Xuyên Về Làm Chủ Tiệm SáchC.11 / 36
Chương 11

Bài Toán Dòng Tiền Và Sự Sống Còn

Gian kho sau chìm vào bóng tối đặc quánh sau cú gạt cầu dao dứt khoát của Quốc Dũng, để lại trước mắt Tuệ Anh một nửa diện tích tiệm Mộc bị cô lập hoàn toàn đúng vào thời điểm những cơn mưa đầu mùa bắt đầu kéo về thành phố. Mùi khét lẹt của lớp vỏ bọc dây điện cháy xém hãy còn vương vất trong không khí, quyện chặt với hơi ẩm mốc bốc lên từ chân tường vôi mục nát như một lời nhắc nhở tàn nhẫn về hiện trạng rệu rã của căn nhà cổ. Khối chì xám xịt lủng lẳng trên hộp cầu dao tổng hệt như một chiếc khóa xích đóng đinh số phận của nửa sau gian tiệm.

Ngay sau khi bóng chiếc xe Cub 81 của bà Tư Lành khuất hẳn sau khúc quanh đầu hẻm, bỏ lại tiếng nạt nộ còn ong ong bên màng nhĩ, Tuệ Anh và Vĩnh đã phải lập tức lao vào một cuộc di tản cưỡng bức trong thầm lặng. Họ không có lấy một phút để ngồi thở dài hay đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Bầu trời ngoài kia đã sập tối rất nhanh, kéo theo từng luồng gió thốc mang theo hơi nước ngai ngái, báo hiệu một đêm mưa dầm dề có thể ập xuống bất cứ lúc nào.

Không thể để hàng trăm cuốn sách quý, những bộ từ điển bách khoa khổ lớn bọc da bò, các tập tạp chí chuyên ngành mỹ thuật trước năm 1975 và những xấp tài liệu nghiên cứu chép tay nằm lại trong căn phòng tối om, ẩm ướt ấy. Chỉ cần sau một đêm mưa rào ngấm qua khe lún của bức tường nứt, nấm mốc sẽ lập tức phủ một lớp phấn trắng xóa lên từng thớ giấy mỏng manh, biến những di sản vô giá thành những khối bột bở nát. Nhưng di dời chúng đi đâu bây giờ? Diện tích gác lửng bên trên đã chật ních chiếc rương gỗ lim bọc đồng của dì Mộc Lan và khoảng phản gỗ ọp ẹp vừa đủ một chỗ nằm. Chỉ còn một giải pháp duy nhất: dồn toàn bộ kho sách ra mặt bằng quầy trước.

Hai người bắt đầu chuyền tay nhau từng chồng sách dưới ánh sáng vàng vọt hắt ra từ ngọn đèn ống duy nhất còn đỏ ở gian ngoài. Vĩnh bước những bước dài, thận trọng lách qua ngưỡng cửa hẹp, đôi vai vạm vỡ gồng lên dưới sức nặng của những thùng các-tông đựng đầy sách bìa cứng. Mồ hôi túa ra trên trán anh, chảy ròng ròng xuống cằm, thấm đẫm cả mảng lưng chiếc áo sơ mi công nhân đã sờn rách ở cùi chỏ. Tuệ Anh đi sau, hai tay ôm ghì lấy những tập tài liệu quý bọc giấy dầu, bước chân thoăn thoắt nhưng vô cùng cẩn trọng để mép bìa không va quẹt vào những gờ cửa sắc nhọn.

Bụi giấy lâu năm gặp không khí ẩm bốc lên một mùi nồng hắc, xộc thẳng vào cánh mũi làm hai người cay xè mắt, thỉnh thoảng lại bật ra những tiếng ho khan kìm nén. Cứ thế, từng chồng sách được di chuyển ra ngoài một cách trật tự nhưng hối hả, như một cuộc chạy đua nghẹt thở với thời gian và thời tiết.

Đến chập tối, gian trước của tiệm Mộc biến thành một bãi chiến trường ngổn ngang đến nghẹt thở. Những chồng sách được phân loại vội vã xếp cao ngang ngực người, ken đặc lấy từng khoảng trống trên nền gạch bông cổ điển hoa văn chữ vạn đã sứt sẹo nhiều góc. Không gian vốn dĩ khoáng đạt, thanh nhã của tiệm sách nay bị băm nát thành những hốc tối tăm, bí bách. Lối đi duy nhất nối từ cửa hiệu vào đến bàn thu ngân giờ chỉ còn vừa vặn một sải chân người lớn, hẹp đến mức nếu hai người đi ngược chiều, một người buộc phải nép sát mình vào kệ gỗ, nín thở để ba lô hay vạt áo không quệt làm đổ sập những tháp sách đang chông chênh chống đỡ lẫn nhau. Tiệm sách bỗng chốc đánh mất hoàn toàn cái phong vị thư thái vốn có, thay vào đó là sự ngột ngạt của một kho hàng dã chiến thời vụ.

Hậu quả kinh tế của việc co hẹp không gian ập đến ngay tức khắc trong ngày hôm sau.

Đường Trần Nhân Tôn vốn là con phố sách cũ nức tiếng của Sài Gòn, nơi tập trung đủ mọi thành phần yêu con chữ. Khách ghé chân vào các hiệu sách ở đây phần nhiều là những người thích thư thả lướt đầu ngón tay trên từng gáy sách, lần giở từng trang giấy ngả vàng để tìm một ấn bản thất lạc, hay đơn giản chỉ là đứng tựa lưng vào mép cửa để đọc một vài trang văn hoài niệm giữa buổi trưa đứng gió. Văn hóa đọc sách cũ cần sự tĩnh lặng và rộng rãi tối thiểu để người ta đắm mình vào thế giới riêng. Nhưng giờ đây, nhìn vào diện tích chật chội, bức bối và tối tăm như một kho phế liệu của tiệm Mộc, đa số khách vãng lai chỉ vừa bước một chân qua ngưỡng cửa đã vội vàng ngập ngừng thoái lui.

"Chật quá cô ơi, chen vào sợ quẹt đổ đống sách mất," một người đàn ông trung niên đeo kính lão, tay cầm chiếc cặp da cũ kỹ bạc màu, ái ngại lắc đầu nhìn lối đi chỉ vừa một bàn chân rồi quay xe đạp đi thẳng về hướng Nhà sách Minh Châu phía đầu đường.

