Đặt móng điền trang và phân khu chế biến sạch
Ánh nắng sớm rọi xuống vạt đất gò năm mẫu ven Khe Thanh, nơi những hàng cọc tre chăng dây vôi trắng xóa vạch nên hình hài đầu tiên của khu xưởng gia truyền.
Hơi sương mỏng manh bốc lên từ mặt dòng khe róc rách, quấn quýt lấy những bụi lau sậy trổ cờ xám bạc, rồi hòa dần vào làn gió mát rượi thổi qua rặng dâu da đang mùa trút lá ven sườn núi Thanh Lĩnh. Đứng giữa trung tâm khu đất gò thoai thoải cao ráo, Diệp Tiểu Mãn khẽ đưa tay chỉnh lại chiếc trâm gỗ đào khắc nhành hoa đậu nành trên búi tóc gọn gàng. Chiếc trâm bóng mịn ánh lên sắc nâu đỏ ấm áp dưới ánh ban mai trong trẻo. Vạt áo chẽn bằng vải thô nhuộm củ nâu được nàng vén gọn ghẽ, hai ống tay áo buộc túm bằng dải lụa hẹp để tiện bề đi lại, quán xuyến. Trong tay nàng cầm một chiếc thước tầm bằng tre cật đã nhẵn thín vì năm tháng và bản vẽ quy hoạch xưởng chế biến do chính Tạ Cảnh thức trọn mấy đêm mài mực, nắn nót từng nét chu sa, mực tàu chuẩn xác.
Trước mặt nàng, hơn mười thợ nề và trai tráng trong thôn đang hăng hái vung cuốc chim, xẻng sắt và choòng thép. Từng mảng đất sét pha sỏi gan gà được xới tung, để lộ những đường hào móng sâu ba thước vuông vức chạy dọc theo những sợi dây gai căng phẳng phiu phủ bột vôi trắng. Mùi đất mới ẩm ướt, ngai ngái xộc lên mũi, quyện với mùi mồ hôi mặn mòi của những người nông dân đã quen lấy sức dài vai rộng làm kế sinh nhai.
Bác thợ cả Trương buông chiếc cuốc chim cắm phập xuống bờ đất, rút chiếc khăn vải bố dắt bên hông quệt vệt mồ hôi đang rịn thành dòng trên vầng trán nhăn nheo. Ngẩng đầu nhìn Tiểu Mãn, người thợ già nở nụ cười xởi lởi, giọng khàn khàn sang sảng:
“Tiểu Mãn cô nương, rãnh móng khu nhà chính chúng tôi đã đào sâu đủ ba thước đúng như giao hẹn rồi đấy nhé. Cô nương nhìn xem, đất gò này đanh chắc, càng xuống sâu lại càng lộ tầng đá ong nâu sẫm, nền móng vững như bàn thạch thế này thì dẫu có dựng nhà lầu ba tầng cũng chẳng sợ nghiêng ngả. Nhưng mà thú thật, cánh thợ già chúng tôi bấy lâu nay đi dựng nhà khắp mấy tổng quanh vùng, chưa từng thấy ai cẩn thận đến mức kỳ lạ như cô nương. Nhà xưởng ở nông thôn người ta chỉ cần đào nông một thước rưỡi, phạt phẳng đất, chôn chân cột gỗ lim kê tảng đá tảng là đã đứng vững trơ trơ mấy mươi năm mưa nắng rồi. Đằng này cô nương bắt đào sâu hoắm, lại đòi kè đá hộc kỹ càng, giật cấp chèn vữa tam hợp chẳng khác nào xây chân tường thành vậy!”
Tiểu Mãn bước tới bên mép hào, mũi giày cỏ dẫm chắc trên nền đất xới. Nàng cúi người quan sát tỉ mỉ từng thớ đất, từng mạch sỏi ẩn dưới đáy rãnh, cẩn thận dùng chiếc thước tầm gióng thẳng xuống đáy móng để đo lại độ sâu, rồi mới ngẩng lên mỉm cười giải thích rành rọt:
“Bác Trương ơi, xưởng tương dưa của cháu không giống như nhà ở hay kho chứa củi bình thường. Nhà ở thì tải trọng chia đều theo cột, người đi lại nhẹ nhàng, đồ đạc cũng chẳng nặng là bao. Nhưng sau này, khu xưởng chính này sẽ là nơi đặt hàng chục, thậm chí hàng trăm chiếc chum sành đại cỡ. Mỗi chiếc chum chứa hàng trăm cân tương nước, hàng trăm cân dưa cải nén chặt cùng đá tảng đè bên trên. Tải trọng dồn xuống mặt đất không phải là vài nghìn cân, mà là hàng vạn cân đè nặng qua năm này tháng khác. Hơn nữa, dải đất gò này tuy cao ráo nhưng lại nằm kề ngay Khe Thanh. Vào mùa lũ tháng sáu tháng bảy, nước nguồn từ đại ngàn đổ về cuồn cuộn, tuy không bao giờ ngập tới đỉnh gò nhưng mạch nước ngầm tầng đáy sẽ dâng cao, làm mềm chân đất. Nếu móng không chôn sâu đá hộc, qua vài ba mùa mưa bão, nền đất ngậm nước sụt lún không đều, tường gạch sẽ nứt toác, chum tương nghiêng đổ thì bao nhiêu cơ nghiệp đổ xuống sông xuống biển hết.”
Nàng dừng lại một nhịp, đưa tay chỉ xuống đáy rãnh móng, giọng điệu càng thêm kiên định:
“Chính vì thế, cháu muốn các bác xếp đá hộc chèn vôi vữa thành ba lớp giật cấp thật khít khao, sau đó rải lớp cát vàng dày nửa thước nện vồ cho thật chặt rồi mới bắt đầu xây gạch chỉ lên trên. Móng có sâu, đá có chắc thì trăm năm sau xưởng tương mới không lo nứt tường lún vách. Cháu làm xưởng này là tính kế lâu dài cho con cháu, không thể vì bớt chút công đào mà làm ẩu được bác ạ.”
Bác thợ cả Trương chăm chú lắng nghe, đôi mắt kèm nhèm vì bụi vôi bỗng lộ rõ vẻ thán phục. Bác vỗ đùi đánh đét một cái, gật đầu tấm tắc:
“Chà, cô nương nghĩ xa thật! Đúng là miệng người làm ăn lớn có khác, tính trước cả chục năm, trăm năm chứ chẳng chơi. Người ngoài nhìn vào chỉ thấy cô nương là phận nữ nhi mười bảy tuổi, nào ngờ cái đầu lại sắc sảo, am tường phong thổ công trình đến bậc này. Được rồi, đã nghe cô nương phân giải chí lý thế này thì cánh thợ chúng tôi dẫu có tốn thêm mồ hôi, sưng thêm mấy ngón tay vì vần đá hộc cũng cam lòng. Cứ yên tâm, chúng tôi sẽ lựa những tảng đá xanh, đá hộc già nhất, xếp khít khao không để hở nửa kẽ nứt cho cô nương nghiệm thu!”
“Cháu cảm ơn bác Trương và các anh em thợ,” Tiểu Mãn giơ tay chỉ về ba hướng khác nhau của khu đất năm mẫu, ánh mắt nàng quét qua từng góc bờ vùng ranh giới, giọng nói trở nên dứt khoát và nghiêm cẩn khác thường: “Nhưng còn một việc hệ trọng hơn cháu phải nhắc lại với các bác thợ để lúc thi công không ai được làm sai một tấc. Toàn bộ công trình này phải tuân thủ nghiêm ngặt quy hoạch ba khu tách bạch mà cháu và Tạ huynh đã vẽ rõ trong sơ đồ. Thứ nhất, khu chuồng trại gia súc nuôi trâu kéo và lợn, gà dứt khoát phải đặt ở góc đông nam, tít cuối hướng gió mùa hạ lẫn gió bấc mùa đông. Nơi đó phải cách biệt hoàn toàn với xưởng chính bởi một bờ tường cao bảy thước và hàng dâm bụt rậm rạp trồng kép hai hàng. Tuyệt đối không để một luồng gió mang mùi xú uế hay một con ruồi muỗi nào từ chuồng trại bay tạt vào khu xưởng. Thứ hai, giếng nước ngầm ở góc bắc phải đào sâu bốn trượng chạm tới tầng đá cuội đáy núi, kè thành giếng bằng toàn bộ đá cuội suối đã rửa sạch tinh tươm và lót ba tầng cát vàng, sỏi nhỏ để lọc nước. Nước làm tương, muối dưa phải là nguồn nước thanh khiết nhất của đất trời. Và thứ ba, toàn bộ khu chế biến, khu ủ tương và sân hong phơi phải nằm trọn trên đỉnh gò cao ráo nhất này. Nước bẩn từ xưởng rửa nguyên liệu phải theo rãnh thoát nước ngầm xây nghiêng có nắp đậy dẫn thẳng ra mương tiêu xa tít ngoài bãi sậy, không được để đọng lại một giọt nào quanh khu ủ men.”
Mấy người thợ nề đang nghỉ tay uống nước chè xanh bên gốc cây nghe nàng cắt đặt đâu ra đấy, ai nấy đều thầm rùng mình kính nể. Một cô gái tuổi đời còn rất trẻ, ngày thường gặp ai cũng tươi cười chào hỏi dịu dàng, ăn nói khiêm nhường dễ mến, nhưng khi bắt tay vào việc đại sự lại có đôi mắt tinh tường, nguyên tắc rạch ròi đến từng chi tiết nhỏ như một vị tướng lĩnh đốc thúc quân doanh. Ở cái thôn Thanh Khê này, từ bao đời nay nhà nào làm dưa làm tương cũng tiện đâu đặt đấy, chuồng lợn chuồng bò sát cạnh vại muối cải, ruồi bọ vo ve quanh miệng chum là chuyện thường tình. Chỉ có xưởng của Diệp gia mới đặt ra quy chuẩn vệ sinh khắt khe, sạch sẽ đến mức một hạt bụi bẩn hay một mùi lạ cũng khó lòng lọt qua.
Rời khu móng chính ngổn ngang gạch đá, Tiểu Mãn cất bước rảo qua con đường mòn phủ rơm khô sang khu đất phía tây, nơi các thợ mộc đang cặm cụi dựng khung rui mè cho gian xưởng ủ.
Khu vực này chính là tâm huyết lớn nhất mà nàng và Tạ Cảnh đã dày công nghiên cứu bản thảo suốt nhiều đêm dưới ánh đèn dầu le lói. Từng kích thước, từng hướng mở cửa đều được đúc kết từ những dòng chữ nhỏ ghi chép tỉ mỉ trong cuốn sổ tay bìa da dê đã ố vàng của bà ngoại Lâm Thu Bà, kết hợp nhuần nhuyễn với các quy chuẩn vệ sinh thực tế mà Tiểu Mãn không ngừng trăn trở cải tiến.
Đầu tiên là gian hấp đậu nành. Thay vì dùng một bếp lò đơn lẻ un khói mù mịt, tro than bay tứ tán bám đầy quần áo và nguyên liệu như các bếp lò gia đình trước đây, nàng đã thuê thợ nề lành nghề xây hẳn một hệ thống lò đôi cải tiến tiết kiệm củi lửa. Thân lò đắp bằng những viên gạch chịu lửa dày dặn, bên ngoài trát kỹ một lớp đất sét dẻo quánh trộn với rơm mục băm nhỏ và mật mía nguyên chất. Thứ vữa cổ truyền này khi khô lại sẽ đanh chắc như sành, giữ nhiệt cực tốt mà không bao giờ nứt toác dưới sức nóng ngùn ngụt. Bên trong lòng lò, những đường dẫn nhiệt uốn lượn theo hình vòng tròn thông suốt giữa hai cửa lò, giúp ngọn lửa khi bùng lên có thể luân chuyển tuần hoàn, tận dụng triệt để hơi nóng mà không lãng phí củi gộc.
Mặt trên của lò đôi được khoét hai họng lớn tròn xoe, kích thước vừa khít với đáy hai chiếc chõ hấp khổng lồ đóng bằng gỗ mít già dày tới hai tấc. Gỗ mít có tính chất bền bỉ, không cong vênh khi gặp nhiệt độ cao, lại tỏa ra mùi thơm dịu nhẹ thoang thoảng giúp hạt đậu đượm hương. Đáy mỗi chõ lót một tấm vỉ nan tre đan mắt cáo đều đặn, cho phép luồng hơi nước sôi sùng sục từ nồi đồng bên dưới bốc thẳng lên, thẩm thấu qua từng lớp hạt mà không làm đậu bị nhão nát. Độc đáo nhất chính là ống khói lò được xây cao vượt khỏi mái ngói bốn thước, vươn thẳng lên trời xanh. Miệng ống khói gắn mũ che gió, dẫn toàn bộ khói bụi và tro tàn thoát thẳng lên không trung, tuyệt đối không để muội than hay mùi khói bám vào từng hạt đậu nành đang ngậm sáp chín tới tròn căng bên trong chõ.
Kế bên gian hấp đậu, ngăn cách bởi một bức tường gạch dày cách nhiệt, chính là phòng nuôi mốc men hoa cau – nơi được ví như trái tim, linh hồn của toàn bộ khu xưởng. Nơi đây được thiết kế khoa học và tỉ mỉ đến mức khiến bác thợ mộc già lành nghề nhất vùng cũng phải chắp tay trầm trồ thán phục. Toàn bộ sàn nhà và vách tường phòng nuôi mốc đều được ốp kín bằng những tấm ván gỗ thông xẻ dày, bề mặt được bào nhẵn thín không còn một dằm xơ nhỏ, sau đó quét ba lớp dầu trẩu nguyên chất để chống ẩm mốc tự nhiên. Gỗ thông vốn có mùi thơm thanh nhẹ, nhựa thông lại có khả năng xua đuổi ruồi muỗi, bọ nhặng và các loại côn trùng gây hại một cách tự nhiên mà không cần dùng đến bất kỳ thứ hóa chất nào.
Phía trên bờ tường cao ngang tầm ngực, Tiểu Mãn bố trí những ô cửa chớp thông gió hai chiều đối xứng nhau qua trục bắc nam. Mặt trong của các khung cửa sổ này đều được bọc hai lớp rèm lưới sợi gai dệt mịn như lụa mỏng. Lớp lưới gai đan dày này cho phép làn gió trời mát lành mang theo dưỡng khí lưu thông liên tục suốt ngày đêm, giữ cho nhiệt độ và độ ẩm trong phòng nuôi mốc luôn ở mức ấm áp, ổn định như ấp trứng. Nhưng đồng thời, đến một hạt bụi li ti hay một con ruồi mắt trâu cũng không thể nào tìm được kẽ hở để chui vào phá hoại. Giữa phòng, những dãy kệ gỗ nhiều tầng vững chãi làm bằng gỗ xoan ngâm đóng mộng mang cá được xếp song song thẳng tắp, mỗi tầng cách nhau đúng một thước rưỡi, sẵn sàng đón hàng chục chiếc nong tre lớn tãi mỏng hạt mầm lên men hoa cau vàng tơi xốp.
Phía trước xưởng ủ là một khoảng sân rộng mênh mông chiếm hơn nửa mẫu đất, được san phẳng lì như mặt gương và lát toàn bộ bằng gạch nung đỏ đanh chín. Từng viên gạch chỉ màu đỏ sẫm, vuông vức sắc cạnh được những người thợ nề tài hoa xếp chéo hình xương cá đều đặn, mạch vữa tam hợp trét kín khít, miết phẳng lì không để lộ một gờ nổi hay một kẽ hở nào cho rêu phong bám rễ. Dưới ánh nắng chói chang của buổi sớm, khoảng sân gạch nung đỏ rực rỡ bốc lên hơi ấm khô ráo đặc trưng của đất nung qua lửa lớn.
Đây chính là khoảng không gian chuyên dụng để hong phơi nguyên liệu: từ những nong đậu nành vàng óng sau khi đồ chín tới cần ráo vỏ, những mớ cải sen dày bẹ tươi non mơn mởn vừa hái từ sáng sớm ngoài bãi bồi, cho đến những củ kiệu trắng muốt ngậm sương đêm được rửa sạch tinh tươm dưới dòng nước giếng đá.
Tiểu Mãn bước đi chầm chậm trên nền gạch ấm áp, nghe tiếng bước chân gõ nhẹ giòn tan dưới đế giày cỏ, trong lòng nàng trào dâng một cảm giác vững chãi và xúc động khôn tả. Ký ức về những ngày đầu tiên lập nghiệp bỗng chốc ùa về rõ mồn một. Nàng nhớ lại những ngày đông giá rét hay những trưa hè oi ả trong gian bếp đất chật chội, xiêu vẹo của căn nhà cũ. Khi ấy, mỗi lần phơi được vài nong mốc men hay đôi vại dưa cải, nàng lại phải vừa làm vừa ngửa cổ ngóng trời, nơm nớp lo sợ chỉ một đám mây đen kéo tới, một cơn mưa rào bất chợt hay một trận gió cuốn bụi đường bay qua là toàn bộ công sức, mồ hôi và vốn liếng tích cóp bấy lâu sẽ tan thành mây khói. Giờ đây, đứng giữa mảnh đất gò ven khe từng trơ trụi sỏi cằn năm nào, chứng kiến một cơ ngơi khang trang, bề thế, sạch sẽ và quy củ mọc lên từng ngày dưới bàn tay chung sức của cả gia đình, nàng biết rằng con đường gian nan nhất đã ở lại phía sau.
Đang mải miết cúi nhìn kiểm tra độ phẳng của mép sân gạch tiếp giáp với bờ rãnh tiêu, từ phía khúc quanh bờ sông bỗng vọng lại tiếng tù và bằng vỏ ốc trầm đục, âm vang, xé toang bầu không khí tĩnh lặng của buổi sớm, kèm theo đó là tiếng mái chèo khua nước bì bõm dồn dập.
“Tiểu Mãn ơi! Tiểu Mãn ơi! Thuyền gốm tới rồi! Mau ra bến Liễu Kiều nhận hàng đi thôi!”
Tiếng gọi sang sảng, giòn giã quen thuộc của Trần A Lan vang lên từ con đường mòn rợp bóng tre ngà dẫn ra bến sông. Tiểu Mãn giật mình ngẩng đầu lên, vội vã nhét chiếc thước tầm vào dải thắt lưng vải thô bên hông, chỉnh lại vạt áo rồi rảo bước nhanh thoăn thoắt ra ngõ đón bạn.
Tại bến Liễu Kiều, dòng nước Khe Thanh sau khi lượn qua những bãi ngô xanh mướt đang đổ ầm ào ra dòng sông lớn đỏ nặng phù sa. Ba chiếc thuyền nan lớn đáy bằng chở hàng nặng trĩu, mớn nước ngập sâu gần sát mép be thuyền, đang từ từ bẻ lái ghé mạn vào hàng cọc cừ bằng gỗ lim cắm sâu bên mố cầu đá cổ. Trên khoang thuyền, từng chiếc chum sành da lươn màu nâu hạt dẻ sáng bóng xếp san sát nhau thành từng hàng đều đặn. Giữa các khe chum được chèn chặt bằng những bó rơm nếp khô vàng óng, thơm mùi đồng bãi, ngăn cho những khối đồ sành không va chạm sứt mẻ khi vượt qua những khúc ghềnh thác cuộn sóng.
Đứng sừng sững ở mũi chiếc thuyền đi đầu là Đào Tam Nương. Người nữ thợ gốm vùng Nam Bãi quấn chiếc khăn chàm xanh thẫm gọn ghẽ trên mái tóc hoa râm, hai vạt áo ngắn buộc túm ngang hông để lộ cánh tay rắn rỏi, gân guốc sạm màu nắng gió. Vừa nhìn thấy bóng dáng Tiểu Mãn bước nhanh xuống dốc bến đá, bà lập tức giơ cánh tay áo rộng vẫy mạnh, cất giọng sang sảng át cả tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền:
“Tiểu Mãn cô nương! Lò gốm Nam Bãi của ta giữ đúng lời hẹn ước, không phụ lòng tin của cô nương đâu nhé! Suốt mười ngày mười đêm đỏ lửa lò rồng, cả phường gốm chúng ta thay nhau canh lửa, chỉnh gió, năm mươi chiếc chum ngấn nước da lươn nắp khít cỡ đại của cô nương đã ra lò trọn vẹn! Đều đặn, nuột nà, không nứt một góc, không rạn một ly nào hết!”
Tiểu Mãn bước từng bước vững chãi xuống mép bậc đá xanh rửa chân bên bến sông, hai mắt nàng sáng ngời niềm vui mừng khôn xiết, khóe môi nở nụ cười rạng rỡ:
“Tam Nương vất vả quá rồi! Ba chuyến thuyền lớn chở nặng, ngược dòng từ trấn Nam Bãi về tận chốn này giữa lúc con nước sông đang cuộn xiết thế này, thật sự làm phiền các bác, các chú thợ thuyền quá đỗi.”
“Có gì mà phiền với hà!” Đào Tam Nương cười lớn, thân hình nhanh nhẹn nhảy phắt từ mũi thuyền lên bờ đá nhẵn thín, chiếc thắt lưng vải gai rung rung theo từng cử động dứt khoát. Bà đưa bàn tay thô ráp, chai sần vì đất sét vỗ mạnh vào vai Tiểu Mãn, giọng hào sảng: “Làm nghề gốm đất sét này ngót nghét bốn chục năm trời, nung qua không biết mấy vạn mẻ bát đĩa, chum vại, nhưng hiếm khi ta gặp được người khách nào hiểu nghề, hiểu men và trân trọng từng đường thớ đất như cô nương. Mẫu chum ngấn nước khóa khí này do thư sinh Tạ Cảnh vẽ kiểu dáng tỉ mỉ từng tấc, cô nương lại đặt ra tiêu chuẩn nghiêm ngặt từ độ dày thành chum cho đến độ khum của nắp. Lò gốm chúng ta khi mở cửa lò mẻ này, các thợ già ai nấy đều xúm lại ngắm nghía, tấm tắc khen ngợi không dứt lời. Cả năm mươi chiếc chum này đều được nhào nặn từ đất sét xám tầng ba dưới đáy lòng sông, phơi sương ba độ, lọc bỏ từng hạt sạn nhỏ rồi phối thêm mười phần bột đá nghiền mịn để tạo độ đanh. Chúng ta cho vào lò bầu nung ròng rã suốt mấy ngày đêm, giữ nhiệt đủ một nghìn hai trăm độ lửa nung chảy men. Men da lươn phủ dày hai lớp bóng lộn, cô nương cứ gõ thử mà xem, tiếng kêu đanh như chuông đồng nhà chùa!”
Nói đoạn, Đào Tam Nương quay người lại phía khoang thuyền, cất tiếng hô to ra hiệu cho bốn gã lực điền vạm vỡ, bắp tay cuồn cuộn. Họ luồn hai chiếc đòn khiêng bằng gỗ nghiến lót đệm rơm dày qua đáy chiếc chum đầu tiên, cẩn thận hợp sức nhấc bổng chiếc chum sành lên, nhịp nhàng bước qua ván cầu đưa lên đặt vững chãi trên bờ đá bến sông.
Chiếc chum sành đại sừng sững cao ngang hông người lớn, bụng phình tròn đều tăm tắp, thành chum dày dặn hơn một tấc. Lớp men màu da lươn óng ả ánh lên những tia sáng vàng sẫm dưới ánh mặt trời rực rỡ, bề mặt mịn màng, trơn láng không hề vương một hạt sạn hay vết bọt khí li ti nào. Đặc biệt nhất là phần miệng chum: một đường rãnh ngấn nước sâu tới hai tấc rưỡi uốn quanh miệng chum như một con hào nhỏ, chiếc nắp đậy khum khum hình mai rùa úp trọn lấy toàn bộ miệng trên và nằm lọt thỏm vào lòng rãnh ngấn, tạo thành một hệ thống khóa khí tuần hoàn tuyệt hảo. Khi đổ đầy nước vào rãnh ngấn này, không khí và vi khuẩn độc hại từ bên ngoài hoàn toàn bị chặn đứng, trong khi khí lên men từ bên trong chum vẫn có thể tự đẩy bọt khí thoát ra ngoài mà không làm hư hại khối dưa tương ủ bên trong.
Dù đã nhìn thấy sản phẩm hoàn mỹ hiện ra trước mắt, Tiểu Mãn vẫn giữ nguyên tác phong cẩn trọng vốn có của mình. Nàng quay sang nhìn Đào Tam Nương, khẽ nghiêng đầu mỉm cười nhã nhặn:
“Tam Nương, buôn có bạn bán có phường, việc giao nhận đồ sành sứ đồ gốm bao đời nay vẫn có quy củ nghiêm ngặt. Cháu xin phép được thử nước và kiểm tra độ kín từng chiếc chum một trước khi cho người chuyển lên xưởng nhé?”
“Cứ tự nhiên! Cứ thử cho thật kỹ vào!” Đào Tam Nương hào sảng phất mạnh tay, tự mình bước tới xách chiếc gáo dừa cán dài treo bên mạn thuyền đưa cho Tiểu Mãn, giọng đầy tự tin: “Vàng thật không sợ lửa đỏ, chum chuẩn chỉ của đất Nam Bãi không sợ nước giếng đá! Cô nương cứ thử nghiệm cho cẩn thận, chỉ cần rò rỉ một giọt nước hay nắp vênh nửa sợi tóc, Đào Tam Nương này đền gấp đôi số tiền cọc!”
Tiểu Mãn đón lấy gáo dừa, cùng với Trần A Lan nhanh nhẹn múc từng thùng nước khe trong vắt, mát lạnh đổ đầy ắp vào lòng chiếc chum sành đầu tiên. Mặt nước dâng cao đến tận mép miệng trong. Tiểu Mãn cúi rạp người xuống, đôi mắt tinh anh chăm chú soi xét từng đường tiếp giáp giữa đáy và thành chum, rà soát từng khúc lượn quanh hông chum để đảm bảo lớp đất nung đã chảy đều, không có bất kỳ kẽ nứt ngầm nào. Tiếp đó, nàng nhận lấy một que hương trầm từ tay A Lan, châm lửa cho khói bốc lên nghi ngút rồi cẩn thận hơ vòng quanh mép ngoài của chiếc nắp mai rùa đang úp trên rãnh ngấn nước.
Làn khói trầm thơm ngát uốn lượn lững lờ men theo gờ đá, mềm mại bay thẳng lên không trung mà không hề bị hút ngược vào bên trong hay bị luồng khí ngầm nào thổi tạt ra ngoài. Điều đó chứng tỏ độ khít khao giữa nắp và miệng chum đã đạt tới mức tuyệt đối. Nước múc đầy chum được ngâm suốt hơn nửa khắc đồng hồ, bề mặt men da lươn bóng loáng bên ngoài vẫn khô cong, mát rượi, không hề rịn ra dù chỉ một chấm ẩm li ti nhỏ như đầu mũi kim.
“Tốt lắm! Men chín nục từ trong ra ngoài, thớ đất nén cực kỳ đanh chắc!”
Tiểu Mãn thu que hương lại, gập ngón tay trỏ gõ nhẹ đốt xương vào thân chum.
*Boong... boong... boong...*
Âm thanh phát ra trầm hùng mà thanh thoát, ngân dài rộn rã trên mặt sông phẳng lặng, trong trẻo chẳng khác nào tiếng khánh đồng gióng lên giữa sớm mai.
Lần lượt từng chiếc, từng chiếc một trong số năm mươi chiếc chum sành cỡ đại được Tiểu Mãn, Tam Nương và A Lan tỉ mỉ múc nước thử nghiệm, kiểm tra độ khít của rãnh ngấn và nắp đậy ngay tại bến Liễu Kiều. Từng giọt nước, từng que hương, từng tiếng gõ vang đều được thực hiện cẩn trọng, nghiêm túc, không một ai tỏ vẻ sốt ruột hay muốn đốt cháy giai đoạn. Đến khi chiếc chum thứ năm mươi được gõ vang tiếng chuông thanh trong, mặt trời đã lên tới đỉnh ngọn tre ngà, tỏa ánh nắng vàng rực rỡ khắp bến sông. Toàn bộ năm mươi chiếc chum sành da lươn đều hoàn hảo mười phần, không một vết rạn, không một lỗi nhỏ.
Nhận được tín hiệu từ Tiểu Mãn, Diệp Nhị Hòa lập tức chỉ huy cỗ xe kéo hai bánh cải tiến tiến xuống bờ dốc bến đá. Cỗ xe kéo này do chính tay cậu thiếu niên và cha dày công chế tạo suốt nửa tháng qua: khung xe đóng bằng gỗ sồi rừng chắc nịch, hai bánh xe to bản bọc một lớp da trâu già đính đinh tán sắt dày đặc để giảm xóc khi đi qua đường đất gồ ghề. Nhị Hòa cùng mấy trai tráng khỏe mạnh trong xóm cẩn thận rải rơm nếp êm ái lên sàn xe, nhẹ nhàng khiêng từng chiếc chum đặt lên rồi buộc dây thừng néo chặt, luân phiên vận chuyển từng chuyến chum từ bến Liễu Kiều ngược dốc lên khu đất gò năm mẫu.
Tại gian xưởng ủ rộng thênh thang vừa lợp xong mái ngói đỏ tươi roi rói, năm mươi chiếc chum sành da lươn được xếp ngay ngắn thành từng hàng dài thẳng tắp như những hàng quân danh dự chuẩn bị bước vào trận đánh lớn. Dưới mỗi hàng chum, Tiểu Mãn dứt khoát không cho kê trực tiếp đáy sành xuống nền gạch đỏ. Nàng yêu cầu thợ đặt sẵn những thanh gỗ nghiến to bản, vuông vức đã được đẽo nhẵn và quét dầu chống mối mọt, nâng toàn bộ đáy chum cách mặt đất đúng một gang tay.
Đào Tam Nương bước vào gian xưởng ủ, hai tay chống nạnh, đưa mắt ngắm nhìn gian nhà ngập tràn ánh sáng tự nhiên với những hàng chum da lươn sừng sững, bề thế, không giấu nổi sự thán phục tự đáy lòng:
“Kê cao đáy chum cách nền một gang tay thế này, vừa giúp gió lưu thông thông thoáng dưới đáy, tránh hơi ẩm từ đất bốc lên làm chua đáy tương, lại vừa giúp người làm dễ dàng cúi xuống quét dọn, lau chùi sạch sẽ gầm chum mỗi ngày, nếu chẳng may có con chuột bọ nào rình mò chạy qua là phát hiện được ngay tắp lự. Tiểu Mãn à, con mắt tinh tường, nhìn sâu hiểu rộng và sự cẩn trọng đến từng chân tơ kẽ tóc này của cô nương, ta nói thật lòng, e rằng cánh đàn ông buôn to bán lớn ngoài huyện thành kia cũng phải nghiêng mình bái phục!”
Tiểu Mãn mỉm cười khiêm nhường, nàng khẽ cúi đầu tạ ơn người nữ thợ gốm chân chất, xốc vác:
“Tam Nương quá khen cháu rồi. Tất cả đều nhờ vào ngọn lửa chuẩn xác và tay nghề nung gốm tuyệt luân của Tam Nương cùng các bác thợ Nam Bãi mới có được dàn chum tốt và đều đặn như thế này. Có được năm mươi chiếc chum ngấn nước khóa khí này che chở, xưởng Diệp gia từ nay có thể ủ một lúc hàng nghìn thăng tương thơm và muối hàng vạn cân dưa cải bẹ mà không bao giờ phải nơm nớp lo sợ mẻ hỏng mẻ chua nữa!”
Sau khi tiễn Đào Tam Nương cùng các thợ thuyền ra về với số tiền công thanh toán sòng phẳng, đủ đầy kèm theo những giỏ bánh dày, bao gạo nếp thơm làm quà tạ lễ chu đáo, Tiểu Mãn quay trở lại khoảng sân gạch đỏ. Tiếng đục đẽo “cộc... cộc... cạch... cạch...” vang lên giòn giã, nhịp nhàng từ phía góc hiên râm mát thu hút sự chú ý của nàng.
Ở nơi góc hiên xưởng thoáng đãng ấy, Diệp Thành đang ngồi trên chiếc ghế gỗ thấp đóng bằng cật tre già. Chiếc gậy chống bằng gỗ nghiến thân thuộc được ông gác cẩn thận một bên góc cột cái. Dù một bên chân bị thương sau tai nạn kéo gỗ trên ngàn năm xưa vẫn còn hơi khập khiễng mỗi khi bước vội, nhưng vóc dáng của người cha giờ đây đã hoàn toàn rũ bỏ vẻ còng ròng, ủ rũ, tự ti của một kẻ tàn phế mặc cảm năm nào. Ngực ông nở rộng căng tràn sinh lực dưới lớp áo vải nâu sồng ướt đẫm mồ hôi, hai bắp tay gân guốc cuộn lên từng múi thịt rắn chắc, và đôi bàn tay từng một thời nổi tiếng khéo léo nhất nhì vùng thợ mộc ven sông đang thoăn thoắt điều khiển chiếc đục sắt sắc lẹm lướt trên thớ gỗ lim già.
Trước mặt ông là một công trình mộc kỳ công vừa được lắp ráp hoàn thiện: hệ thống giàn phơi củ kiệu và rau cải gắn mái trượt che mưa thần tốc.
Giàn phơi dài hơn hai trượng, gồm ba tầng giá đỡ bằng những thân tre đực già óng ả đã được ngâm bùn ao đủ ba tháng để chống mối mọt vĩnh viễn. Mỗi tầng giá đỡ có thể xếp cùng lúc hàng chục chiếc nong tre lớn tãi đầy nguyên liệu. Nhưng điểm tinh xảo và độc đáo nhất của toàn bộ công trình này lại nằm ở phần khung mái che di động bên trên. Diệp Thành đã khéo léo đẽo gọt hai đường rãnh trượt mộng gỗ hình lòng máng dài hun hút, bôi một lớp sáp ong rừng trơn tuột, chạy dài từ sâu trong lòng hiên xưởng vươn thẳng ra tận giữa khoảng sân gạch nung. Phần mái che đan bằng lá cọ dày dặn ba lớp, nhẹ bẫng nhưng không lọt một giọt nước, được gắn chặt vào một hệ thống bánh lăn bằng gỗ sồi tiện tròn xoe, nối liền với một trục quay tay và hệ thống dây thừng gai dòng qua ròng rọc kép gắn chắc trên xà ngang.
Nhìn thấy con gái lớn bước tới bên cạnh, Diệp Thành ngẩng đầu lên. Ông đưa mu bàn tay thô ráp gạt giọt mồ hôi đang lăn dài trên gò má sạm đen vì nắng gió, ánh mắt lấp lánh niềm tự hào và niềm vui sướng khôn xiết:
“Tiểu Mãn, con gái, con lại đây xem cha thử nghiệm cái giàn phơi mái trượt này xem có đúng y như ý con đã bàn với cha hôm trước không nào!”
Nói rồi, Diệp Thành chống một tay vào cột hiên, tay kia nắm chặt lấy đầu dây thừng gai bện ba dòng qua ròng rọc. Chỉ bằng một cái giật dứt khoát và lực kéo êm ái, đều đặn của cánh tay rắn rỏi, hệ thống bánh lăn và ròng rọc kép lập tức chuyển động nhịp nhàng:
*Rào... xoạt... xoạt!*
Tiếng bánh gỗ trượt trên rãnh mộng sáp ong vang lên êm ru, trơn tru không một tiếng rít. Toàn bộ khung mái che bằng lá cọ khổng lồ lập tức phóng vút từ trong bóng râm dưới mái hiên ra ngoài sân, bao trùm trọn vẹn lấy toàn bộ ba tầng giàn phơi tre nứa trong chưa đầy ba nhịp thở! Khi ông khẽ buông tay kéo ngược sợi dây hãm phụ, khung mái trượt lại ngoan ngoãn thu gọn gàng trở về vị trí cũ dưới mái hiên xưởng, nhường lại khoảng không gian thoáng đãng cho ánh nắng mặt trời chan hòa rọi xuống từng tầng nong phơi.
Trần A Lan vừa xách thùng nước đi tới, nhìn thấy cảnh tượng ấy thì há hốc mồm kinh ngạc đến mức đánh rơi cả chiếc gáo dừa xuống đất, rồi nhảy cẫng lên vỗ tay reo hò ầm ĩ:
“Trời đất ơi! Chú Diệp khéo tay quá chừng chừng! Nhanh như cắt thế này thì từ nay trở đi, dẫu trời đang nắng chang chang rực rỡ mà giông bão sấm sét đùng đùng kéo tới bất thần, chỉ cần một đứa trẻ con đứng giật dây một cái là toàn bộ củ kiệu với rau cải được che kín mít, không dính một hạt nước mưa! Chị em chúng cháu không còn phải vắt chân lên cổ chạy hụt hơi, bê từng chiếc nong nặng trịch chạy mưa thục mạng như ngày xưa nữa rồi!”
Diệp Thành nở nụ cười rạng rỡ, hàm răng trắng bóng nổi bật trên làn da ngăm đen phong trần. Ông đưa tay khẽ xoa bóp đầu gối của bên chân lành lặn, giọng nói trầm ấm mà nghẹn ngào đầy xúc động:
“Cha tàn nhưng không phế! Chân cha có thể không còn leo dốc gánh nặng được như cánh trai tráng trong làng, nhưng đôi bàn tay cha vẫn còn cầm được rìu, đục được mộng, kéo được cưa. Ngày trước, nhìn con gái vì cố bê nong men chạy mưa dông mà trẹo lưng ngất xỉu giữa sân bùn đất, lòng người làm cha này đau xót như có ngàn mũi dao cứa vào ruột gan. Lúc đó cha đã tự thề với lòng mình, dù có phải thức trắng bao nhiêu đêm bên ngọn đèn dầu, hao mòn bao nhiêu công sức cũng phải đóng cho xong cái giàn phơi mái trượt này để bảo vệ lưng, bảo vệ sức khỏe cho con và các em. Từ nay về sau, dẫu trời đất Thanh Lĩnh có đổ mưa dầm dề hay dông lốc kéo đến bất thần, xưởng dưa tương của con gái cha tuyệt đối không sợ hao hụt, dập nát một ngọn rau, một cọng kiệu nào nữa!”
Tiểu Mãn đứng lặng nghe từng lời gan ruột của cha, sống mũi cay xè, nơi khóe mắt bỗng chốc ngân ngấn nước. Nàng bước tới gần, ngồi thụp xuống bên cạnh chiếc ghế tre của cha, đưa hai bàn tay nhỏ nhắn nhưng rắn rỏi nắm lấy bàn tay thô ráp, chai sần đầy những vết sẹo đục sẹo cưa của ông:
“Cha... cha làm giàn phơi này kỳ công, khéo léo và chuẩn xác hơn gấp mười lần những gì con dám tưởng tượng. Có cha đứng mũi chịu sào, giữ trọn việc mộc, việc nặng ngoài sân bãi thế này, khu xưởng tương của chúng ta vững vàng như có núi Thái Sơn che chở vậy.”
Ánh mắt Tiểu Mãn khẽ chuyển dời sang góc hiên bên cạnh. Nơi đó, một tấm biển gỗ lớn dài bốn thước, rộng một thước rưỡi xẻ từ thân cây dổi rừng cổ thụ tỏa ra mùi hương thơm ngát tự nhiên đang được dựng ngay ngắn trên hai giá đỡ bằng tre. Trên mặt gỗ phẳng lì, mịn màng như một dải lụa mộc, bốn chữ lớn “Thanh Khê Điền Trang” được viết theo lối chân phương cương nghị, từng nét bút phóng khoáng, thanh tao mà ẩn chứa nội lực thâm hậu bằng mực tàu đen nhánh do chính tay Tạ Cảnh mài mực viết mẫu hôm qua. Diệp Thành đã bắt đầu dùng mũi đục bạt nhỏ tỉ mỉ chạm khắc từng nét chữ, từng đường uốn lượn sắc sảo của nét son mực mẫu, biến tấm gỗ rừng thành một bức đại tự trang trọng, uy nghiêm đang dần lộ diện hình hài.
Đó không đơn thuần chỉ là một cái tên đặt cho một khu xưởng chế biến nông sản, mà đó là biểu tượng rực rỡ cho giấc mơ tự chủ, cho cơ nghiệp điền trang độc lập mà cả gia đình họ Diệp đã phải đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, nước mắt, sự nhẫn nhục và lòng kiên cường không khuất phục suốt những tháng ngày gian khó tột cùng.
Trong khi đó, ở phía góc kho chứa vật liệu bên cạnh, không khí làm việc cũng vô cùng nhộn nhịp, khẩn trương nhưng tuyệt đối ngăn nắp, trật tự.
Diệp Nhị Hòa – cậu thiếu niên mười bốn tuổi nay đã chững chạc, cao lớn vượt bậc so với bạn bè cùng trang lứa – đang mặc bộ áo vải thô gọn gàng, đầu chít khăn gai chặt chẽ. Trên tay cậu cầm một cuốn sổ giấy bản dày dặn đóng chỉ gai trắng tinh do chính tay Tạ Cảnh chép mẫu biểu bảng, và một thỏi than liễu đã được gọt nhọn đầu. Cậu đứng sừng sững bên cạnh đống gạch chỉ nung đỏ vừa được xe trâu chở từ lò gạch ngoài bến về, đôi mắt sắc sảo cẩn thận đếm từng hàng gạch, đối chiếu từng thúng vôi tôi và từng bao cát vàng được dỡ xuống sân kho.
“Bác thợ xe gạch ơi, chuyến xe này bác chở đến đúng tám trăm viên gạch chỉ loại một, nhưng cháu vừa kiểm tra kỹ, có mười lăm viên bị sứt mẻ góc lớn và cháy non ở góc dưới do xếp sát cửa lò than. Cháu xin phép trừ mười lăm viên này ra khỏi phiếu nhận gạch loại một của xưởng chính, chuyển chúng sang mục gạch vụn dùng để lót đáy móng rãnh tiêu thoát nước nhé!” Nhị Hòa cất giọng dõng dạc, rành rọt phân minh, từng lời từng chữ đều có lý có tình, không hề có chút rụt rè hay ngập ngừng của một đứa trẻ con mới lớn.
Bác phu xe gạch nhìn cậu thiếu niên với ánh mắt nể phục, đưa tay gãi đầu cười xòa:
“Được, được chứ! Cậu quản sự nhỏ tuổi của Diệp gia mà mắt sáng như gương đồng, đếm không sai một viên, trừ đâu ra đấy rõ ràng như ban ngày. Cứ ghi đúng theo ý cậu vào sổ đi, chuyến sau lò chúng tôi sẽ lựa gạch già đanh bù lại cho đủ số!”
Nhị Hòa nhoẻn miệng cười tươi rói, tay thoăn thoắt chấm đầu than liễu vào trang giấy bản thô ráp, nắn nót ghi rõ từng con số vào năm cột mục rành mạch: Ngày tháng, Danh mục, Nhập, Xuất, Tồn. Nét chữ của cậu tuy còn hơi thô cứng, mang nét vụng về của người quen cầm cuốc cày hơn cầm bút, nhưng từng con chữ con số đều ngay ngắn, thẳng hàng thẳng lối, toát lên sự cẩn trọng, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm tuyệt đối của một người quản lý kho bãi mẫu mực trong tương lai.
Cách đó không xa, dưới bóng râm mát rượi của giàn hoa thiên lý đang trổ từng chùm hoa vàng nhạt đầu ngõ, Tạ Cảnh đang ngồi ngay ngắn bên chiếc bàn gỗ mộc đơn sơ. Chàng mặc bộ áo dài màu lam đã cũ kỹ, sờn mép nhưng luôn được giặt giũ sạch bong, phẳng phiu, toát lên phong thái điềm đạm, nho nhã và đoan chính của một vị tân khoa Án thủ toàn huyện. Trước mặt chàng là một chồng thẻ tre mỏng đã được vót nhẵn thín hai mặt, bóng mịn như ngà voi, cùng chiếc nghiên mực bằng đá Đoan Khê nhỏ màu tím sẫm – kỷ vật thiêng liêng duy nhất của gia đình còn sót lại, người bạn tri kỷ đã gắn bó suốt chặng đường đèn sách gian nan của chàng.
Ngồi sát bên cạnh chàng trên chiếc đẩu nhỏ, cô bé Tam Nha mười tuổi với đôi mắt to tròn đen láy, sáng ngời đang chăm chú dõi theo từng nét bút lông lướt trên mặt tre của Tạ Cảnh. Đôi bàn tay nhỏ nhắn thoăn thoắt chấm chiếc chổi lông nhỏ vào bát keo dán nấu từ bột nếp sánh mịn, rồi cẩn thận dán từng chiếc thẻ tre có viết chữ mực đen nhánh lên vai từng chiếc vò sành ủ mốc mới.
“Tam Nha, muội nhìn cho kỹ nhé, chữ này là chữ ‘Giáp’, chữ bên cạnh là chữ ‘Ất’. Muội dán thẻ số từ ‘Giáp Nhất’ cho đến ‘Giáp Thập’ lên mười chiếc vò đựng mốc đậu nành làm từ đầu tháng này; còn từ ‘Ất Nhất’ trở đi sẽ dành riêng cho mẻ đậu nành vụ mới thu hoạch,” Tạ Cảnh khẽ nghiêng đầu, giọng nói chàng trầm ấm, kiên nhẫn và dịu dàng như làn suối mát, chỉ dẫn cho cô bé từng li từng tí. “Đánh số thứ tự và ghi rõ ngày tháng năm lên thẻ tre như thế này, sau này khi mốc lên men hoa cau, muội chỉ cần nhìn lướt qua thẻ là biết chính xác vò nào ngấu trước, vò nào ngấu sau, vò nào cần mở nắp đón gió, vò nào cần giữ kín, không bao giờ lo bị lẫn lộn hay đảo tương sai thời điểm.”
“Dạ, muội nhớ kỹ rồi huynh Tạ Cảnh!” Tam Nha lanh lợi gật đầu lia lịa, những ngón tay nhỏ nhắn thoăn thoắt dán chiếc thẻ tre mang chữ “Giáp Tam” lên vai chiếc vò sành da lươn vừa được xếp ngay ngắn trên giá gỗ, rồi khẽ khịt khịt chiếc mũi nhỏ xinh xắn, cười tít mắt: “Huynh ngửi thử xem, muội ngửi thấy mùi men hoa cau ở vò Giáp Nhất đã bắt đầu dậy mùi thơm ngọt như mùi mật ong rừng rồi đấy! Chị Tiểu Mãn dạy muội rằng chỉ cần qua ba ngày nữa thôi, khi những sợi hoa mốc trắng chuyển sang màu vàng hoa ngâu tơi xốp, muội sẽ được nếm thử độ ngọt đầu tiên để báo cho chị biết ngày nào vào muối!”
Tạ Cảnh mỉm cười đôn hậu, ánh mắt chàng khẽ rời khỏi trang giấy, hướng về phía khoảng sân gạch đỏ rực rỡ ngập tràn ánh nắng ban mai. Nơi đó, bóng dáng Diệp Tiểu Mãn đang thoăn thoắt bước đi, tà áo thô nâu bay nhẹ trong gió sớm. Chiếc trâm gỗ đào khắc nhành hoa đậu nành trên mái tóc nàng khẽ lay động nhịp nhàng theo từng bước chân kiên định, vững chãi.
Như có một sợi dây linh cảm vô hình kết nối, Tiểu Mãn bất chợt dừng bước, quay đầu nhìn lại. Ánh mắt hai người chạm nhau giữa khoảng sân ngập tràn nắng gió và tiếng cười nói rộn ràng. Không cần một lời hoa mỹ thốt ra, chỉ một cái khẽ gật đầu từ tốn và nụ cười rạng ngời nơi khóe môi của cả hai cũng đủ để hai tâm hồn đồng điệu thấu suốt sự gắn kết bền chặt, sự đồng lòng son sắt trên con đường chung tay gầy dựng tương lai từ hai bàn tay trắng.
Làn gió mát lành từ Khe Thanh thổi qua hàng dâm bụt xanh mướt, mang theo hơi thở thơm lành của dòng nước mát và mùi thơm nồng nàn của đất phù sa mới xới. Tiếng đục đá đào móng cành cạch, tiếng bào gỗ lách cách giòn tai, tiếng mực mài nhè nhẹ trên nghiên đá và tiếng cười nói trong trẻo của đàn em nhỏ hòa quyện vào nhau, tấu lên khúc ca lao động rộn rã, tràn đầy sức sống và ấm áp lạ kỳ. Cơ ngơi của Thanh Khê Điền Trang đang từng ngày vững vàng vươn mình đón nắng mai, mở ra một chu trình sản xuất khép kín, sạch sẽ và quy chuẩn vượt bậc.
Mùa thu sang, cánh đồng ruộng Cồn Gió từng cằn cỗi năm xưa nay trổ hoa đậu nành vàng rực ngút tầm mắt.