Tin đồn rớt giá và mạng lưới học trò Vân Thủy
Chưa đến giờ họp chợ phiên mà bến sông Liễu Kiều đã xôn xao bởi chiếc xe ngựa cắm cờ hàng buôn của Phùng Kế Sinh vừa đỗ xịch trước lối vào sạp rau.
Gió sớm thổi từ mặt nước mang theo hơi lạnh ẩm ướt và mùi bùn nồng nồng đặc trưng của dòng sông mùa xuân. Con tuấn mã lông khoang phì phò phả từng luồng hơi trắng xóa vào không trung, móng sắt gõ cồm cộp lên lớp đá lát bờ bến đã nhẵn thín vì bước chân người qua lại bao năm. Bên trên mui xe bằng gỗ tạp sơn đen bóng loáng, lá cờ hiệu thêu ba chữ “Phùng Ký Hàng” phần phật tung bay, bên mép viền vải đã có đôi chỗ sờn rách vì dầm sương dãi nắng đường xa. Lớp bùn non đỏ quạch bám từ gầm xe lên tận nan bánh gỗ, chứng tỏ cỗ xe vừa trải qua một chặng đường dài cấp tập từ phía huyện lộ trở về, chưa kịp rửa ráy đã vội vã ghé ngay bến đò trung chuyển sầm uất nhất vùng hạ lưu.
Gã phu xe mặc áo cộc tay thắt lưng vải gai nhảy phịch xuống đất, vội vã kê chiếc đẩu gỗ bọc da trâu dưới càng xe. Ngay sau đó, tấm rèm vải nỉ màu chàm vén lên, Phùng Kế Sinh thong thả bước xuống. Gã khoác chiếc áo dài bằng lụa màu xanh hồ thủy có thêu hoa văn chìm ở gấu áo, bên hông đeo dải dây thao thắt nút đồng tiền, tay cầm chiếc quạt xếp xương trúc dù trời hãy còn se sắt lạnh. Cái bụng phệ hơi nhô ra dưới lớp đai lưng bản rộng, khuôn mặt tròn bè bè bóng nhẫy mỡ gà, hai con mắt ti hí đảo lia lịa như hai hòn sỏi lăn trên mặt giếng cạn. Mỗi cử chỉ nhấc chân, hạ gót của gã đều toát lên cái vẻ bận rộn đầy toan tính của một gã thương nhân thạo nghề luồn lách chốn thương trường thôn dã.
Vừa chạm chân xuống đất, Phùng Kế Sinh đã rút chiếc quạt xếp gõ nhẹ vào lòng bàn tay đánh “tách” một tiếng giòn giã, rồi thở dài thườn thượt như thể đang gánh trên vai cả mối sầu nặng tựa thái sơn:
“Khổ lắm bà con cô bác ơi! Đúng là trời không chiều lòng người mà! Chuyến này ta vừa từ ngoài huyện thành Vân Thủy tất tả ngược gió trở về, cả người ê ẩm như bị đòn ghen, chỉ mong kịp mang tin tức cốt tử về báo cho bà con bãi bồi ven sông này một tiếng kẻo lại ôm nợ ngập đầu!”
Tiếng than thở oang oang của gã nhanh chóng hút lấy sự chú ý của mấy tiểu thương đang lục tục dọn hàng và đám phu khuân vác tụ tập quanh quán nước đầu bến. Giờ này, trời còn mờ hơi sương, những đốm lửa nhóm bằng trấu và mùn cưa trong các lều quán lác đác bốc khói cay xè. Mấy gánh hàng rau củ của người dân vừa hạ xuống đất bỗng chốc khựng lại. Một bác gánh cá tươi đặt chiếc đòn gánh trĩu nặng xuống phiến đá ướt nhẹp, buột miệng hỏi vội:
“Có chuyện gì thế hả Phùng lão bản? Ngoài huyện có biến cố gì chăng? Đường sông vẫn thông suốt, thuyền bè vẫn qua lại kia mà?”
Phùng Kế Sinh lắc đầu quầy quậy, ra vẻ xót xa cùng cực. Gã khẽ xua tay, hạ giọng xuống vẻ đầy bí mật nhưng âm lượng vẫn đủ để lan ra khắp mấy dãy quán cóc ven bờ, len lỏi vào từng đôi tai đang căng lên lắng nghe:
“Đường sông thì thông, nhưng cửa kho thì đóng chặt rồi! Mấy người ở góc núi Thanh Khê hẻo lánh làm sao tường tận thế sự ngoài phố lớn! Mấy hôm trước, các kho lương thực đại ngạch và vựa hàng lớn trên huyện thành Vân Thủy đồng loạt mở cửa xả hàng tích trữ từ vụ đông. Rau dưa ngoài ấy chở từ mạn Bắc đổ về bằng thuyền tải trọng nghìn thạch, chất cao như núi ở bến Nam! Các đại tửu lầu lớn như Túy Tiên Các, Hạc Minh Đình, ngay cả những quán cơm bình dân dọc hai bờ kênh đều đã ký kết với phường lái buôn xứ Bắc, giá cả rẻ như bèo bọt!”
Gã bước thêm hai bước, chiếc quạt xếp giơ lên chỉ trỏ về phía những sọt rau tươi còn đẫm sương đêm của các nông hộ chung quanh, ánh mắt lộ vẻ chê bai lẫn thương hại giả tạo:
“Các người tính xem, cải xanh xứ khác chuyển về chỉ có một đồng tiền kẽm hai cân, tương hạt xả kho cũng chỉ bảy tám đồng một thăng. Giá cả trên phố ẩm thực huyện thành sụt mất một nửa rồi! Mấy cái thứ rau bẹ non với dưa sen nén của thôn quê các người mang lên lúc này, họa có đem đổ xuống sông cho cá rỉa chứ ma nào thèm rước! Chẳng quá ba hôm nữa, rau tươi hóa bùn, dưa chua thối khú, hũ tương nổi váng trắng bốc mùi thì coi như công cốc!”
Một tràng xì xào kinh hãi lập tức nổ ra giữa đám đông. Những nông dân quanh năm chỉ biết cúi mặt cày bừa trên mấy sào đất bãi, nghe đến chuyện huyện thành xa xôi thừa mứa hàng hóa thì hồn vía như muốn bay lên mây. Nỗi sợ hãi mất trắng mồ hôi nước mắt vốn là điểm yếu mềm nhất trong lòng người làm ruộng, chỉ cần một ngọn gió thổi lệch cũng đủ thổi bùng lên cơn bão hoảng loạn. Người nọ nhìn người kia, những bàn tay thô ráp bắt đầu run rẩy mân mê vạt áo, miệng lẩm bẩm những điều xui xẻo.
Thấy lời lẽ của mình đã gieo được hạt giống nghi ngại, khóe miệng Phùng Kế Sinh khẽ giật một cái rất kín đáo. Gã đổi ngay nét mặt sang vẻ xót thương, độ lượng của một kẻ bề trên muốn ra tay cứu khốn phò nguy, ngực ưỡn nhẹ, giọng chùng xuống đầy ân nghĩa:
“Phùng mỗ đây vốn có mối thâm tình buôn bán với đất Liễu Kiều và Thanh Khê bao năm qua, chẳng đành lòng nhìn bà con trắng tay, khóc ròng bên bờ ruộng. Ta đã bàn bạc với mấy nhà buôn quen ngoài bến, kỳ này ta chấp nhận cắn răng chịu lỗ một phen! Ta ngỏ ý sẽ ứng sẵn tiền bạc tươi rói, gom sạch trọn gói toàn bộ số cải sen thu hoạch sớm và dưa tương của Thanh Khê với giá rẻ một nửa để chở đi bán tháo cứu vốn. Cải non một đồng một cân, tương sáu đồng một thăng, dưa nén bốn đồng. Dẫu thấp hơn ngày thường đôi chút, nhưng lấy được tiền mặt ngay vào túi, giữ lại chút vốn liếng mua phân mua giống, còn hơn là để mặc nó thối rữa ở bờ ao rồi ngồi đó mà ôm gốc cây khóc ròng!”
Gã gõ mạnh chiếc quạt vào lòng bàn tay lần nữa, dõng dạc chốt lại một câu xanh rờn:
“Ta chỉ đợi ở bến đò này hết buổi trưa. Thuyền buôn của ta đã thuê sẵn phu bốc vác, nước triều vừa lên là nhổ neo ngay. Ai khôn ngoan muốn vớt vát chút bạc kẽm thì liệu mà gánh đến sớm, quá giờ Ngọ thì có quỳ lạy ta cũng không dám rước của nợ ấy vào người đâu!”
Nói đoạn, gã quay gót bước vào chiếc quán nước đầu bến, ung dung gọi một bát trà nóng và đĩa bánh khảo, để mặc làn sóng hoang mang đang cuồn cuộn dâng lên trong lòng những người nông dân ít học.
* * *
Tin đồn rợn người ấy như một bầy châu chấu bay rào rào qua rặng tre xanh, chỉ trong vòng một canh giờ rưỡi đã tràn thẳng về thôn Thanh Khê.
Mặt trời vừa lên khỏi ngọn tre gai, nắng non còn rải một lớp vàng nhợt nhạt trên vạt cải bẹ xanh mướt ven khe, thì khoảng sân đất nện nhà họ Diệp đã bị phá tan bởi tiếng chân bước dồn dập và những tiếng khóc mếu thảm thiết. Con đường đất dẫn vào ngõ nhỏ vốn râm mát dưới bóng giàn mướp và bờ giậu râm bụt hôm nay bỗng ngột ngạt bởi hơi thở gấp gáp của đám đông đang chạy đua với nỗi sợ hãi mất trắng.
“Tiểu Mãn ơi! Nguy to rồi con ơi là Tiểu Mãn ơi!”
Tiếng gọi thất thanh của Ngô Quế Hoa vang lên từ ngoài rặng râm bụt. Cánh cổng tre còn chưa kịp khép thì bà ta cùng ba bốn người đàn bà khác trong thôn đã xô vào giữa sân. Ngô Quế Hoa quẩy đôi sọt tre nặng trĩu, bên trong chất đầy những bó cải sen vừa cắt sáng sớm còn tươi ròng rã, nước sương đọng trên phiến lá dày xanh thẫm chảy ròng ròng xuống mặt đất nện. Chiếc đòn gánh cong vút kĩu kịt trên đôi vai gầy guộc, hai ống quần chàm của bà ta bết đầy bùn đất từ bờ ruộng, chiếc nón lá rách vành lệch hẳn sang một bên. Phía sau bà là thím Trương bãi sông, chị Hai Dâu và mấy nông hộ bữa trước vừa ký khế ước liên kết cung ứng nguyên liệu. Ai nấy mặt mũi tái mét, hơi thở hổn hển, vạt áo chàm đẫm ướt mồ hôi dán chặt vào lưng.
“Chuyện gì mà các bác các thím hoảng hốt thế này?”
Tiểu Mãn từ trong gian chái bước ra, tay còn cầm chiếc khăn vải mộc vừa lau sạch mép một chiếc chum sành ngấn nước. Nàng mặc bộ quần áo vải thô màu nâu nhạt gọn gàng, mái tóc đen nhánh được búi lửng bằng chiếc trâm gỗ đào mộc mạc, để lộ gương mặt thanh tú với những đường nét kiên nghị. Đôi mắt nàng trong veo nhưng tĩnh lặng như làn nước giếng khơi, bờ vai mảnh khảnh đứng vững chãi dưới bóng hiên, toát lên phong thái điềm đạm lạ thường giữa cảnh nhốn nháo.
Ngô Quế Hoa vứt phịch đôi quang gánh xuống nền đất, gối chùng xuống suýt nữa quỳ rạp ra sân, hai bàn tay thô ráp đập bồm bộp vào đùi, nước mắt giàn giụa trên đôi gò má nhăn nheo:
“Cháy nhà đến nơi rồi con ơi! Lão Phùng Kế Sinh ngoài bến sông vừa từ huyện Vân Thủy về, lão phao tin khắp trấn là trên phố xả hàng dữ dội lắm! Giá cải sen, giá dưa tương tụt dốc thê thảm, không còn nổi một nửa! Lão bảo ai chậm chân không chịu nhượng lại hàng cho lão đem đi tống khứ với giá cứu trợ thì vài hôm nữa rữa nát hết, có đem cho lợn lợn cũng chê! Con ơi, nhà bác chỉ trông vào hai sào cải này để gom tiền mua hạt giống vụ chiêm và trả nợ phân tro. Bác van con, con cho bác rút lại khế ước, bác nhượng quách toàn bộ số rau này cho lão Phùng lấy được đồng nào hay đồng nấy để vớt vát tiền vốn! Chứ giữ lại đây theo giá cũ, lỡ con không tiêu thụ nổi rồi sạp vỡ nợ, bác biết sống làm sao!”
Mấy người đàn bà đi sau cũng nhao nhao tiếp lời, nước mắt ngắn dài thi nhau rơi, giọng điệu xen lẫn giữa van nài và trách móc trong cơn hoảng loạn:
“Phải đấy Tiểu Mãn à! Người ta là thương lái lớn có tàu to ngựa tốt còn chẳng ăn ai, huống chi nhà mình thân cô thế cô!”
“Nghe đâu các tửu lầu trên huyện họ chê rau dưới quê mình rồi, họ nhập hàng Bắc cả nghìn thạch kìa! Thuyền to bằng gian nhà ngói đậu kín cả bến Nam!”
“Cho chúng tôi xin lại hàng đi, bán lỗ cho lão Phùng tuy đau ruột nhưng còn có tiền kẽm dắt lưng! Chứ để lại đây nhỡ mai kia xưởng tương của cô không kham nổi, chúng tôi biết kêu ai giữa đồng không mông quạnh?”
Không khí trong sân bỗng chốc trở nên ngột ngạt như trước cơn dông tố. Mùi rau tươi dập nát quyện với mùi mồ hôi và hơi đất bốc lên hầm hập. Diệp Thành từ gian giữa chống chiếc gậy gỗ nghiến nặng trịch bước ra ngắm nhìn đám đông, chân mày nhíu chặt lại, nét mặt lộ rõ vẻ băn khoăn lo âu. Bàn chân tập tễnh của ông khẽ dừng lại nơi bậc thềm, đôi bàn tay gầy gò nổi gân xanh bấu chặt vào đầu gậy. Lâm Tú Nương bên thềm bếp cũng run rẩy buông rơi chiếc gáo dừa múc nước, tiếng gáo rơi xuống chậu nghe một tiếng “bõm” lạc lõng, ánh mắt bà ngập tràn hoang mang nhìn con gái. Nhị Hòa thì siết chặt nắm đấm, đứng sừng sững chắn trước bậc cửa kho, lồng ngực phập phồng sau lớp áo vá, mắt trừng trừng nhìn mấy chiếc sọt rau như muốn bảo vệ công sức bao ngày của gia đình trước cơn sóng gió vô lý từ đâu ập tới.
Tiểu Mãn nhìn thấu tâm can của từng người. Nàng hiểu người nông dân bãi bồi quanh năm bám đất nhặt từng hạt thóc cọng rau khổ cực đến nhường nào. Một cơn mưa đá, một trận lũ nguồn, hay chỉ cần một lứa sâu tơ cắn trụi lá non cũng đủ đẩy cả gia đình vào cảnh giật gấu vá vai, bữa cháo bữa rau suốt nửa năm ròng. Chính vì sự bấp bênh ấy ăn sâu vào máu tủy, nên trước những lời đồn thổi mang màu sắc tai ương từ miệng lưỡi một kẻ có thế lực, có tiền của như Phùng Kế Sinh, việc họ hoảng loạn, toan bán tháo tháo chạy là điều khó tránh khỏi. Họ không có tội, tội là ở lòng tham tàn nhẫn của kẻ biết lợi dụng sự thiếu hiểu biết của họ để trục lợi.
Nàng hít một hơi thật sâu, nét mặt không hề nao núng, cất giọng rành rọt nhưng ôn tồn:
“Bác Quế Hoa, các thím, các chị hãy ngồi xuống uống bát nước vối đã rồi nghe cháu nói. Cái miệng của gã buôn Phùng Kế Sinh xưa nay đảo như chong chóng, bà con ở bến Liễu Kiều này có ai là không biết? Mới nửa tháng trước gã còn nài nỉ mua trọn lô dưa tương của nhà cháu mang lên huyện kiếm lời, sao đùng một cái cả vùng Vân Thủy lại ngập rau củ giá rẻ mạt được? Khế ước thu mua liên kết giữa cháu và bà con bãi bồi đã ký kết rành rành, có điểm chỉ chu sa, cháu Diệp Tiểu Mãn này có bao giờ trễ hẹn một đồng tiền công, bớt xén một đồng giá sàn của ai chưa?”
Ngô Quế Hoa sụt sùi, quệt ngang dòng nước mũi, giọng méo mó:
“Biết là con giữ chữ tín, xưa nay con không ăn quỵt của ai nửa đồng, nhưng người ta bảo nước xa không cứu được lửa gần! Lão Phùng lão ấy đứng ngay bến sông với túi bạc nén, lão bảo chỉ gom trong buổi sáng nay, quá trưa lão giong thuyền đi là hết cửa! Bác sợ lắm con ơi... Lỡ xưởng của con ôm đống rau này rồi không bán được ra ngoài trấn, con phá sản thì lũ chúng bác cũng chết chìm theo con!”
“Bác sợ, nhưng bác có chịu nghĩ xem vì sao lão lại vội vã như thế không?”
Tiểu Mãn đanh giọng lại, từng lời thấu tình đạt lý rơi vào khoảng sân vắng, đánh mạnh vào tâm thức đang mụ mẫm vì sợ hãi của những người phụ nữ:
“Nếu huyện thành Vân Thủy thực sự xả hàng tràn ngập, giá rau dưa rẻ như bùn rác, thì lão Phùng ôm bạc về đây gom rau thối của Thanh Khê làm cái gì? Lão có phải là ông Bụt bà Tiên đâu mà vác tiền nhà đi làm việc thiện cứu đói cho làng mình? Lão gom để gánh lỗ thay cho bà con hay sao? Xưa nay Phùng Kế Sinh có bao giờ bỏ ra một hào bạc mà không tính toán thu về gấp đôi gấp ba?”
Câu hỏi sắc bén như một nhát dao chém ngọt vào giữa nỗi sợ mù quáng. Ngô Quế Hoa cùng mấy người đàn bà trố mắt nhìn nhau, tiếng khóc mếu bỗng nhiên nghẹn lại giữa chừng. Khoảng sân im ắng lạ thường, chỉ còn tiếng gió xào xạc trên ngọn mướp và tiếng thở hổn hển của mấy người vừa chạy thục mạng từ đồng về. Phải rồi, lão Phùng Kế Sinh nổi danh vắt cổ chày ra nước, con ruồi bay qua còn muốn bóc lấy đôi cánh, cớ sao hôm nay lại hào hiệp “cắn răng chịu lỗ” gom sạch hàng của cả làng? Chuyện vô lý rành rành ấy, sao ban nãy ở bến đò không ai nghĩ ra?
Thế nhưng nỗi hoang mang tích tụ bao đời vẫn chưa thể tan biến trong một sớm một chiều. Bác Trương vẫn ngập ngừng run rẩy, ngón tay xoắn chặt vạt áo:
“Nhưng... nhưng lỡ lời lão ấy là thật thì sao? Lỡ trên huyện người ta xả hàng thật, nhà con không bán tháo cho lão thì rau này để ba hôm nữa sẽ úng thối hết cả chì lẫn chài! Miệng nhà quan có gang có thép, miệng lái buôn có tin tức phương xa. Chúng tôi ở xó xỉnh này, làm sao biết được ngoài huyện người ta ăn gì, bán gì?”
Đúng lúc thế trận đang giằng co nghẹt thở, ngoài cổng ngõ bỗng vang lên tiếng bước chân vội vã kèm theo tiếng thở dốc quen thuộc.
“Ai bảo là trên huyện thành xả hàng? Ai dám bịa đặt giá rau củ Vân Thủy sụt giảm một nửa?”
Tất cả mọi ánh mắt lập tức dồn về phía bờ giậu. Tạ Cảnh sải từng bước dài dứt khoát bước qua ngưỡng cổng tre. Chàng thư sinh mặc chiếc áo vải thô màu xám đã sờn vai nhưng sạch sẽ, vạt áo còn vương bụi đường trường, mái tóc vấn cao bằng chiếc trâm tre giản dị. Trán chàng rịn một lớp mồ hôi mỏng, nhưng đôi mắt sáng quắc, toát lên vẻ thông tuệ và cương nghị. Dưới nách chàng cắp chặt một chiếc tráp gỗ thông nhỏ có khóa đồng, tay kia ôm một tập giấy bản dày cộp, mép giấy còn thơm nồng mùi mực nho mới khô.
* * *
“Tạ tướng công! Thầy vừa từ ngoài trấn về đấy ư?” Diệp Thành mừng rỡ chống gậy nhổm dậy khỏi ghế, đôi mắt già nua ánh lên niềm hy vọng.
Tạ Cảnh bước nhanh vào giữa sân, đặt chiếc tráp gỗ lên chiếc bàn con kê dưới giàn mướp, ánh mắt sáng rực nhìn Tiểu Mãn gật đầu một cái đầy tin cậy, rồi quay sang nhìn khắp lượt dân làng đang túm tụm quanh sân.
“Tiểu Mãn, các bác, các thím! Mọi người chớ có mắc mưu hèn hạ của Phùng Kế Sinh!” Tạ Cảnh giơ cao tập giấy trên tay, giọng nói vang lên đĩnh đạc, rõ ràng từng câu từng chữ, vang rền khắp góc sân: “Sáng sớm nay, khi nghe tin đồn thất thiệt lan truyền ngoài bến, ta đã lập tức tới nhà trọ của Lưu Văn Hòa đại thúc để tiếp nhận thư từ và bản tin giá thị trường do nhóm bạn đồng môn gửi khẩn cấp từ huyện thành Vân Thủy về!”
Ngô Quế Hoa trố mắt, vội vàng xấn lại gần, đôi bàn tay lấm lem suýt chạm vào mép giấy:
“Thư... thư tín của ai hở thầy Tạ? Có can hệ gì tới giá rau giá tương ngoài huyện không?”
“Can hệ vô cùng lớn!” Tạ Cảnh giở từng tờ giấy bản trắng ngà, trên đó chi chít những hàng chữ Hán ngay ngắn, mực đen sắc nét kèm theo những dấu triện đỏ và ký hiệu riêng biệt: “Những bức thư này là do nhóm học trò nghèo trọ học chép sách tại huyện thành Vân Thủy đích thân ghi chép và gửi về qua trạm ngựa sáng nay. Các bằng hữu của ta vốn làm công việc chép văn tự, làm sổ phụ cho các phường buôn và phụ giúp sổ sách tại các phố ẩm thực sầm uất nhất huyện thành. Họ nắm rõ từng cân gạo, từng cọng rau vào ra các cổng chợ mỗi ngày!”
Tạ Cảnh chỉ tay vào từng cột số liệu rành mạch trên mặt giấy, lớn tiếng đọc cho mọi người cùng nghe:
“Ngày mười tám tháng hai, tại phố ẩm thực Đông Môn, cải non tươi ngon nhập vào các quán ăn lớn vẫn đứng vững ở mức ba đồng rưỡi đến bốn đồng một cân! Dưa cải sen muối nén róc nước giao dịch ổn định ở mức mười bốn đến mười lăm đồng một cân! Tương đậu nành nguyên chất giữ nguyên giá hai mươi mốt đồng một thăng! Tại bến Nam, thuyền buôn phương Nam và đoàn thương thuyền sông lớn đổ về tấp nập, các khách điếm, tửu lầu chật kín khách thương hồ, nhu cầu ăn uống tươi sạch tăng mạnh hơn tháng trước gấp bội phần!”
Chàng lật sang tờ giấy thứ hai, đưa thẳng ra trước mặt Ngô Quế Hoa:
“Bác Quế Hoa nhìn cho kỹ đây! Đây là thư của Liễu huynh, người đang làm sổ kế toán cho tiệm cơm lớn nhất phố Nam Kiều. Liễu huynh viết rõ ràng: ‘Mùa xuân năm nay thời tiết nồm ẩm kéo dài, các thuyền buôn đường xa rau củ dễ hỏng nên các tửu lầu huyện thành cực kỳ khao khát nguồn rau dưa tươi mới từ các làng ven sông phụ cận. Bọn gian thương đang tìm mọi cách phao tin dìm giá ở thôn quê để đầu cơ tích trữ mang lên huyện kiếm lời cắt cổ!’”
Lời lẽ đanh thép cùng những tờ thư tín trắng mực đen có chữ ký rành mạch như một gáo nước mát dội thẳng vào cơn sốt hoảng loạn của đám đông. Ngô Quế Hoa bần thần, nhìn những nét mực tươi rói và dấu triện đỏ chót mà run run đưa tay sờ vào mép giấy:
“Trời đất ơi... Hóa ra... hóa ra ngoài huyện người ta vẫn ăn, vẫn mua giá cao ngất ngưởng thế này ư? Thế mà lão Phùng dám mở mồm bảo xả hàng rẻ như bèo?”
“Lão ta muốn ép chết chúng ta để nuốt trọn số lời ấy!” Nhị Hòa đứng bên cạnh giận dữ quát to, nắm đấm đập mạnh vào cột hiên: “Lão muốn mua của bà con một đồng rồi mang lên huyện bán bốn đồng, ăn trên ngồi trốc bằng mồ hôi nước mắt của người làm ruộng!”
Tiểu Mãn bước lên phía trước, ánh mắt nàng ánh lên vẻ kiên nghị và quyết đoán của một người nắm giữ sinh mệnh việc làm ăn. Nàng nhìn thẳng vào mắt từng nông hộ, cất lời rành rọt, từng câu như đinh đóng cột:
“Các bác, các thím đã thấy rõ chưa? Tin đồn chỉ là ngọn gió độc do kẻ xấu thổi vào để lòng dạ chúng ta rối loạn. Khế ước liên kết Diệp gia đã ký với bà con thế nào, ta xin thề trước trời đất giữ nguyên giá sàn như thế! Cải non loại một cháu vẫn thu mua đúng hai đồng rưỡi một cân, cải bẹ loại hai đúng một đồng rưỡi, không thiếu của ai một đồng tiền kẽm! Dưa tương của nhóm đổi công làm ra, xuất xưởng bao nhiêu cháu chịu trách nhiệm bao tiêu bấy nhiêu!”
Nàng quay sang Tạ Cảnh, ánh mắt hai người giao nhau trong một thoáng ăn ý tuyệt đối:
“Tạ huynh, xin huynh mang nghiên mực ra đây. Chúng ta phải lập ngay một bảng sao kê giá cả công khai, mang thẳng ra gốc đa đầu chợ phiên Thanh Khê để toàn thể dân làng cùng nhìn thấy, không để một ai bị mắc lừa thêm nữa!”
Tạ Cảnh khẽ mỉm cười, gật đầu dứt khoát:
“Được! Nghiên mực và giấy đỏ ta đã chuẩn bị sẵn trong tráp!”
* * *
Nắng trưa bắt đầu rọi xuống gay gắt trên khoảng đất trống dưới gốc cây đa cổ thụ đầu cầu đá – nơi họp chợ phiên sầm uất nhất thôn Thanh Khê.
Bình thường vào giờ này, chợ phiên chỉ còn lác đác vài người mua bán mớ tép mớ rau muộn, đa phần các mẹ các chị đã thu xếp quang gánh trở về lo bữa cơm trưa cho gia đình. Thế nhưng hôm nay, một đám đông nghẹt thở đã vây kín quanh thân cây đa xù xì, tiếng bàn tán xôn xao nổi lên như ong vỡ tổ. Người từ xóm trên, xóm dưới, người ngoài bãi sông, người từ các ngả đường mòn lũ lượt đổ về. Ai nấy đều muốn tận mắt nhìn thấy thực hư cái chuyện “giá rau ngoài huyện” đang làm rúng động cả vùng quê yên ả.
Trên thân cây đa cổ thụ sừng sững, một tờ giấy đỏ đại khoa khổ lớn vừa được Tiểu Mãn và Tạ Cảnh dán chặt bằng hồ nếp đặc quánh. Bên trên mặt giấy, những hàng chữ Hán chân phương, to bản, đen nhánh nổi bật trên nền giấy đỏ rực rỡ dưới ánh nắng ban trưa. Từng nét bút sổ thẳng tắp, nét phẩy dứt khoát như những nhát gươm chém tan màn sương mù dối trá. Đó là bảng sao kê chi tiết giá cả thị trường nông sản tại các khu phố ẩm thực, bến tàu và chợ lớn của huyện thành Vân Thủy tính đến đúng ngày hôm nay.
Đặc biệt nhất, phía cuối bảng sao kê không chỉ có chữ ký của nhóm học trò nghèo chép sách, mà còn có cả chữ ký và triện dấu xác nhận sao chép từ sổ giao nhận hàng thực tế của hai đại trù quán ăn quen thuộc ngoài bến do Lưu Văn Hòa đại thúc ở nhà trọ đích thân đứng tên chứng nhận sự thật! Con dấu triện hình vuông khắc chữ triện màu mực đỏ son đập ngay vào mắt mọi người, tạo nên một sự xác thực không gì có thể chối cãi.
Tiểu Mãn đứng hiên ngang trên bậc đá mố cầu, vạt áo chàm buộc gọn gàng ghim chặt sau lưng, tay cầm chiếc thước gỗ nẹp kho hàng. Giọng nói trong trẻo, đanh thép của cô gái mười bảy tuổi vang vọng khắp bờ sông, át cả tiếng nước chảy rì rào dưới chân cầu:
“Bà con cô bác Thanh Khê hãy nhìn cho rõ! Đây là giá bán thực tế của rau dưa ngoài huyện thành do Tạ tướng công và người nhà bác Lưu Văn Hòa ngoài trấn sao chép chuẩn xác từng phân từng lạng mang về! Không có chuyện kho lương xả hàng, càng không có chuyện tửu lầu quay lưng với rau dưa Thanh Khê! Kẻ nào bảo giá sụt một nửa là kẻ đang toan rắp tâm bóp cổ người nghèo để đút bạc trắng vào túi áo!”
Dân làng xúm xít chen lấn nhau ngước mắt nhìn lên bảng giấy đỏ. Những người biết mặt chữ đánh vần từng dòng đọc lớn cho đám đông cùng nghe, tiếng đọc sang sảng vang lên giữa không gian tĩnh mịch:
“Cải bẹ tươi loại một: ba đồng tám phân một cân... Dưa cải sen muối nén: mười bốn đồng... Tương hoa cau Vân Thủy: hai mươi mốt đồng một thăng... Có triện đỏ của hiệu ăn Phúc Lộc và quán cơm Nam Kiều đàng hoàng!”
“Trời đất ơi! Thế mà suýt nữa tôi bán tháo cả sọt rau với giá một đồng cho lão Phùng!” Bác Trương ôm ngực thở phào, mặt mũi đỏ bừng vì vừa giận vừa mừng.
“Một đồng hai cân cải! Lão toan cướp không công sức cày cuốc nửa năm trời của chúng mình!” Một bác nông dân khác vung mạnh chiếc đòn cày xuống đất đánh “thình” một tiếng.
Đúng lúc ấy, Tiểu Mãn giơ cao bản Khế ước liên kết nông hộ có dấu điểm chỉ đỏ thắm của các gia đình:
“Cháu xin tuyên bố trước toàn thể dân làng: Mọi nông hộ đã tham gia mạng lưới liên kết với xưởng Diệp gia, cháu cam kết giữ nguyên vẹn giá sàn thu mua đúng như khế ước đã định! Cải loại một hai đồng rưỡi, loại hai một đồng rưỡi! Tiền trao cháo múc, nhập kho cân đủ, chi trả sòng phẳng từng hào từng cắc không bớt một ly! Ai muốn đem rau dưa bán cho cháu, mời gánh ngay về kho bãi Cồn Gió, Nhị Hòa và A Lan đang túc trực mở cân nhập hàng!”
Một tràng vỗ tay rầm rộ bỗng chốc vang dội khắp khu chợ bãi cầu đá. Nỗi hoang mang, sợ hãi đè nặng suốt từ sáng sớm tan biến như bọt xà phòng dưới ánh nắng trưa. Những nụ cười rạng rỡ nở bừng trên những gương mặt lam lũ, sạm đen vì nắng gió. Người ta nhìn Tiểu Mãn bằng ánh mắt kính phục và biết ơn vô hạn. Một cô gái trẻ tuổi mà có bản lĩnh can trường, đứng vững giữa sóng to gió lớn để che chở cho bà con xóm giềng.
“Không bán tháo nữa! Về gánh rau sang nhà Tiểu Mãn thôi!”
“Chỉ có con bé Tiểu Mãn mới là người giữ chữ tín thật lòng với làng mình!”
“Đi thôi bà con ơi, mau về gánh rau kẻo trưa nắng héo mất lộc!”
Giữa lúc dân làng đang hân hoan rục rịch quẩy gánh quay về, thì chiếc xe ngựa sơn đen của Phùng Kế Sinh vừa vặn lộc cộc lăn bánh từ bờ đê đi xuống chợ. Tiếng lục lạc đồng đeo trên cổ ngựa kêu leng keng vui tai, hòa cùng tiếng roi ngựa vun vút của tên phu xe. Phùng Kế Sinh ngồi trên chiếc đẩu gỗ mé trước càng xe, tay cầm chiếc quạt xếp phe phẩy đắc ý, trong bụng chắc mẩm kỳ này sẽ ung dung gom được cả thuyền cải non và dưa tương Thanh Khê với giá rẻ mạt như cho không, chuyến này chở ngược lên huyện bán sang tay cho các quán xá chắc chắn sẽ bỏ túi gọn lỏn năm sáu lượng bạc ròng.
Thấy đám đông xúm xít dưới gốc đa, gã tưởng bà con đang sốt ruột chờ mình tới để van xin bán hàng cứu vốn, bèn hắng giọng một tiếng thật to, nhảy tót xuống xe, mặt vênh lên tận trời:
“Bà con cô bác đã chuẩn bị gom hàng xong xuôi cả chưa? Phùng mỗ giữ đúng lời hứa, mang theo cả tráp bạc vụn và tiền kẽm tươi về đây giải cứu cho làng ta đây! Mau mau khiêng các sọt cải, các vò dưa lại đây cân đong, ta làm phúc nhận hết một lượt!”
Gã phất tay ra hiệu cho tên phu xe mở nắp chiếc rương gỗ nhỏ để lộ những dây tiền kẽm xâu bằng lạt giang sáng loáng, miệng cười toe toét như thể một vị cứu tinh giáng trần.
Thế nhưng, đáp lại lời reo hỉ hả của gã không phải là những tiếng cảm tạ rối rít như mọi bận, mà là một khoảng lặng im phăng phắc đầy căm phẫn. Không một ai bước lên, không một sọt rau nào được hạ xuống trước mũi giày của gã. Hàng chục ánh mắt tóe lửa đồng loạt đổ dồn vào thân hình béo núc của Phùng Kế Sinh.
Dân làng từ từ tẽ ra làm đôi, để lộ một khoảng trống thênh thang dẫn thẳng tới gốc cây đa cổ thụ. Diệp Tiểu Mãn khoanh tay đứng đó, đôi mắt sáng quắc như sao nhìn thẳng vào mặt gã thương lái giảo hoạt. Bên cạnh nàng, Tạ Cảnh đứng đĩnh đạc, tay chỉ thẳng vào bảng giấy đỏ rực rỡ còn ướt hồ nếp dán trên thân cây.
Phùng Kế Sinh thoáng giật mình, bước chân hơi khựng lại. Nụ cười hỉ hả trên khóe môi gã bỗng chốc đông cứng. Gã nhíu đôi mắt ti hí nhìn lên tờ giấy đỏ đại khoa, nơi có những dòng chữ đen nhánh và triện đỏ chói lọi.
Vừa nhìn thấy bốn chữ lớn “Vân Thủy Thị Giá Bảng” cùng những dòng giá cả chi tiết, sắc mặt Phùng Kế Sinh lập tức biến đổi từ hồng hào, bóng nhẫy sang trắng bệch, rồi xám ngắt như tro tàn dưới đáy lò. Hai tai gã ù đi, sống lưng lạnh toát như có dòng nước đá chảy qua. Bàn tay đang cầm quạt xếp của gã run rẩy đánh rớt chiếc quạt xuống nền đất bụi bặm.
“Cái... cái này là...” Gã lắp bắp, cuống họng nghẹn ứ như nuốt phải hòn than nóng, trán toát ra từng giọt mồ hôi hột to như hạt ngô.
“Phùng lão bản!”
Tiểu Mãn cất bước điềm đạm tiến lại gần, giọng nói nhẹ nhàng nhưng sắc lẻm từng chữ, vang lên giữa vòng vây im ắng của dân làng:
“Ngài vừa bảo trên huyện thành Vân Thủy xả kho, dưa tương rau củ sụt giá một nửa cơ mà? Cớ sao bảng sao kê giá cả sáng nay do các chủ tiệm ăn và phường buôn ngoài bến huyện gửi về lại ghi giá cải non đứng ở mức bốn đồng, dưa nén mười lăm đồng thế này? Chẳng lẽ mắt của ngài nhìn một hóa hai, hay là lòng dạ ngài muốn biến mồ hôi nước mắt của bà con Thanh Khê thành bạc trắng chảy riêng vào túi của ngài?”
“Đúng là quân lừa đảo!”
Ngô Quế Hoa giận dữ bước xấn tới, chiếc đòn gánh trên vai rung lên bần bật, bà chĩa thẳng đầu đòn gánh vào mũi Phùng Kế Sinh:
“Sáng nay lão dọa tôi sợ suýt chết ngất, toan ép tôi bán tháo vườn cải một đồng một cân! Lão ăn ở thất đức thế mà không sợ trời tru đất diệt à? Lão định bóp cổ lũ cùng đinh chúng tôi để xây nhà lầu tậu ruộng tốt đấy phỏng?”
“Đồ gian thương! Cút khỏi Thanh Khê đi!”
“Chúng tôi không bán cho lão một cọng rác! Mau cút đi!”
“Đập gãy càng xe của nó đi! Đồ hút máu người!”
Tiếng la ó, chửi bới của hàng chục nông dân đồng loạt vang lên như sấm rền. Mấy bác trai lực lưỡng xắn tay áo, trừng mắt vây quanh chiếc xe ngựa, những chiếc đòn gánh, cán cuốc giơ lên tua tủa. Con ngựa kéo dường như cũng cảm nhận được sự giận dữ của đám đông, sợ hãi hí vang một tiếng rồi lùi lại vài bước khiến cỗ xe chòng chành nghiêng ngả, chiếc đẩu gỗ rơi lăn lóc xuống rãnh nước.
Phùng Kế Sinh mồ hôi vã ra như tắm, ướt sũng cả lớp áo lụa xanh hồ thủy sang trọng, dính bết vào cái bụng phệ đang run lên bần bật. Mưu mô dìm giá ép mua độc quyền đã bị vạch trần trần trụi ngay trước thanh thiên bạch nhật, chứng cứ giấy trắng mực đen rành rành khiến gã không thể cãi lấy một lời. Gã biết nếu còn nán lại đây thêm một khắc, cơn giận dữ của đám đông cùng đinh có thể xé xác gã ra từng mảnh. Gã vội vã cúi nhặt chiếc quạt rách, lùi lũi thụt lùi về phía càng xe, miệng ú ớ thanh minh trong tuyệt vọng:
“Hiểu lầm... chắc chắn là có hiểu lầm... Ta... ta cũng chỉ nghe ngóng tin tức từ kẻ khác truyền lại thôi... Không bán thì thôi, hà tất phải nổi giận như thế! Phùng mỗ đi là được chứ gì!”
Nói đoạn, gã cuống cuồng bám vào thành xe, trèo tót lên thùng xe như một con chuột lột, gào thét thúc giục tên phu xe bằng giọng the thé lạc cả đi:
“Quay đầu xe! Mau quay đầu xe về trấn mau lên! Đi nhanh kẻo chúng nó đập xe bây giờ!”
Tên phu xe hốt hoảng quất mạnh ngọn roi vào mông ngựa. Con tuấn mã hí lởn cởn, chồm lên kéo phắt cỗ xe quay ngoắt lại. Bánh xe gỗ nghiến ken két trên mặt đường đá sỏi, làm bắn lên những tia bụi đất mù mịt rồi phóng thục mạng qua con đê lộng gió hướng về phía trấn huyện, để lại phía sau một luồng bụi mờ và những tràng cười sảng khoái, khinh bỉ của toàn thể dân làng Thanh Khê.
* * *
Khi bụi đường lắng xuống, dòng người hân hoan lục tục kéo nhau gánh rau cải non và dưa nén rầm rộ hướng về phía xưởng chế biến ở gò Cồn Gió của nhà họ Diệp. Tiếng cười nói, tiếng gọi nhau í ới vang vọng cả khúc sông. Khoảng sân đất dưới bóng đa cổ thụ dần trở lại vẻ tĩnh lặng êm đềm vốn có của buổi trưa quê. Nắng xuyên qua những kẽ lá đa dày, rọi xuống mặt đất từng đốm hoa nắng lung linh, nhảy múa theo từng cơn gió thoảng.
Tạ Cảnh đứng bên bàn con, cẩn thận gập lại các bản sao chép thư tín, vuốt phẳng từng nếp gấp rồi xếp ngay ngắn từng tờ giấy bản vào chiếc tráp gỗ thông rồi cài then cẩn thận. Gió sông thổi lồng lộng qua tán đa, làm bay bay vạt áo vải xám mộc mạc của chàng thư sinh nghèo. Đôi mắt chàng nhìn theo dòng người đang hớn hở gánh hàng đi về phía Cồn Gió, khóe mắt ánh lên niềm vui thanh thản.
Tiểu Mãn bước lại gần, nhìn chiếc tráp gỗ nhỏ – nơi chứa đựng sức mạnh của con chữ và tri thức mà chàng đã dày công kết nối từ nhóm bạn học trò nghèo ngoài huyện thành để cứu vãn cả một mùa vụ cho nàng và dân làng. Nếu không có những dòng chữ mực đen mực đỏ này, dù nàng có gan dạ đến đâu, có giữ trọn chữ tín đến mức nào, cũng khó lòng dập tắt được ngọn lửa hoảng loạn mù quáng của hàng chục nông hộ đang đứng trước nguy cơ mất trắng. Nàng khẽ nghiêng đầu, trong đáy mắt ánh lên niềm biết ơn sâu sắc cùng một sự tin cậy tuyệt đối:
“Tạ huynh, hôm nay nếu không có sự nhạy bén và mạng lưới thư tín của huynh, có lẽ muội đã không thể ngăn nổi cơn hoảng loạn của bà con bãi bồi.”
Tạ Cảnh ngẩng đầu lên, bắt gặp ánh mắt trong veo của cô thôn nương. Nét mặt nghiêm nghị thường ngày của chàng bỗng dịu lại, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười ấm áp như nắng sớm mùa xuân. Chàng lắc đầu, giọng nói trầm ấm mà chân thành:
“Tiểu Mãn, con chữ của ta chỉ là bằng chứng soi đường, còn sự kiên định, tấm lòng giữ chữ tín và bản lĩnh của nàng mới là chỗ dựa vững chãi nhất cho dân làng. Nhưng chúng ta chưa thể an tâm buông lỏng được.”
Chàng vừa dứt lời, bàn tay liền thoăn thoắt thu xếp lại nghiên mực, quản bút lông và giục Tiểu Mãn lên đường đến thẳng Tửu lầu Vọng Giang để ký hợp đồng chính thức trước khi kẻ gian kịp giở trò khác.