Mấy đứa nhỏ học sinh tiểu học tan trường, ríu rít kéo nhau đến theo thói quen để đọc truyện tranh, cũng phải lúng túng đứng chen chúc ngoài thềm hiên xám xịt. Chiếc kệ tạp chí tầm thấp cao bảy mươi lăm phân mà Vĩnh đóng riêng cho các em giờ đây bị bao vây bởi ba thùng các-tông đựng sách nghiên cứu địa chí nặng trịch, khiến lũ trẻ không còn chỗ ngồi bệt làm bài tập ba mươi phút như thường lệ. Đứa nọ đứng nép vào lưng đứa kia, mắt ngước nhìn những cuốn truyện tranh màu mè trên kệ cao với vẻ tiếc nuối tột cùng. Dù Tuệ Anh đã cố gắng linh động kê thêm hai chiếc ghế đẩu ngoài bậu cửa cho các em ngồi tạm, nhưng không gian ngột ngạt rõ ràng đã bóp nghẹt bầu không khí thân tình, ấm áp mà tiệm vừa nhọc công gầy dựng lại suốt những ngày qua.

Tuệ Anh đứng sau quầy thu ngân, lòng nặng như chì khi lật cuốn sổ tay bán lẻ bằng bìa giấy xi măng. Cả buổi sáng trôi qua trong tiếng quạt trần quay kẽo kẹt mệt mỏi, cô chỉ thu được vỏn vẹn hai lượt thuê truyện tranh của bé Lan và thằng Tí, đem lại đúng một ngàn đồng tiền mặt lẻ. Khách hỏi mua tiểu thuyết văn học không có chỗ đứng chọn, lật vội một hai cuốn sách phủ đầy bụi vôi rồi lại lặng lẽ rời đi. Cứ đà này, nguồn thu dự trù để thanh toán một triệu tám trăm ngàn đồng tiền nợ thuê nhà còn lại vào cuối tuần—chứ chưa nói đến khoản tiền sửa chữa khổng lồ mà bà Tư Lành đang chực chờ đổ ập lên đầu tiệm—chắc chắn sẽ vỡ vụn như bong bóng xà phòng.

Áp lực dòng tiền không còn là một khái niệm trừu tượng trên báo cáo tài chính của thế kỷ hai mươi mốt nữa, mà nó đang hiện hữu bằng từng tiếng cọt kẹt của mái tôn nứt, từng ánh mắt khắt khe của bà chủ nhà, và chiếc hũ sành đựng tiền lẻ dưới chân bàn thu ngân đang rỗng dần sau mỗi bữa cơm rau đạm bạc. Mỗi đồng tiền thu vào lúc này đều mang sức nặng của sự sống còn, mà lối thoát tài chính thì dường như vẫn mịt mờ như làn sương sớm ngoài ngõ.

Giữa lúc không khí ngột ngạt bao trùm lấy gian tiệm, Vĩnh không buông một lời than vãn. Người thanh niên ấy dường như có một sức chịu đựng bền bỉ đến lạ kỳ, một sự điềm đạm được trui rèn qua những năm tháng lao động nặng nhọc từ vùng sông nước Tiền Giang. Anh lặng lẽ dùng chổi đót thu dọn đống mùn cưa và mảnh vữa vương vãi trên thềm, gom gọn vào một chiếc sọt tre, rồi lấy từ trong ba lô vải bạt bạc màu ra một chiếc thước cuộn bằng thép và một thanh thước gỗ thợ mộc đã lên nước bóng lộn, các vạch số khắc chìm đã ngả màu nâu sẫm.

Vĩnh bước lại gần cửa kho sau—nơi có dải băng keo giấy niêm phong tạm thời dán chéo ngang then cài—ngước nhìn lên trần nhà và hệ thống dầm đỡ bằng ánh mắt chăm chú phi thường. Ánh mắt anh không hề có sự hoang mang hay sợ hãi của một kẻ vừa bị dồn vào chân tường, mà sáng lên vẻ tập trung cao độ của một người thợ thủ công đã quen nhìn các cấu kiện bằng con mắt phân tích lực học. Anh leo lên chiếc ghế gỗ cao, cẩn thận đặt thước đo từng khoảng cách giữa các thanh xà gồ gỗ dầu, áp sát tai vào cột gạch rỗng để gõ nhẹ từng ngón tay trần, lắng nghe thật kỹ âm vang khô đục phát ra từ khối vữa vôi đã lão hóa qua hơn ba mươi năm mưa nắng của đất Sài Gòn.

"Anh Dũng nói đúng một nửa, nhưng cũng chỉ là cách nhìn của một người thợ điện máy móc," Vĩnh đột ngột lên tiếng, phá tan bầu không khí im lặng như tờ của gian tiệm. Giọng nói trầm tĩnh, rành rọt của anh vang lên làm Tuệ Anh khẽ giật mình ngẩng đầu khỏi cuốn sổ thu chi.

Vĩnh nhảy xuống khỏi chiếc ghế gỗ một cách nhẹ nhàng, đưa tay phủi lớp bụi vôi trắng xóa bám trên đầu gối chiếc quần tây bạc màu. Anh bước lại gần quầy thu ngân, trải phẳng một tờ giấy can khổ A3 đã sờn mép lên mặt gỗ trước mặt Tuệ Anh.

Trên mặt giấy can mỏng manh ấy, hiện lên chi chít những nét vẽ kỹ thuật bằng bút chì 2B vô cùng sắc sảo và chuẩn xác. Đó là bản vẽ mặt cắt không gian từ gian trước thông thẳng ra gian kho sau, thể hiện rõ từng chi tiết cấu kiện của mái nhà, các điểm chịu lực và hệ thống phân bổ tải trọng.

"Cột gạch đinh rỗng ruột đúng là không thể khoan cấy bu-lông nở để neo dầm thép chữ I hai triệu đồng như anh Dũng tính toán," Vĩnh vừa chỉ đầu bút chì vào bản vẽ vừa giải thích, giọng anh chắc nịch và khúc chiết như một người thầy giáo giảng bài. "Nếu ép thanh sắt chữ I nặng hàng trăm ký lên đỉnh cột mục đó, chỉ cần một trận dông lốc làm rung lắc mái tôn, chính tải trọng bản thân của khối thép sẽ xé toác chân tường gạch trước khi gió bão kịp làm việc đó. Nhưng chúng ta hoàn toàn có thể dùng một hệ khung đỡ độc lập bằng gỗ."

Tuệ Anh chăm chú nhìn vào bản vẽ, rồi ngước nhìn Vĩnh. Ánh mắt cô dừng lại trên gương mặt cương nghị lấm tấm mồ hôi của người thanh niên kiến trúc. "Khung gỗ độc lập? Ý anh là không tác động vào kết cấu tường của bà Tư?"

"Đúng vậy," Vĩnh gật đầu, ánh mắt ánh lên ngọn lửa tự tin vững chãi của một người nắm chắc nguyên lý nhà nghề. "Thay vì neo vào tường cũ mục nát, tôi sẽ dựng một hệ vì kèo chữ A phân tán lực, dùng bốn cột gỗ thông vuông mười phân đặt trên các đế bê tông đúc sẵn kê sát mép tường. Toàn bộ tải trọng của mái kho và các đợt giá sách mới sẽ truyền thẳng xuống nền đất chịu lực thông qua hệ đế này, hoàn toàn không chạm vào một viên gạch thẻ nào của bức tường rỗng."

Vĩnh lật mặt sau của bản vẽ can, nơi anh đã cẩn thận ghi ra một danh sách vật tư bóc tách chi tiết đến từng thanh gỗ xẻ, từng chiếc đinh bảy phân và từng con bu-lông xiết mộng:

"Nếu thuê thợ nề và thợ sắt bên ngoài theo kiểu công ty nhà đất mà bà Tư dọa dẫm, tiền công thợ và tiền vật tư thép chữ I sẽ ngốn đứt từ hai triệu đến hai triệu rưỡi. Nhưng nếu chúng ta dùng gỗ thông xẻ từ các kiện pallet hàng nặng ở cảng Phú Định—loại gỗ thông dầu Bắc Mỹ rất đanh, chịu ẩm cực tốt và không bao giờ bị mọt—chi phí vật liệu chỉ tốn khoảng bốn trăm ngàn đồng. Tôi đã bàn với ba đứa bạn cùng lớp chuyên ngành Kiến trúc công trình ở Đại học Kiến trúc. Tụi nó sẵn sàng mang cưa xẻ, bào tay và đục mộng tới đây làm phụ tôi trong hai ngày cuối tuần. Chúng tôi sẽ tự tay cưa, gia công mộng gỗ và lắp dựng toàn bộ hệ khung đỡ này. Tiệm Mộc sẽ không tốn một đồng tiền công thợ ngoài nào cả."

Nhìn những đường nét tính toán tỉ mỉ, từ góc vát của khớp mộng mang cá đến các thanh giằng chéo triệt tiêu lực xô ngang, Tuệ Anh cảm thấy một luồng hơi ấm len lỏi vào lồng ngực đang thắt lại vì âu lo. Vĩnh không chỉ là một cậu sinh viên nghèo đến đây đọc ké sách để trốn cái nóng của căn phòng trọ chật chội; bản năng nghề nghiệp gia truyền ba đời làm mộc ở miệt Cai Lậy kết hợp với tư duy kết cấu công trình hiện đại đã biến anh thành một điểm tựa kiên cường nhất của tiệm Mộc giữa cơn giông bão này. Anh giải quyết bài toán không phải bằng tiền bạc xa xỉ, mà bằng trí tuệ, sức lao động và sự am hiểu sâu sắc về từng thớ gỗ, viên gạch.

"Nhưng bốn trăm ngàn tiền gỗ pallet và đinh ốc đó..." Tuệ Anh ngập ngừng, mười đầu ngón tay cô siết chặt mép quầy gỗ đến trắng bệch. "Và mấy người bạn của anh... dù họ không lấy công, chúng ta cũng không thể để họ làm quần quật giữa trời nắng nóng mà không có nổi một bữa cơm đàng hoàng."

"Chuyện đó để tính sau," Vĩnh ngắt lời cô bằng một nụ cười hiền hậu, nhưng ánh mắt anh lại khẽ nhìn tránh sang chỗ khác, hướng về phía những chồng sách đang nằm chen chúc trên sàn. "Ngày mai tôi sẽ mượn chiếc xe ba gác của người quen dưới bến đi chở gỗ trước. Chỉ cần cô lo phần giấy tờ làm việc với bà Tư Lành cho êm xuôi, đừng để bà ấy đem thợ lạ vào đập phá lung tung là được. Căn nhà này có cốt cách của nó, để thợ ẩu đụng vào là hỏng hết."

Lời đề nghị chân thành và sự hy sinh không vụ lợi của Vĩnh không làm cho gánh nặng trong lòng Tuệ Anh vơi bớt, mà trái lại, nó càng thổi bùng lên trong cô lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm của một người làm chủ. Người thanh niên này đang dốc cạn sức lực, mồ hôi và cả những mối quan hệ bè bạn thân thiết để bảo vệ tiệm sách, cô tuyệt đối không thể để anh phải gánh chịu thiệt thòi hay biến sự giúp đỡ ấy thành món nợ ân tình mập mờ, không ngày đền đáp.

Đêm hôm đó, đường Trần Nhân Tôn chìm vào giấc ngủ muộn màng. Tiếng còi xe máy thưa thớt dần rồi tắt hẳn, chỉ còn lại tiếng lá me xào xạc rơi rụng trên mái tôn cũ và tiếng rao đêm khàn đặc, cô đơn của người bán bánh chưng dạo vọng lại từ đầu hẻm sâu. Cả khu phố như thu mình lại trong màn đêm ẩm ướt sau cơn mưa rào.

Trên căn gác lửng chật chội và oi nồng, Tuệ Anh không tài nào chợp mắt nổi. Không gian quanh cô nồng đượm mùi dầu hỏa từ cây đèn dầu hoa kỳ đặt ở góc bàn gỗ nhỏ. Ánh lửa vàng vọt bập bùng theo từng cơn gió luồn qua khe ván ép, hắt chiếc bóng mảnh khảnh của cô lên vách tường loang lổ những vết ố của thời gian.

Trước mặt Tuệ Anh lúc này là hai cuốn sổ cái ghi chép đầy mâu thuẫn của dì Mộc Lan, chiếc hộp thiếc Danisa đựng số tiền lẻ còm cõi còn lại sau đợt thanh toán nợ trước, và một xấp giấy kẻ ô ly khổ lớn mà cô vừa cẩn thận xé ra từ cuốn sổ giáo án cũ của ông giáo Trịnh tặng hồi đầu tuần.

Là một biên tập viên từng lăn lộn với hàng chục dự án xuất bản và trực tiếp quản lý chi phí vận hành ở năm 2026, Tuệ Anh hiểu rất rõ bản chất của cuộc khủng hoảng hiện tại. Căn bệnh lớn nhất dẫn đến sự suy sụp của các tiệm sách truyền thống qua bao thời kỳ không bao giờ là sự thiếu vắng tình yêu với con chữ, mà là sự mập mờ trong hạch toán dòng tiền và sự lẫn lộn tai hại giữa chi phí vốn với chi phí vận hành thường nhật. Dì Mộc Lan lúc sinh thời đã yêu sách bằng một trái tim quá đỗi bao dung, hồn hậu nhưng lại quản lý tiệm bằng một bàn tay cảm tính, cả nể, để rồi cuối cùng bị những khoản nợ vô hình, những lời hứa hẹn suông siết nghẹt thở đến kiệt quệ.

Tuệ Anh cầm cây bút bi Bến Nghé màu xanh, hít một hơi thật sâu để xua tan cơn nhức buốt mơ hồ nơi hai bên thái dương—di chứng còn sót lại của cú xuyên không kỳ quái đưa cô về quá khứ ba mươi năm trước—rồi dùng thước kẻ một đường thẳng tắp chia đôi trang giấy kẻ ô thành hai cột rạch ròi.

Đây là phương pháp lập dự toán bóc tách kết cấu hai cột mà cô từng áp dụng khi thẩm định các dự án nâng cấp thư viện cộng đồng thời hiện đại. Ở thời đại năm 1996 này, nơi mà mọi thỏa thuận dân sự quanh xóm lao động đều dựa vào lời nói miệng, sự quen biết và sự cả nể đầy rủi ro, bản dự toán chi tiết này sẽ là vũ khí pháp lý và lý lẽ duy nhất để cô đối đầu với sự thực dụng đến cay nghiệt của bà Tư Lành và những kẻ đứng sau bà ta.

Cô nắn nót viết tiêu đề cột thứ nhất bằng những nét chữ thanh mảnh nhưng dứt khoát, sắc cạnh:

**CỘT A: CHI PHÍ BẢO TRÌ KẾT CẤU CỐT LÕI (TRÁCH NHIỆM BÊN CHO THUÊ - BÀ VÕ THỊ LÀNH)** 1. *Xử lý triệt để nguyên nhân ngấm dột:* Thay thế sáu tấm tôn Fibrocement nứt vỡ ở phần mái tiếp giáp khe lún nhà bên cạnh; trám trét chống thấm khe tiếp giáp bằng màng nhựa đường và vữa xi măng mác cao để ngăn nước mưa thẩm thấu vào dầm chịu lực. 2. *Gia cố hệ lực chính:* Chi phí đúc bốn khối đế bê tông độc lập để phân bổ tải trọng sàn và trần, giải phóng hoàn toàn lực ép lên bờ tường gạch đinh rỗng ruột cổ từ thập niên 1960. 3. *An toàn phòng cháy chữa cháy dân sự:* Thay mới toàn bộ đường dây điện nguồn từ sau đồng hồ tổng vào đến hộp ngắt mạch tự động, bọc ống cách điện đạt tiêu chuẩn an toàn đô thị, loại bỏ hoàn toàn hệ thống dây bọc vải mục nát âm tường đang gây nguy cơ hỏa hoạn cho cả khu phố. *Tổng dự toán hạng mục kết cấu:* 650.000 đồng (chỉ tính thuần chi phí vật tư sắt thép nhỏ, xi măng, cát, đá dăm và dây cáp đồng cadivi ruột đôi; toàn bộ nhân công kỹ thuật do bên thuê tự đảm nhận).

Tiếp đó, cô chuyển ngòi bút sang cột bên phải, từng con số và hạng mục được cân nhắc kỹ lưỡng:

**CỘT B: CHI PHÍ CẢI TẠO KHÔNG GIAN KINH DOANH (TRÁCH NHIỆM BÊN THUÊ - TIỆM SÁCH MỘC TỰ CHI TRẢ)** 1. *Hệ thống lưu trữ sách an toàn:* Mua gỗ thông pallet chịu lực, gia công hệ khung giằng chữ A và đóng mới ba tầng kệ sách treo độc lập cao hai mét mốt để cách ẩm hoàn toàn cho kho sách. 2. *Vật tư phụ:* Đinh bảy phân, bu-lông mạ kẽm xiết mộng, bản lề sắt, dầu rái quét chống ẩm mốc cho bề mặt gỗ mộc. 3. *Chi phí hỗ trợ hậu cần:* Tiền cơm trưa, nước uống và bồi dưỡng thể lực cho nhóm bốn sinh viên kiến trúc thi công liên tục trong hai ngày thứ Bảy và Chủ Nhật. *Tổng dự toán hạng mục cải tạo:* 420.000 đồng.

Tuệ Anh gác bút, ngả lưng vào vách ván ép, khẽ xoa hai bên thái dương đang giật từng cơn. Từng con số hiện lên trắng đen rõ ràng, không một chút mập mờ, bóc tách rành rọt giữa giá trị gia tăng thuộc về bất động sản của chủ nhà và giá trị phục vụ kinh doanh của người đi thuê.

Cô lập bản dự toán này không phải để trốn tránh trách nhiệm hay cò kè từng đồng bạc lẻ, mà là để chặn đứng âm mưu của gã môi giới đi xe Dream II mặc âu phục xám tro đang giật dây bà Tư Lành hòng đuổi tiệm Mộc đi để thâu tóm mặt bằng. Nếu bà Tư muốn giữ lại căn nhà nguyên vẹn mà không phải bỏ ra hai đến ba triệu đồng thuê thợ ngoài đục khoét làm hỏng móng, bà buộc phải chấp nhận phương án hợp tác này: tiệm Mộc bỏ công sức, kỹ thuật và một phần chi phí cải tạo không gian, đổi lại bà phải khấu trừ chi phí sửa chữa kết cấu sáu trăm năm mươi ngàn đồng vào khoản tiền nhà còn nợ! Đó là một giải pháp lưỡng toàn kỳ mỹ, công bằng và có tình có lý nhất mà bà chủ nhà khó lòng từ chối nếu còn chút tỉnh táo.

Thế nhưng, khi ánh mắt Tuệ Anh dời từ bản dự toán kỹ thuật sang cuốn sổ quỹ tiền mặt thực tế của tiệm Mộc, trái tim cô lại chùng xuống một cách tê tái.

Cô với tay kéo chiếc hộp thiếc Danisa về phía mình, bật nhẹ nắp hộp. Tiếng kim loại va vào nhau kêu lách cách khô khốc giữa đêm vắng.

Dưới ánh đèn dầu tù mù, cô cẩn thận vuốt phẳng từng tờ tiền giấy cotton đã sờn rách mép, xếp chúng ngay ngắn theo từng mệnh giá: vài tờ mười ngàn đồng đỏ ối in hình giàn khoan dầu khí, những tờ năm ngàn đồng màu xanh dương đậm in hình thủy điện Trị An, một xấp tờ hai ngàn bạc phếch in hình nhà máy dệt Nam Định, và vô số những tờ hai trăm, năm trăm đồng nhàu nát, cáu bẩn mà lũ trẻ con xóm nghèo dùng để trả tiền thuê truyện tranh lẻ.

Cô đếm đi đếm lại ba lần, lẩm nhẩm từng con số lẻ.

Tổng cộng toàn bộ số tiền mặt tự do mà tiệm Mộc đang sở hữu lúc này chỉ vỏn vẹn: 94.600 đồng.

Chưa đầy một trăm ngàn đồng!

Một con số quá đỗi mong manh, bé nhỏ đến tội nghiệp giữa lòng Sài Gòn đang cựa mình bước vào nền kinh tế thị trường sôi động của năm 1996. Số tiền này chỉ vừa đủ để mua gạo, mắm muối đạm bạc cho cô sống qua ngày trong mười hôm tới và trích ra một phần nhỏ mua đinh ốc, giấy nhám cho Vĩnh.

Trong khi đó, áp lực tài chính đang bủa vây tiệm Mộc từ bốn phía như một chiếc thòng lọng siết chặt từng ngày: Thứ nhất, khoản nợ một triệu tám trăm ngàn đồng tiền thuê nhà tích tụ từ thời dì Mộc Lan bắt buộc phải thanh toán dứt điểm vào cuối tuần theo hạn chót hai tuần mà bà Tư Lành đã ký biên nhận. Thứ hai, bốn trăm hai mươi ngàn đồng tiền mặt tươi cần phải có ngay vào sáng mai để Vĩnh đặt cọc lấy gỗ pallet dưới bến Phú Định và lo cơm nước cho nhóm bạn thi công. Thứ ba, nếu đàm phán thành công việc chia sẻ chi phí kết cấu với bà Tư Lành, tiệm Mộc vẫn phải ứng trước tiền mua xi măng, cát đá và dây điện an toàn.

Tuệ Anh chống cằm nhìn chăm chú vào các dòng số thu chi hàng ngày ghi bằng mực tím của dì Lan. Mấy ngày qua, mô hình "cho thuê truyện tranh thiếu nhi có cọc" mà cô khởi xướng đã hoàn thành xuất sắc vai trò cứu nguy ban đầu: nó tạo ra dòng tiền tươi đều đặn mỗi ngày từ mười lăm đến hai mươi lăm ngàn đồng, đủ để chứng minh với xung quanh rằng tiệm Mộc không phải là một xác chết bất động. Nhưng với tư duy của một nhà quản trị hiện đại, Tuệ Anh cay đắng nhận ra một quy luật kinh tế nghiệt ngã đang hiển hiện:

Cho thuê truyện lẻ với giá hai trăm đồng đến năm trăm đồng một cuốn chỉ là một dịch vụ có biên lợi nhuận cực mỏng, biên độ an toàn tài chính quá thấp. Nó chỉ có thể giải quyết bài toán "dòng tiền sống qua ngày" để duy trì nhịp thở thoi thóp cho tiệm, mua mớ rau, con cá và đinh ốc vụn vặt, chứ hoàn toàn bất lực trước những khoản chi phí vốn có tính chất sống còn như tiền thuê mặt bằng bạc triệu hay chi phí đầu tư hạ tầng kết cấu.

Nếu chỉ bám víu vào mấy cuốn truyện tranh *Dũng sĩ Hesman*, *Bảy viên ngọc rồng* hay *Doraemon*, tiệm Mộc sẽ mãi mãi quay cuồng trong cái vòng luẩn quẩn của sự bần hàn: kiếm được đồng nào xào hết đồng đó, chỉ cần một cơn mưa lớn làm ướt hỏng một tập truyện, hoặc một đứa trẻ làm rách vài trang sách quý, toàn bộ hệ thống tài chính mỏng manh ấy sẽ lập tức đứt gãy và sụp đổ hoàn toàn.

"Muốn cứu tiệm Mộc thoát khỏi miệng vực, bắt buộc phải tìm ra một dịch vụ có biên lợi nhuận cao hơn, tạo ra giá trị thặng dư lớn hơn trên từng giao dịch," Tuệ Anh lẩm bẩm một mình giữa đêm khuya, ngón tay cô gõ nhịp đều đặn lên mặt bàn gỗ theo thói quen suy tư sâu sắc.

Ánh mắt cô vô tình dời khỏi đống tiền lẻ, dừng lại ở góc quầy thu ngân phía dưới sàn, nơi có một cuốn sổ tay bìa cứng bọc vải hoa đã sờn rách bốn góc. Đó là cuốn "Sổ Ghi Yêu Cầu Của Bạn Đọc" mà cô đã chủ động đặt ở quầy từ tuần trước, mô phỏng lại thói quen tiếp nhận phản hồi độc giả của các nhà xuất bản thời hiện đại.

Cô bước nhẹ xuống thang gác, mang cuốn sổ lên lại mặt bàn đèn dầu.

Lật từng trang giấy bãi bằng vàng ố, Tuệ Anh đọc lại những dòng chữ viết tay ngoằn ngoèo bằng nhiều loại mực khác nhau của những vị khách từng ghé Mộc trong mười ngày qua: - *Bác sĩ Hoàng (Bệnh viện Triều Châu): Cần tìm trọn bộ "Nội khoa thực hành" bản dịch năm 1972 của Giáo sư Trịnh Ngọc Phan, bìa cứng, sẵn sàng trả 80.000đ - 100.000đ nếu sách còn nguyên vẹn, không rách trang.* - *Kỹ sư Lê Văn Bình (Sở Giao thông): Tìm cuốn "Sức bền vật liệu và cơ học công trình" của NXB Mir Liên Xô, bản tiếng Pháp hoặc tiếng Việt. Sẵn sàng đặt cọc trước 50.000đ.* - *Một sinh viên Đại học Mỹ thuật: Cần tài liệu khảo cứu về "Họa tiết gốm mỹ thuật Nam Bộ thế kỷ 19" để làm luận văn tốt nghiệp. Nhờ tìm gấp trong tháng 6, giá cả thương lượng tùy tình trạng tài liệu.* - *Ông Trương (Việt kiều Pháp về thăm quê): Nhờ lùng mua lại tập thơ "Lửa thiêng" của Huy Cận bản in đầu tiên năm 1940 của NXB Đời Nay để làm kỷ niệm gia đình, giá không thành vấn đề.*

Một tia sáng lóe lên trong tâm trí Tuệ Anh, xua tan đi màn sương mù mệt mỏi đang bủa vây tâm trí cô suốt cả đêm dài.

Đúng rồi! Bản chất của thị trường sách cũ Sài Gòn năm 1996 là một thị trường bất đối xứng thông tin cực kỳ nặng nề. Người có sách quý thì không biết bán cho ai ngoài việc cân ký bán cho dân ve chai đồng nát với giá vài trăm đồng một cân giấy vụn; trong khi giới trí thức, bác sĩ, kỹ sư, nhà nghiên cứu và sinh viên đại học lại đỏ mắt đi lùng sục khắp các xạp vỉa hè mà không tài nào tìm được nguồn tài liệu chuyên khảo mình đang khao khát.

Dịch vụ "Đặt Sách Theo Yêu Cầu" và "Săn Tìm Bản Thảo Chuyên Khảo"!

Đây chính là mảnh đất màu mỡ, là dịch vụ có biên lợi nhuận cao nhất trong ngành kinh doanh sách cũ! Một cuốn sách chuyên ngành mua vào từ các mối ve chai hoặc các sạp sách xả hàng chỉ với giá mười ngàn, mười lăm ngàn đồng, nhưng nếu qua tay một người có kiến thức biên tập chuyên sâu, thẩm định được niên đại và độ hiếm, phục chế lại những chỗ gáy sờn rách rồi giao đúng đến tay người thực sự cần nó cho công trình nghiên cứu, giá trị của nó có thể tăng gấp năm, thậm chí gấp mười lần!

Quan trọng hơn cả, dịch vụ này áp dụng nguyên tắc thương mại kinh điển: thu tiền đặt cọc ba mươi đến năm mươi phần trăm giá trị đơn hàng ngay khi tiếp nhận yêu cầu. Số tiền cọc đó chính là nguồn vốn lưu động không lãi suất cực kỳ quý báu để tiệm xoay vòng tức thì cho việc cải tạo mặt bằng và gom hàng mới!

Tuệ Anh cầm bút, hào hứng ghi nhanh những gạch đầu dòng chiến lược mới vào trang cuối cuốn sổ: 1. *Tận dụng tri thức chuyên gia:* Nhờ ông giáo Trịnh Văn Nghiêm hỗ trợ lập danh mục các đầu sách hiếm, kiểm tra tính nguyên bản và định giá chuẩn xác cho từng nhóm chuyên khảo y học, kỹ thuật và văn học tiền chiến. 2. *Mở rộng chân rết tìm kiếm:* Thiết lập quan hệ mật thiết với ông Lâm Sáu Phước ở chợ sách cũ Đặng Thị Nhu và mạng lưới những người đạp xe thu gom phế liệu trong quận, biến họ thành nguồn cung ứng sách thô giá rẻ tận gốc rễ. 3. *Quy trình dịch vụ chuyên nghiệp:* Thu cọc 30-50%, cam kết thời gian tìm kiếm từ bảy đến mười lăm ngày, cấp biên nhận trang trọng có đóng dấu mộc đỏ của tiệm sách Mộc để tạo dựng niềm tin tuyệt đối nơi khách hàng.

Ý tưởng mới như một luồng gió mát lành thổi bùng lên ngọn lửa hy vọng trong lòng người con gái trẻ. Đôi mắt cô lấp lánh niềm tin. Nhưng trước khi vươn tới kế hoạch dài hơi đầy hứa hẹn ấy, cô biết rõ mình phải vượt qua cửa ải sinh tử của buổi sáng ngày hôm nay: đối mặt với bản hợp đồng thuê nhà và sự hoài nghi gay gắt của bà Tư Lành.

Tiếng gà gáy le te cất lên từ một khoảng sân sau dãy phố báo hiệu màn đêm sắp tàn. Gió sớm bắt đầu thổi qua những khe hở của vách ván ép, mang theo hơi sương lạnh buốt và mùi ngai ngái của đất ướt sau cơn mưa đêm dài.

Ánh sáng vàng vọt, mờ ảo của rạng đông bắt đầu len lỏi qua ô cửa thông gió nhỏ trên gác lửng, nhuộm một vệt sáng bàng bạc lên xấp giấy dự toán chi chít những con số mà Tuệ Anh vừa hoàn thành. Đôi mắt cô cay xè vì khói đèn dầu và cả một đêm dài thức trắng, các khớp ngón tay cứng đờ lại vì nắm chặt quản bút suốt nhiều giờ liền. Cô khẽ vươn vai, hít một hơi sâu để xua tan cảm giác mệt mỏi đang đè nặng lên đôi vai gầy.

Bỗng nhiên, từ chiếc thang gỗ ọp ẹp nối tầng trệt lên gác lửng vang lên những tiếng bước chân rón rén, khẽ khàng hết mức có thể để không làm kinh động đến sự tĩnh mịch của buổi sớm mai.

Một cái đầu bù xù nhô lên khỏi mép sàn gác. Đó là Vĩnh.

Trên người anh vẫn là chiếc áo sơ mi bạc màu đã sờn rách ở cùi chỏ, chiếc quần tây lấm lem bụi gỗ và vôi vữa từ hôm qua. Gương mặt anh phảng phất nét mệt mỏi của một người cũng vừa trải qua một đêm dài trăn trở không ngủ, nhưng ánh mắt khi nhìn thấy Tuệ Anh vẫn ngồi bên bàn đèn dầu lại ngập tràn vẻ lo lắng, xót xa.

"Cô... cô thức trắng đêm đấy à?" Vĩnh khẽ hỏi, giọng anh hơi khàn đặc vì sương sớm.

Tuệ Anh giật mình, vội vàng gấp nhẹ góc tờ giấy dự toán lại, ngẩng đầu lên nở một nụ cười gượng gạo để che giấu sự kiệt sức: "Tôi rà soát lại sổ sách một chút để chuẩn bị nói chuyện với bà Tư. Sao anh dậy sớm thế?"

Vĩnh không trả lời ngay. Anh bước hẳn lên sàn gác, hai bàn chân trần đi nhẹ như mèo để không làm ván sàn phát ra tiếng cót két. Trên tay anh là một chiếc ly thủy tinh da cam cũ kỹ bốc khói nghi ngút, tỏa ra mùi hương thanh khiết, thơm nồng của trà móc câu Thái Nguyên quyện với một lát gừng tươi đập dập.

"Trời gần sáng trở lạnh lắm. Dưới bếp còn ấm nước sôi của bác Trịnh gửi hôm qua, tôi pha cho cô một ly trà nóng với gừng để ấm bụng," Vĩnh nói, bước lại gần chiếc bàn gỗ nhỏ và cẩn thận đặt ly trà xuống bên cạnh ngọn đèn dầu sắp cạn bấc. "Uống một ngụm đi cho đỡ nhức đầu. Sắc mặt cô tái nhợt hết cả rồi."

"Cảm ơn anh, Vĩnh. Anh chu đáo quá," Tuệ Anh đón lấy ly trà, hơi ấm từ thành thủy tinh lập tức truyền qua lòng bàn tay đang lạnh cóng của cô, làm tan đi phần nào sự tê dại nơi các đầu ngón tay. Cô đưa ly lên nhấp một ngụm nhỏ; vị chát dịu đầu lưỡi nhanh chóng nhường chỗ cho vị ngọt hậu sâu lắng và cái cay nồng dễ chịu của gừng tươi lan tỏa khắp lồng ngực, đánh thức từng tế bào đang mệt mỏi.

Trong khoảnh khắc đưa chiếc ly lên mặt bàn, ánh mắt tinh tường của một biên tập viên quen quan sát chi tiết nhỏ nhặt của Tuệ Anh bỗng bắt gặp một chuyển động bất thường nơi Vĩnh.

Khi cúi người đặt ly trà xuống, Vĩnh chỉ dùng bàn tay trái. Còn bàn tay phải của anh—ngay khi vừa chạm vào mép bàn gỗ—đã vội vàng rụt lại thật nhanh, rồi giấu biến ra sau lưng áo sơ mi một cách đầy gượng gạo và lúng túng.

Sự cảnh giác và nhạy cảm trỗi dậy, Tuệ Anh lập tức ngẩng phắt lên nhìn thẳng vào mắt người thanh niên: "Tay phải anh bị làm sao thế?"

"Đâu... đâu có gì đâu," Vĩnh cười gượng, lùi lại nửa bước, cố tình xoay nửa người sang hướng khác để che chắn tầm nhìn của cô. "Chỉ là... dính chút bụi bẩn dưới sàn thôi mà."

"Anh đưa tay ra đây cho tôi xem!" Giọng Tuệ Anh đột nhiên trở nên nghiêm nghị, có chút gì đó kiên quyết và quyền uy mà chính cô cũng không nhận ra—thói quen quản lý dứt khoát của một người từng phụ trách cả một ban biên tập ở thời hiện đại bỗng chốc bộc lộ.

Thấy ánh mắt không hề có ý nhượng bộ của cô gái trẻ, Vĩnh biết mình không thể giấu thêm được nữa. Anh thở dài một hơi đầy bất lực, chầm chậm đưa bàn tay phải ra khỏi vạt áo sau lưng.

Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu pha lẫn ánh rạng đông bàng bạc le lói qua khe cửa, Tuệ Anh không khỏi hít vào một hơi lạnh, tim cô thắt lại đau nhói.

Lòng bàn tay phải của Vĩnh chằng chịt những vết xước dọc ngang, nhưng nghiêm trọng nhất là ở phần thịt gồ lên dưới ngón tay cái: một chiếc dằm gỗ thông pallet sắc nhọn, to bằng nửa que tăm, cắm sâu hoắm vào lớp da thịt, làm rách một mảng da và khiến máu tươi rỉ ra, đọng lại thành một vệt đỏ thẫm đã bắt đầu khô cứng quanh miệng vết thương sưng tấy. Rõ ràng là trong đêm qua, khi cô miệt mài với những con số trên gác lửng, Vĩnh đã một mình âm thầm dùng cưa tay và đục mộng để xử lý sơ bộ các thanh giằng gỗ dưới sàn tiệm tối om nhằm tiết kiệm thời gian cho ngày thi công chính thức.

"Anh bị dằm đâm sâu thế này từ lúc nào mà không nói?!" Giọng Tuệ Anh run lên, vừa xen lẫn sự xót xa vừa có chút hờn giận trước sự bướng bỉnh và chịu đựng âm thầm của anh. "Vết thương này nếu để nhiễm trùng mưng mủ thì làm sao cầm cưa cầm đục được nữa?"

"Hồi nửa đêm, lúc tôi cưa thử cái mộng mang cá dưới ánh đèn pin... sơ ý quẹt phải cạnh gỗ xơ," Vĩnh lí nhí phân trần, mặt anh hơi đỏ lên vì ngượng ngùng khi bị cô bắt quả tang. Anh vội vàng rụt tay lại như sợ vết thương làm bẩn chiếc bàn sách tinh tươm của cô. "Vết xước nhỏ ngoài da thôi mà, dân làm mộc chúng tôi bị dằm đâm là chuyện thường ngày ở huyện, cô bận cả đống việc lớn để lo cho tiệm, bận tâm mấy cái chuyện vặt vãnh này làm gì..."

"Vết thương này mà là chuyện vặt à?!"

Tuệ Anh gắt khẽ, không để anh kịp thanh minh thêm một lời nào. Cô lập tức đứng dậy, mở ngăn kéo chiếc tủ thuốc gia đình nhỏ treo trên vách gác—thứ cô đã cẩn thận gom góp từ hôm dọn kho—lấy ra một lọ cồn đỏ sát trùng, một cuộn băng gạc y tế và chiếc nhíp kim loại nhỏ.

"Ngồi xuống đây!" Cô chỉ vào chiếc ghế đẩu đối diện, giọng nói không cho phép chối từ.

Vĩnh nhìn vẻ mặt nghiêm nghị nhưng ánh mắt lại ngập tràn sự quan tâm chân thành của Tuệ Anh, đành ngoan ngoãn ngồi xuống chiếc ghế gỗ thấp, dáng người cao lớn của anh bỗng trở nên co ro, lúng túng trước cô gái nhỏ nhắn.

Tuệ Anh kéo chiếc ghế lại gần, nhẹ nhàng cầm lấy cổ tay Vĩnh đặt lên đùi mình. Bàn tay của người sinh viên kiến trúc nghèo thô ráp, chai sần bởi những năm tháng cầm thước, đẩy cưa và lao động cực nhọc, đối lập hoàn toàn với những ngón tay mềm mại, thon dài của cô. Nhưng ngay khoảnh khắc những ngón tay cô chạm vào làn da thô ráp ấy, Tuệ Anh cảm nhận được một luồng điện ấm áp khẽ giật lùi nơi đầu ngón tay, và bắp tay Vĩnh khẽ gồng cứng lại vì ngượng ngùng.

"Sẽ hơi rát một chút đấy, anh cắn răng chịu khó nhé," cô khẽ thì thầm, hơi thở ấm áp phả nhẹ lên bàn tay anh.

Tuệ Anh dùng đầu nhíp khéo léo gắp lấy chiếc dằm gỗ thông cắm sâu trong thớ thịt. Vĩnh khẽ rùng mình một cái, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau phát ra tiếng ken két, nhưng tuyệt nhiên không hé răng kêu một tiếng đau đớn nào, đôi mắt anh chỉ chăm chú nhìn vào từng lọn tóc mai buông xõa bên gò má thanh tú đang ửng hồng dưới ánh đèn của Tuệ Anh.

Khi chiếc dằm gỗ sắc nhọn được rút ra cùng một giọt máu tươi, Tuệ Anh thở phào nhẹ nhõm. Cô cẩn thận chấm bông gòn tẩm cồn đỏ lau sạch miệng vết thương rồi dùng băng gạc băng lại cẩn thận, thắt một nút bướm gọn gàng trên mu bàn tay anh.

"Xong rồi đấy. Từ giờ đến chiều cấm anh không được chạm vào nước bẩn, nghe chưa?" Tuệ Anh ngẩng lên, nhìn thẳng vào mắt Vĩnh dặn dò.

Khoảng cách giữa hai gương mặt lúc này gần đến mức Vĩnh có thể ngửi thấy mùi hương bồ kết dịu nhẹ vương trên mái tóc cô, và Tuệ Anh cũng nhìn thấy rõ hình bóng phản chiếu của chính mình trong đôi mắt nâu sâu thẳm, chất chứa biết bao điều chưa dám ngỏ của người con trai Tiền Giang. Không gian gác lửng bỗng chốc rơi vào một khoảng lặng kỳ lạ, chỉ còn lại tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ cơ cổ và tiếng gió sớm reo vui ngoài hiên.

Vĩnh luống cuống rút tay lại, cúi đầu nhìn dải băng trắng tinh trên tay mình, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười ngây ngô: "Cảm ơn cô... Tay cô mát thật đấy."

Tuệ Anh cũng cảm thấy hai má mình nóng bừng lên một cách kỳ lạ. Để xua đi sự bối rối đang dâng lên trong lồng ngực, cô vội vàng thu dọn lọ cồn đỏ và với tay lấy tập hồ sơ dự toán hai cột vừa hoàn tất trên bàn, cẩn thận lồng nó vào chiếc bìa kẹp bằng bìa cứng màu xám.

Ánh mặt trời đầu tiên của ngày mới đã bắt đầu xuyên qua những đám mây xám sau cơn mưa dông, rót những dải lụa vàng óng ánh xuống con đường Trần Nhân Tôn. Tiếng xe đạp lách cách của những người đi chợ sớm, tiếng rao bánh mì giòn tan và tiếng mở cửa sắt của các cửa hiệu lân cận vang lên rộn rã, báo hiệu một ngày mới đầy cam go nhưng cũng chan chứa hy vọng đã chính thức bắt đầu.

Tuệ Anh đứng dậy, chỉnh lại tà áo sơ mi trắng thẳng thớm, hít một hơi thật sâu để nạp đầy lồng ngực không khí trong lành của buổi sớm mai năm 1996. Sự yếu đuối, hoang mang của một kẻ lạc lõng giữa hai thời đại đã hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho bản lĩnh kiên cường của một người đang chiến đấu vì sự sống còn của mái nhà chung tiệm Mộc.

Sáng sớm hôm sau, Tuệ Anh đem tập hồ sơ đến gõ cửa nhà bà Tư Lành với vẻ mặt kiên định.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn