Tiểu Thôn Nương Làm GiàuC.41 / 45
Chương 41

Khước từ mối lái ép duyên, trả dứt món vay riêng

Chiếc khay trầu cau bọc lụa điều đỏ chói đập thẳng vào mắt Diệp Tiểu Mãn ngay ngưỡng cửa, kéo theo nụ cười đon đả giả tạo của Chu Kim Quế và mụ mối nức tiếng lắt léo ở chợ huyện Vân Thủy.

Mùi phấn nụ rẻ tiền nồng nặc, ngai ngái pha lẫn mùi mồ hôi chua loét bốc lên từ lớp áo the kép của hai người đàn bà vừa lặn lội qua mấy dặm đường đất bãi, xộc thẳng vào gian nhà chính, át cả hương thơm ngầy ngậy, đậm đà của đĩa thịt kho tương nếp hoa cau hãy còn bốc khói nghi ngút trên chiếc chõng tre. Vạt áo the hoa màu cánh sen đã sờn mép của mụ mối quét sột soạt qua bậu cửa gỗ mít nhẵn bóng, theo sát gót là Chu Kim Quế với đôi mắt ti hí kèm nhèm đảo lia lịa khắp gian nhà ba gian vừa được quét tước tinh tươm. Ánh mắt mụ lướt qua bộ ấm chén sành men da lươn mới tinh đặt trên khay trà, dừng lại chốc lát ở xấp giấy bản trắng ngần Tạ Cảnh vừa chấm mực vẽ dở, rồi thoáng qua một tia ghen tị hằn học đến thắt ruột trước khi kịp giấu vội vào nụ cười tươi như hoa nở rộ giữa ngày xuân.

“Ối chao ôi, cả nhà chú Ba đang quây quần ăn bữa cơm trưa đầm ấm đấy à? May phúc nhà ai bằng phúc nhà họ Diệp ta chứ!” Chu Kim Quế vừa bước qua bậu cửa đã cất giọng the thé lảnh lót, the thét như tiếng kim loại cọ vào đáy nồi đồng, át hết cả tiếng chim sâu ríu rít ngoài bụi trúc đào kề mép bờ giếng khơi.

Chẳng đợi Diệp Thành kịp đặt đôi đũa tre xuống mép mâm, mụ đã đon đả sấn tới. Hai bàn tay thô kệch với những khớp xương to bè, cáu bẩn của mụ bê bổng chiếc khay đồng phủ lụa đỏ điều nặng trĩu. Trên khay, những quả cau bánh tẻ tiện cánh phượng cầu kỳ cắm vôi trắng phớ, xếp quanh mấy phong sáp nhuộm phẩm đỏ chói lọi. Không một lời thưa gửi gia tiên, không một cái cúi đầu chào bậc sinh thành, Chu Kim Quế tự tiện đặt dằn mạnh chiếc khay sính lễ ngay ngắn lên chính giữa mặt chiếc bàn thờ tổ bằng gỗ mít già ở gian giữa.

“Kịch!”

Hành động sỗ sàng, ngạo mạn ấy khiến tàn nhang trên bát hương gốm men lam cổ rung rinh rồi rơi lả tả xuống mặt gỗ bóng loáng.

Diệp Thành khựng lại giữa chừng khi hạt cơm còn chưa kịp nuốt. Đôi mày rậm phủ sương gió nhíu chặt lại thành một đường rãnh sâu hoắm, gương mặt sạm nắng phong trần lộ rõ vẻ bất bình sâu sắc. Người cha vừa buông mạnh bát cơm xuống chõng tre phát ra tiếng cạch khô khốc, bàn tay gân guốc đã nắm chặt lấy chiếc gậy gỗ nghiến dựng sát mép phản:

“Chị dâu cả! Nhà tôi đang lúc cơm nước gia đình, việc tế tự hay sính lễ cưới hỏi của ai ngoài đường ngoài chợ mà chị dám tự tiện xông vào đem đặt lên án thờ họ mạc nhà tôi thế này?”

Chu Kim Quế chẳng thèm bận tâm đến cái nhìn đanh thép như mũi dùi của người em chồng. Mụ vênh mặt lên, vỗ đánh đét hai bàn tay béo núc vào nhau, cười rộ lên một tràng đầy vẻ đắc thắng và ban ơn:

“Kìa chú Ba, sao chú lại nóng như lửa táp vào mặt thế? Sao lại trách chị dâu vụng đường đối đãi? Chị là chị dâu cả, một tay lo toan trong ngoài cho cái tông tộc này, có bao giờ làm điều gì thiệt thòi cho chi Ba của chú đâu! Đây là phúc lớn tày đình từ trên trời rớt xuống trúng nóc nhà tranh của chú đấy thôi! Chú xem, chị phải cất công đội nắng đội gió từ lúc gà gáy gáy canh ba, lặn lội qua đò ngang lên tận chợ lớn huyện Vân Thủy mới thỉnh được Lưu mối nương danh tiếng lẫy lừng khắp mười hai thôn bãi về đây mai mối cho con bé Tiểu Mãn. Mối này mà thành, thì cái gốc rạ nhà chú chẳng mấy chốc hóa rồng hóa phượng, cả họ Diệp ta cũng nhờ bóng mát ấy mà thơm lây, rạng rỡ mặt mày với thiên hạ!”

Được lời như cởi tấm lòng, mụ mối họ Lưu – người đàn bà trạc ngũ tuần đẫy đà, khóe miệng đính một nốt ruồi son to tướng bằng hạt đậu xanh – lập tức đong đưa chiếc quạt giấy bồi vẽ hình mẫu đơn phú quý. Mụ nhún chân, khẽ nghiêng mình chào Diệp Thành bằng một điệu bộ làm bộ làm tịch chốn phố thị:

“Ai chứ Diệp lão đệ đây ắt là bậc phúc tướng trời sinh, nhìn vầng trán rộng là biết hậu vận thênh thang rồi! Cổ nhân người ta vẫn thường bảo ở đời ‘nuôi con gái như ôm quả bom nổ chậm trong lòng’, gả sớm ngày nào nhẹ nợ ngày ấy. Nhưng nuôi được cô nương tháo vát, nết na, tiếng tăm lẫy lừng từ bến Liễu Kiều sang tận đất phủ Vân Thủy như Tiểu Mãn nương tử đây thì quả là của báu trời ban, ngàn vàng khôn đổi! Hôm nay lão thân đích thân đến đây cậy chén nước chè xanh của gia đình, chính là mang đến cho lệnh ái một chốn môn đăng hộ đối, quyền quý cao sang chẳng chê vào đâu được!”

Tiểu Mãn vẫn ngồi ngay ngắn bên mép bàn gỗ mộc mạc. Bàn tay nàng đang cầm ngọn bút lông thỏ chẳng hề run rẩy lấy một hạt mực, nét chữ trên trang sổ ghi chép định lượng muối đậu vẫn thẳng tắp, ngay ngắn. Ánh mắt nàng trong veo, sâu thẳm và phẳng lặng như mặt nước giếng khơi nơi chân núi Thanh Lĩnh giữa trưa hè, không gợn lên một tia sóng gió. Nàng khẽ liếc nhìn Tạ Cảnh ngồi cách mình nửa tầm với; chàng thư sinh khẽ nghiêng đầu, đôi lông mày thanh tú chau lại trong sự dè chừng, ngón tay thon dài gác hờ lên xấp giấy bản phác họa sơ đồ dẫn nước cho xưởng dưa tương mới, ánh mắt toát lên sự điềm tĩnh và thận trọng vốn có của bậc thức giả đã thấu rõ thói đời đen bạc.

“Bác dâu và Lưu mối nương nhọc lòng rồi,” Tiểu Mãn cất giọng trong trẻo, không lạnh lùng xa cách nhưng cũng tuyệt nhiên không vương chút bối rối, e ấp nào của một cô gái thôn quê khi nghe người ta bàn chuyện cưới gả của chính mình. “Tiểu Mãn phận con gái mọn chốn đồng chua bãi cát, quanh năm chỉ biết lội bùn chăm luống cải bẹ, bưng chum tương ủ hạt nếp, tay lấm chân bùn, chẳng dám mơ tưởng đến chốn môn đăng hộ đối quyền quý nào trên huyện thành. Bác dâu làm ơn hạ khay lễ kia xuống khỏi bàn thờ giùm, kẻo kinh động đến hương linh tiên tổ nhà họ Diệp đang ngự trên cao.”

Chu Kim Quế quắc mắt, khóe miệng giật giật từng chập dữ dằn, nhưng dường như nhớ lại món hời lớn đang chờ đợi phía trước, mụ liền dằn cơn giận xuống. Xấn tới cạnh bàn gỗ, mụ chĩa ngón tay đeo chiếc nhẫn đồng mạ bạc giả vào mặt Tiểu Mãn mà chỉ trỏ:

“Mày đừng có vội mở miệng chối đây đẩy như gái còn son hờn dỗi thế, con ranh kia! Người ta bảo ‘áo mặc sao qua khỏi đầu’, mối này là do đích thân bác cả mày cùng ta đắn đo so tính suốt mấy ngày mấy đêm, lật qua lật lại từng lá số tử vi mới chọn được đấy! Mày có biết là ai không? Đó chính là Tào đại lão bản – chủ nhân của ba xưởng xẻ gỗ lớn nhất mạn nam huyện thành Vân Thủy! Nhà ngõ gạch tường hoa ba dãy, thóc lúa đầy kho mọt không ăn xuể, ngựa xe kéo hàng ra vào nườm nượp suốt từ sáng tới tối, bạc đúc nén xếp đầy rương đè gãy cả xà nhà lim! Ngài ấy năm nay mới ngoài bốn mươi một chút, phong độ đường bàng, râu tóc đen nhánh, chỉ vì vị phu nhân trước bạc phận đoản mệnh nên nay muốn tìm một mối kế thất hiền thục, giỏi giang quán xuyến việc trong ngoài, coi sóc kẻ ăn người làm. Mày bước chân vào cái cổng ngõ nhà họ Tào ấy, là một bước lên bà chủ xưởng gỗ lớn, cơm bưng nước rót tận miệng, lụa là gấm vóc quấn thân, việc gì phải ngày ngày chường cái mặt hoa da phấn ra ngoài gió mưa chợ phiên Liễu Kiều cho đám cửu vạn phu đò nhòm ngó dị nghị?”

Nghe tới ba chữ “chủ xưởng xẻ gỗ”, Diệp Nhị Hòa đang ngồi bên mâm cơm chợt buông phịch đôi đũa xuống chõng, siết chặt nắm đấm, hai mắt trừng lớn như chuông đồng:

“Tào lão bản xưởng gỗ? Có phải lão già họ Tào râu cá trê tháng trước từng thuê thuyền chở gỗ lim qua bến sông Liễu Kiều không? Cái lão nổi tiếng bủn xỉn khắc nghiệt, quỵt tiền công bốc vác của phu đò, đánh đập người làm công tàn tệ đến mức người ta phải kiện lên nha môn huyện đó sao? Con cái lão ta sinh ra với bà trước còn lớn tuổi hơn cả chị Mãn nhà tôi, gả cái gì mà gả! Bác dâu rắp tâm đem chị tôi đi đày ải vào hố lửa thì có!”

“Cái thằng ranh con nứt mắt ra thì biết cái đếch gì!” Chu Kim Quế the the mắng át đi, mặt mụ đỏ bừng lên vì thẹn và giận khi bị đứa cháu trai vạch trần. “Đàn ông có tuổi một chút mới biết xót xa chiều chuộng vợ trẻ! Người ta giàu nứt đố đổ vách, có tiền vạn bạc muôn, con Mãn gả đi là làm kế thất đàng hoàng, có xe hoa kiệu tám người khiêng rước long trọng từ cổng làng rước đi, chứ có phải làm lẽ mọn hầu hạ ai đâu mà chúng mày lắm chuyện gièm pha, bôi tro trát trấu vào mặt người mai mối?”

Lưu mối nương thấy không khí trong gian nhà bỗng chốc chùng xuống ngột ngạt, liền vội vã khua tà áo the lụa màu cánh sen, xởi lởi cười trừ để xoa dịu đôi bên, chiếc quạt nan trên tay phe phẩy liên hồi phả ra mùi phấn nụ nồng gắt:

“Ấy kìa, tiểu tiểu ca ca chớ vội nóng nảy buông lời hồ đồ mà mang tội với trời đất. Ở đời đàn bà con gái đi lấy chồng, cốt sao tìm được cái bát vàng, cái chậu bạc để nương tựa tấm thân suốt nửa đời sau, chứ ôm lấy cái danh hão làm gì cho khổ xác? Tào lão gia nhà ta tuy có nghiêm khắc trong việc quản lý người làm, nhưng đối với người nhà thì lại là bậc trượng phu độ lượng hào sảng vô cùng. Ngài ấy nghe danh Tiểu Mãn nương tử tay năm tay mười đảm đang việc thương trường, tính tình đoan chính lại khéo tay làm lụng, lại nghe nói họ Diệp ở thôn Thanh Khê này có nền nếp gia giáo lâu đời nên ngài cực kỳ ưng thuận. Ngài ấy còn hứa chắc như đinh đóng cột với lão thân, ngày cưới sẽ đưa đủ ba mươi lượng bạc trắng tinh ròng làm sính lễ dẫn cưới, thêm hai đôi xuyến vàng hoa mai chạm trổ tinh xảo, bốn súc lụa đoạn Hồ Nam thượng hạng! Ba mươi lượng bạc đấy nhé! Cả cái thôn Thanh Khê này từ xưa tới nay đã có đám cưới nào rạng rỡ tông môn, vẻ vang dòng họ đến nhường ấy chưa?”

Diệp Thành ngồi trên mép phản, từng thớ thịt trên gò má giật giật. Nghe đến sính lễ ba mươi lượng bạc ròng, trong lòng người cựu binh già không hề gợn lên một chút tham lam hay xao động, ngược lại, sự cảnh giác và âu lo càng trĩu nặng trong lồng ngực. Trải qua bao phen cay đắng suýt mất nhà mất ruộng vào tay địa chủ Lương gia, rồi những mưu mô nham hiểm nhằm vơ vét sinh kế của chính người anh ruột Diệp Đại Phúc từ thuở hàn vi đến nay, ông thừa hiểu ở cõi đời này chẳng có miếng mồi béo bở nào tự nhiên rơi xuống miệng kẻ nghèo hèn mà bên trong không giấu chiếc lưỡi câu bằng thép gai sắc nhọn.

“Lưu mối nương,” Diệp Thành chống chiếc gậy gỗ nghiến đứng thẳng người dậy. Dù một bên chân từng mang thương tật nặng vừa mới hồi phục sau đợt chữa trị bằng bài thuốc bó của Tạ Cảnh, vóc dáng ông vẫn cao lớn, vững chãi, giọng nói trầm đục vang lên dứt khoát như đá tảng va vào nhau. “Nhà tôi tuy nghèo, cơm rau đạm bạc, sáng nay vừa dốc cạn đồng xu cuối cùng ngoài từ đường mới trả sạch món nợ năm xưa cho Lương gia, nhưng con gái tôi sinh ra là bằng xương bằng thịt, là khúc ruột của vợ chồng tôi, không phải thứ mớ rau con cá ngoài chợ phiên để người ta đem ba mươi lượng bạc ra định giá, mặc cả bớt một thêm hai! Chuyện hôn nhân đại sự là đạo cương thường, phải do cha mẹ ưng thuận và chính bản thân con bé gật đầu ưng ý mới thành. Nếu Tào lão bản kia đã giàu có nứt đố đổ vách, sang trọng bậc nhất huyện thành như lời bà ca tụng, cớ sao ngài ấy không tìm tiểu thư khuê các chốn thị thành môn đăng hộ đối, mà phải cất công lặn lội về tận thôn nghèo bãi bồi hoang vu này tìm một đứa con gái làm nông lam lũ để cưới làm kế thất?”

Lưu mối nương bị gặng hỏi trúng tim đen, nụ cười đon đả trên gương mặt trát phấn dày cộp bỗng hơi gượng gạo, khóe môi giật nhẹ một cái. Nhưng con mụ buôn nước bọt lão luyện nơi cửa chợ huyện, chuyên nghề đổi trắng thay đen há dễ bị dồn vào chân tường nhanh như vậy. Mụ khẽ đong đưa chiếc quạt nan bọc gấm, liếc mắt nhìn quanh một vòng từ chiếc phản gỗ, cái cối đá xay đậu ngoài hiên cho đến từng góc nhà, rồi hạ thấp giọng xuống vẻ thân tình, tỉ tê như đang đem hết ruột gan ra giãi bày với người ruột thịt:

“Ấy chết, Diệp lão đệ nói thế là chưa thấu hết tấm lòng từ bi Bồ Tát của Tào lão bản rồi! Ngài ấy giàu thì giàu thật đấy, nhưng cái tâm thì lúc nào cũng hướng về người tài đức. Ngài ấy bảo, một cô nương nhà nông chân lấm tay bùn mà dám một thân một mình đứng ra bươn chải làm ăn, gây dựng được sạp buôn bề thế ở Trấn Liễu Kiều, lại khéo léo ký kết được cả khế ước cung ứng tương cải độc quyền cho Tửu lầu Vọng Giang danh giá bậc nhất ngoài huyện thành thì ắt hẳn phải là bậc kỳ nữ hiếm có trên đời. Tuy nhiên... ngài ấy dẫu sao cũng là đại thương nhân có máu mặt, môn đăng hộ đối với các bậc quan viên trong huyện, dòng họ Tào bao đời nay coi trọng gia phong nề nếp, tôn ti trật tự chốn khuê phòng. Con gái một khi đã gả về làm dâu trưởng họ Tào, bước chân vào chốn lầu son gác tía nhung lụa thì tuyệt đối không thể nào cứ tiếp tục lam lũ bán buôn ngoài chợ phiên xô bồ, hay ngày ngày thò tay vào chum vại bốc mùi mắm tương tanh nồng trước mắt thiên hạ được.”

Mụ mối họ Lưu khẽ ngừng lại một nhịp lấy hơi, đưa mắt dò xét từng biến chuyển nhỏ nhất trên nét mặt của Diệp Thành, Diệp Tiểu Mãn và Tạ Cảnh. Thấy mọi người đều im lặng lắng nghe, mụ tưởng chừng cá đã sắp cắn câu, liền khéo léo buông ra điều kiện tiên quyết bằng giọng điệu ngọt xớt như rót mật ngọt pha thuốc độc vào tai:

“Bởi thế cho nên, trước khi lão thân xuôi thuyền về đây, Tào lão bản có dặn dò lão thân rất kỹ lưỡng từng lời từng chữ: Sau ngày đại hôn đón Tiểu Mãn về dinh cơ bên huyện, để bảo toàn thể diện cho nàng và gia đình bên chồng, toàn bộ sạp buôn Hàng Khô - Ất Thập Bát ngoài bến Liễu Kiều, cùng toàn bộ mối giao dịch cung ứng dưa tương độc quyền với Tửu lầu Vọng Giang... nàng phải giao lại toàn bộ sổ sách mua bán, văn tự khế ước và quyền điều hành cho người bên nhà chồng đứng ra quán xuyến. Tào gia sẽ sai một viên quản lý riêng giàu kinh nghiệm tiếp quản toàn bộ việc buôn bán ấy. Bù lại, Tiểu Mãn nương tử từ nay chỉ việc ngồi trong phòng tiêu dao tự tại, an nhàn hưởng thụ lộc trời, mỗi tháng lãnh tiền tiêu vặt bằng bạc trắng tinh ròng, việc chi tiêu trong nhà từ cây kim sợi chỉ đều có kẻ hầu người hạ lo toan chu tất. Đó chẳng phải là phúc phận ngập tràn mà đời người con gái nằm mơ cũng không thấy được hay sao?”

Nghe tới đó, ngọn gió xuân ấm áp vừa lùa qua khe cửa chái hiên bỗng như đọng cứng lại thành băng tuyết buốt giá.

Mưu đồ nham hiểm giấu kín bấy lâu nay cuối cùng cũng đã lòi cái đuôi cáo tanh tưởi ra ngoài ánh sáng!

Diệp Tiểu Mãn khẽ nhếch khóe môi thành một nụ cười mỉa mai buốt lạnh thấu xương. Nàng đã đoán không sai lấy nửa phân. Hóa ra cái danh nghĩa “kế thất nhà giàu”, kiệu hoa tám người khiêng rực rỡ lấp lánh kia chỉ là tấm vải the thưa che đậy lòng tham không đáy của một phường lang sói cấu kết với nhau! Thứ mà vợ chồng bác cả cùng tên thương nhân buôn gỗ cáo già họ Tào kia nhắm vào, tuyệt đối không phải là dung mạo hay tính hạnh của nàng, mà chính là cơ nghiệp buôn bán đang phất lên như diều gặp gió: sạp hàng Ất Thập Bát đắc địa ngay đầu cầu bến sông Liễu Kiều, bản khế ước một năm bao tiêu béo bở với Vọng Giang Lâu, công thức ủ tương hoa cau độc nhất vô nhị của bà ngoại Lâm Thu Bà, và cả dải đất gò năm mẫu ven bờ Khe Thanh màu mỡ mà nàng vừa mới đặt cọc xong xuôi sáng nay! Bọn họ muốn dùng một mối hôn sự ép buộc, mượn cái cớ “xuất giá tòng phu, phụ nữ không được chường mặt kinh doanh” để tước đoạt toàn bộ quyền tự chủ, nuốt trọn công sức mồ hôi nước mắt mà nàng cùng cả gia đình chi Ba đã đổ xuống suốt bao tháng ngày qua.

Chưa để Diệp Thành kịp cất lời cự tuyệt, ngoài cổng ngõ rào tre bỗng vang lên tiếng nện gậy “cộp... cộp... cộp” nặng nề, dồn dập và đầy vẻ thị uy ngang ngược.

“Két... rầm!”

Cánh liếp tre bị một bàn tay thô bạo đẩy mạnh sang một bên. Diệp Đại Phúc một tay chống chiếc gậy tre bọc đồng sáng loáng, một tay chắp sau lưng, hất hàm bước những bước dài qua bậc cửa gian chính. Dù trên danh nghĩa, lão vừa bị Cụ Bảy và các bô lão dòng tộc phế truất chức trưởng chi sau vụ lộ tẩy khế ước gian lận với Lương Quảng Tài sáng nay ngoài từ đường, nhưng bản tính gia trưởng thâm căn cố đế, thói khôn lỏi và lòng hám lợi đã ngấm sâu vào từng khúc xương tủy khiến lão chẳng hề biết xấu hổ là gì.

Vừa bước chân vào nhà, Diệp Đại Phúc đã đưa cặp mắt trâu đảo một vòng sắc lẹm quanh mâm cơm đạm bạc, rồi hướng thẳng ánh nhìn hống hách, đầy tính áp đặt về phía Diệp Thành:

“Chú Ba! Chuyện hôn sự của cái Mãn, ban nãy thím dâu mày và Lưu mối nương bàn bạc, tao đứng ngoài rào tre đã nghe rõ mười mươi từ đầu đến cuối rồi! Mối này tốt đẹp vẹn toàn trăm bề, môn đăng hộ đối, Tào gia lại là bậc phú hộ danh giá trong huyện, chẳng có chỗ nào cho chúng mày chê trách hay kén cá chọn canh được cả! Đừng có cậy vừa trả xong mấy đồng bạc nợ còm cho người ta rồi sinh thói ngông cuồng coi trời bằng vung, không coi tôn ti trật tự ra cái thể thống gì!”

Diệp Thành nghiến răng kèn kẹt, lồng ngực phập phồng dữ dội vì cơn giận bốc lên ngùn ngụt:

“Bác cả! Sáng nay trước mặt Cụ Bảy, trước mặt toàn thể hương thân phụ lão nơi từ đường dòng họ, bác đã bị tước quyền can dự vào việc chung. Hơn nữa, bản Tộc Ước Sinh Kế Khế Thư có triện dấu đỏ chói của Trưởng thôn Phạm Đức Thuận đã quy định rành rành từng điều từng khoản: việc làm ăn đồng áng, kinh doanh buôn bán và tương lai dựng vợ gả chồng của con cái chi Ba chúng tôi hoàn toàn do cha mẹ chi Ba tự tay định đoạt! Bác lấy tư cách gì, danh nghĩa gì mà bước vào đây chỉ tay năm ngón, toan tính ép gả con gái tôi cho một kẻ đáng tuổi cha chú nó?”

Diệp Đại Phúc bị chọc trúng vết nhục nhã ê chề sáng nay, mặt mày thoắt cái tím ngắt lại như quả mồng tơi chín dập. Lão giộng mạnh đầu gậy bọc đồng xuống nền đất nện phát ra tiếng “thình” đanh gọn, bụi đất bắn tung lên:

“Tư cách gì à? Tao là anh ruột cùng cha cùng mẹ, chung một giọt máu đào rớt ra từ bụng mẹ với mày! Tao vẫn là kẻ đứng đầu huyết mạch chi trưởng họ Diệp này! Dẫu có bãi chức trưởng chi nơi từ đường dòng họ thì cái đạo hiếu đễ, luân thường đạo lý trong cái nhà này tao vẫn là bề trên của mày, là bác ruột của con Mãn! Thử hỏi khắp cái đất Thanh Khê, đất Vân Thủy này, có đứa cháu gái nào xuất giá tòng phu mà dám cả gan gạt bỏ lời phán quyết của bác cả không? Huống chi, Tào gia giàu có muôn phần, sính lễ ba mươi lượng bạc trắng ấy, tao đã tính toán chu toàn cả rồi: chi Ba chúng mày giữ lấy mười lượng mà an dưỡng tuổi già, thuốc men thang chén; hai mươi lượng còn lại phải sung vào quỹ họ để lo cho thằng Văn Long sang năm đi thi hương trên phủ!”

Lão Đại Phúc bước tới một bước, râu mép rung rinh theo từng lời nói trơ tráo:

“Con gái là con người ta, gả đi lấy chồng như bát nước hắt đi là xong bổn phận! Đem cái sạp buôn lặt vặt với mấy bản khế ước tương giao cho nhà chồng quản lý là giữ trọn đạo tam tòng tứ đức, vừa rạng danh cho tông tộc họ Diệp, lại vừa đỡ đần được cho anh em ruột thịt, tạo bàn đạp cho thằng Văn Long đỗ đạt làm quan mai này! Chú mày đừng có hồ đồ mù quáng, nghe lời xúi giục dại dột của lũ trẻ ranh nứt mắt mà làm hỏng mất đại sự công danh của cả một dòng họ!”

Từng lời, từng chữ trắng trợn và trơ trẽn của Diệp Đại Phúc thốt ra chẳng khác nào gáo dầu sôi dội thẳng vào ngọn lửa giận đang bùng cháy dữ dội trong gian nhà tranh chật hẹp.

Nhị Hòa tức đến mức hai hàm răng va vào nhau lập cập, toàn thân run bắn lên, toan xông thẳng ra chắn trước mặt lão bác cả độc ác. Thế nhưng, một bàn tay vững chãi đã kịp thời đặt lên vai cậu. Tạ Cảnh trong tà áo chàm thanh bạch khẽ vươn tay giữ chặt lấy vai Nhị Hòa, khẽ lắc đầu ra hiệu cho cậu bình tĩnh. Chàng thư sinh chậm rãi đứng dậy, vóc dáng cao gầy nhưng toát lên một khí độ đĩnh đạc phi thường. Ánh mắt chàng lạnh buốt như băng tuyết trên đỉnh Thanh Lĩnh, nhìn xoáy thẳng vào đôi mắt trâu vằn tia máu của Diệp Đại Phúc:

“Diệp lão bá, ngài mở miệng xưng đạo hiếu, khép miệng nói luân thường đạo lý, nhưng điều bốn mươi hai chương Hộ Luật trong Đại Lương Điển Lệ đã định rất rõ ràng: ‘Phụ mẫu tại đường, hôn sự do phụ mẫu chuyên chủ; tộc trưởng dữ tôn tộc vô quyền cưỡng chế’. Nghĩa là cha mẹ còn sống thì việc hôn nhân của con cái hoàn toàn do cha mẹ định đoạt; tộc trưởng hay tôn tộc tuyệt đối không có quyền cưỡng ép! Chưa kể, điều sáu mươi bảy bộ Luật Hình triều ta cũng nêu rõ: ‘Kẻ nào mượn danh nghĩa tôn trưởng, ép duyên gả bán nữ tử nhằm mưu đoạt tài sản riêng, sinh kế hoặc điền sản của người khác, đều bị liệt vào tội bức hôn trục lợi, nhẹ thì phạt tám mươi trượng, nặng thì đồ lưu ba ngàn dặm!’ Ngài đem danh nghĩa huyết thống ra để áp đặt một cô nương tự lập, tước đoạt kế sinh nhai của em trai ruột thịt, lại toan tính chiếm đoạt sính lễ để lo lót việc riêng, chẳng hay đó là thứ đạo lý của thánh hiền nào dạy, hay là hành vi vi phạm quốc pháp rành rành?”

Diệp Đại Phúc bị chàng thư sinh nghèo điểm trúng ngay tử huyệt luật pháp triều đình, thẹn quá hóa giận, ngực tức nghẹn lại không thở nổi. Lão vung thẳng đầu chiếc gậy tre bọc đồng chỉ suýt chạm vào chóp mũi Tạ Cảnh, gầm rống lên như một con thú hoang bị dồn vào chân tường:

“Cái thằng học trò nghèo kiết xác trọ học mạt rệp kia! Việc nội bộ cốt nhục họ Diệp chúng tao đến lượt một kẻ ăn nhờ ở đợ, tha hương cầu thực, không tấc đất cắm dùi như mày chõ mõm vào dạy đời sao? Mày đừng tưởng tao không biết tỏng cái bụng dạ đen tối của mày! Chẳng qua mày cũng thèm muốn cái cơ nghiệp dưa tương béo bở, thèm muốn dải đất gò năm mẫu ven khe suối của nhà này nên mới tìm cách chèo kéo, mớm lời xúi giục con Mãn từ chối mối thơm nhà họ Tào để dễ bề chiếm đoạt chứ gì? Tao bảo cho cả nhà chúng mày biết, hôm nay tao là bề trên, tao nói gả là phải gả! Chú Ba mà không chịu gật đầu nhận lễ, tao lập tức triệu tập toàn bộ các chi nhánh, già trẻ trai gái trong họ đến đây, đập nát toàn bộ cái đám chum vại bốc mùi mắm tương thối tha này ra, xem đứa nào dám làm loạn chống lại tộc quy!”

Chu Kim Quế đứng bên cạnh thấy chồng ra oai sấm sét, cũng lập tức vỗ đùi bôm bốp phụ họa, cười the thé đầy hiểm độc và cay nghiệt:

“Đúng đấy! Đừng tưởng trả hết nợ cho nhà họ Lương là đã rũ sạch nợ nần ở cõi đời này! Thím Ba đâu rồi? Con mụ Tú Nương ốm tha đau mượn kia trốn rúc ở xó nào rồi? Mau vác xác ra đây mà bảo con gái mày quỳ xuống cúi đầu nhận lễ! Mày đừng có quên món nợ máu năm xưa mày sang quỳ lạy, dập đầu van xin tao cứu mạng thằng Diệp Thành! Giấy trắng mực đen điểm chỉ chu sa rành rành còn nằm trong tay áo tao đây này! Hôm nay nếu chúng mày không chịu mối gả này, tao lập tức đòi đủ cả gốc lẫn lãi, dồn cả nhà chúng mày vào bước đường cùng không chốn dung thân!”

Bầu không khí trong gian nhà chính căng như một sợi dây cung đã kéo căng hết cỡ, chỉ cần một làn gió nhẹ cũng đủ làm nó đứt phựt. Mụ mối họ Lưu đứng nép bên góc tủ chè, lấm lét đảo mắt nhìn quanh, trong lòng bắt đầu chột dạ nhận ra tình hình chẳng hề êm thấm, dễ nuốt như lời vợ chồng Diệp Đại Phúc hứa hẹn lúc sáng sớm.

Đúng vào khoảnh khắc ngột ngạt đến nghẹt thở ấy, tấm rèm vải mộc thô màu chàm ngăn buồng ngủ phía trong bỗng khẽ lay động.

Một bóng người mảnh khảnh nhưng vững vàng, khoan thai chậm rãi bước ra ngoài hiên nhà.

Đó là Lâm Tú Nương.

Người mẹ quanh năm nhẫn nhục, cúi đầu cam chịu, từng bao phen ngã quỵ vì căn bệnh tim đau đớn và nỗi âu lo nợ nần bủa vây, nay xuất hiện trong bộ áo vải thô màu nâu sồng phẳng phiu, sạch sẽ. Mái tóc hoa râm của bà được búi gọn gàng sau gáy bằng chiếc trâm gỗ bồ đề mộc mạc mà thanh nhã. Trên gương mặt gầy guộc đã hằn sâu những nếp nhăn nhọc nhằn, tuyệt nhiên không còn chút hoảng loạn, sợ sệt hay run rẩy nào của những ngày tháng tăm tối cũ kỹ. Thay vào đó là một vẻ điềm tĩnh lạ kỳ, đôi mắt sáng quắc ánh lên sự kiên cường và lòng tự trọng vô biên của một người mẹ đã sẵn sàng xòe đôi cánh chở che cho đàn con thơ.

Hai bàn tay bà nâng niu một chiếc túi vải thô dệt bằng sợi gai, viền chỉ chàm dày dặn, nặng trịch trĩu cả đôi cổ tay.

Từng bước, từng bước một, Lâm Tú Nương tiến thẳng đến chiếc bàn gỗ mít nơi Tạ Cảnh và Tiểu Mãn đang ngồi. Bà thậm chí không thèm liếc nhìn chiếc khay sính lễ đỏ chói bọc vải điều trên bàn thờ tổ lấy nửa phần. Đứng sững trước mặt Chu Kim Quế, Lâm Tú Nương giơ cao chiếc túi vải thô trong tay, rồi dằn mạnh xuống mặt bàn gỗ phát ra một tiếng động chấn động tâm can.

“Cộp!”

Tiếng kim loại va đập vào nhau trầm đục, nặng chịch vang lên đanh giòn, dội thẳng vào màng nhĩ của tất cả những người có mặt.

Dây buộc miệng túi vải khẽ bung ra một góc, để lộ ra những nén bạc trắng tinh ròng sáng lấp lánh dưới ánh nắng trưa rọi xiên qua khung cửa liếp, xen lẫn những xâu tiền đồng Cảnh Hưng mới tinh, tròn trịa được xâu bằng sợi gai dầu chắc nịch.

Năm lượng bạc trắng tinh ròng! Không thiếu một phân, một ly, một đồng kẽm nào!

Gian nhà chính bỗng chốc im phăng phắc như tờ, sự tĩnh lặng kéo dài đến mức người ta có thể nghe thấy rõ mồn một tiếng thở dốc nghẹn ngào vì kinh ngạc của Chu Kim Quế và tiếng nuốt nước bọt ừng ực vì thèm thuồng của mụ mối họ Lưu.

“Chị dâu cả,” Lâm Tú Nương cất lời. Giọng bà vốn dịu dàng, trầm lặng, nhưng lúc này từng âm sắc phát ra lại rành rẽ, dứt khoát như đinh đóng chặt vào cột gỗ lim nghìn năm. “Chị luôn mồm mở miệng nhắc đến món tiền thuốc cứu mạng nhà tôi vào mùa đông năm ngoái. Năm ngoái, chồng tôi đi đốn củi trên núi Thanh Lĩnh chẳng may bị cây cổ thụ đè nát khớp gối, tính mạng ngàn cân treo sợi tóc, máu chảy đầm đìa tím tái cả người. Tôi là phận làm vợ xót chồng, cắn răng gạt bỏ hết sĩ diện, sang quỳ lạy dưới chân chị dâu để vay riêng ba lượng bạc trắng bốc thuốc cầm máu, giữ lại mạng sống cho người cha của đàn con tôi. Món nợ ân nghĩa ruột thịt ấy, dẫu có nhắm mắt xuôi tay tôi cũng khắc cốt ghi tâm, chưa từng dám buông lơi hay lãng quên lấy một ngày.”

Chu Kim Quế run rẩy giơ ngón tay cáu bẩn chỉ thẳng vào túi bạc sáng lóa trên bàn, môi mấp máy lắp bắp không thành tiếng:

“Mày... mày lấy đâu ra... lấy đâu ra ngần này bạc trắng... Mày ăn trộm ăn cướp của ai...”

“Tiền này là do chính bàn tay con gái tôi, chồng tôi và các con tôi thức khuya dậy sớm dệt từng thước vải gai, phơi từng nong đậu tương dưới nắng gắt, muối từng vại dưa cải bẹ mà tích cóp từng đồng xu chén gạo thành hình!” Lâm Tú Nương ngẩng cao đầu, ánh mắt bà thẳng thắn, sáng trong nhìn thẳng vào đôi mắt ti hí đang đảo láo liên vì kinh hoàng của Chu Kim Quế. “Theo khế ước phân kỳ có Trưởng thôn và Cụ Bảy đóng dấu chứng giám dạo nọ, cuối tháng ba vừa qua, con Mãn nhà tôi đã đích thân mang một lượng năm tiền bạc trắng sang trả đợt đầu cho chị, có giấy biên nhận rành rành hai bên ký tên. Đợt thứ hai theo hẹn ước đến rằm tháng tư mới tới hạn chót. Nhưng hôm nay, trước mặt Lưu mối nương, trước mặt bác cả và bà con chòm xóm đang vây kín ngoài rào tre kia, tôi muốn thanh toán dứt điểm toàn bộ một lần cho trọn vẹn ân tình!”

Nói đoạn, Lâm Tú Nương thò tay vào vạt áo trong, rút ra hai tờ giấy bản đã gấp nếp ngay ngắn phẳng phiu, đặt bên cạnh túi bạc:

“Khoản nợ gốc còn lại theo giấy tờ chỉ là một lượng năm tiền. Nhưng năm xưa chị bảo cho vay là ơn nghĩa cứu mạng, hôm nay tôi đặt đủ năm lượng bạc trắng tinh ròng ngay tại đây! Một lượng năm tiền là trả nốt phần nợ gốc còn thiếu; còn ba lượng năm tiền dôi ra kia, gia đình chi Ba chúng tôi coi như món quà tạ ơn trời biển, trả sạch sành sanh cả gốc, lãi lẫn cái tình nghĩa ruột thịt mà chị dâu từng ban phát cho chúng tôi trong lúc hoạn nạn!”

Lâm Tú Nương bước thêm một bước dứt khoát, giọng bà đanh thép tựa sấm ran giữa trời quang:

“Tạ công tử đã giúp tôi thảo sẵn hai bản giấy biên nhận tất toán nợ nần rành rọt từng chữ theo điển lệ triều đình. Bây giờ, xin mời chị dâu móc ngay tờ giấy nợ năm ngoái có điểm chỉ chu sa của tôi ra đây đối chiếu! Chị điểm chỉ vào giấy biên nhận tất toán, nhận đủ túi bạc năm lượng này trước bàn thờ tiên tổ và bà con chòm xóm, rồi trao trả lại văn tự nợ cũ cho tôi! Kể từ giờ phút này trở đi, nhà Diệp Thành này không còn nợ họ Chu, nợ chi trưởng nhà các người dẫu chỉ là nửa hạt thóc lép hay một đồng tiền kẽm rỉ sét! Đừng bao giờ vác cái cớ nợ nần ấy ra để toan tính bán con gái tôi làm lẽ mọn, làm kế thất, hay làm bàn đạp vinh thân phì gia cho bất kỳ kẻ nào nữa!”

Cả gian nhà như nghẹt thở trước uy lực của người mẹ vốn hiền lành.

Diệp Thành nhìn vợ mình, khóe mắt người cựu binh dạn dày sương gió bỗng cay xè, một niềm tự hào và cảm phục vô bờ dâng trào trong lồng ngực. Nhị Hòa, Tam Nha và Tiểu Đậu đứng nép sát sau lưng mẹ, ngực đứa nào đứa nấy ưỡn thẳng, ánh mắt ngời sáng niềm kiên định và kiêu hãnh khôn cùng.

Chu Kim Quế mặt cắt không còn một giọt máu, xám ngoét như tro tàn đáy bếp. Món nợ riêng – thứ vũ khí độc địa duy nhất mà mụ giấu kín bấy lâu nay trong tay áo để đe dọa, chèn ép, toan tính tống tiền và làm bàn đạp ép duyên Tiểu Mãn vào nhà họ Tào – nay đã bị Lâm Tú Nương đập tan tành một cách sòng phẳng, dứt khoát và ngạo nghễ đến nhường này!

Dưới ánh nhìn như thiêu như đốt của Diệp Thành, của Tạ Cảnh và đám đông hàng xóm ngoài ngõ, Chu Kim Quế run lẩy bẩy như cầy sấy. Mụ thò bàn tay nhớp nháp mồ hôi vào tận đáy túi áo trong, lôi ra tờ giấy nợ ố vàng, nhàu nát bấy lâu.

Tạ Cảnh bước lên một bước điềm đạm, đón lấy tờ giấy nợ từ tay mụ. Chàng giơ tờ giấy lên trước ánh sáng mặt trời rọi qua khe liếp, tỉ mỉ đối chiếu từng dòng chữ, từng vết ố và dấu vân tay chu sa đỏ bầm nơi góc dưới với hai bản biên nhận tất toán nợ, rồi cất giọng rành rẽ:

“Đúng là văn tự vay mượn mùa đông năm ngoái, nét chữ của Chu thị, dấu chỉ tay của thím Ba, không sai một nét. Giờ xin mời Chu thị ấn điểm chỉ chu sa vào hai bản biên nhận tất toán này, xác nhận đã nhận đủ năm lượng bạc trắng ròng thanh toán dứt điểm toàn bộ nợ nần, cam kết đôi bên từ nay không còn bất kỳ khiếu nại hay ràng buộc nào nữa.”

Tạ Cảnh mở nắp hộp chu sa đỏ thắm mang theo bên nghiên mực Đoan Khê đặt lên bàn. Nhìn túi bạc năm lượng sáng lóa nằm sờ sờ ngay trước mắt, lòng hám lợi bốc lên lấn át cả nỗi bẽ bàng, Chu Kim Quế vội vã dí mạnh ngón tay cái vào hộp chu sa rồi ấn đét dấu vân tay đỏ tươi vào góc dưới của cả hai bản biên nhận tất toán nợ. Điểm chỉ xong xuôi, bàn tay cáu bẩn của mụ nhanh như chớp chộp lấy túi bạc năm lượng, nhét tọt vào trong ngực áo ghì chặt lấy.

Tạ Cảnh trao một bản biên nhận cho Chu Kim Quế, trao bản chính biên nhận cùng tờ giấy nợ cũ cho Lâm Tú Nương và Tiểu Mãn. Biên nhận giấy trắng mực đen điểm chỉ chu sa rõ ràng đã lập xong, món nợ riêng chính thức được thanh toán dứt điểm trước sự chứng giám của toàn thể mọi người!

Tiểu Mãn đón lấy tờ giấy nợ cũ từ tay mẹ. Trước đôi mắt trố lồi trắng dã của Chu Kim Quế và nét mặt thẫn thờ, chết lặng của Diệp Đại Phúc, nàng chụm hai đầu ngón tay thanh mảnh, dứt khoát xé toạc tờ giấy làm đôi.

“Xoẹt!”

Tiếng xé giấy khô khốc vang lên rợn người. Nàng tiếp tục xé làm tư, làm tám, rồi thản nhiên ném thẳng những mảnh giấy vụn vào chiếc chậu sành hơ than củi đặt dưới góc phản gỗ.

Những mảnh giấy nợ vừa chạm phải tàn than hồng rực, lập tức bén lửa, bùng lên một ngọn lửa vàng le lói rồi nhanh chóng cuộn tròn, biến thành một dúm tàn tro đen sì trong nháy mắt.

Món nợ cũ đã tan thành mây khói! Ràng buộc ân nghĩa giả tạo kìm kẹp bao năm qua cuối cùng cũng đã bị ngọn lửa thiêu rụi không còn một mảnh vụn!

Lúc này, Diệp Tiểu Mãn mới thong thả đứng dậy. Nàng đứng thẳng tắp giữa gian nhà chính, vóc dáng thanh mảnh trong bộ y phục vải thô giản dị nhưng toát lên một khí thế kiên cường, đĩnh đạc và rực rỡ khiến bất kỳ kẻ đối diện nào cũng phải rùng mình kiêng nể. Nàng quét ánh mắt sắc như dao cau qua gương mặt bôi phấn nham nhở của Lưu mối nương, rồi dừng lại nhìn thẳng vào đôi mắt xám xịt của Diệp Đại Phúc:

“Lưu mối nương, bác cả, bác dâu, hãy mở to tai ra mà nghe cho rõ từng lời Diệp Tiểu Mãn tôi nói đây!”

Giọng nói của nàng trong trẻo mà vang dội lạ thường, ngân vang qua từng vì kèo gỗ mít, dội thẳng ra tận ngõ tre nơi hàng xóm xóm Đông, xóm Đoài bắt đầu tò mò xúm lại nhìn vào:

“Mối hôn sự với Tào đại lão bản xưởng gỗ gì đó, Diệp Tiểu Mãn tôi dứt khoát cự tuyệt! Đừng nói là ba mươi lượng bạc, dẫu ngài ấy có mang mười lượng, ba mươi lượng hay một trăm lượng bạc ròng dát vàng lên kiệu hoa đến đây, các người hãy mang toàn bộ về mà phủ lên cái lòng tham vô đáy của chính mình!”

Nàng tiến lên nửa bước, từng lời nói đanh thép như đúc bằng đồng son:

“Sạp buôn Hàng Khô - Ất Thập Bát ở bến Liễu Kiều kia là do chính đôi chân tôi đi mòn đường sỏi đá, lưng tôi cõng từng sọt hàng nặng trĩu qua đò, tay tôi đóng từng tấm ván gỗ mà dựng nên! Khế ước cung ứng tương cải với Tửu lầu Vọng Giang là do chữ tín vàng ngọc, do mồ hôi nước mắt của cha mẹ tôi và công sức đổi công của bà con chòm xóm gây dựng từng chum dưa hũ tương sạch sẽ mà có được! Dải đất gò năm mẫu ven bờ Khe Thanh màu mỡ kia, tôi vừa dùng ba lượng bạc mồ hôi nước mắt đặt cọc để mở xưởng điền trang cho cả thôn cùng làm giàu, cùng có công ăn việc làm! Cơ nghiệp này do trời đất chứng giám, do mồ hôi công sức của gia đình chi Ba chúng tôi tạo lập nên, tuyệt đối không phải là thứ hàng hóa để các người mang đi dâng xén, đổi chác lấy chiếc ghế kế thất nhung lụa hão huyền hay tiền của chạy chọt thi cử cho con trai các người!”

Nàng quay phắt sang nhìn Diệp Đại Phúc, ánh mắt không hề chớp lấy một lần:

“Diệp Tiểu Mãn này sinh ra trên đời, chỉ muốn ngẩng cao đầu làm một con người tự chủ! Bàn tay tôi biết cầm cuốc vỡ đất trồng rau, biết ủ mốc làm tương nếp, biết tính sổ sách ghi khế ước, thì tôi tự nuôi sống được bản thân mình, phụng dưỡng được cha mẹ chu toàn và lo cho các em tôi ăn học thành tài! Sau này nếu tôi có xuất giá lấy chồng, tôi chỉ gả cho người đồng điệu tâm hồn, người thật lòng thấu hiểu, trân trọng sức lao động và tôn trọng quyền tự chủ của tôi, cùng tôi kề vai sát cánh dựng xây điền trang, chứ tuyệt đối không bao giờ làm món hàng trao tay, khom lưng uốn gối bước vào chốn lầu son gác tía để người ta tước đoạt sự nghiệp và bóp nghẹt cuộc đời mình!”

Tạ Cảnh đứng sững bên cạnh, chăm chú ngắm nhìn thiếu nữ đang rạng ngời bản lĩnh giữa gian nhà tranh nghèo. Từng lời, từng chữ của nàng như những tiếng chuông đồng gióng thẳng vào lồng ngực chàng, khiến trái tim chàng rung lên những nhịp đập mãnh liệt, tự hào và ấm áp vô ngần. Đôi mắt chàng ngập tràn niềm thán phục, sự tôn kính sâu sắc và một tình cảm sắt son, thuần khiết đã âm thầm bén rễ tự bao giờ. Người con gái này, với tâm hồn khoáng đạt và chí khí ngút ngàn ấy, quả thực là báu vật độc nhất vô nhị giữa cõi nhân gian đầy rẫy những toan tính tầm thường.

Bị một đứa cháu gái mới mười bảy tuổi vạch trần tâm can thối tha và đanh thép cự tuyệt trước mặt bàn dân thiên hạ, Diệp Đại Phúc giận đến mức hai mắt nổ đom đóm, toàn thân run bần bật như trúng phong. Chiếc gậy tre bọc đồng trong tay lão đập loạn xạ xuống mặt đất nện:

“Phản rồi! Đúng là phường nghịch tử phản phúc, vô pháp vô thiên! Mày... mày dám mở mồm nói những lời vô luân, bất hiếu ấy trước bàn thờ tổ tiên họ Diệp à? Chú Ba! Mày mở to mắt ra mà nhìn con gái mày kìa! Mày dung túng cho nó làm loạn, họ Diệp này sẽ tuyệt giao, xóa tên toàn bộ cái nhà mày ra khỏi gia phả dòng tộc!”

“Bác cả câm mồm ngay cho tôi!”

Một tiếng quát vang rền như sấm sét nổ tung giữa gian phòng chính.

Diệp Thành chẳng thèm dùng đến chiếc gậy nghiến nữa. Đôi chân trần gân guốc của ông dồn toàn bộ sức lực đạp mạnh xuống nền đất, đứng sững sững, hiên ngang như một cây tùng mọc trên vách đá cheo leo của dãy Thanh Lĩnh. Khớp gối từng bị dập nát, từng đứng trước nguy cơ hoại tử nay đã hoàn toàn bình phục, vững chãi lạ thường. Khuôn mặt người cha vốn hiền lành, nhẫn nhục bấy lâu nay bừng bừng nộ khí xung thiên, đôi mắt long lên sòng sọc nhìn thẳng vào kẻ anh ruột bất lương, vô tình vô nghĩa.

Chẳng nói thêm nửa lời thừa thãi, Diệp Thành sải bước dài tới góc cửa bếp, chộp lấy chiếc chổi tre cán dài chuyên dùng để quét sân phơi lúa.

“Gia phả họ Diệp lưu danh những bậc tiền nhân cày sâu cuốc bẫm, sống ngay thẳng thanh bạch, ngẩng đầu không thẹn với trời, cúi đầu không thẹn với đất, chứ gia phả họ Diệp không bao giờ lưu giữ phường anh em ruột thịt mưu mô hãm hại nhau, bán cháu cầu vinh, tước đoạt sinh kế của người khác!”

Diệp Thành vung chiếc chổi tre quét mạnh một đường vun vút xé gió, hất tung đám bụi đất mù mịt dưới chân Diệp Đại Phúc và Chu Kim Quế.

“Cầm ngay cái khay trầu cau tanh tưởi kia xuống!” Diệp Thành thét lớn, đầu chổi tre quét sạt qua vạt áo the của mụ mối họ Lưu. “Cút! Toàn bộ cút hết ngay ra khỏi nhà tao! Đừng để tao phải dùng chổi quét rác quét sạch cái giống tham tàn, thất đức ra khỏi ngõ tre này!”

“Vun vút! Vun vút!”

Chiếc chổi tre trong tay người cựu binh quất tới tấp xuống mặt đất, bụi đất và rác rưởi bốc lên mù mịt cả gian nhà.

Mụ mối họ Lưu sợ đến hồn xiêu phách lạc, mặt cắt không còn hạt máu, luống cuống ôm vội lấy chiếc khay đồng bọc lụa đỏ điều trên bàn thờ tổ, chân nọ đá chân kia vấp ngã dúi dụi nơi bậu cửa gỗ, miệng la bài bãi như cháy đồi:

“Ối làng nước ôi! Cứu tôi với! Cái nhà này hóa điên hóa dại hết cả rồi! Bỏ mối vàng mối ngọc lại vác chổi tre đuổi đánh bà mối!”

Chu Kim Quế hai tay ôm khư khư túi bạc năm lượng vừa nhận giấu chặt trước ngực áo, vừa hoảng sợ tột cùng trước khí thế bừng bừng như cọp dữ thức giấc của Diệp Thành, vội vàng túm lấy cánh tay run lẩy bẩy của Diệp Đại Phúc kéo xềnh xệch ra sân:

“Đi... ông nó ơi đi mau kẻo nó đánh chết bây giờ! Cái ngữ nhà này cùng đường rồi, chúng nó điên thật rồi!”

“Cút ngay!”

Diệp Thành vung chổi đuổi sát nút sau lưng. Nhị Hòa và Trần A Lan vừa chạy từ ngoài cổng vào, thấy cảnh tượng ấy cũng lập tức cầm lấy chiếc cào tre gom rơm và chiếc xô nước rửa chum tạt mạnh một dòng nước lạnh ngắt xuống lối đi lát gạch nghiêng, đuổi riết mụ mối cùng vợ chồng lão bác cả chạy tháo thân trối chết ra tận cổng ngõ tre.

Bà con chòm xóm ven đường đứng xem đông nghịt từ lúc nào, thấy cảnh tượng vợ chồng Diệp Đại Phúc cùng mụ mối bị quét đuổi như quét rác, tiếng cười cợt, chỉ trỏ mỉa mai vang lên không ngớt khắp lối xóm:

“Đấy, các bác thấy chưa! Mang danh bác cả chi trưởng mà đi rước mối kế thất cho một lão thương nhân già khú đế để hớt tay trên sản nghiệp, cướp đoạt sạp hàng của cháu gái!”

“Đáng đời con mụ Chu Kim Quế! Sáng nay vừa mất mặt nhục nhã ở từ đường dòng họ, trưa nay lại vác mặt sang ép duyên tống tiền, bị ông Diệp Thành vác chổi quét sạch ra ngõ thế kia thì còn mặt mũi nào mà nhìn mặt ai trong làng nữa!”

“Rõ phường bất nhân thất đức! May mà nhà chú Ba cứng cỏi, chứ rơi vào tay kẻ khác thì mất cả chì lẫn chài!”

“Cạch!”

Cánh cổng tre nhà họ Diệp đóng sầm lại một tiếng dứt khoát. Chiếc then cài bằng gỗ tre già gài chặt chẽ, ngăn cách hoàn toàn sự dơ bẩn, toan tính hèn hạ và lòng tham lam vô đáy của những kẻ vụ lợi ra bên ngoài lũy tre làng.

***

Trong gian nhà chính, sự tĩnh lặng bình yên và trong trẻo trở lại, tựa như bầu trời cao xanh sau cơn dông bão mùa hạ vừa quét qua.

Lâm Tú Nương khẽ thở phào một hơi dài, tựa nhẹ lưng vào mép phản gỗ mít. Gương mặt bà tuy thoáng chút mệt mỏi sau cơn kích động lớn, nhưng ánh mắt thì rạng ngời, thanh thản và nhẹ nhõm hơn bao giờ hết. Món nợ riêng từng đè nặng lên lồng ngực bà suốt bao đêm đông lạnh giá, từng khiến bà bao phen thổn thức nghẹn ngào vì sợ liên lụy đến chồng con, nay đã được gột rửa triệt để, sòng phẳng bằng chính mồ hôi, nước mắt và phẩm giá kiên cường của cả gia đình.

Bà bước lại gần chiếc bàn gỗ, cầm lấy tờ giấy biên nhận tất toán nợ có điểm chỉ chu sa đỏ thắm của Chu Kim Quế vuốt phẳng phiu, cất cẩn thận vào chiếc túi gấm nhỏ, rồi mỉm cười dịu dàng, nắm trọn lấy bàn tay mềm mại nhưng chai sạn vì lao động của Tiểu Mãn:

“Tiểu Mãn... Nhờ có con và sự đồng lòng của cả nhà, món nợ thuốc riêng năm xưa mẹ cắn răng vay mượn nay đã được trả dứt điểm, sòng phẳng, có giấy trắng mực đen điểm chỉ rõ ràng trước mặt toàn thôn. Mẹ và cha con nghèo khó, chẳng có của cải hồi môn gấm vóc, lầu son gác tía cho con nương tựa, chỉ có đôi bàn tay lao động này và chữ tín trong sạch của tổ tiên để lại. Con đã làm rạng danh cho cái nhà này, cho mẹ con ta từ nay được ngẩng cao đầu bước đi trước toàn bộ dòng họ mà không sợ bất kỳ ai dòm ngó, khinh khi!”

Nói đoạn, Lâm Tú Nương lại thò tay vào đáy chiếc tráp tre đựng kim chỉ thêu thùa mà bà luôn cất giữ cẩn thận dưới đáy rương gỗ. Bà trân trọng lấy ra một cuốn sổ tay bọc vải điều cũ kỹ. Cuốn sổ đã sờn rách bốn góc vì bụi thời gian và năm tháng, nhưng nay, những trang giấy bản từng bị thiếu hụt, bị nhòe mực năm xưa đã được bà cẩn thận dùng giấy bản mới bồi lại phẳng phiu, nắn nót chép lại trọn vẹn từng chữ, từng dòng theo đúng ký ức rõ ràng nhất của mẹ ruột mình.

Bà trao cuốn sổ tay hoàn chỉnh không còn thiếu một trang nào vào tận tay Tiểu Mãn, khẽ siết chặt lấy bàn tay thon dài của con gái:

“Đây là toàn bộ tâm huyết, kinh nghiệm cả một đời ủ men làm tương của bà ngoại con – Lâm Thu Bà. Nay mẹ trao lại trọn vẹn nó cho con. Con đường phía trước còn dài thênh thang, mở rộng Thanh Khê Điền Trang sẽ còn muôn vàn gian nan, thử thách, nhưng mẹ tin, con gái của mẹ có đủ bản lĩnh, sự sáng suốt và đôi bàn tay vàng để đi đến tận cùng con đường ấy.”

Tiểu Mãn đón lấy cuốn sổ tay gia truyền từ tay mẹ, ngón tay khẽ miết qua lớp vải điều mộc mạc đã phai màu. Mùi giấy bản cũ quyện với hương thơm the the, ấm áp của rễ cam thảo núi sao khô toát ra từ từng trang giấy khiến sống mũi nàng bỗng cay xè. Nàng ngước nhìn cha, nhìn mẹ, nhìn Nhị Hòa, Tam Nha và Tiểu Đậu đang quây quần bên mâm cơm ấm cúng, rồi ánh mắt dừng lại nơi Tạ Cảnh.

Chàng thư sinh trẻ đứng lặng bên giá sách tre, tà áo chàm khẽ lay động trong ngọn gió xuân ấm áp thổi qua khung cửa. Đôi mắt chàng nhìn nàng chan chứa một niềm tin yêu thuần khiết, sự tôn trọng tuyệt đối và một mối đồng điệu sâu sắc đến tận cùng sâu thẳm tâm can. Không cần một lời thề non hẹn biển sáo rỗng, chỉ một ánh nhìn sâu thẳm và kiên định ấy thôi cũng đủ để Diệp Tiểu Mãn hiểu rằng: trên con đường chông gai mở rộng nông trang và khẳng định quyền tự chủ phía trước, nàng sẽ không bao giờ phải đơn độc lẻ loi.

Đúng lúc niềm xúc động thiêng liêng đang ngập tràn nơi gian nhà tranh nhỏ, từ phía cổng đình đầu thôn Thanh Khê bỗng vang lên những âm thanh náo nhiệt, rộn rã chưa từng thấy.

“Đoành! Đoành! Đoành! Tách... đoành!”

Tiếng pháo nổ vang dội từ phía đầu làng, xé toang bầu không khí tĩnh lặng của buổi trưa xuân. Tiếng ngựa phi nước kiệu dồn dập gõ móng trên đường đất bãi, tiếng tù và bằng sừng trâu rúc lên từng hồi giòn giã, hòa lẫn với tiếng reo hò ầm ĩ của đám trẻ mục đồng và tiếng bước chân rầm rập của hàng trăm dân làng đang túa ra đường liên thôn:

“Có tin vui rồi! Bảng vàng khoa cử của huyện thành vừa niêm yết! Dịch trạm đang phi ngựa về báo tin vui cho thôn ta rồi bà con ơi!”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn