằng và mực in cổ kính.
Vĩnh thoăn thoắt chạy ra gian chái sau nhà, lát sau khệ nệ bê ra sáu chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp. Đó là thứ vật liệu phế phẩm từ những thanh gỗ pallet thông mà anh đã lặn lội xuống tận bến cảng Phú Định xin mua lại với giá rẻ mạt, rồi ròng rã suốt mấy đêm liền chong đèn dầu cùng Tuệ Anh cưa xẻ mộng, bào nhẵn từng dằm gỗ nham nhở, dùng giấy ráp số 0 đánh bóng kỹ lưỡng từng góc cạnh. Sáu chiếc ghế con mộc mạc mang sắc vàng hanh của gỗ thông tươi, trên mặt phẳng còn hằn rõ những mắt gỗ tự nhiên tròn xoe như những con mắt của rừng già, thoang thoảng tỏa ra mùi nhựa thông hăng hăng, ấm sực. Vĩnh khéo léo xếp chúng thành một vòng tròn nhỏ quần tụ quanh một chiếc bàn trà thấp bằng ván ép, bên trên được Tuệ Anh trải một tấm khăn vải xô dệt thô và đặt vào giữa một chiếc khay đan bằng mây tre mộc.
"Chỗ này hơi khuất góc tối, mắt thầy Trịnh với thầy Chương dạo này kèm nhem lắm rồi, ngồi đọc chữ nhỏ hổng đặng đâu," Vĩnh đứng thẳng người, đưa mắt ngắm nghía trần nhà rồi lẩm bẩm tính toán.
Nghĩ đoạn, anh bước lại nhấc chiếc đèn bàn bóng dây tóc rạng đông bốn mươi oát có chụp sắt sơn xanh bộ đội từ trên bàn thu ngân xuống. Với kinh nghiệm của một thợ mộc kiêm sinh viên kiến trúc thực thụ, Vĩnh trèo thoăn thoắt lên một chiếc đôn cao, nối thêm đoạn dây điện ruột mềm bọc nhựa trắng rồi khéo léo móc chiếc chụp đèn lên một nhánh chạc ba của hệ vì kèo gỗ thông chữ A mà anh vừa gia cố chịu lực cho mái tiệm cách đây ít hôm.
Khi phích cắm được cắm vào ổ điện, ánh sáng vàng cam ấm áp, đậm đặc của ngọn đèn dây tóc lập tức tỏa ra rực rỡ, chụp trùm xuống chiếc bàn trà nhỏ và vòng tròn sáu chiếc ghế đẩu gỗ thông, vẽ nên một vùng hào quang dịu dàng giữa bóng hoàng hôn đang dần đặc quánh. Những hạt bụi giấy li ti bay lơ lửng trong không khí được ánh đèn rọi sáng lấp lánh như những đốm bụi vàng mờ ảo. Gian trước tiệm Mộc, nơi ban chiều còn ngột ngạt mùi ẩm mốc và đè nặng nỗi lo cơm áo gạo tiền, bỗng chốc biến chuyển diệu kỳ thành một thư phòng cổ kính, thanh bình và ấm cúng đến nao lòng giữa lòng phố thị xô bồ.
Thầy Trịnh, thầy Bửu và cụ Tôn Thất Khang được trân trọng mời an tọa vào những vị trí trang trọng nhất hướng mặt ra cửa chính. Thầy Chương kéo chiếc ghế đẩu ngồi cạnh thầy Trịnh, trong khi Vĩnh, Tuấn và Nam kéo những chiếc đôn gỗ thấp hơn ngồi quây tròn phía ngoài.
Đúng lúc ấy, chiếc chuông gió bằng vỏ ốc treo nơi bậu cửa khẽ va vào nhau lanh canh giòn giã. Hai bóng người rụt rè bước vào tiệm. Đi đầu là anh Minh, người cán bộ bưu điện trạm Chợ Quán vẫn thường ghé tiệm vào mỗi buổi chiều tan ca để tìm đọc những tờ báo văn nghệ cuối tuần; bước nép sau lưng anh là một cô gái trẻ trạc tuổi sinh viên, mặc áo dài trắng nữ sinh đã ngả màu cháo lòng, đeo cặp kính cận dày cộp, hai tay ôm khư khư cuốn giáo trình tâm lý học sư phạm trước ngực.
"Thấy tiệm sáng đèn ấm cúng quá, lại nghe tiếng các thầy đàm đạo rôm rả, tôi tò mò ghé vô coi thử, hổng biết có làm phiền cô chú không?" Anh cán bộ bưu điện ái ngại cất tiếng, ngón tay mân mê quai chiếc túi da công văn đã bạc màu.
"Dạ không phiền chút nào ạ, hoan nghênh anh Minh và bạn ghé chơi!" Tuệ Anh tươi cười đon đả bước ra đón khách. Cô nhanh nhẹn lôi thêm hai chiếc ghế xếp bạt nhựa màu sọc xanh trắng từ góc tường ra kê nối vào vòng tròn, rồi thoăn thoắt châm nước sôi vào chiếc ấm tích bằng sành bọc trong bao tải gai ủ ấm. Khói nước bốc lên nghi ngút mang theo hương thơm chát ngọt, nồng ấm của lá vối tươi hái từ vườn nhà ở Hóc Môn gửi lên. Tuệ Anh rót từng bát nước vối sóng sánh sắc nước đỏ nâu ra những chiếc chén sứ Hải Dương mộc mạc, hai tay kính cẩn dâng mời từng vị bộc lão rồi chia cho các bạn trẻ để xua đi cái buốt giá đang ngấm dần qua lớp áo mỏng.
Khi mọi người đã tề tựu đông đủ, hơi ấm của nước vối hòa cùng mùi gỗ mới và hương giấy cũ tạo nên một bầu không khí gần gũi đến lạ kỳ. Tuệ Anh bước lại mép vòng tròn, hai tay đan nhẹ trước bụng. Giọng cô trong trẻo, ngân vang nhưng đằm thắm lạ thường, cất lên giữa tiếng gió đêm đang bắt đầu rít từng cơn qua hàng hiên:
"Kính thưa thầy Trịnh, các thầy, các bác cùng toàn thể anh chị em bạn đọc thân mến. Hôm nay, trong một buổi chiều mưa gió của Sài Gòn, tiệm sách Mộc xin phép được chính thức khai mở buổi sinh hoạt định kỳ đầu tiên của 'Câu lạc bộ Bạn Đọc Mộc'. Ý nguyện lập ra câu lạc bộ này của chúng con kỳ thực vô cùng giản dị: giữa những cuộn xoáy mưu sinh tất bật, giữa bao biến động từng ngày từng giờ của thời cuộc hôm nay, chúng con tha thiết muốn gìn giữ một góc nhỏ bình yên. Nơi đây, dưới một mái nhà khiêm nhường, chúng ta có thể gác lại những nhọc nhằn cơm áo ngoài ngưỡng cửa, ngồi lại bên nhau dưới ngọn đèn ấm, cùng giở lại từng trang sách cũ, lắng nghe và chia sẻ cho nhau những suy ngẫm chân thành nhất về con người, về cuộc đời. Hôm nay, tiệm Mộc vô cùng vinh hạnh được đón tiếp những bậc thầy khả kính của nền giáo dục, những bạn sinh viên giàu nhiệt huyết của giảng đường đại học và những độc giả tri âm thân thiết. Rất mong vòng tròn nhỏ đêm nay sẽ trở thành nhịp cầu nối liền mọi thế hệ, để tình yêu sách dẫn lối cho chúng ta tìm thấy tiếng nói chung."
Một tràng vỗ tay khiêm nhường nhưng giòn giã và nồng đượm tình cảm vang lên dưới ánh đèn vàng dây tóc. Thầy Trịnh Văn Nghiêm mỉm cười hiền hậu, chòm râu bạc rung rinh theo từng nhịp gật đầu. Ông đưa tay đẩy nhẹ gọng kính đồi mồi lên sống mũi, cẩn trọng mở tập sách mỏng bọc giấy bóng kính đặt trên mặt bàn trà ván ép. Đó là một tuyển tập khảo cứu văn học dân gian và truyện ký cổ tích Việt Nam xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1968, trang bìa đã sờn rách bốn góc nhưng từng đường chỉ khâu gáy vẫn được giữ gìn vô cùng chắc chắn.
Thế nhưng, niềm hân hoan ban sơ vừa chớm nở đã mau chóng vấp phải một bức tường vô hình nhưng kiên cố: hố sâu ngăn cách giữa hai thế hệ và lối tư duy hàn lâm, kinh viện ăn sâu vào tiềm thức của những bậc túc nho.
Ngay khi tiếp nhận quyền điều phối buổi thảo luận với chủ đề mở đầu: "Nhân cách và sự lựa chọn của con người trong văn học truyền thống", ông giáo Trịnh đã vô thức kéo buổi đàm luận lên một tầng nấc học thuật quá đỗi cao siêu. Với thói quen sư phạm mấy mươi năm đứng trên bục giảng chuyên ban Văn của các trường trung học danh tiếng thời trước, lại thêm vốn tích lũy Hán học và văn học cổ điển thâm hậu, ông bắt đầu dẫn dắt vấn đề bằng những khái niệm văn bản học trừu tượng và chuẩn mực đạo đức thánh hiền:
"Cổ nhân từng dạy: 'Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí'," ông Trịnh trầm giọng, bàn tay vuốt ve chòm râu bạc, ánh mắt nhìn thẳng vào khoảng không vô định như thể đang đứng trước một giảng đường đại học uy nghiêm với hàng trăm môn sinh ưu tú. "Khi chúng ta tiến hành khảo sát các dị bản của mô thức nhân vật kẻ sĩ hay tầng lớp bình dân trong các tác phẩm tự sự truyền thống, điều cốt tủy là phải bóc tách cho kỳ được tầng nghĩa biểu tượng của thuyết Thiên mệnh và sự giao thoa vi tế giữa tư tưởng Khổng – Mặc với tinh thần trượng nghĩa của văn hóa miệt vườn Nam Bộ. Chẳng hạn, xét về chữ 'Hành tàng xuất xử' của người quân tử thời loạn..."
Chưa dừng lại ở đó, ngồi bên cạnh, thầy Chương – người vốn say mê cổ văn học – cũng lập tức đỡ lời bằng một giọng ngâm nga mang đậm phong thái tài tử. Thầy bắt đầu dẫn dắt một tràng những điển tích, điển cố rậm rạp từ tận thời Xuân Thu Chiến Quốc, từ chuyện Bá Di, Thúc Tề thà chết đói nơi núi Thú Dương chứ không ăn thóc nhà Chu, đem đối chiếu tỉ mỉ với tâm thế phản kháng của các nhân vật nghĩa sĩ trong văn học Lục Tỉnh đầu thế kỷ hai mươi. Rồi cụ Tôn Thất Khang lại chen vào, dùng chất giọng Huế trầm mặc đặc sệt để mổ xẻ cấu trúc ngữ nghĩa tầm nguyên của các từ ngữ Hán Việt cổ trong nguyên tác...
Bầu không khí trong gian phòng nhỏ của tiệm Mộc dần dần đông cứng lại như một khối thạch lạnh ngắt.
Ngọn đèn dây tóc bốn mươi oát vẫn tỏa ra thứ ánh sáng vàng cam ấm sực, nhưng khoảng cách giữa chiếc bàn trà và những người trẻ tuổi ngồi xung quanh dường như đang bị kéo dãn ra vô tận. Một sự xa cách nghìn trùng ngăn cách giữa hai thế giới: một bên là tháp ngà chữ nghĩa kinh viện với những quy chuẩn đạo đức tuyệt đối của tiền nhân, còn một bên là thực tại đời sống với những lo toan trần trụi, gấp gáp của thời mở cửa năm 1996.
Tuấn và Nam – hai chàng sinh viên kiến trúc vốn quen với những đường nét kỷ hà học rành mạch, những tỷ lệ vàng trong hình khối và những tính toán thực tế về độ lún của móng bè – bắt đầu đưa mắt nhìn nhau đầy ái ngại. Nam khẽ cựa quậy đôi chân dài ngoằng trên chiếc ghế đẩu gỗ thông chật chội, nghe rõ tiếng gỗ cọt kẹt dưới sức nặng cơ thể, bàn tay cậu vô thức mân mê mép chiếc túi vải, không dám thở mạnh một tiếng. Tuấn thì cúi gằm mặt xuống, chăm chú đếm từng đường vân gỗ thông trên mặt bàn trà như thể đang nghiên cứu một đồ án phức tạp, hai bờ vai rụt lại như đứa trẻ sợ bị thầy giáo bất thần gọi tên lên bảng kiểm tra bài cũ.
Cô sinh viên sư phạm trẻ ngồi nép bên giá sách thì hai má đỏ bừng, bối rối lật giở từng trang giáo trình trên đùi soàn soạt một cách vô thức cốt để tránh né ánh nhìn uy nghiêm của các bậc tiền bối. Anh cán bộ bưu điện tên Minh khẽ nhấp một ngụm nước vối nguội ngắt, cố nén một tiếng thở dài rồi kín đáo kéo nhẹ cổ tay áo để liếc nhìn chiếc đồng hồ Poljot cũ mòn mặt kính.
Cả gian phòng chìm nghỉm vào một sự im lặng gượng gạo, ngột ngạt đến nghẹt thở. Lúc này, chỉ còn nghe thấy tiếng gió rít qua khe cửa chớp gỗ, tiếng mưa rào bắt đầu đập lộp độp từng hạt nặng trĩu trên mái tôn fibro-xi măng và giọng bình giảng đều đều, trang nghiêm, mẫu mực của các bậc cựu giáo chức. Ngay cả Vĩnh, một chàng trai vốn dạn dĩ, xông xáo và lịch thiệp, lúc này cũng chỉ biết ngồi im thin thít, hai bàn tay thô ráp đan chặt vào nhau đặt ngay ngắn trên đầu gối. Lòng tôn kính tuyệt đối đối với các bậc thầy già đã vô tình tước đi của những người trẻ tuổi lòng can đảm cất lên tiếng nói thực chất từ đáy lòng mình.
Tuệ Anh đứng tựa lưng vào mép quầy thu ngân, lòng thắt lại từng cơn. Khung cảnh này đánh trúng vào nỗi ám ảnh nghề nghiệp lớn nhất của cô. Ở thế giới hiện đại năm 2026, cô từng chứng kiến không biết bao nhiêu buổi tọa đàm ra mắt sách thất bại ê chề, biến thành thảm họa truyền thông chỉ vì các học giả và diễn giả tự nhốt mình trong "tháp ngà" của các thuật ngữ chuyên ngành bác học, tự biến một diễn đàn văn hóa đại chúng thành một kỳ sát hạch học thuật khô khan, xơ cứng khiến độc giả phổ thông khiếp đảm tháo lui.
Nếu cứ tiếp tục mặc cho không khí kinh viện này kéo dài thêm mười lăm phút nữa, buổi sinh hoạt đầu tiên của Câu lạc bộ Bạn Đọc Mộc sẽ chết yểu ngay từ trong trứng nước. Những độc giả này sẽ một đi không trở lại, và tiệm Mộc sẽ mãi mãi chỉ là một ốc đảo cô độc. Nhưng phá vỡ lớp băng dày này bằng cách nào đây? Can thiệp thô bạo sẽ phạm vào tội thất lễ, làm tổn thương lòng tự ái và niềm kiêu hãnh nghề nghiệp của ông giáo Trịnh – người vừa dang tay cứu vớt lấy tiệm sách chiều nay.
Đúng lúc bầu không khí căng thẳng đến mức một tiếng ho khan cũng có thể làm mọi người giật thót, tấm rèm vải thô che cửa ngách thông ra con hẻm bên hông tiệm khẽ lay động.
Một bóng người nhỏ thó, gầy gò lách qua mép rèm bước vào.
Đó là bé Hạnh. Con bé trạc mười hai tuổi, mặc chiếc áo cộc tay bằng vải hoa rẻ tiền đã bạc phếch hết màu, hai bên ngực áo đính hai miếng vá bằng vải xanh chéo góc vụng về. Hai cánh tay khẳng khiu như hai que củi của nó đang ôm chặt trước ngực một chồng báo cũ dày cộp được bó bằng dây lạt giang – số báo mà ban chiều Tuệ Anh có nhờ con bé ghé qua vựa ve chai của bà Năm đầu hẻm để thu gom hộ. Đôi dép nhựa Tiền Phong mòn vẹt gót của con bé bết dính đầy bùn đất đỏ quạnh sau những vòng chạy tránh mưa ngoài các ngả đường phố thị.
Vừa bước qua cửa, thấy trong phòng đông nghẹt những bậc trưởng thượng ngồi ngay ngắn, trang nghiêm dưới ánh đèn vàng, con bé giật thót mình, vội co một chân lùi lại tính lách ra ngoài. Nhưng đúng lúc đó, ánh mắt lanh lợi của nó tình cờ va phải trang bìa cuốn sách cổ tích mà ông giáo Trịnh đang đặt trên bàn trà: hình vẽ mộc bản một người tiều phu nghèo mặc khố, vai vác chiếc rìu sắt đứng bên bờ suối.
"Ủa... cuốn này... cuốn này bữa hổm chị Tuệ Anh có kể cho em nghe nè..."
Hạnh buột miệng thốt lên. Giọng nói lảnh lót, the the mang đậm âm sắc xóm lao động nghèo vang lên giữa căn phòng đang tĩnh mịch như tờ, chẳng khác nào một hòn sỏi ném trúng mặt hồ phẳng lặng.
Tất cả ánh mắt trong gian phòng lập tức đổ dồn về phía góc cửa. Thầy Chương hạ kính lão xuống mép mũi, nhíu mày nhìn sững; cụ Tôn Thất Khang khẽ giật mình; còn ông giáo Trịnh thì ngừng bặt câu bình luận dở dang về "thuyết thiên mệnh", ngước mắt ngạc nhiên nhìn đứa bé bán vé số xa lạ.
Bị cả chục ánh mắt người lớn xa lạ dán chặt vào người, bé Hạnh hoảng hốt thật sự. Con bé ôm ghì bọc báo cũ vào trước ngực như một tấm mộc che thân, hai bờ vai gầy nhô cao run rẩy, đôi mắt đen láy mở to đảo quanh đầy sợ sệt như một con chim sẻ non vô tình sa vào bẫy, gót chân dính bùn lấm lét thụt lùi dần về phía bóng tối sau tấm rèm.
Tuệ Anh không bỏ lỡ một phần nghìn giây. Cô lập tức sải bước nhanh tới bên cạnh con bé, một tay đỡ lấy chồng báo nặng trĩu giúp em đặt xuống góc quầy, bàn tay kia nhẹ nhàng vỗ về lên bờ vai gầy guộc hãy còn vương những hạt mưa lạnh ngắt:
"Hạnh đi gom báo về rồi hả em? Ngoan quá, ướt hết cả vai áo rồi này. Lại đây uống hớp nước vối nóng của các bác cho ấm bụng đã nào. Em vừa nhận ra truyện gì trên bàn của thầy Trịnh vậy?"
Nhận được sự che chở và ánh nhìn ấm áp, khuyến khích của Tuệ Anh, nỗi sợ sệt trong mắt con bé vơi đi đôi phần. Nhưng cái tính khí bộc trực, ngang tàng và hồn nhiên của một đứa trẻ đường phố phải sớm lăn lộn kiếm sống nơi vỉa hè Sài Gòn lại bùng lên. Con bé nhìn đăm đăm vào cuốn sách trên bàn trà, rồi ngước nhìn chòm râu bạc như cước của ông giáo Trịnh. Nó rụt rè giơ một ngón tay gầy guộc dính đầy mực đen chỉ vào hình vẽ người tiều phu, ấp úng cất tiếng:
"Dạ thưa ông giáo... thưa mấy bác với chị Tuệ Anh... Em... em dốt chữ, hổng hiểu mấy chữ Nho chữ Hán hay thuyết gì nãy giờ mấy ông nói đâu... Nhưng mà cái cuốn truyện người tiều phu đó đó, tuần trước chị Tuệ Anh có đọc cho em nghe khúc ổng đánh rớt cây rìu sắt xuống sông sâu rồi ngồi khóc. Cái ông Bụt hiện lên, lặn xuống vớt lên cây rìu bằng vàng ròng chói lọi, rồi vớt cây rìu bằng bạc sáng lóa, mà ổng hổng dám nhận, ổng nói thiệt đó hổng phải của ổng để lấy lại cây rìu sắt mòn vẹt mang về... Chị Tuệ Anh khen ổng thiệt thà, dạy em phải học theo ổng... Nhưng mà mấy bữa nay đi bán vé số ngoài ngã tư, em cứ thắc mắc hoài... Có thiệt là trên đời này, ai nghèo rớt mồng tơi cũng dám thành thật được như vậy hông ông?"
Một thoáng im lặng sửng sốt bao trùm căn phòng. Thầy Chương trố mắt nhìn, chiếc bút máy cài trên nắp túi áo ông Trịnh khẽ rung rinh.
Thấy mọi người im phăng phắc, con bé tưởng mình nói bậy sắp bị mắng đòn, giọng nó hơi run run nhưng vẫn cố dốc hết những suy nghĩ gan ruột đã chất chứa bấy lâu:
"Tại vì... tại vì mẹ em bán bắp luộc dạo ngoài chợ Cầu Muối, nhiều bữa trời đổ mưa dầm dề ế ẩm, bắp luộc lại ê thiu, mẹ phải dối mấy chú trật tự đô thị là xe bắp này của bà dì dưới quê gánh lên gửi giùm chứ hổng phải của mẹ để mấy chú thương tình đừng có tịch thu chiếc xe đẩy cọc cạch... Mẹ dối một chút xíu chỗ đó để mẹ có tiền mua gạo nấu nồi cơm cho em với hai đứa nhỏ ở nhà ăn khỏi đói lả. Nếu bữa đó mẹ hổng dối, mẹ đứng ngay đơ thú nhận là xe của mẹ, người ta hốt đi mất thì ba mẹ con em nhịn đói liền khúc ruột. Vậy cái ông tiều phu đó đó, nhà ổng nghèo rớt mồng tơi, cơm hổng có ăn, con ổng ở nhà chắc đói meo râu, rủi ổng hổng lượm cây rìu vàng đem bán cho tiệm vàng lấy mấy cây bạc mua cả tạ gạo nuôi con, rủi ổng trả lại rồi lỡ đâu ông Bụt hổng thèm cho lại cây rìu sắt thì con ổng chết đói sao? Hay là... hay là ổng khôn lỏi, ổng dối ông Bụt là ổng hổng cần rìu vàng, để ông Bụt thấy ổng hiền khô rồi mủi lòng cho ổng luôn cả ba cây rìu đem về?"
Một khoảng lặng tuyệt đối kéo dài chừng ba giây trôi qua trong gian phòng tiệm Mộc.
Câu hỏi ngây ngô, mộc mạc nhưng trần trụi và thấm đẫm vị mặn chát của nỗi nhọc nhằn mưu sinh thường nhật từ một đứa trẻ bán vé số vừa giáng một đòn chí mạng vào toàn bộ hệ thống lý luận đạo đức kinh viện rậm rạp được giăng ra suốt nửa giờ qua. Những khái niệm cao siêu về "thiên mệnh", về "kẻ sĩ xuất xử" bỗng chốc trở nên chao đảo trước câu hỏi nhức nhối về sự sinh tồn của một gia đình nghèo giữa cuộc đời thực tế.
Và rồi, một tiếng cười bật ra.
Đó là tiếng cười không kìm nén được của Vĩnh. Chàng sinh viên kiến trúc bật cười thành tiếng sảng khoái, vỗ hai bàn tay thô ráp vào nhau đánh bốp một cái. Tiếng cười của anh như ngòi nổ kích hoạt sự giải tỏa tâm lý cho cả căn phòng. Tuấn và Nam lập tức bật cười theo, nhe cả hàm răng trắng bóng. Rồi đến lượt thầy Bửu tủm tỉm cười sau cặp kính tròn, thầy Chương khẽ rung hai bờ vai, và cuối cùng, chòm râu bạc của ông giáo Trịnh rung rinh bần bật.
Ông giáo ngửa đầu ra sau, cất lên một tràng cười giòn giã, vang dội khắp gian nhà gỗ, xua tan hoàn toàn cái lạnh lẽo của đêm mưa.
"Ha ha ha!... Hay! Tuyệt hay! Thật là chí lý cháu bé ơi!" Ông giáo Trịnh vỗ mạnh tay xuống đùi mình, nụ cười làm những nếp nhăn sâu hoắm nơi đuôi mắt ông giãn ra đầy vẻ đôn hậu, ấm áp. "Bao nhiêu năm trời ta đứng trên bục giảng, chấm hàng ngàn bài thi của học trò ưu tú, đứa nào cũng viết bài phân tích lòng trung thực răm rắp theo sách giáo khoa mẫu mực, chưa từng có một đứa nào dám lật ngược vấn đề một cách sống động, đau đáu và sát sườn với kiếp nhân sinh như cháu cả!"
Lớp băng dày đặc giam hãm gian phòng suốt nửa tiếng đồng hồ tan biến trong tích tắc, không để lại một gợn nhỏ. Tiếng cười sảng khoái, ấm áp lan tỏa khắp không gian, xóa nhòa hoàn toàn khoảng cách thế hệ giữa những mái đầu bạc phơ của các bậc cựu giáo chức và những mái đầu xanh mướt của đám thanh niên đôi mươi. Sự ngột ngạt, trịnh trọng ban nãy nhường chỗ cho một sự cởi mở, thân tình hiếm thấy giữa những con người cùng chung một niềm trắc ẩn.
Nhận thấy ngọn lửa đồng cảm vừa được nhen nhóm một cách kỳ diệu, Tuệ Anh nhanh nhẹn kéo thêm một chiếc đẩu gỗ thông lại gần, nhẹ nhàng đặt tay ấn bé Hạnh ngồi xuống bên cạnh mình, rồi quay sang nhìn vòng tròn bạn đọc. Ánh mắt cô lấp lánh sự nhạy bén và tinh tế của một người làm nghề biên tập nội dung lâu năm:
"Câu hỏi của bé Hạnh nghe qua thì hồn nhiên, mộc mạc, nhưng thực chất lại chạm đúng vào một trong những nan đề sâu sắc nhất của văn học từ cổ chí kim: đó là khoảng cách giữa đạo đức lý tưởng và thực tế sinh tồn nghiệt ngã. Nhân vật trong văn chương không thể sống trong một ống nghiệm đạo đức vô trùng; họ phải sống giữa bùn đất, đói rét, bệnh tật và những ngã rẽ lựa chọn đầy giằng xé lương tâm. Con nghĩ, các bạn trẻ ngồi quanh chiếc bàn này – những người hằng ngày đang phải đau đáu tính toán từng bữa cơm ký túc xá, từng đồng tiền mua giấy vẽ đồ án, từng cắc bạc ky cóp gửi về phụ giúp gia đình ở quê – chắc chắn sẽ có những cảm nhận rất sâu sắc trước câu hỏi của Hạnh. Tuấn này, nếu đặt bản thân bạn vào một tình huống ngặt nghèo tương tự, đứng trước một cơ hội béo bở để đổi đời nhưng phải đánh đổi bằng một chút gian dối, bạn sẽ chọn thế nào?"
Được gọi tên bằng một câu hỏi gợi mở đầy tôn trọng, không hề mang tính chất khảo bài hay phán xét, Tuấn thở phào nhẹ nhõm. Sự rụt rè, e ngại ban đầu biến mất. Cậu đưa tay đẩy nhẹ gọng kính cận, hít một hơi thật sâu rồi cất giọng, ban đầu còn hơi ngập ngừng nhưng càng nói càng chân thành, tha thiết:
"Dạ thưa thầy Trịnh, thưa các bác... Thật lòng mà nói, nghe bé Hạnh hỏi câu đó, tai em đỏ bừng và giật thót tim. Nó làm em nhớ như in chuyện hồi năm nhất, lúc mới từ Bến Tre chân ướt chân ráo lên Sài Gòn nhập học. Nhà em nghèo lắm, ba má làm mấy công vườn dừa thất bát, em đi học với đúng một bộ đồ lành lặn và chiếc xe đạp đòn dông rỉ sét. Hồi đó học môn Hình họa kiến trúc, tụi em bắt buộc phải có một cây compa chuyên dụng của Đức mới quay được những đường tròn chuẩn xác cho đồ án thi hết môn. Cây compa đó giá bằng cả nửa tháng tiền cơm tháng của em, em đào đâu ra tiền mà mua? Đúng cái đêm trước ngày nộp bài thi, thằng bạn cùng phòng ký túc xá – con một gia đình giàu có ở quận Nhất – lúc dọn bàn vẽ đã vô ý làm rớt cây compa xịn của nó lăn tuốt vào góc tối dưới gầm giường của em."
Tuấn dừng lại, ánh mắt cậu nhìn chằm chằm vào ngọn đèn dây tóc trước mặt, giọng chùng xuống:
"Trong một tích tắc đen tối, lòng tham trong em bùng lên dữ dội. Em lén lấy chân giẫm lên nó rồi gạt sâu vào góc kẹt. Em tự biện minh cho mình ghê gớm lắm: 'Nó giàu nứt đố đổ vách, mất cây này nó xin tiền ba má mua cây khác mấy hồi; còn mình mà không có compa này, đồ án bị điểm liệt là bị đuổi học, công sức ba má nuôi mấy năm trời coi như đổ sông đổ biển'. Nhưng các bác biết không, suốt cả đêm hôm đó em không tài nào chợp mắt nổi. Nằm trên chiếc chiếu rách ngửi mùi gỗ ẩm của gác xép, nhìn cây compa sáng loáng giấu dưới đáy vali mà em thấy nhục nhã, ghê tởm chính bản thân mình vô cùng. Em thấy mình hèn hạ như một tên trộm vặt. Đến năm giờ sáng, em không chịu nổi sự cắn rứt đó nữa, em lôi nó ra, lau sạch bóng rồi đem đặt lại ngay ngắn trên bàn vẽ của bạn trước khi nó thức giấc. Giờ nghe chuyện của bé Hạnh, em nghĩ... ông tiều phu nghèo khổ trong truyện cổ tích kia chắc chắn cũng từng có một giây phút thèm thuồng, hoa mắt trước ánh vàng rực rỡ của cây rìu y hệt như em thèm cây compa vậy. Nhưng khoảnh khắc ổng lắc đầu từ chối để nhận lại cây rìu sắt mòn vẹt, không phải vì ổng không biết đói khát, mà vì ổng sợ đánh mất cái cảm giác được thanh thản ngủ một giấc ngon lành mỗi đêm. Văn chương dạy mình lòng trung thực, nhưng có lẽ phải ở trong tận cùng của cái nghèo, cái thiếu thốn, thì sự trung thực ấy mới thực sự tôi luyện nên giá trị của một con người. Chứ nếu đã giàu sang no đủ rồi mà trung thực... thì chuyện đó dễ quá chừng."
"Nói hay lắm con! Tuyệt vời lắm chàng trai trẻ!" Thầy Chương thốt lên, hai bàn tay gầy gò vỗ vào nhau bôm bốp, ánh mắt người thầy dạy văn nhìn Tuấn ngập tràn vẻ trìu mến và thấu hiểu. "Đúng là 'Bần tiện bất năng di'! Cổ nhân dạy nghèo khó không làm đổi dời khí tiết, cái dũng khí lớn nhất của con người không phải là xông pha trận mạc, mà là chiến thắng được lòng tham hèn mọn của chính bản thân mình trong bóng tối!"
"Con cũng xin phép được chia sẻ thêm một ý ạ," Nam tiếp lời Tuấn, không khí thảo luận lúc này đã trở nên sôi nổi, ấm áp một cách tự nhiên hệt như một buổi trò chuyện thân tình bên hiên trà của một đại gia đình. "Nãy nghe thầy Trịnh luận giải về hai chữ 'Hành tàng xuất xử' của người quân tử xưa, tụi con thấy nó xa vời vợi, như chuyện của những bậc thánh hiền trên mây trên gió. Nhưng nghe chuyện cây compa của bạn Tuấn, nghe chuyện chiếc xe bắp luộc của mẹ bé Hạnh, con mới vỡ lẽ ra rằng: kẻ sĩ thời nay đâu nhất thiết phải làm những chuyện kinh thiên động địa. Kẻ sĩ đôi khi chỉ giản dị là một người thợ mộc như anh Vĩnh đây, thà chịu cực đi mót từng thanh pallet phế phẩm về đánh ráp cho nhẵn chứ nhất quyết không xẻ ván mục, ván gian để lừa khách; kẻ sĩ là một anh kiến trúc sư tương lai dù bị chủ thầu ép cũng không bao giờ bớt xén một cây sắt, một bao xi măng làm sập nhà của người ta; hay như chị Tuệ Anh, dẫu bị kẻ xấu bùng cọc sạch tiền túi, nợ nần bủa vây bốn phía, vẫn kiên quyết không chịu bán tháo những bộ sách nghiên cứu quý giá làm giấy vụn phế liệu để trang trải nợ nần. Tinh thần của văn học, rốt cuộc là nằm ngay trong từng hành vi, từng cách lựa chọn ứng xử nhỏ bé của chúng ta giữa dòng đời cơm áo hằng ngày, chứ nào có nằm cô lập trong những pho sách gáy da bọc kín!"
Vĩnh khẽ nghiêng đầu nhìn sang Tuệ Anh. Dưới quầng sáng vàng dịu của ngọn đèn dây tóc, ánh mắt anh chạm vào ánh mắt cô. Không cần một lời nói hoa mỹ nào, một sự thấu hiểu sâu sắc, lặng lẽ nhưng bền chặt như một đường mộng gỗ chuẩn xác đã thắt chặt lấy tâm hồn họ. Vĩnh mỉm cười, giọng anh trầm xuống, mộc mạc và chân thành:
"Tôi làm thợ mộc, quen nhìn thớ gỗ để xẻ ván. Tôi nghĩ văn chương cũng hệt như một tấm gương soi rọi lương tri. Khi mình mở một trang sách ra đọc, cái quý giá nhất không phải là cố nhồi nhét cho đầy đầu những điển tích, nhớ cho nhiều chữ nghĩa để đi khoe mẽ với thiên hạ, mà là nhìn thấy rõ cái phần người của mình trong đó: để biết đau nỗi đau của người khác, biết thương những mảnh đời cơ cực như mẹ con bé Hạnh, và giữ cho đôi tay mình luôn sạch sẽ trước những cám dỗ tầm thường của đồng tiền."
Ngồi lắng nghe những người trẻ tuổi bộc bạch tâm can một cách sống động, mộc mạc, không một chút sáo rỗng, không hề khuôn phép giáo điều, ông giáo Trịnh Văn Nghiêm ngồi trầm ngâm hồi lâu. Bàn tay già nua run rẩy của ông chầm chậm tháo chiếc kính lão đồi mồi ra khỏi sống mũi. Ông rút từ túi áo ngực chiếc khăn tay bằng vải hoa đã giặt đến bạc trắng mép, tỉ mẩn lau nhẹ từng vết mờ trên tròng kính.
Đôi mắt người thầy già hưu trí ngấn nước, đong đầy một niềm xúc động khôn nguôi.
Ông đưa mắt nhìn quanh căn phòng nhỏ: ánh đèn dây tóc bốn mươi oát tỏa rạng, nhuộm một màu vàng ấm lên những gương mặt trẻ trung đang bừng sáng nhiệt huyết thanh xuân; bé Hạnh đang ngồi ngoan ngoãn nhấm nháp từng ngụm nước vối ấm, hai gò má lem luốc ửng hồng lên vì hơi nóng; Tuệ Anh đứng đó với nụ cười đôn hậu, khéo léo kết nối từng mạch cảm xúc; và hàng trăm cuốn sách cũ kỹ nằm ngay ngắn trên những kệ gỗ pallet mộc mạc dường như cũng đang rùng mình, thở ra một luồng sinh khí mới mẻ, tràn trề sức sống.
"Cảm ơn cô Tuệ Anh... cảm ơn các bạn trẻ," ông giáo Trịnh chậm rãi cất lời, thanh âm của ông chùng xuống, nghẹn ngào một nỗi niềm chân thành từ tận đáy lòng. "Tối nay, người học được bài học khai tâm lớn nhất... không phải ai khác, mà chính là cái ông già cổ hủ, lẩm cẩm này đây. Cả một đời ta đắm chìm trong nghiên cứu giảng dạy, cứ ngỡ văn chương chữ nghĩa là phải gắn liền với những hệ thống lý luận đồ sộ, những khái niệm thâm sâu bí hiểm. Ta đã vô tình quên mất một chân lý bình dị nhất: con chữ sinh ra từ chính cuộc đời lam lũ, phục vụ cho tâm hồn của con người đang sống, thì nó phải trở về với cuộc đời bằng thứ ngôn ngữ chân chất, mộc mạc nhất của kiếp nhân sinh. Cách gợi mở tinh tế của cô Tuệ Anh, sự chân thật đến nhói lòng của bé Hạnh và những chia sẻ gan ruột của các bạn sinh viên đã kéo ta ra khỏi cái 'tháp ngà' chữ nghĩa cô độc, xơ cứng mà bấy lâu nay ta tự giam hãm mình. Đó mới thực sự là linh hồn sống động của việc đọc sách... và đó chính là cái hồn cốt thiêng liêng mà tiệm Mộc này cần gìn giữ cho bằng được giữa thời buổi này."
Ông Trịnh dừng lại một nhịp, hít một hơi thật sâu như để gom hết sự kiên định vào lồng ngực. Ông đưa mắt ngắm nghía từng góc nhỏ của gian tiệm, nhìn hệ vì kèo gỗ thông vững chãi mà Vĩnh dày công tôn tạo, nhìn ánh đèn ấm áp đang che chở cho những phận người trước cơn gió lạnh ngoài đường. Đôi mắt già nua ánh lên một quyết định hệ trọng mà ông đã trăn trở, nung nấu suốt nhiều tháng ngày qua:
"Căn nhà ngói ba gian của thầy nằm sâu trong hẻm Chợ Quán thấp trũng quá, hễ cứ đến mùa mưa bão là nước cống dềnh lên, tường nhà ẩm mốc rêu phong hoại tử dần. Mấy tủ sách nghiên cứu quý giá thầy gom góp, gìn giữ suốt cả cuộc đời qua bao thời tao loạn, nay cứ mỗi mùa mưa đến lại nơm nớp lo sợ mối mọt gặm nhấm, ẩm mốc làm hư hại. Thầy nay tuổi đã xế chiều, mắt mờ chân chậm, giữ khư khư đống sách ấy ở nhà một mình đọc rồi mang theo xuống mồ thì có ích gì cho đời đâu. Chiều nay, nhìn thấy tiệm Mộc ấm áp thế này, nhìn thấy những người trẻ biết nâng niu, trân trọng con chữ bằng cả tấm lòng thế này, thầy tính... ít bữa nữa trời tạnh ráo, thầy sẽ bàn bạc với cô Tuệ Anh để chuyển dần toàn bộ tủ sách cá nhân của thầy sang đây gửi lại. Cho sách có người đọc, cho tri thức tiếp tục sống và truyền lửa cho đời, thế có được không cô chủ tiệm?"
Lời đề nghị bất ngờ của ông giáo Trịnh rơi vào không gian như một giọt mật lành làm bừng sáng cả căn phòng.
Tuệ Anh chết lặng người đi vì sững sờ, rồi một luồng điện xúc động chạy dọc sống lưng cô. Kho sách cá nhân của một học giả lão thành uyên bác như ông Trịnh – người từng lặn lội sưu tầm từ các văn khố, thư viện cũ thời Pháp thuộc và thời kỳ trước năm 1975 – chính là một gia tài văn hóa vô giá, một kho báu di sản mà bất cứ một thư viện lớn hay một nhà sách tầm cỡ nào ở thành phố này cũng thèm muốn. Việc ông tin tưởng, ủy thác toàn bộ gia tài tinh thần ấy cho tiệm Mộc bé nhỏ này không chỉ đơn thuần là một sự cứu rỗi về mặt nguồn sách và thanh thế cho tiệm sau vố lừa đau đớn, mà đó còn là một sự bảo chứng thiêng liêng nhất, một sự ủy thác sinh mệnh văn hóa cho con đường mà cô và Vĩnh đang kiên trì theo đuổi.
"Dạ thưa thầy..." Tuệ Anh cúi rạp người xuống, hai mắt rưng rưng ướt đẫm vì niềm hạnh phúc tột cùng. "Được thầy tin tưởng trao gửi một gia tài vô giá như vậy, đó là niềm vinh dự tột bậc và cũng là trách nhiệm thiêng liêng lớn lao nhất của tiệm Mộc chúng con. Con xin hứa trước mặt các thầy, các bác và toàn thể anh chị em: chúng con sẽ gìn giữ, nâng niu từng trang sách của thầy như chính hơi thở, sinh mệnh của tiệm sách này!"
Không gian tiệm Mộc vỡ òa trong những tiếng vỗ tay rộn rã, những nụ cười rạng ngời và những ánh mắt lấp lánh niềm tin. Buổi sinh hoạt cứ thế tiếp diễn trong sự chan hòa, ấm cúng và đầy ắp sự gắn kết.
Bức tường e ngại hoàn toàn sụp đổ. Mọi người chuyền tay nhau từng cuốn sách cũ, đọc to cho nhau nghe những đoạn văn tâm đắc, chia sẻ về những kỷ niệm tuổi thơ, về những trăn trở của nghề nghiệp và những ước mơ về một tương lai tươi sáng hơn. Thầy Bửu hào hứng kể về những chuyến đi thực địa sưu tầm mẫu cây rừng nguyên sinh; thầy Chương say sưa ngâm một đoạn thơ lục bát bằng chất giọng ấm vang truyền cảm; anh cán bộ bưu điện tên Minh say sưa bàn luận về những đổi thay của thời cuộc; còn cô sinh viên sư phạm đã bớt hẳn sự rụt rè, mạnh dạn đóng góp những suy nghĩ trẻ trung về vai trò của sách đối với trẻ em nghèo nơi xóm lao động.
Đến khi chiếc ấm tích sành ủ trong bao tải gai cạn trơ đến đáy ấm thứ ba, chỉ còn lại những bã lá vối nâu sẫm, anh cán bộ bưu điện tên Minh bỗng tặc lưỡi, đưa mắt nhìn quanh chiếc khay mây tre mộc mạc rồi vui vẻ cất tiếng hỏi đùa:
"Buổi nói chuyện hôm nay tâm đắc quá chừng, ngồi miết từ chiều tới giờ mà hổng ai thấy chán hay mỏi lưng hết trơn. Cơ mà cô chủ tiệm ơi, tui xin góp một ý nhỏ xíu này nghen: giá như ở góc tiệm này mai mốt mình ngăn ra được một cái góc bếp nhỏ, sắm một cái phin nhôm lớn pha được vài ba ly cà phê bắp rang thơm lừng, hay có cái ấm đất hãm được bình trà bắc mạn sen nóng hổi để anh em bạn đọc tới đây, vừa nhấp một ngụm đắng ngòn ngọt nơi đầu lưỡi vừa đàm đạo chuyện nhân tình thế thái trong trang sách, thì tui nói thiệt, ngồi tới nửa đêm hay sáng trắng cũng hổng muốn về!"
"Anh Minh nói trúng phóc tim đen tụi em luôn đó chị Tuệ Anh!" Nam vỗ đùi đánh đét, hưởng ứng nhiệt liệt. "Tụi em dân kiến trúc chúa là nghiện cà phê để thức đêm cày đồ án. Phải chi tiệm Mộc mình có một góc cà phê phin nho nhỏ, bàn ghế gỗ mộc yên tĩnh, sáng sủa thế này để tụi em vừa cắm cúi vẽ bài, vừa tra cứu tài liệu chuyên ngành thì chắc tụi em xin đóng đô, cắm cọc ở đây suốt ngày đêm luôn cho tiện!"
Tuệ Anh mỉm cười dịu dàng, khẽ gật đầu ghi nhận từng lời đóng góp chân tình ấy vào sâu trong tâm trí. Một ý tưởng kinh doanh mới mẻ – một góc cà phê phin sách mộc mạc, bình dân nhưng ấm cúng, vừa tạo thêm dòng tiền mặt lưu động hằng ngày để trang trải tiền thuê mặt bằng, vừa tạo nên một không gian văn hóa lưu giữ bước chân của độc giả – bắt đầu nhen nhóm và hiện rõ từng đường nét mạch lạc trong tư duy nhạy bén của cô biên tập viên thời hiện đại.
Đêm đã về khuya. Đồng hồ treo tường điểm mười một tiếng chuông trầm đục. Buổi sinh hoạt đầu tiên của Câu lạc bộ Bạn Đọc Mộc khép lại trong sự lưu luyến, bịn rịn không nỡ rời xa.
Các cựu giáo chức và những người bạn đọc lần lượt bắt tay chào tạm biệt cô chủ trẻ và Vĩnh, không quên hẹn chắc nịch ngày tái ngộ vào tối thứ Bảy tuần sau. Vĩnh cùng Tuấn và Nam nán lại, xắn tay áo giúp Tuệ Anh xếp gọn lại sáu chiếc ghế đẩu gỗ thông vào sát vách tường, cẩn thận dùng giẻ ẩm lau sạch từng vết nước vối trên mặt bàn trà ván ép rồi mới dắt xe đạp bước ra bậu cửa ra về.
Khi bóng lưng vạm vỡ của Vĩnh cùng tiếng cười đùa rộn rã của những chàng sinh viên trẻ khuất dần sau khúc quanh của con hẻm sâu, Tuệ Anh bước chầm chậm ra đứng trước bậc thềm gỗ lim.
Cô hít một hơi thật sâu vào lồng ngực. Không khí ngoài đường phố lúc này đã lạnh buốt. Gió đêm thốc từng cơn cuồn cuộn qua những tàn me cổ thụ già nua ven đường, cuốn theo từng trận cát bụi mù mịt bay rát cả mặt.
Trên bầu trời đêm thăm thẳm, những đám mây đen vần vũ, nặng trịch tựa như chì đang cuộn xoáy kéo tới kín đặc cả vòm trời, báo hiệu một cơn mưa dông lớn, dữ dội và xối xả sắp đổ ập xuống mặt đường Trần Nhân Tôn.