Tên trên bảng vàng và lời hẹn ước bình đẳng
Tiếng la reo của bọn trẻ đầu thôn hòa cùng tiếng pháo nổ giòn giã khi ngựa trạm báo hỷ phi nước đại qua rặng tre ngà, dừng bánh ngay trước cổng nhà trọ họ Lưu.
Bụi đường cuộn lên mù mịt dưới móng sắt con tuấn mã sắc lông xám tro. Con vật thở phì phò, bọt mép sùi trắng xóa hai bên hàm thiếc, bốn vó dậm lộp cộp trên nền đất nện pha sỏi đá sau một chặng đường dài phi nước đại từ nha môn huyện lỵ về tới bờ cõi Thanh Khê. Viên dịch sai khoác áo chẽn đỏ thêu viền chỉ vàng đã bạc màu sương gió, vạt áo phất phơ dính đầy bụi đỏ, trên chiếc mũ dạ đen cài một nhành hoa lụa thắm tươi màu cánh đào. Gã ghìm chặt dây cương da bò, hai chân đứng thẳng trên bàn đạp sắt, rút chiếc loa đồng sáng loáng bên hông ra, hắng giọng gióng lên một hồi vang dội khắp bốn bề thôn xóm:
“Đại hỷ! Đại hỷ! Khoa khảo hạch tú tài cấp huyện Vân Thủy năm Cảnh Hưng thứ tư, học trò Tạ Cảnh ngụ tại thôn Thanh Khê đỗ đầu bảng vàng! Án thủ toàn huyện! Lý chính thôn đâu mau ra tiếp chỉ báo hỷ!”
Tiếng đồng trầm đục ngân dài xé toang cái oi ả của buổi ban trưa. Lời viên dịch sai tựa hồ như một hòn đá lớn ném mạnh xuống mặt ao bèo phẳng lặng, tức thì khuấy đảo toàn bộ bầu không khí tĩnh mịch vốn có của làng quê nép mình bên chân núi. Tiếng pháo con tép cuốn giấy điều nổ đì đẹt nối đuôi nhau từ đầu ngõ rải rác chạy dọc theo bờ rào râm bụt, từng cụm khói thuốc pháo màu xám nhạt mang theo mùi lưu huỳnh ngai ngái lượn lờ bay qua ngọn chuối ngự, quyện chặt vào tiếng reo hò rộn rã của lũ trẻ chăn trâu đang rượt đuổi nhau trần chân đất.
“Anh Tạ Cảnh đỗ đầu rồi! Anh Tạ Cảnh đỗ đầu bảng rồi!”
Tiểu Đậu vừa từ sân nhà họ Diệp chạy vụt ra, chiếc áo vải thô màu nâu ngắn cũn cỡn bay phấp phới trong gió bãi bồi, hai ống quần xắn cao quá gối lem nhem vệt bùn chưa kịp khô. Phía sau nó, Diệp Nhị Hòa cũng buông vội chiếc dồ đập đất bằng gỗ nghiến nặng trịch trên luống khoai, hai chân thoăn thoắt nhảy qua bờ rãnh mương dẫn nước, mặt mũi đỏ bừng vì phấn khích xen lẫn hân hoan tột cùng. Cả thôn Thanh Khê như bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài ngái ngủ; từ các ngõ xóm quanh co rợp bóng tre, người già chống gậy trúc lụ khụ bước ra hiên, đàn bà con gái buông dở rổ rau muống vừa hái ngoài bờ ao, đàn ông lực lưỡng vác cuốc từ ngoài bãi bồi ven sông đều hối hả túa ra con đường liên thôn lát đá xanh dẫn về xóm trọ.
Trước cổng nhà trọ, Lưu Văn Hòa tất tả khoác vội chiếc áo cánh bằng vải mộc màu sẫm ra nghênh đón. Bàn tay vốn quanh năm chai sần vì lần chuỗi hạt tính tiền và cân đo từng đấu gạo khẽ run lên bần bật vì xúc động. Lão lúng túng suýt vấp phải bậc ngạch cửa gỗ lim, vội vàng móc trong túi ngực chiếc phong bao điều đỏ thắm đựng sáu mươi đồng tiền kẽm sáng loáng mới tinh còn chưa xâu dây, nhét chặt vào tay viên dịch sai, miệng không ngớt xuýt xoa, nếp nhăn nơi khóe mắt giãn ra thành từng nụ cười rạng rỡ:
“Đội ơn quan sai! Đội ơn trạm dịch ngàn dặm mang tin mừng! Mời quan sai vào trong uống chén trà nóng giải tỏa nỗi nhọc nhằn đường trường, ăn tạm vài miếng bánh khảo lót lòng!”
Giữa đám đông đang chen chúc hò reo, tiếng bàn tán xôn xao tựa như bầy ong vỡ tổ, Tạ Cảnh từ tốn bước ra từ gian phòng trọ nhỏ sát hiên tây. Gian phòng ẩm thấp chỉ có một chiếc chõng tre ọp ẹp cùng chồng sách kinh điển xếp ngay ngắn bên khung cửa sổ dán giấy bản đã ngả vàng. Chàng vẫn mặc bộ áo chàm bằng vải thô đã sờn mép cổ, những đường kim mũi chỉ vá vụng nơi khuỷu tay được giặt giũ phẳng phiu, sạch sẽ và thoang thoảng mùi nắng sớm của đồng quê. Mái tóc đen nhánh được vấn gọn ghẽ bằng một dải lụa mộc giản dị không chút cầu kỳ.
Gương mặt chàng thư sinh trẻ tuổi không hề lộ vẻ kiêu căng, ngạo mạn hay đắc chí tột cùng của kẻ vừa chạm tay vào danh vị tú tài đứng đầu một huyện. Vẻ mặt ấy tĩnh lặng như mặt nước giếng khơi nơi núi sâu, trầm mặc và sâu lắng đến lạ kỳ, chỉ có đôi mắt sáng ngời như ánh sao mai là lấp lánh ánh cười ấm áp. Chàng điềm đạm khom lưng, hai tay nâng ngang mày chắp thành một chữ cung quyền chuẩn mực, cất lời tạ ơn viên sứ giả cùng bà con lối xóm đang vây kín mảnh sân gạch.
Chỉ trong vòng hai canh giờ ngắn ngủi, tin Tạ Cảnh đỗ Án thủ toàn huyện đã theo các chuyến đò ngang vượt dòng nước biếc, lan truyền khắp các làng lân cận, vươn thẳng tới tận bến sông Trấn Liễu Kiều sầm uất tàu thuyền buôn bán.
Đến xế chiều, trước cổng nhà trọ họ Lưu đã chật ních người xe qua lại. Bụi đường chưa kịp lắng xuống thì đã có thêm từng đoàn phu khiêng cáng, gánh gồng tấp nập kéo đến. Các thân hào địa phương, những bậc túc nho ở các thôn lân cận vốn ngày thường mắt cao hơn đầu, và cả những chủ tửu lầu, phường buôn danh giá đều cử người đem quà cáp sang trọng tới chúc mừng chàng học trò nghèo nay đã một bước hóa rồng.
Trưởng thôn Phạm Đức Thuận dẫn đầu ban bô lão trong làng mang sang hai con gà trống thiến béo múp míp lông đỏ au như gấc, đôi mào đỏ chót rung rinh cùng một hũ rượu nếp cái hoa vàng ủ ba năm nút lá chuối khô; chưởng quầy Tôn Như Hải của Tửu lầu Vọng Giang tận ngoài huyện thành cũng phái một cỗ xe ngựa chở tới một kiện vải gấm lam dệt hoa chìm, đôi nghiên đá Đoan Khê thượng hạng đen bóng như mực tàu cùng mười hộp điểm tâm bát bửu đóng hộp gỗ sơn son thếp vàng lộng lẫy.
Đáng chú ý hơn cả là sự xuất hiện của hai cỗ xe mui bạt lụa màu hoa đào từ trấn Liễu Kiều sang. Tiếng chuông đồng buộc dưới hàm ngựa kêu leng keng giòn giã thu hút toàn bộ ánh nhìn tò mò của dân làng Thanh Khê. Đó là người nhà của Tiền lão bản – chủ ba hiệu buôn vải lụa lớn nhất trấn và nắm trong tay hai tiệm cầm đồ nức tiếng cả vùng sông nước. Vị quản gia béo tốt mặc áo lụa là bóng bẩy, cổ tay đeo vòng phỉ thúy xanh ngắt bước xuống xe, khép nép mang theo một chiếc hộp gấm phủ nhung the viền kim tuyến, đon đả cất lời giữa thanh thiên bạch nhật:
“Tạ tướng công tuổi trẻ tài cao, danh chấn toàn huyện Vân Thủy! Lão gia nhà chúng tôi đêm ngày hằng mong mỏi kết duyên cùng bậc hiền tài. Trong phủ có một tiểu thư vừa tròn tuổi cập kê, tính tình thục hạnh đoan trang, lại am tường nữ công gia chánh, cầm kỳ thi họa không thiếu môn nào. Lão gia gửi lời nhắn, nếu tướng công ưng thuận mối lương duyên trời định này, Tiền gia xin kính tặng ba mươi mẫu ruộng màu mỡ ven bến sông Liễu Kiều, một ngôi nhà ngói ba gian hai chái tại trung tâm phố chợ trấn, kèm theo toàn bộ chi phí lộ phí bạc nén để công tử dùi mài kinh sử dự khoa thi Hương trên phủ mùa thu tới!”
Lời vị quản gia vừa dứt, đám đông dân làng đứng vây quanh bức tường hoa không khỏi ồ lên một tiếng đầy kinh ngạc lẫn ghen tị. Ba mươi mẫu ruộng bãi bồi quanh năm phù sa màu mỡ, trồng lúa thì lúa trĩu bông, trồng dâu thì tằm tốt kén, lại thêm một căn nhà ngói đỏ ba gian hai chái ngay mặt phố buôn bán sầm uất ở trấn Liễu Kiều, đó là cơ nghiệp mà cả một đời nông phu quần quật ba đời cũng chẳng dám nằm mơ thấy. Những người phụ nữ đứng xem không khỏi xuýt xoa, thầm nghĩ chàng thư sinh nghèo rớt mồng tơi này chỉ cần gật đầu một cái là một bước lên mây, nửa đời sau chỉ việc ngồi kiệu hoa hưởng thụ phú quý nhung lụa.
Thậm chí sau đó, vài vị hương thân có tiếng trong vùng cũng ngấm ngầm sai bà mối đánh tiếng, hứa hẹn của hồi môn hậu hĩnh khôn xiết, bạc trắng đầy rương, kẻ hầu người hạ sẵn sàng cung phụng, chỉ cần chàng thư sinh trẻ gật đầu ưng thuận làm rể hiền hào môn.
Thế nhưng, trước những món quà bạc vạn chất đầy giữa sân và những lời ngỏ ý bùi tai tựa mật ngọt rót vào tai ấy, Tạ Cảnh trước sau vẫn giữ một nụ cười hòa nhã mà xa cách. Thần thái chàng vẫn ung dung như làn mây trắng lơ lửng trên đỉnh núi mù sương, không một chút gợn sóng tham lam hay rung động thế tục. Chàng chắp tay thi lễ theo đúng mực thước của người học trò cửa Khổng, giọng nói ôn tồn, đĩnh đạc nhưng dứt khoát không để lại một kẽ hở nào cho sự nài ép:
“Đa tạ thịnh tình của Tiền lão gia cùng chư vị tiền bối đã yêu mến, nâng đỡ kẻ hậu sinh hèn mọn này. Tiểu sinh bước chân vào đường khoa cử, tâm niệm trước sau chỉ mong dùi mài chữ nghĩa, giữ tròn khí tiết của kẻ sĩ, báo đáp công ơn trời đất và làm tròn bổn phận với xóm làng. Những lễ vật quý giá này, tiểu sinh tuyệt đối không dám nhận; còn chuyện chung thân đại sự, tiểu sinh từ lâu trong lòng đã có nơi gửi gắm ước hẹn, trọn đời trọn kiếp không thể đổi dời. Kính xin chư vị mang lễ vật trở về, thứ lỗi cho tiểu sinh không thể đón nhận.”
Ánh mắt chàng kiên định nhìn thẳng vào viên quản gia Tiền gia, không hề né tránh hay chùn bước. Dù viên quản gia kia có bóng gió thêm vài câu về tương lai hoạn lộ cần tiền tài nương tựa, Tạ Cảnh vẫn một mực khước từ bằng thái độ lễ phép tuyệt đối nhưng lạnh như băng tuyết.
Cuối cùng, chàng chỉ giữ lại một ít nén hương mộc thơm mùi rễ trám và mấy phong bánh khảo bình dân gói giấy đỏ của bà con chòm xóm Thanh Khê để dâng lên bàn thờ tổ tiên nhà trọ họ Lưu, tạ ơn mảnh đất cưu mang những ngày cơ hàn. Còn lại toàn bộ gấm vóc, lụa là, khay trầu dạm hỏi cùng vàng bạc lấp lánh đều được chàng nhã nhặn từ chối, đích thân chắp tay tiễn khách ra tận đầu ngõ đá xanh.
***
Đến khi mặt trời bắt đầu ngả bóng về phía tây rặng núi Thanh Lĩnh, dòng người đến chúc tụng và dòm ngó mới dần thưa thớt rồi dứt hẳn. Con đường làng trả lại sự tĩnh mịch thường nhật dưới bóng tre râm mát. Sân nhà trọ họ Lưu trở lại vẻ yên bình quen thuộc, chỉ còn vương lại những mẩu giấy pháo đỏ tươi rải rác trên nền gạch đất nung và mùi thuốc pháo khét lẹt còn đọng lại trong kẽ lá giàn trầu.
Lưu Văn Hòa khép hờ cánh cổng gỗ xỉn màu, cài then tre cẩn thận rồi chậm rãi bước vào gian nhà chính. Lão khẽ thở dài một tiếng thật dài như trút bỏ được gánh nặng đè nén suốt cả buổi chiều, đoạn nhấc chiếc ấm tích bọc trong bao rơm ủ ấm, rót một bát nước chè xanh nóng hổi sánh vàng đẩy về phía Tạ Cảnh. Lão nhìn chàng thanh niên tuấn tú trước mặt, người mà lão đã chứng kiến từng đêm thức trắng chong đèn bên trang sách rách dưới mái tranh dột nát, ánh mắt chan chứa sự thương yêu lẫn cảm phục từ tận đáy lòng:
“Tạ Cảnh à, lão sống đến ngần này tuổi đầu, hai thứ tóc trên đầu đã hoa râm, chứng kiến không biết bao nhiêu kẻ sĩ hàn vi vừa chạm được một góc áo khoa cử, vừa nếm được chút bổng lộc danh vọng đã vội vàng tìm chỗ cao sang để nương tựa, vứt bỏ hết ân nghĩa thâm sâu lúc khốn khó. Ban nãy thấy cậu từ chối thẳng thừng ba mươi mẫu ruộng bãi bồi cùng căn nhà ngói ở phố chợ của Tiền gia, trong lòng lão già này vừa mừng vừa thầm bội phục nhân cách của cậu. Cậu quả thực không hổ danh là học trò chân chính của đạo thánh hiền! Nhưng mà này…”
Lão chủ trọ ngừng lại một nhịp, kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ mít lại gần hơn, ghé sát lại Tạ Cảnh, giọng trầm xuống đầy vẻ tha thiết và lo toan:
“Cậu đỗ đầu bảng kỳ khảo hạch này, danh tiếng vang xa khắp một vùng, người tinh mắt khắp trấn dưới huyện trên đều đang đổ dồn mắt nhìn vào từng bước đi của cậu. Cậu đối với con bé Tiểu Mãn nhà họ Diệp thế nào, người mù không thấy đường cũng nhìn ra được tấm chân tình sâu nặng ấy. Mấy ngày trước, mụ Chu Kim Quế lòng lang dạ sói cùng mụ mối lắt léo vừa vác mặt sang ép duyên con bé bị chú Diệp Thành quét chổi ra khỏi cổng; dẫu việc nợ nần đã được các cậu thanh toán dứt điểm sòng phẳng, nhưng con gái nhà nông tài giỏi, xinh đẹp tháo vát, lại vừa thầu đứt năm mẫu gò ven khe như Tiểu Mãn, chẳng mấy chốc mối lái nhà giàu lại dập dìu tới cửa giẫm nát ngạch. Cậu chớ có chần chừ mãi! Chung thân đại sự của đời người, phải mau chóng định đoạt cho danh chính ngôn thuận, kẻo đêm dài lắm mộng!”
Đúng lúc ấy, cánh cửa liếp gian ngoài khẽ lay động kêu cọt kẹt, Trần A Lan xách một chiếc làn tre đan mắt cáo đựng đầy đậu phộng mới luộc bốc khói nghi ngút thơm phức thoăn thoắt bước vào. Đôi guốc mộc của nàng gõ lộc cộc trên nền gạch đỏ. Vừa nghe thấy những lời Lưu lão bản vừa dứt, cô gái họ Trần lập tức đặt mạnh chiếc làn tre lên mặt bàn gỗ tếch, giậm mạnh chân phụ họa, đôi mày liễu dựng ngược lên đầy sốt ruột:
“Lưu thúc nói chí phải, không sai một chữ nào đâu! Tạ huynh còn ngồi trơ ra đấy mà chần chừ ngẫm nghĩ cái đạo lý sâu xa gì nữa? Huynh có biết chiều nay lúc dịch trạm thúc ngựa gõ chiêng báo hỷ ngoài cổng đình làng, Tiểu Mãn nhà ta đang còng lưng dọn đá ngoài bãi bồi Cồn Gió, vừa nghe tiếng loa vang lên mà mừng đến rơi cả nước mắt, vạt áo vải thô ướt đẫm một mảng không? Suốt một năm trời qua, từ cái ngày chú Diệp Thành gãy chân nằm liệt giường, nợ nần bủa vây tứ phía, hai người đã cùng nhau thức thâu đêm suốt sáng bên đĩa đèn dầu lạc, tính từng phân tiền kẽm, bóc tách từng điều khoản hiểm độc trong tờ văn tự khế ước, đến chuyện gánh từng nong đậu, chở từng chuyến xe kéo trĩu nặng vượt qua dốc Thạch Lĩnh trơn trượt trong mưa bão... Hai người chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ đến mức ấy, nếu huynh không cưới nàng, thì thử hỏi trên cõi đời này còn ai xứng đáng làm bạn đời của Diệp Tiểu Mãn nữa?”
A Lan hít một hơi sâu, ngực phập phồng sau một tràng nói liến thoắng, giọng nàng vừa giục giã vừa xen lẫn vẻ tự hào kiêu hãnh của một người tỷ muội thân thiết:
“Tiểu Mãn nhà chúng ta tuy sinh ra là thôn nương nơi xóm nghèo, quanh năm lấm lem bùn đất, nhưng phẩm cách, tài trí và sự kiên cường thì mười tiểu thư khuê các cẩm y ngọc thực sống trong lầu son gác tía ngoài huyện thành cũng chẳng bằng một phần móng tay của nàng! Huynh đỗ đầu bảng, đoạt danh Án thủ, đó là vinh hiển của huynh, nhưng Tiểu Mãn một tay gầy dựng cơ nghiệp từ đống tro tàn, trả sạch mười lăm lượng bạc nợ địa chủ bóc lột, tự chủ mở rộng nông trang, nàng cũng là bậc nữ trung hào kiệt chẳng kém cạnh đấng mày râu nào! Huynh mà còn lần lữa sợ người đời dị nghị chuyện thư sinh áo xanh với cô gái làm tương dưa muối cải, để lỡ mất duyên lành, sau này dẫu có làm đến quan to lộc hậu cũng hối hận không kịp đâu!”
Nhìn sự sốt sắng, bộc trực đến nôn nóng của A Lan và ánh mắt chờ mong đầy tin cậy, ấm áp của Lưu lão bản, Tạ Cảnh khẽ mỉm cười. Nụ cười của chàng vừa mang nét thẹn thùng kín đáo, ngượng ngùng của một người trẻ tuổi khi bị chạm đúng vào tâm sự giấu kín trong đáy tim, lại vừa chứa đựng một sự kiên định vững chãi như bàn thạch ngàn năm trơ gan cùng tuế nguyệt.
Chàng đứng dậy khỏi ghế, chỉnh đốn lại vạt áo chàm cho ngay ngắn, cung kính cúi đầu thật sâu tạ ơn hai người:
“Lưu thúc, A Lan muội... Những lời ruột gan vàng ngọc của hai người, Tạ Cảnh này xin khắc sâu vào tâm khảm, trọn đời không dám quên. Ta đâu phải khúc gỗ vô tri vô giác hay kẻ ngu ngơ bạc bẽo mà không hiểu thấu tấm lòng son sắt của Tiểu Mãn. Chỉ là trước nay, ta còn mang thân phận một kẻ hàn sĩ ăn nhờ ở đậu, một tấc đất cắm dùi cũng chưa có trong tay, trên vai chưa làm nên danh phận công danh gì cho rạng rỡ tông môn. Nếu vội vàng ngỏ lời cầu thân khi hai bàn tay còn trắng trơn, ta sợ sẽ biến tình cảm của mình thành một gánh nặng vô hình khác đè trĩu lên đôi vai vốn đã quá nhọc nhằn, vất vả của nàng. Ta muốn đợi... ta đã cắn răng đợi đến ngày hôm nay, khi bản thân có được danh phận rõ ràng trước công đường xã tắc, có được năng lực tự lập về kinh tế để có thể đàng hoàng đứng trước mặt nàng, đường đường chính chính mà nói lời hẹn ước trăm năm.”
Chàng đưa bàn tay dài thon thả, có vết chai mỏng nơi ngón trỏ vì cầm bút lâu năm, chạm nhẹ vào chiếc túi vải chàm giản dị đeo bên sườn. Đôi mắt chàng rực sáng lên ngọn lửa của niềm tin và sự quyết tâm tuyệt đối:
“Ta không chờ đợi thêm một khắc nào nữa. Chiều nay, ngay lúc hoàng hôn buông xuống bên bờ suối, ta sẽ sang gặp nàng.”
***
Ánh tà dương cuối ngày buông xuống, nhuộm đỏ rực cả một vùng trời phía tây rặng núi Thanh Lĩnh. Từng dải mây màu ráng đỏ rực rỡ như những dải lụa tiên vắt ngang qua các đỉnh núi đá vôi nhấp nhô, hắt bóng xuống dòng nước Khe Thanh lượn quanh chân núi. Nước suối đầu nguồn trong vắt chảy róc rách qua các triền đá cuội tròn nhẵn, phản chiếu sắc đỏ hồng lung linh, huyền ảo như một bức tranh thủy mặc dát vàng.
Gió chiều thổi qua những bụi sậy non ven bờ xào xạc, mang theo hơi nước mát rượi hòa quyện cùng mùi thơm ngai ngái nồng nàn của đất bãi phù sa mới được cày lật xới lên sau vụ gặt.
Tiểu Mãn đứng lặng lẽ trên đỉnh dải đất gò năm mẫu mới nhận thầu ven khe nước. Nàng mặc bộ áo vải thô màu xanh chàm gọn gàng, vạt áo buộc túm ngang hông để tiện đi lại giữa đám lau sậy rậm rạp. Bàn tay nhỏ nhắn cầm một cành tre vót nhọn, cẩn thận vạch từng đường ranh giới trên nền đất pha sỏi đá. Nàng đang chăm chú đo đạc từng tấc đất, tính toán chi tiết vị trí đặt bể lọc cát nhiều tầng dẫn dòng nước nguồn ngọt mát từ Khe Thanh vào xưởng, khu sân phơi gạch nung nâng cao ba thước để đón trọn cái nắng hanh khô của mùa thu, và cả căn nhà ủ chum ngấn nước bốn bề che chắn cẩn thận để giữ nhiệt độ ổn định cho những mẻ tương hạt hoa cau sắp tới.
Nghe tiếng bước chân giẫm nhẹ lên lớp lá rụng khô lạo xạo phía sau lưng, Tiểu Mãn giật mình quay lại.
Dưới ánh hoàng hôn đỏ rực buông dài trên sườn đồi, Tạ Cảnh đang chậm rãi bước tới. Tà áo chàm của chàng bay nhẹ theo ngọn gió núi lồng lộng, bóng dáng cao ráo, thanh tú và trầm mặc in nghiêng trên nền đất gò gồ ghề.
Nhìn thấy chàng đứng đó, giữa không gian hoang sơ của đồi bãi vừa khai hoang, trái tim Tiểu Mãn bỗng đập rộn ràng lên từng nhịp bất thường, lồng ngực khẽ thắt lại. Tin chàng đỗ đầu bảng khoa khảo hạch tú tài cấp huyện đã làm chấn động cả làng từ trưa nay; nàng vui mừng khôn xiết, mừng đến mức khi nghe tiếng loa báo hỷ, hai tay nàng buông thõng giữa đồng cỏ mà nước mắt lã chã rơi.
Nhưng rồi, khi cơn chấn động ban đầu qua đi, tận sâu trong đáy lòng người con gái giàu nghị lực ấy, một thoáng âu lo mơ hồ không tên vẫn lặng lẽ len lỏi trỗi dậy như lớp sương mù buổi sớm. Chàng nay đã là Án thủ toàn huyện, là bậc tú tài áo xanh có danh vọng rạng rỡ, bước một chân vào hàng ngũ kẻ sĩ được quan phủ trọng vọng; còn nàng, dẫu có giỏi giang buôn bán, dẫu có trả hết nợ nần, thì vẫn là cô thôn nương ngày ngày lấm lem bùn đất, gắn chặt đời mình với những nong men mốc, những vại tương chua và luống rau dưa cằn cỗi. Liệu khoảng cách vời vợi giữa chốn học vấn văn chương và thực tế cơm áo gạo tiền nơi ruộng đồng có trở thành một bức tường vô hình ngăn cách hai người, như bao câu chuyện buồn về những thư sinh phụ nghĩa chốn quê nghèo?
“Tạ huynh... huynh không ở lại nhà trọ tiếp đãi khách quý sao? Chiều nay muội nghe nói có cả người từ huyện thành và trấn Liễu Kiều sang chúc mừng đông đúc lắm...”
Tiểu Mãn khẽ cúi đầu, vờ như đang chăm chú nhìn ngọn cành tre trên tay vạch vạch xuống đám sỏi vụn, cố giấu đi đôi gò má đang ửng hồng dưới ráng chiều rực rỡ.
Tạ Cảnh bước đến gần, dừng lại cách nàng đúng hai bước chân. Đôi mắt chàng trong veo như ngọc, chan chứa nhu tình và sự thấu suốt lạ lùng, nhìn thẳng vào gương mặt thanh tú đã sạm đi vì sương gió của người con gái trước mặt:
“Khách khứa ngoài ấy ồn ào, danh lợi hư ảo, người ta đến vì danh Án thủ chứ đâu phải vì Tạ Cảnh bần hàn. Khách đã vãn cả rồi. Với ta, những lời chúc tụng hào nhoáng hay những món quà đắt giá chất đống ngoài kia chẳng có chút ý nghĩa gì bằng việc được đứng ở đây, bên bờ Khe Thanh này, nhìn thấy muội bình an sau những ngày tháng nhọc nhằn gánh gánh gồng gồng.”
Chàng bước thêm một bước, khoảng cách rút ngắn lại, giọng nói trầm ấm và chân thành lạ lùng, tựa như hơi ấm tỏa ra từ than hồng ủ kỹ:
“Tiểu Mãn, hôm nay ta đến tìm muội, không mang theo vàng bạc gấm vóc mượn của người khác, cũng không nhờ mụ mối dẻo mồm khua môi múa mép rước trầu cau sáo rỗng theo thói thường. Ta chỉ mang theo những thứ chân thực nhất, trong sạch nhất của cuộc đời mình để trao trọn cho muội.”
Nói đoạn, Tạ Cảnh từ tốn cởi chiếc túi vải chàm bạc màu bên hông. Đôi bàn tay chàng nâng niu, trân trọng lấy ra một cuốn sổ tay nhỏ nhắn. Cuốn sổ chỉ bằng bàn tay, được bọc cẩn thận bằng bìa giấy bản màu xanh lơ mộc mạc, gáy khâu bằng chỉ gai đôi vô cùng tỉ mỉ, chắc chắn từng đường kim mũi chỉ. Chàng dùng cả hai tay, kính cẩn nâng cuốn sổ đưa về phía Tiểu Mãn.
Tiểu Mãn ngỡ ngàng, đôi bàn tay vốn quen bưng vại sành, bốc đất làm vườn khẽ run run đón lấy cuốn sổ mỏng. Nàng ngước nhìn chàng dò hỏi, rồi dưới ánh sáng hoàng hôn đang dần chuyển sang sắc tím huyền diệu, nàng lật mở trang giấy đầu tiên.
Từng hàng chữ Hán chân phương, nét mực đen nhánh sắc sảo, ngay ngắn và đều đặn tăm tắp như khắc vào giấy hiện ra trước mắt nàng. Đó không phải là những bài văn phú hoa mỹ, không phải là những câu thơ sầu thảm ngâm vịnh trăng hoa của các bậc danh sĩ, mà là một cuốn sổ kê khai tài sản tự lập chi tiết đến từng phân, từng đồng do chính tay Tạ Cảnh cặm cụi ghi chép suốt hai năm ròng rã:
*Khoản thứ nhất: Tiền nhuận bút chép sách kinh điển và lục soạn thư tịch cho thư quán Văn Uyển trên huyện thành, mỗi tháng tích lũy được mấy phân, ròng rã hai năm được hai lượng ba tiền bạc vụn.*
*Khoản thứ hai: Tiền công dạy chữ vỡ lòng cho con em nhà trọ họ Lưu và các hộ nghèo xóm Tây, sau khi đã trừ sòng phẳng tiền thuê phòng trọ và tiền cơm nước đạm bạc hằng ngày, còn dư được một lượng hai tiền bạc trắng.*
*Khoản thứ ba: Tiền công phụ trách rà soát sổ sách kế toán, cân đối giá vốn vụ mùa thu hoạch cho các phường buôn ngũ cốc bến sông Liễu Kiều vào những kỳ nghỉ học, tích lũy được ba lượng năm tiền.*
*Khoản thứ tư: Tiền thưởng khảo hạch đỗ Án thủ của quan phụ mẫu nha môn huyện Vân Thủy trao tặng sáng nay, tròn năm lượng bạc nén có khắc dấu quan phòng.*
*Tổng cộng tài sản tự lập tích lũy: Mười hai lượng bạc trắng tinh ròng, không vướng một đồng nợ nần, không tỳ vết tranh chấp, hoàn toàn do sức lao động và trí tuệ làm ra.*
Từng dòng chữ ngay ngắn, từng con số rành mạch như nhảy múa trước mắt Tiểu Mãn, làm nhòa đi cả tầm nhìn của nàng. Nàng ngẩng phắt đầu lên, lồng ngực nghẹn ngào nhìn chàng thư sinh nghèo trọ học năm nào.
Chàng từng sống những ngày đạm bạc cùng cực, bữa ăn chỉ có bát cháo hoa loãng với rau muống luộc chấm tương dại, chiếc áo rách sờn vai phải vá đi vá lại ba lần. Thế nhưng chàng chưa từng than vãn nửa lời, chưa từng ngửa tay xin xỏ ai, nay đã bằng chính sức lao động trí óc chân chính, bằng ngòi bút thanh bạch và đôi bàn tay trong sạch của mình gom góp nên một số tài sản đáng nể đến nhường này. Mười hai lượng bạc trắng! Đó là mồ hôi, là nước mắt, là biết bao đêm chong đèn dầu thâu đêm suốt sáng giữa mùa đông giá rét buốt thấu xương. Chàng không hề dựa dẫm vào bất kỳ một thế lực hào môn nào, không nhận của bố thí thương hại, cũng chẳng mảy may động lòng trước ba mươi mẫu ruộng bãi bồi của Tiền gia giàu có.
“Tạ huynh... cái này... huynh đưa cho muội cuốn sổ ghi chép này để làm gì?” Giọng Tiểu Mãn nghẹn lại nơi cuống họng, hai mắt rưng rưng ướt lệ.
Tạ Cảnh nhìn sâu vào đáy mắt nàng, ánh mắt kiên định, vững chãi và ấm áp tựa như ánh lửa mùa đông soi rọi vào nơi tối tăm nhất:
“Tiểu Mãn, toàn bộ số bạc mười hai lượng này là mồ hôi, công sức và danh dự của ta trong những năm tháng hàn vi vừa qua. Hôm nay, ta xin trao trọn cuốn sổ này cùng toàn bộ số tiền ta tích lũy được cho muội định đoạt. Ta muốn chứng minh cho muội thấy, Tạ Cảnh ta tuy xuất thân bần hàn, nhưng có đủ năng lực tự lập, đủ sức tự nuôi sống bản thân bằng đôi tay và ngòi bút của mình, có đủ bản lĩnh để gánh vác trách nhiệm gia đình. Ta bước vào con đường thi cử là vì chí hướng giúp đời, tuyệt đối không bao giờ để việc học hành hay khoa cử của ta trở thành gánh nặng cơm áo gạo tiền đè lên đôi vai muội!”
Ngọn gió núi từ đèo cao thổi lồng lộng qua triền gò đất mới vỡ, cuốn theo hương thơm dìu dịu của những đóa hoa trinh nữ khép lá ven bờ khe. Tạ Cảnh hít một hơi thật sâu, từng lời chàng thốt ra rành rọt, đĩnh đạc, âm vang giữa không gian tĩnh lặng của buổi hoàng hôn tà dương:
“Tiểu Mãn, từ cái ngày đầu tiên nhìn thấy muội kiên cường đứng chắn trước cánh cổng tre nhà mình, dùng lý lẽ đanh thép và trí tuệ mẫn tiệp để bảo vệ hai mẫu ruộng Cồn Gió trước nanh vuốt tham lam của bọn cường hào địa chủ; từ những đêm muộn hai chúng ta ngồi bên ngọn đèn hạt đỗ, chong mắt tính từng cột thẻ tre, gỡ từng nút thắt nợ nần; từ những buổi trưa muôn trùng gian nan muội cắn răng gánh vác cả gia đình, nuôi nấng các em từng bữa ăn manh áo... hình bóng kiên cường và bao dung của muội đã khắc sâu vào xương tủy, vào linh hồn ta, không một ai trên cõi đời này có thể thay thế được.”
Chàng tiến lại gần thêm nửa bước, tà áo chàm khẽ chạm vào vạt áo thô của nàng. Giọng chàng run rẩy một niềm xúc cảm thiêng liêng và tôn kính:
“Ta biết, trong cõi đời phong kiến này, người ta thường coi phụ nữ xuất giá như bát nước hắt đi, lấy chồng thì phải phụ thuộc hoàn toàn vào chồng, phải giao nộp toàn bộ tài sản cho nhà chồng, thu mình lại câm lặng nơi xó bếp góc nhà, mất đi tiếng nói và quyền tự chủ. Ta cũng biết rất rõ, muội là người phụ nữ có chí lớn phi thường. Muội một lòng muốn tự tay mình xây dựng nên cơ nghiệp Thanh Khê Điền Trang rạng danh, muốn các em được ăn học tử tế, đàng hoàng ngẩng đầu với đời. Muội muốn dùng đôi bàn tay lao động chân chính của mình để chứng minh rằng, nữ nhân nông gia cũng có thể làm giàu, cũng có thể đứng vững trên đôi chân của mình mà không cần phải cúi đầu trước bất kỳ ai. Nỗi e ngại lớn nhất bấy lâu nay trong lòng muội trước chuyện hôn sự, chính là sợ mất đi sự tự do, sợ mất đi quyền tự chủ của chính cuộc đời mình.”
Tạ Cảnh giơ ba ngón tay lên cao, hướng thẳng về phía dòng nước Khe Thanh đang cuộn chảy và ngọn núi Thanh Lĩnh sừng sững giữa trời mây, dõng dạc cất lời thề son sắt:
“Hôm nay, trước dòng Khe Thanh ngàn năm chảy mãi không ngừng và ngọn núi Thanh Lĩnh uy nghiêm làm chứng, Tạ Cảnh ta xin lập lời thệ ước với muội: Nếu muội ưng thuận gả cho ta, trong bản hôn thư khế ước thành thân chính thức giữa hai nhà họ Diệp và họ Tạ, ta sẽ tự tay hạ bút ghi rõ ba điều khoản không bao giờ thay đổi:
Điều thứ nhất: Toàn bộ hai mẫu ruộng bãi bồi Cồn Gió, năm mẫu đất gò ven khe này, cùng toàn bộ khu xưởng chế biến dưa tương và thương hiệu Thanh Khê Điền Trang mãi mãi thuộc quyền sở hữu độc lập, toàn quyền định đoạt của Diệp Tiểu Mãn. Bất luận là dòng tộc họ Tạ hay bất kỳ ai khác, tuyệt đối không ai có quyền can thiệp, chiếm đoạt hay tước đoạt dù chỉ một tấc đất, một phân tài sản nào của muội!
Điều thứ hai: Mọi công việc làm ăn, từ việc ký kết hợp đồng buôn bán với Tửu lầu Vọng Giang hay các đối tác thương nhân bốn phương, đến việc mở rộng quy mô xưởng, tuyển chọn và quản lý nhân công xóm giềng, hoàn toàn do một mình muội làm chủ và quyết định tối hậu. Ta tuyệt đối không can dự vào quyền làm chủ của muội.
Điều thứ ba: Tạ Cảnh ta nguyện làm người bạn đời đồng hành bình đẳng, kề vai sát cánh cùng muội suốt trọn kiếp này. Việc ngoài xã hội, ta sẽ dùng ngòi bút, học vấn và danh phận cử tử của mình để làm chiếc khiên vững chắc, che chắn phong ba bão táp, bảo vệ muội trước luật pháp nha môn và cường quyền hiểm ác; việc trong điền trang, ta nguyện làm người phụ tá đắc lực, lo toan sổ sách chứng từ, cân đối giá vốn và hết lòng kèm cặp dạy dỗ các em học hành đỗ đạt. Ta không cần một người vợ cam chịu hầu hạ nơi xó bếp, ta chỉ cần một người tri kỷ, một người bạn đời bình đẳng cùng ta đi qua giông bão để đến bến bờ hạnh phúc!”
Những lời thề ước chân thành, đanh thép, vừa thấu tình đạt lý vừa tiến bộ vượt bậc ấy tựa như một dòng suối ấm lành tuôn chảy thẳng vào trái tim đang thổn thức của Diệp Tiểu Mãn.
Bao nhiêu năm tháng qua, kể từ ngày biến cố ập xuống mái nhà tranh xiêu vẹo, một mình nàng gồng gánh nuôi cha tàn phế, đàn em thơ dại. Nàng đã phải nếm trải biết bao cay đắng tủi nhục, gánh chịu bao lời đàm tiếu độc địa, khinh khi của những kẻ họ hàng gia trưởng, tham lam độc ác như vợ chồng lão bác cả Diệp Đại Phúc. Nàng từng nghĩ, con đường làm giàu và giữ vững phẩm giá của một người phụ nữ nông thôn sẽ là một hành trình đơn độc đầy máu và nước mắt, phải gồng mình chiến đấu không ngừng nghỉ để bảo vệ từng tấc đất hương hỏa, từng giọt tương chắt chiu. Nàng chưa từng dám mơ rằng, giữa chốn thôn quê cổ hủ đầy rẫy những giáo điều trói buộc này, lại có một người đàn ông – một bậc văn nhân vừa đỗ đầu bảng vàng khoa cử, tiền đồ xán lạn vô cùng – lại có thể thấu hiểu trọn vẹn nỗi lòng nàng, trân trọng khát vọng tự do của nàng và sẵn sàng cúi mình trước quyền tự chủ của nàng đến nhường ấy!
Nước mắt Tiểu Mãn khẽ lăn dài trên đôi gò má ửng hồng vì gió lạnh, nhưng trên khóe môi nàng lại nở một nụ cười rạng rỡ, trong trẻo như đóa hoa cải bung nở giữa nắng xuân ấm áp. Nàng ngước nhìn thẳng vào đôi mắt chan chứa chân tình của chàng thư sinh, nhẹ nhàng mà kiên định gật đầu:
“Tạ huynh... huynh đã thấu hiểu lòng muội đến mức gan ruột như thế, Tiểu Mãn này nếu còn chối từ, há chẳng phải là kẻ ngu muội phụ bạc tấm chân tình mà trời cao đã ban tặng hay sao?”
Nghe thấy câu trả lời rành rọt thốt ra từ đôi môi người con gái chàng thầm thương trộm nhớ, toàn thân Tạ Cảnh khẽ run lên vì mừng rỡ tột cùng. Đôi bàn tay vốn chỉ quen với việc mài mực phóng bút bỗng chốc trở nên lúng túng, vụng về như đứa trẻ. Chàng vội vàng thò tay sâu vào trong tay áo rộng, cẩn thận lấy ra một vật nhỏ được bọc kỹ ghê gớm trong một chiếc khăn tay lụa trắng muốt.
Chàng nhẹ nhàng mở từng lớp khăn lụa ra. Nằm gọn trong lòng bàn tay chàng là một chiếc trâm cài tóc bằng gỗ đào. Chiếc trâm dài chừng sáu tấc, thân trâm thon thả, từng đường nét uốn lượn mềm mại được chuốt nhẵn bóng đến mức óng ánh sắc nâu đỏ ấm áp tự nhiên của vân gỗ lâu năm. Nhưng điều khiến Tiểu Mãn hoàn toàn sững sờ, bờ môi khẽ run lên nghẹn ngào, chính là phần đầu của chiếc trâm ấy.
Ở đó, không hề chạm khắc hình chim phượng múa lượn, hoa cúc vương giả hay đính ngọc ngà châu báu xa xỉ như trâm cài của các tiểu thư khuê các, mà lại là hình một nhành hoa đậu nành nhỏ nhắn, mộc mạc và sống động vô cùng. Nhành hoa gồm năm cánh hoa mỏng manh e ấp bung nở, ôm trọn lấy một chiếc lá non hình mũi mác đang vươn lên đón nắng.
Từng đường đục nông sâu, từng vết gọt giũa tỉ mẩn trên nhành hoa đậu nành đều vô cùng tinh xảo, mượt mà đến độ không còn một vết gợn dằm gỗ nào sót lại. Để đẽo gọt được một nhánh hoa đồng ruộng mỏng manh trên chất liệu gỗ đào đanh chắc và già dặn như thế này, người thợ ắt hẳn đã phải bỏ ra hàng trăm đêm dài miệt mài bên ngọn đèn dầu le lói, nhẫn nại từng nhát dao nhỏ, gọt giũa bằng tất cả sự nâng niu và tình yêu thương sâu nặng.
“Chiếc trâm này... là do chính tay ta tự trèo lên sườn núi Thanh Lĩnh tìm một cành gỗ đào già bị sét đánh gãy, mang về tự tay đẽo gọt, mài giũa suốt mấy tháng qua,” Tạ Cảnh ngập ngừng cất lời, giọng chàng trầm xuống đầy xúc động, ánh mắt không rời khỏi mái tóc nàng. “Ta biết muội yêu nhất là ruộng đồng quê hương, yêu nhất là những mầm đậu nành trên đất gò Cồn Gió đã nuôi sống cả gia đình và làm nên thương hiệu tương hoa cau lừng danh của muội. Hoa đậu nành tuy mộc mạc, bình dị, không kiêu sa lộng lẫy như hoa mẫu đơn trong vườn cấm, không ngạt ngào hương sắc như hoa quế nơi đài các, nhưng lại vô cùng kiên cường bám rễ sâu vào mảnh đất sỏi cằn cỗi, chắt chiu từng giọt sương đêm để đơm hoa kết trái, mang lại hạt mầm no ấm cho con người. Với ta, muội chính là đóa hoa đậu nành đẹp đẽ nhất, kiên cường nhất và tôn quý nhất trên cõi đời này.”
Chàng nâng chiếc trâm gỗ đào lên ngang mày, giọng nói run rẩy niềm kính cẩn mà trang trọng khôn xiết:
“Tiểu Mãn, muội có bằng lòng để ta cài chiếc trâm này lên tóc muội, làm tín vật đính ước trọn đời trọn kiếp của hai ta không?”
Tiểu Mãn bước tới một bước, khoảng cách giữa hai người giờ đây chỉ còn gang tấc, gần đến mức nàng có thể nghe rõ từng nhịp đập rộn ràng trong lồng ngực chàng và ngửi thấy mùi hương thơm ngát của nắng sớm còn đọng lại trên vạt áo chàm. Nàng khẽ nghiêng mái đầu về phía chàng, ánh mắt long lanh đón nhận cái nhìn say đắm.
Tạ Cảnh cẩn thận, nâng niu từng lọn tóc mây đen nhánh, từ tốn cắm chiếc trâm gỗ đào hoa đậu nành vào búi tóc gọn gàng của nàng. Chiếc trâm gỗ mộc mạc điểm xuyết trên mái tóc người thôn nương, dưới ánh ráng đỏ rực rỡ cuối ngày của hoàng hôn buông xuống dòng Khe Thanh, bỗng ánh lên một vẻ đẹp đoan trang, thuần khiết và rạng ngời khôn xiết.
Tiểu Mãn khẽ đưa bàn tay thon dài chạm nhẹ vào nhành hoa gỗ đào trên mái tóc, cảm nhận độ mịn màng như lụa và hơi ấm từ công sức, tâm huyết của chàng truyền qua từng thớ gỗ. Nàng ngước nhìn chàng, đôi mắt lấp lánh như gom trọn ngàn vì sao đêm đang dần tỏ rạng trên nền trời:
“Tạ Cảnh, đời này kiếp này, chiếc trâm hoa đậu nành này muội sẽ luôn cài trên tóc. Điền trang có muội, sổ sách có huynh; chúng ta cùng nhau xây dựng cơ nghiệp, kề vai sát cánh đến đầu bạc răng long!”
Tạ Cảnh mỉm cười rạng rỡ, nụ cười xua tan mọi mỏi mệt của những tháng ngày đèn sách gian truân. Chàng đưa bàn tay ấm áp nắm trọn lấy bàn tay nhỏ nhắn nhưng chai sạn vì lao động của nàng. Hai bàn tay đan chặt vào nhau, từng ngón tay siết chặt, vững chãi và khăng khít như sự gắn kết bền chặt giữa rễ cây với lòng đất mẹ. Dưới chân họ, dòng nước Khe Thanh vẫn rì rầm ca hát khúc ca muôn thuở của đất trời, chứng giám cho một mối duyên lành đơm hoa kết trái từ chính sự tôn trọng, bình đẳng và đồng điệu sâu xa giữa hai tâm hồn kiên định.
Bầu trời đêm dần buông xuống trên thôn Thanh Khê, mang theo ngọn gió lành từ núi cao thổi qua cánh đồng bãi bồi thơm ngát mùi phù sa. Một tương lai mới, vững vàng và tràn ngập hy vọng đang mở ra trước mắt đôi lứa trẻ.
Sáng hôm sau, tiếng choòng gõ đá đào móng khu xưởng chế biến vang dội trên khoảnh đất gò mới mua.