Tiểu Thôn Nương Làm GiàuC.33 / 45
Chương 33

Tiêu chuẩn nguyên liệu và ba bí quyết gia truyền

Sương sớm còn đọng trĩu trịt trên những ngọn cải sau vườn, từng giọt trong vắt như hạt ngọc bám chặt lấy phiến lá non tơ, thì tiếng kéo kẹt quen thuộc của cánh cổng tre ken dày đã mở ra một ngày mới.

Gió từ rặng núi Thanh Lĩnh xa xôi thổi tràn qua thung lũng, mang theo cái rét ngọt cuối xuân cùng hơi ẩm mát rượi bốc lên từ lòng dòng Khe Thanh. Nước sông mùa này trong vắt, lững lờ trôi qua những bãi bồi phù sa đỏ quạch, cuốn theo mùi đất ải vừa cày lật phơi sương, mùi ngai ngái của rơm rạ mục và hương cỏ mật nồng đượm. Mới đầu giờ Thìn, khi vầng dương vừa nhô lên khỏi rặng tre đực đầu xóm, rải những vạt nắng vàng như mật ong non xuống khoảng sân đất nện trước căn nhà ba gian của gia đình họ Diệp, tiếng bước chân mộc mạc đã bắt đầu rộn rã ngoài ngõ.

Trên khoảng đất trống sát bờ giậu râm bụt đang trổ hoa đỏ chót, mấy chiếc chõng tre con đã được cọ rửa sạch bong bằng xơ mướp từ chiều hôm trước, nay khô ráo tinh tươm, kê ngay ngắn thành một hàng dài. Cạnh đó, chiếc bảng thẻ tre năm cột do Tạ Cảnh dùng mực tàu mài đặc kẻ rành rọt từng dòng danh mục vẫn còn thơm nồng mùi tre tươi và mùi muội thông. Từng chiếc thẻ con đẽo bằng cật tre già, mài nhẵn thín hai đầu, được xâu lạt giang treo lủng lẳng bên mép cột, sẵn sàng ghi nhận công xá và phân loại sản vật của buổi sớm mai.

Tiểu Mãn ngồi trên chiếc ghế gỗ thấp đặt dưới bóng râm mát rượi của cây bưởi cổ thụ đang trút những cánh hoa trắng muốt xuống mặt đất. Sau lưng nàng, một tấm đệm rơm nếp dày dặn bọc vải thô màu chàm được kê cẩn thận để nâng đỡ vùng thắt lưng. Nhờ mấy thang thuốc đắp lá ngải cứu sao giấm của thầy lang Triệu cùng hai ngày trọn vẹn bị cả nhà ép nằm bất động trên giường, vết trẹo lưng hôm giông bão đã bớt hẳn những cơn đau nhói buốt, chỉ còn lại cảm giác ê ẩm mơ hồ mỗi khi nàng cúi người quá nhanh.

Ngả lưng vào lớp đệm êm, Tiểu Mãn đưa mắt bao quát khắp khoảng sân rực nắng. Nơi đây, từng người, từng việc đang nhịp nhàng vận hành theo đúng trật tự mới mà nàng cùng cả nhà đã vạch ra trong đêm họp gia đình. Nhìn khung cảnh ấy, trong lồng ngực nàng dâng lên một mối an tâm vững chãi chưa từng có kể từ ngày cha gặp nạn gãy chân rồi gia đình lâm vào cảnh nợ nần ngặt nghèo.

Ở góc sân phía đông, sát cạnh giếng khơi rêu phong, thím Năm và chị Dâu bác Tư bến sông đã ngồi sẵn bên ba chiếc chậu sành cỡ đại chứa đầy nước giếng trong vắt mát lạnh. Đôi bàn tay chai sần của hai người phụ nữ thoăn thoắt đón lấy từng ôm rau cải sen từ tay cô Ba Thược và dì Bảy Đậu vừa kĩu kịt gánh từ bãi bồi ven sông về. Tiếng nước xối róc rách qua từng bẹ lá, tiếng gáo dừa va vào thành chậu lách cách, tiếng rau tươi cọ vào nhau sột soạt giòn giã, hòa cùng tiếng bước chân qua lại trên nền sân tạo nên một khúc ca lao động ấm áp, bình dị mà ngập tràn sinh khí.

Ngay bên cánh cổng ngõ, Ngô Quế Hoa cũng vừa hạ chiếc đòn gánh tre cong vút xuống đất, thở hắt ra một hơi dài nhẹ nhõm. Sau trận cãi cọ nảy lửa với Trần A Lan về phẩm cấp rau bẹ vào buổi chiều hôm trước, sáng nay bà ta đã thức dậy từ lúc canh năm, khi sương mù còn giăng kín ngọn cau. Đích thân bà ta cầm dao bài ra bãi bồi, tỉ mẩn chọn lọc từng gốc cải sen mập mạp nhất trên hai sào đất cát pha, tỉa bỏ sạch sẽ từng gốc sâu, rồi lấy lạt giang chẻ mỏng ngâm nước mềm mại bó lại cẩn thận, tuyệt nhiên không dám dùng dây rơm ẩm túm bừa bãi như những phiên chợ trước. Nét mặt Quế Hoa vẫn còn phảng phất vẻ ngượng ngùng, đôi mắt ti hí thỉnh thoảng lại lấm lét liếc về phía chiếc ghế gỗ của Tiểu Mãn, nhưng hai bàn tay thì lại vuốt ve mép sọt rau vô cùng ý tứ.

Tiểu Mãn khẽ nhấp một ngụm nước vối ấm nấu lẫn vài lát gừng tươi từ chiếc bát sành men nâu, rồi vịn nhẹ vào thành ghế đứng dậy. Nàng khẽ xoay nhẹ hông để làm quen với nhịp vận động, đoạn thong thả bước ra giữa sân. Nắng sớm phủ lên tà áo vải thô màu lam nhạt của nàng một viền sáng ấm áp, tôn lên gương mặt thanh tú, đôi mắt sáng ngời ánh lên sự cương nghị và thông tuệ. Nàng đưa tay vẫy nhẹ, cất giọng gọi các phụ nữ trong nhóm đổi công cùng mấy hộ trồng trọt xóm Ngoài đang đứng chờ bên giậu cúc tần:

“Các thím, các chị sang đông đủ cả rồi. Hôm nay, trước khi Nhị Hòa bắc cân nhận đậu và kiểm rau bẹ nhập kho, con muốn nói lại cho thật rõ ràng, thật tường minh quy củ của xưởng một lần nữa.”

Tiểu Mãn cất giọng trong trẻo nhưng rành rọt, từng âm sắc không quá lớn nhưng vang xa, rơi tõm vào bầu không gian tĩnh lặng của buổi sáng, khiến tiếng nước xối bên giếng cũng tự nhiên ngưng lại. Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía người con gái nhỏ nhắn nhưng mang phong thái đĩnh đạc của một người làm chủ.

“Nhà họ Diệp chúng con làm dưa cải, ủ tương hoa cau không phải chỉ để mang ra chợ phiên bán dăm ba bát vụn lấy tiền mua mắm muối qua ngày nữa.” Nàng chậm rãi đưa mắt nhìn qua từng gương mặt thím Năm, dì Bảy, Ngô Quế Hoa. “Dưa tương của xưởng ta nay đã có chân trong các sạp buôn lớn ở trấn Liễu Kiều, lại vừa nhận lời cấp hàng định kỳ từng chuyến lớn cho trù phòng Tửu lầu Vọng Giang ngoài huyện thành. Miếng ăn đưa vào miệng người ta, nhất là đưa lên bàn tiệc của khách quý phương xa, nếu không giữ được chữ thanh sạch, chữ ngon ngọt tinh khiết từ cái rễ rau non, từ hạt đậu giống ban đầu, thì cái danh Diệp gia tương coi như vứt bỏ xuống sông xuống biển. Danh tiếng mất đi thì dễ, lấy lại được mới khó. Một khi mất chữ tín, chẳng những xưởng nhà con phải đóng cửa, mà công sức cày cuốc, gieo trồng mấy tháng ròng của các thím, các chị ở đây cũng hóa thành bèo bọt.”

Thím Năm vội vàng xoa xoa đôi bàn tay ướt đẫm nước giếng vào chiếc tạp dề bằng vải bao tải, gật đầu lia lịa, giọng sang sảng đầy vẻ đồng tình:

“Cái Mãn nó nói chí phải đấy các bà ạ! Chúng tao đi làm đổi công cho nhà mày, lấy tiền kẽm trang trải dầu đèn hay lấy hũ tương ngon mang về cho chồng con ăn thì cũng mong cái xưởng này nó mở rộng mãi ra, làm ăn phát đạt mãi lên. Có thế thì hạt đậu bãi bồi, cây cải ven sông của cả cái làng Khe Thanh này mới có nơi tiêu thụ ổn định, không lo bị bọn lái buôn ngoài trấn dìm giá sát ván. Mày cứ bảo ban, ruộng vườn canh tác thế nào cho đúng nếp nhà mày thì chị em tao nhất tề nghe theo thế nấy, một hạt sai cũng không dám cãi!”

Tiểu Mãn mỉm cười, ánh mắt tràn ngập vẻ cảm kích trước sự thuần hậu của những người phụ nữ làng quê. Nàng bước từng bước chậm rãi lại góc sân, nơi có ba chiếc thúng tre mới đan đã được xếp sẵn trên chõng tre từ tờ mờ sáng.

Thúng thứ nhất đựng lớp tro bếp xám xịt, mịn màng như bột cám, bốc lên mùi nồng nồng của rơm rạ mục và lá chuối khô đã hoai rũ. Thúng thứ hai chứa đầy những hạt đậu nành vỏ vàng óng ả, hạt nào hạt nấy tròn mẩy như những hạt ngọc hoàng cúc, bóng bẩy dưới ánh mặt trời. Thúng thứ ba bày những bẹ cải sen to bản, dày cộm, sắc xanh mướt mát, cuống trắng nõn nà và tuyệt nhiên không vương một vết dập nát.

Tiểu Mãn dừng lại bên thúng thứ nhất, nàng vục một bàn tay trần vào lớp tro, để từng hạt bụi mịn trôi nhẹ qua kẽ tay:

“Trước hết, con nói về chuyện làm đất và bón luống. Đây là cái gốc của mọi cái gốc. Từ nay về sau, tất cả các hộ tham gia mạng lưới liên kết trồng trọt với xưởng dưa nhà con, tuyệt đối không được tưới phân tươi hay múc nước rãnh thối, nước chuồng lợn chuồng trâu đổ trực tiếp lên ngọn rau non. Rau non gặp phân tươi chưa hoai rễ sẽ bị xót mà cháy sém, lá lại tích nước sũng nước chua. Thứ rau ấy nom bề ngoài thì mướt mát to xác, nhưng ruột xốp rỗng, lúc đem vào chum nén muối rất dễ sinh bọt thối, nổi váng trắng dầy cộp và thối nhũn chỉ sau ba ngày nắng.”

Nàng nhìn thẳng vào Ngô Quế Hoa đang chăm chú lắng nghe:

“Đất bãi bồi hay đất vườn tạp muốn tơi xốp, trừ sạch nấm độc và sâu cắn rễ, thì phải dùng tro bếp mịn của củi gộc ủ thật kỹ với rơm rạ mục và vỏ trấu nếp. Quá trình ủ này phải kéo dài ít nhất hai mươi ngày cho hoai mục hoàn toàn, bay hết hơi hăng nồng. Khi lên luống, các thím rải một lớp tro mục mỏng chừng hai đốt ngón tay xuống lòng rãnh sâu, rồi mới vun lớp đất mai rùa tơi xốp lên trên mà tra hạt. Đất có tro mục thì xốp như bông, giữ ẩm cực tốt mà không bao giờ bị úng nước khi mưa rào. Rễ cái cây cải cắm sâu hút màu mỡ, bẹ cải mới dày thịt, giòn sần sật và giữ trọn vẹn vị ngọt hậu tự nhiên khi lên men trong vại sành.”

Ngô Quế Hoa đứng bên cạnh, nghe từng lời rành rọt như bóc ruột bóc gan, hai bàn tay cứ bấm chặt vào mép áo. Bà ta nhớ lại vụ cải trước, vì nôn nóng muốn rau lớn nhanh để kịp phiên chợ huyện, bà ta đã múc nguyên thùng nước phân chuồng tưới đẫm lên luống cải non. Hậu quả là chỉ sau một đêm sương muối, cả hai luống cải táp vàng khè rũ rượi, bốc mùi nồng nặc không thể cứu vãn. Nay nghe Tiểu Mãn giảng giải ngọn ngành căn nguyên sâu xa, bà ta mới vỡ lẽ ra nhiều điều, trong lòng vừa xấu hổ lại vừa thầm phục tài nghệ và sự hiểu biết phi thường của cô gái trẻ.

Tiểu Mãn bước sang thúng thứ hai. Nàng bốc một vốc đậu nành gò Cồn Gió giơ cao lên ngang ngực. Những hạt đậu tròn vo, nhẵn thín lấp lánh dưới nắng mai:

“Còn đây là tiêu chuẩn phân loại đậu tương để ủ men hoa cau. Nhị Hòa đã đóng sẵn bảng mẫu hạt treo ngay trước cửa buồng chái đông, ai chưa rõ cứ việc cầm hạt của nhà mình lại mà so sánh cẩn thận. Đậu nành loại một nhập kho xưởng Diệp gia bắt buộc phải là giống đậu gò đồi vỏ vàng tươi như sáp ong, hạt tròn đều tăm tắp, bóng bẩy không tì vết. Đưa hạt lên răng cắn thử, phải nghe tiếng ‘tách’ giòn tan, ruột bên trong trắng ngà khô ráo, tuyệt đối không dính chút ẩm mốc nào. Đậu lép, đậu sâu ăn mọt đục lỗ, hay những hạt đã biến màu xám tro, thâm đen do gặp mưa ẩm phải loại bỏ bằng hết. Mọi người phải nhớ cho kỹ: chỉ cần lọt một nắm hạt mốc thối hay hạt lép ứ nước vào chõ đồ, thì cả một mẻ tương một trăm thăng sẽ bị hỏng hoàn toàn từ khâu ủ men hoa cau. Men sẽ không lên sắc vàng hoàng yến mà chuyển sang màu đen nhờ nhờ, bốc mùi thum thủm, thế là hỏng cả công sức của bao nhiêu con người.”

Nàng lại chỉ tay sang rổ cải sen tươi rói ở thúng thứ ba:

“Về phần bẹ cải sen, quy chuẩn cũng nghiêm ngặt không kém. Cải chỉ được thu hái từ đầu giờ Dần cho đến trước lúc mặt trời nhô lên khỏi rặng tre, khi sương sớm còn se nhẹ mặt lá. Hái lúc ấy bẹ cải mới giữ trọn vẹn độ giòn ngọt và không bị héo quắt vì nắng gắt. Cuống cải phải dày thịt, bẹ trắng xanh giòn tan, không rách nát, không thâm giập. Những cuống bị sâu đục hay lá úng vàng phải vặt bỏ ngay tại bờ ruộng, tuyệt đối không được mang cả về đây rồi mới tỉa. Hàng loại một con thu mua đúng giá hai đồng rưỡi một cân tươi, cân xong trả tiền mặt sòng phẳng hoặc ghi thẻ tre đổi công lấy tương tùy các thím lựa chọn. Hàng loại hai lá nhỏ cuống mỏng chỉ dùng nấu canh ăn trong ngày, con chỉ thu mua giá một đồng rưỡi. Còn hàng dập nát, thối ủng, sâu bệnh thì kho nhà họ Diệp dứt khoát không nhận, mong các thím, các chị thông cảm mà giữ đúng giao kèo ban đầu.”

Từng lời nói của Tiểu Mãn rơi vào lòng người nghe vô cùng thỏa đáng, phân minh rành mạch, có mẫu vật sờ tận tay, nhìn tận mắt để đối chiếu chứ không hề nói suông hay ép giá vô cớ. Bốn người phụ nữ trong nhóm đổi công cùng mấy người hàng xóm xóm Ngoài nhìn đống hạt mẫu tròn bóng và bẹ rau tươi sạch mà gật gù tâm phục khẩu phục. Không một ai cảm thấy sự khắt khe của nàng là làm khó người làng, mà ngược lại, trong ánh mắt họ dấy lên một niềm kính trọng sâu sắc đối với sự nghiêm cẩn của nghề làm dưa tương gia truyền họ Diệp.

Đúng lúc bầu không khí trong sân đang vô cùng hài hòa, nhịp nhàng và phấn khởi, thì từ phía đầu ngõ bờ tre bỗng vang lên tiếng bước chân huỳnh huỵch nện mạnh xuống mặt đường đất rải rác đá dăm.

Kèm theo đó là tiếng kẽo kẹt chói tai của chiếc đòn gánh tre già bị uốn cong quá mức, và một giọng nói the thé, the thé chát chúa quen thuộc xé toạc bầu không khí yên bình của buổi sớm:

“Tránh ra! Chúng mày tránh hết đường ra cho người nhà vào sân! Làm cái trò gì mà túm năm tụm ba như cái chợ vỡ thế này không biết! Rách việc!”

Mọi người giật mình quay phắt lại nhìn ra cổng ngõ.

Qua cánh cổng tre mở rộng, Chu Kim Quế đang quẩy đôi thúng đan bằng cật nứa to tướng, cắm đầu cắm cổ bước xộc vào giữa sân. Dáng đi của mụ vừa hớt hải lại vừa cố tỏ ra vẻ bệ vệ, trịch thượng của kẻ bề trên. Chiếc áo bà ba màu mỡ gà đã cũ bám đầy bụi đường đỏ quạch, vạt áo bên ngắn bên dài xộc xệch. Búi tóc củ hành lệch hẳn sang một bên mang tai vì bước vội, mấy sợi tóc mai bết dính mồ hôi dán chặt vào đôi gò má gầy gò nhô cao.

Nhưng đôi mắt một mí ti hí của mụ thì không hề mệt mỏi chút nào, trái lại nó đảo lia lịa khắp lượt sân, từ giàn phơi nứa mắt cáo cao ráo mà Diệp Thành vừa đóng thêm, qua dãy chum sành da lươn bóng bẩy của Đào Tam Nương kê thẳng tắp mé hiên, rồi dừng lại ở những thúng đậu nành vàng ruộm đang phơi dưới nắng.

Chu Kim Quế buông đòn gánh đánh “uỳnh” một cái thật mạnh xuống nền sân đất nện, sát ngay bậu cửa buồng chái đông. Cú va chạm mạnh làm bụi đất bay mù mịt, một luồng bụi mỏng tạt thẳng vào mấy rổ rau cải sen vừa rửa sạch tinh tươm để trên chõng, khiến thím Năm phải vội vàng lấy nón che lại.

Mụ chống hai tay lên hông, thở phì phò như ống bễ lò rèn, lấy tay áo quẹt ngang một đường mồ hôi trên trán rồi cất giọng sang sảng quát tháo:

“Gớm chết đi được! Nhà này dạo này làm ăn lớn có khác nhỉ! Cổng ngõ thì mở toang hoác ra đón khách buôn ngoài huyện, người ngoài thì đon đả mời chào rước vào tận sân, mà người nhà ruột thịt mang của nả sang tận nơi thì chẳng thấy ma nào thèm đon đả lấy một câu! Cái Mãn đâu rồi? Ra đây tao bảo ngay!”

Tiểu Mãn không hề lộ một tia biến sắc. Nàng vẫn đứng yên dưới bóng râm mát rượi của tán bưởi, hai tay buông thõng tự nhiên bên vạt áo, ánh mắt trong veo nhìn người bác dâu cả với vẻ bình thản nhưng xa cách vạn dặm:

“Bác dâu cả sớm thế này đã gánh đồ sang, không biết là có việc chi cần dạy bảo ạ?”

Chu Kim Quế cười khẩy một tiếng, cái miệng mỏng quẹt nhếch lên để lộ hàm răng ố vàng khói thuốc lá đồng. Mụ tiến lại gần hai chiếc thúng của mình, dùng mũi guốc mộc hất tung tấm bao tải gai rách rưới phủ bên trên ra, để lộ những hạt đậu nành màu vàng nhạt bên trong:

“Còn việc gì nữa vào đây! Nghe đâu hôm nay nhà chúng mày mở kho thu mua nguyên liệu đợt mới, chuẩn bị làm một mẻ tương lớn mấy trăm thăng để giao cho cái tửu lầu sang trọng nào ngoài huyện thành. Bác cả mày tối qua nghe tin, liền bảo tao ngay: Người trong một họ, một giọt máu đào hơn ao nước lã, nhà có mối làm ăn tốt thì trước hết phải nâng đỡ người ruột thịt trong dòng tộc trước đã. Bác đây phải thức trắng cả đêm hôm qua gom góp từ trong bồ ra, mang sang cho chúng mày trọn vẹn hai thúng đậu nành với một sọt cuống cải bẹ đây! Mau bắc cân lên mà cân ngay đi! Tính giá loại một cho tao, hai thúng đậu này nhẹ cũng phải bốn mươi cân, sọt cải kia bèo cũng ba chục cân nữa. Đưa tiền mặt luôn ra đây để tao còn kịp chạy về lo cơm nước cho thằng Văn Long nó còn dùi mài kinh sử chuẩn bị đi thi!”

Cái giọng điệu ra lệnh trịch thượng, trơ trẽn như mẹ thiên hạ của Chu Kim Quế khiến mấy người phụ nữ trong nhóm đổi công không hẹn mà cùng đưa mắt nhìn nhau đầy ngán ngẩm. Thím Năm khẽ nhíu mày lắc đầu, còn Trần A Lan thì bĩu môi một cái dài thượt, hai bàn tay siết chặt lấy chiếc gáo dừa múc nước, đôi mắt tóe lửa nhìn chằm chằm vào chiếc thúng đậu của mụ.

Từ phía cửa buồng chái đông, cánh liếp tre khẽ đẩy sang một bên, Diệp Nhị Hòa đĩnh đạc bước ra.

Cậu thiếu niên mười bốn tuổi hôm nay mặc chiếc áo cộc tay bằng vải chàm gọn gàng, thắt lưng buộc chặt dải vải thô, dáng dấp thẳng tắp và chững chạc. Một tay cậu ôm cuốn sổ giấy bản thô dày dặn đóng gáy bằng chỉ gai, tay kia cầm thỏi than liễu đã được Tạ Cảnh gọt giũa vuốt nhọn đầu cẩn thận. Sau những ngày được vị tú tài trẻ tuổi rèn giũa từng nét chữ, từng con số tính toán sổ sách kế toán, phong thái của Nhị Hòa đã lột xác hoàn toàn, không còn cái nét ngỗ nghịch bốc đồng hay sợ sệt rụt rè của một đứa trẻ chăn trâu lam lũ dạo trước.

“Bác dâu cả để cháu kiểm tra phẩm cấp hàng hóa trước đã.” Nhị Hòa bước tới dừng lại trước hai chiếc thúng tre, cất giọng trầm tĩnh, không nhanh không chậm. “Hàng hóa nhập vào kho nhà họ Diệp chúng cháu từ nay đều phải qua khâu chọn lọc, đối chiếu với bảng mẫu treo ở cửa kho. Đạt chuẩn loại nào thì mới ghi sổ, chấm công và xuất tiền thanh toán theo đúng loại ấy.”

Chu Kim Quế trừng trừng đôi mắt hẹp dài nhìn đứa cháu trai, bĩu môi cười nhạt một tràng đầy vẻ mỉa mai, khinh khỉnh:

“Úi chao ôi là trời đất ơi! Chúng mày nhìn xem kìa! Cái thằng ranh con hỉ mũi chưa sạch, nứt mắt ra mà hôm nay cũng bày đặt học đòi làm quản sự, làm ông cai cơ đấy! Mày là cháu ruột, gọi tao bằng bác dâu trưởng xưng hô đàng hoàng, hàng của nhà bác cả mày mang sang tận sân mà mày dám mở mồm bảo kiểm với tra à? Đậu nành loại một hạt to đều tăm tắp, cải sen ngọt lịm như mía lùi thế kia, cả cái làng Khe Thanh này đố mày bới đâu ra được hàng đẹp hơn thế! Mau mau bắc chiếc cân đòn lên mà cân cho tao, đừng có lắm chuyện vẽ hươu vẽ vượn làm mất thời gian quý báu của tao!”

Mặc cho những lời đe nẹt xấc xược, ỷ thế bề trên của người bác dâu réo rắt bên tai, Nhị Hòa không hề nao núng nửa phần. Đôi mắt sáng của cậu nhìn thẳng vào đáy thúng, vẻ mặt điềm đạm đến lạ lùng. Cậu không thèm đôi co một lời, lặng lẽ ngồi xổm xuống bên thúng đậu nành.

Nhưng Nhị Hòa không chỉ gạt lớp hạt vàng óng bên trên như người ta thường làm khi mua bán xô bồ ngoài chợ. Bàn tay rắn rỏi của cậu xòe rộng, thọc sâu một mạch xuống tận đáy thúng, luồn qua lớp đậu phía trên rồi xúc mạnh một vốc từ tầng dưới cùng lên.

Khoảnh khắc bàn tay Nhị Hòa rút ra khỏi miệng thúng, sắc mặt Chu Kim Quế lập tức biến đổi. Nụ cười mỉa mai trên môi mụ cứng đờ lại, đôi mắt thoáng hiện lên một tia hoảng hốt rồi nhanh chóng chuyển sang vẻ hung dữ nhằm che đậy sự chột dạ.

Nhị Hòa đứng thẳng dậy, mở rộng lòng bàn tay ra trước ánh ban mai cho tất cả mọi người cùng trông thấy.

Trái ngược hoàn toàn với lớp hạt vàng óng, căng mọng rải khéo léo bên trên để đánh lừa thị giác, vốc đậu nằm sâu dưới đáy thúng của Chu Kim Quế toàn là những hạt lép kẹp quắt queo, những mảnh đậu vỡ đôi vỡ ba nham nhở. Và tệ hại hơn cả, chi chít trên thân hạt là những mảng nấm mốc đã ngả sang màu xám xịt như tro bếp, phủ một lớp màng tơ mốc xanh mốc trắng ẩm ướt, bốc ra mùi chua nồng, ngai ngái đến lợm giọng của thứ ngũ cốc bị ủ kín trong ẩm thấp lâu ngày.

Chưa dừng lại ở đó, Nhị Hòa bước thêm hai bước sang chiếc sọt đựng cải bẹ. Cậu cúi xuống, giật tung mấy tàu lá cải xanh tươi mơn mởn được Chu Kim Quế khéo léo phủ lên trên bề mặt để ngụy trang. Phía dưới lớp lá ngụy trang ấy lộ ra những cuống cải đã bị dập nát be bét, nhiều đoạn thâm đen xì, bị sâu đục khoét rỗng toác từ bên trong, rỉ ra thứ nước nhờn nhợt và bốc mùi hôi thối nồng nặc của rau ủng thối rữa.

Nhị Hòa quay người, bước lại chiếc bàn con lấy chiếc nia mẫu hạt chuẩn loại một do chính tay Tiểu Mãn tuyển chọn đặt ngay bên cạnh vốc đậu vừa bốc từ đáy thúng của Chu Kim Quế. Cậu cất giọng đanh thép, rõ ràng từng thanh âm:

“Bác dâu cả tự mở mắt ra mà nhìn cho rõ. Đậu của bác bên trên thì rải một lớp mỏng hạt đẹp, bên dưới toàn là hạt mốc xanh mốc xám, hạt lép hạt vỡ chiếm tới bốn, năm phần mười. Độ ẩm thế này chứng tỏ đậu thu hoạch gặp mưa rào vụ trước, chưa phơi khô kiệt đã vội cất vào bồ kín, mang thứ này đi ủ tương sẽ làm thối hoắc cả chum nước muối, hỏng cả mẻ tương trăm thăng của xưởng. Còn cuống cải này, dập nát thối rữa quá nửa, sâu đục rỗng ruột đen sì thế này nén vào vò chỉ tổ sinh giòi bọ làm thối cả vại dưa. Bảng quy chuẩn xưởng đã treo công khai kia, hàng này của bác đến chuẩn loại hai để nấu cám lợn cũng không đạt. Cháu dứt khoát không thể bắc cân nhận số hàng mốc thối này vào kho nhà họ Diệp được!”

Từng lời nói đanh thép, rành mạch, có tang chứng vật chứng rành rành của Nhị Hòa như những nhát búa nện thẳng vào bầu không khí im phăng phắc của khoảng sân.

Mấy người phụ nữ nhóm đổi công ngó cổ nhìn vào vốc đậu mốc xanh mốc xám trên tay Nhị Hòa, ai nấy đều chép miệng, lắc đầu ngao ngán. Thím Năm khẽ nhổ toẹt một bãi nước trầu xuống gốc râm bụt, vẻ mặt lộ rõ sự khinh bỉ tột cùng.

Bị chính đứa cháu ruột mới mười bốn tuổi bóc trần tim đen và trò gian lận bẩn thỉu ngay trước mặt bàn dân thiên hạ, mặt Chu Kim Quế thoạt tiên đỏ bừng lên như gấc chín, rồi trong chớp mắt chuyển sang tái mét vì nhục nhã và giận dữ. Nhưng với bản tính ngang ngược, chua ngoa đã ăn sâu vào máu tủy, thay vì biết xấu hổ mà thu dọn gánh hàng lủi thủi ra về, thói ỷ thế bề trên và máu càn quấy của mụ lại bùng lên dữ dội hơn bao giờ hết.

Mụ nhảy dựng lên như đỉa phải vôi, hai chân giậm thình thình xuống nền đất nện làm bụi tung mịt mù, ngón tay trỏ đeo chiếc nhẫn bạc mạ mỏng dính chỉ thẳng vào sống mũi Nhị Hòa, the thé gào thét:

“Mày... cái thằng ranh con mất dạy, ăn cháo đá bát này! Mày dám mở cái mồm thối ra bảo đậu của bà đây là đậu mốc à? Mấy hạt hơi thâm sạm một tí phơi ra nắng to một buổi là khô cong giòn rụm! Mấy cọng cải sâu một tí rửa qua nước giếng là sạch bong tinh tươm! Chúng mày cậy có tí tiền buôn bán với người ngoài huyện rồi bắt đầu giở thói bới bèo ra bọ, hạch sách ép giá người nhà nghèo khó phải không? Tao là dâu trưởng họ Diệp, là bác ruột từ thời cha sinh mẹ đẻ của lũ chúng mày! Cha mày ngã gãy chân nằm liệt giường liệt chiếu mấy tháng trời, nếu không có cái mặt già này đi chạy vạy vay mượn từng đồng bạc tiền thuốc thang thì liệu có còn cái mạng mà ngồi đấy đan phên không? Giờ chúng mày hơi ngóc đầu lên được một tí liền giở mặt khinh rẻ bác dâu, đối xử với chi trưởng họ Diệp như quân ăn cắp ăn trộm thế à?”

Vừa lu loa khóc lóc om sòm, Chu Kim Quế vừa hung hăng xốc lại chiếc đòn gánh tre, hai tay bám chặt lấy quai thúng, hùng hổ gạt phắt người Nhị Hòa sang một bên định xông thẳng vào kho hàng chái đông:

“Tránh ngay cái xác mày ra! Tao không thèm nói chuyện với cái ngữ con nít ranh chưa ráo máu đầu! Để tao đem thẳng hai thúng đậu này đổ vào kho, xem cái nhà này đứa nào dám cả gan không trả tao bốn mươi cân đậu loại một! Đứa nào dám động vào đồ của tao!”

Nhưng Chu Kim Quế vừa bước hùng hổ được một bước, chiếc đòn gánh còn chưa kịp chạm vào bậu cửa thì một bóng người nhanh như cắt đã lao vút tới, chắn ngang ngay giữa lối vào kho.

Trần A Lan đứng sừng sững trước bậu cửa gỗ, hai cánh tay rắn chắc khoanh chặt trước ngực. Chiếc cằm vuông vức bướng bỉnh hếch cao lên, đôi mắt to tròn quắc lên những tia nhìn sắc lẹm, nảy lửa nhìn thẳng vào gương mặt méo mó của Chu Kim Quế. Thân hình khỏe khoắn, chắc nịch của cô sơn nữ thôn quê đứng vững chãi như một tảng đá ngàn cân chẹn cứng ngay lối đi, không chừa ra lấy một kẽ hở:

“Bác dâu trưởng dừng cái bước chân lại cho! Bác muốn vác đống đậu mốc với cải thối này xộc vào cái kho sạch của xưởng, thì trước hết phải bước qua cái đầu con A Lan này đã!”

Chu Kim Quế khựng phắt lại, chiếc đòn gánh suýt chút nữa chọc vào ngực A Lan. Mụ tức tối giơ chiếc đòn gánh lên định dọa đánh, the thé rít lên qua kẽ răng:

“Con ranh con nhà họ Trần kia! Mày là cái thớ gì, là giống má ở xó xỉnh nào chui ra mà dám đứng đây chắn cửa nhà họ Diệp? Đây là chuyện nội bộ gia tộc dòng họ Diệp chúng tao, một con làm thuê đổi công ăn bát cơm thừa hạt gạo rơi như mày có quyền gì mà xía mõm vào? Cút ngay ra chỗ khác cho tao nhờ, không tao gõ cho chiếc đòn gánh vào đầu bây giờ!”

Nghe lời lăng mạ cay độc, A Lan không những không sợ hãi mà còn bật cười giòn tan. Tiếng cười đầy vẻ khinh bỉ, mỉa mai của nàng vang vọng khắp sân, khiến từng thớ thịt trên mặt Chu Kim Quế giật giật liên hồi:

“Bác bảo ai làm thuê ăn cơm thừa của nhà ai? Con đổi công sòng phẳng, làm việc đổ mồ hôi sôi nước mắt, rửa từng cọng rau bẹ, nhặt từng hạt đậu theo đúng bảng thẻ tre công xá của xưởng đàng hoàng! Còn bác, mang đậu thối mốc meo với cải ủng sâu đục sang đây, ỷ thế làm bác dâu trưởng để đè đầu cưỡi cổ ép con nít cân hàng, hòng cướp bóc mồ hôi nước mắt của người khác, bác không thấy ngượng với tổ tiên họ Diệp dưới suối vàng à? Nhị Hòa nó nói không sai một dấu chấm dấu phẩy nào đâu! Cái kho này là nơi chứa nguyên liệu sạch tinh tươm để làm hàng tiến vào tửu lầu lớn ngoài huyện thành, ai cũng vác đồ ủng đồ thối sang bắt nhập kho như bác thì cả cái mẻ tương nghìn bát của xưởng này đổ hết xuống sông cho cá ăn à? Bác muốn bán lấy tiền thì quẩy gánh về nhà mà ngồi nhặt sạch từng hạt mốc, phơi lại cho khô kiệt ba nắng ba sương rồi hẵng vác cái mặt sang đây mà nói chuyện phải quấy!”

Mấy người phụ nữ bên giếng nước từ nãy đến giờ nhẫn nhịn, nghe A Lan nói trúng tim đen quá nỗi liền đồng loạt cất tiếng phụ họa râm ran:

“Phải đấy bà Đại Phúc ơi! Chúng tôi ở đây làm công ăn lương, từ sáng sớm đến giờ tỉa từng gốc rau, đãi từng thau đậu không dám để sót một hạt sâu hạt mọt nào. Bà làm bác dâu trưởng trong họ, không làm gương nâng đỡ con cháu thì thôi, lại mang đồ mốc thối sang đây làm mình làm mẩy ép uổng chúng nó thế, người ngoài xóm ngó vào người ta cười cho thối mũi!”

“Đúng đấy! Làm ăn buôn bán thì phải lấy chữ tín làm đầu, cậy thế họ hàng mà làm trò dối trá thế thì ai người ta nể cho!”

Từng lời chì chiết, mỉa mai của dân làng xung quanh như những cái tát giòn giã giáng thẳng vào mặt Chu Kim Quế. Mụ đảo mắt nhìn quanh tìm kiếm sự đồng thuận, nhưng tuyệt nhiên không một ai đứng về phía mụ.

Mé hiên nhà, Diệp Thành đang chống gậy đứng lặng im tự bao giờ, ánh mắt người em chồng nhìn mụ nghiêm nghị, lạnh lùng như băng đá. Phía dưới bóng cây bưởi, Tiểu Mãn vẫn thong thả nhấp từng ngụm nước vối ấm, nét mặt điềm nhiên như không hề coi sự càn quấy của mụ ra gì. Trước mặt thì có con bé A Lan đứng chắn cửa kho như bức tường đồng, bên cạnh lại có thằng Nhị Hòa kiên quyết giữ chặt cuốn sổ thu mua, tay nắm chặt thỏi than liễu.

Chu Kim Quế hiểu rằng mưu toan tống khứ đống đậu mốc tồn kho từ năm ngoái để kiếm một món tiền tươi của mụ đã hoàn toàn vỡ lở, tan tành thành mây khói.

Mụ tức đến nỗi toàn thân run lên bần bật, hai hàm răng nghiến vào nhau ken két, mặt mày tím ngắt lại như người trúng phong. Không thể cãi lý vì đuối lý, dùng vũ lực cũng chẳng xong khi có A Lan và Diệp Thành ở đó, Chu Kim Quế đành hậm hực quẩy mạnh đôi thúng lên vai, nghiến răng ken két, buông lời nguyền rủa cay độc:

“Được... lũ chúng mày được lắm! Cứ mở to mắt ra mà đợi đấy! Đừng có tưởng kiếm được dăm ba đồng tiền kẽm vụn của thiên hạ ngoài huyện thành mà đã vội vỗ ngực xưng tên tưởng mình hóa thành phượng hoàng! Để rồi xem cái xưởng dưa tương chết tiệt của chúng mày trụ nổi được mấy ngày! Một lũ ranh con vong ân bội nghĩa, trời tru đất diệt!”

Nói đoạn, Chu Kim Quế cắm đầu cắm cổ, gánh đôi thúng nặng trịch bước thoăn thoắt qua cánh cổng tre, lủi nhanh ra con đường ngõ đất rải đá dăm như một kẻ trộm vừa bị bắt quả tang, trốn chạy khỏi những ánh nhìn khinh bỉ của đám đông phụ nữ trong làng.

Cánh cổng tre khép lại, khoảng sân nhà họ Diệp lập tức tìm lại được vẻ yên bình, ngăn nắp vốn có.

Nhị Hòa khẽ thở phào một hơi thật dài, buông lỏng hai bờ vai nhưng sống lưng cậu vẫn giữ thẳng tắp. Đôi mắt cậu ánh lên niềm kiêu hãnh và tự tin của một người đàn ông nhỏ tuổi vừa hoàn thành xuất sắc trách nhiệm bảo vệ sự tôn nghiêm của xưởng nhà mình. A Lan quay lại nhìn cậu thiếu niên, nhe răng cười một nụ cười rạng rỡ, giơ ngón tay cái lên tán thưởng:

“Khá lắm chú em! Cứng cỏi thế mới đáng mặt làm quản sự kho chứ!”

Tiểu Mãn bước lại gần hai người, nụ cười dịu dàng nở trên môi. Nàng vỗ nhẹ lên bờ vai áo chàm của em trai, giọng đầy ấm áp và tin tưởng:

“Nhị Hòa hôm nay làm rất tốt. Giữ được cửa kho nguyên liệu nghiêm minh, không vì tình riêng hay sự đe nẹt mà nhượng bộ nửa bước, thì cái gốc của xưởng tương chúng ta mới vững như bàn thạch được. Sau này dù có là ai sang, cứ chiếu theo đúng bảng mẫu hạt và thẻ tre quy chuẩn mà làm, nghe em?”

“Chị yên tâm, từng lời chị dặn em đã khắc sâu vào ruột gan rồi!” Nhị Hòa phấn khởi đáp, đoạn cẩn thận dùng thỏi than liễu ghi chú lại vài dòng vắn tắt về vụ việc vào góc cuốn sổ giấy thô.

***

Đến đầu giờ Ngọ, ánh mặt trời đã lên tới đỉnh ngọn tre, việc thu mua và sơ chế nguyên liệu buổi sáng đã hoàn tất gọn gàng, đâu ra đấy.

Sáu mươi cân rau cải sen tươi rói của Ngô Quế Hoa và mấy hộ xóm Ngoài sau khi rửa qua ba lần nước giếng trong vắt đã được tãi đều tăm tắp trên các giàn nứa cao hai thước dựng giữa sân. Từng bẹ cải xanh mướt ngửa mình đón cái nắng hanh giòn giã của buổi trưa để se đều mặt lá, bốc bớt lượng nước thừa tự nhiên trước khi đưa vào muối. Bốn mươi cân đậu nành hạt mẩy đạt chuẩn loại một thu gom từ các hộ liên kết cũng đã được Nhị Hòa kiểm kê tỉ mỉ, ghi chép cẩn thận vào sổ xuất nhập tồn rồi khuân vào cất ngay ngắn nơi góc kho khô ráo, kê cao trên những tấm dát tre cách ẩm.

Bốn người phụ nữ trong nhóm đổi công sau khi nhận đủ những chiếc thẻ tre ghi công nhật từ tay Nhị Hòa đều vui vẻ chào hỏi rồi ra về nghỉ ngơi, hẹn đầu giờ Thân, khi nắng chiều dịu bớt sẽ quay lại để bắt tay vào công đoạn nén dưa vào vò sành.

Khoảng sân nắng gắt dần trở nên tĩnh lặng, chỉ còn lại tiếng xào xạc của những tán lá bưởi đung đưa trong gió thoảng.

Tiểu Mãn quay người, nhẹ nhàng bước qua ngưỡng cửa gỗ, đi vào gian buồng trong của ngôi nhà ba gian.

Bên chiếc bàn con bằng gỗ mộc đặt sát khung cửa sổ nhìn ra vườn cây ăn quả râm mát, Lâm Tú Nương đang cặm cụi ngồi khâu lại từng đường kim mũi chỉ cho những chiếc túi vải thô dùng để bọc thảo mộc ủ tương. Thấy tiếng bước chân con gái, bà dừng tay kim, đặt mảnh vải xuống chiếc khay gỗ, ngẩng đầu lên nhìn Tiểu Mãn với ánh mắt ngập tràn sự dịu dàng và yêu thương vô bờ bến.

“Mãn nhi, lưng con đã đỡ đau hẳn chưa? Sáng nay mẹ ngồi khâu trong này nghe hết cả rồi.” Giọng Lâm Tú Nương trầm ấm, nhỏ nhẹ như làn gió thoảng đầu mùa. “Nhị Hòa với A Lan hôm nay cư xử cứng cỏi, đĩnh đạc lắm. Con dạy dỗ các em chu đáo, việc nhà việc xưởng phân minh rạch ròi, mẹ ở trong này mà thấy lòng mình ấm áp, yên tâm vô cùng.”

“Dạ, nhờ mấy thang thuốc đắp của thầy lang Triệu với lại được mẹ chăm chút, lưng con nhẹ nhõm nhiều rồi mẹ ạ.” Tiểu Mãn mỉm cười, ngồi xuống chiếc ghế con bên cạnh bàn. “Nhờ có cha trông nom giàn phơi nẹp tre, mẹ quán xuyến khâu men mốc, các em đứa lo sổ sách kho tàng đứa lo học hành, con mới thấy gánh nặng trên vai mình nhẹ đi được đôi phần.”

Nàng đón lấy chiếc bát sành đựng nước vối ấm còn thơm mùi gừng do mẹ vừa rót đưa cho, nhấp một ngụm nhỏ để làm dịu cổ họng. Ánh mắt Tiểu Mãn khẽ chuyển dịch về phía góc tối của gian buồng, nơi đặt chiếc hòm gỗ long não cũ kỹ đã sẫm màu thời gian. Chiếc hòm ấy có then cài bằng đồng hun đã nhẵn bóng vì bao năm tháng được người ta lau chùi cẩn thận.

Hiểu thấu tâm ý của con gái, Lâm Tú Nương khẽ mỉm cười. Bà đưa tay xuống thắt lưng, gỡ chiếc chìa khóa đồng nhỏ xíu được buộc bằng một sợi chỉ đỏ thắm trao vào lòng bàn tay Tiểu Mãn:

“Con mở ra đi. Từ ngày mẹ trao cuốn sổ tay của bà ngoại lại cho con quản lý, mẹ biết trong lòng con lúc nào cũng canh cánh một nỗi niềm giữ gìn trọn vẹn di sản của người đã khuất.”

Tiểu Mãn đón lấy chiếc chìa khóa đồng mát lạnh, đứng dậy bước lại bên chiếc hòm long não. Nàng quỳ một gối xuống nền đất, tra chiếc chìa nhỏ vào ổ khóa, khẽ xoay một vòng. Tiếng then đồng bật mở phát ra một âm thanh “cạch” khô khốc mà êm ái. Khi nắp hòm từ từ nâng lên, một mùi hương thơm nồng nàn, ngai ngái quen thuộc của tinh dầu gỗ long não chống mối mọt ngập tràn khắp gian buồng nhỏ.

Nằm trang trọng ở tầng trên cùng của chiếc hòm, trên một tấm lụa điều đã phai màu, là cuốn sổ tay đóng gáy bằng chỉ gai thô, bìa bọc da dê đã sờn rách bốn góc của Lâm Thu Bà.

Tiểu Mãn cung kính nâng cuốn sổ lên bằng cả hai bàn tay, cảm nhận được sức nặng vô hình của bao nhiêu năm tháng thăng trầm đọng lại nơi đây. Nàng ngồi xuống bên bàn, cẩn thận lật giở từng trang giấy bản ố vàng đã ngả màu cánh gián. Từng hàng chữ Hán chân phương, mực tàu đen nhánh do chính tay bà ngoại viết ra hiện lên rõ nét: từ cách xem mây đoán tiết khí nồm ẩm xứ Thanh Khê, cách lựa chọn từng hạt đậu nành gò đồi, đến kỹ thuật ngâm ủ tro mục bón luống mà bà đã đúc kết suốt mười năm ròng rã cai quản trù phòng nơi hoa viên cự phú ngoài huyện thành.

Nhưng Tiểu Mãn hiểu sâu sắc hơn ai hết, di sản ẩm thực của bà ngoại truyền lại không phải là thứ có thể tùy tiện phô bày cho cả thiên hạ cùng dòm ngó, học lỏm.

Kỹ thuật ủ tro mục bón luống, cách phân loại hạt giống tròn mẩy, hay phương pháp cọ rửa tiệt trùng chum vại bằng nước lá ổi sôi sùng sục, nàng hoàn toàn có thể công khai chia sẻ, tận tình chỉ dạy cho bà con trong thôn xóm cùng làm. Bởi vì nàng biết rõ, một cánh én nhỏ chẳng bao giờ làm nên nổi mùa xuân. Một mình căn bếp nhỏ của nhà họ Diệp dẫu có vắt kiệt sức lực cũng không thể nào gánh nổi sản lượng hàng trăm, hàng ngàn thăng tương mỗi tháng nếu không có một mạng lưới các hộ nông dân vệ tinh cùng nhau canh tác vùng nguyên liệu sạch. Chia sẻ kỹ thuật nền tảng là cách duy nhất để nâng đỡ cả làng cùng đi lên, tạo dựng một nền móng vững chắc cho xưởng tương phát triển lâu dài.

Thế nhưng, linh hồn của mẻ tương hoa cau Diệp gia – thứ phong vị tuyệt hảo đã khiến đại trù sư Tôn Như Hải của Tửu lầu Vọng Giang chỉ nếm một thìa nhỏ nơi đầu lưỡi đã phải chấn động tâm can, nhận ra ngay tuyệt kỹ ẩm thực thất truyền – lại nằm trọn vẹn ở ba bí quyết cốt tử mà Lâm Thu Bà sinh thời đã cố ý giấu kín, thậm chí ghi chép đảo lộn vị trí các chữ trong sổ để phòng ngừa kẻ gian dòm ngó, trộm nghề.

Dưới ánh mắt ấm áp, tin cậy tuyệt đối của mẹ, Tiểu Mãn lấy từ trong khay gỗ ra một mảnh vải thô mộc màu trắng ngà vừa được cắt vuông vức từ góc khung cửi của Lâm Tú Nương. Nàng cầm lấy chiếc bút lông thỏ nhỏ nhắn, chấm nhẹ vào nghiên mực thông mài đặc quánh, rồi nắn nót viết lại từng chữ, từng dòng về ba quy tắc cốt lõi:

Thứ nhất là tỷ lệ “Tam diêm thất thủy hãm chua”: Muối hạt lấy từ vùng biển xa về phải được đổ vào chảo gang đáy dày sao trên lửa than hoa cho nổ hết tiếng lách tách, bốc sạch toàn bộ hơi chát đắng và tạp chất của nước biển, rồi mới đem hòa cùng nước giếng đá Thanh Lĩnh đun sôi để nguội theo đúng tỷ lệ nghiêm ngặt: ba phần muối, bảy phần nước. Tỷ lệ này là ranh giới sống còn để khống chế tuyệt đối độ chua gắt của men mốc trong những ngày nồm ẩm, mà vẫn giữ được vị mặn thanh tao, ngọt hậu sâu lắng nơi cuống họng.

Thứ hai là kỹ thuật “Thập nhị thì ngọ khuấy tương”: Tuyệt đối không được mở nắp khuấy tương vào sáng sớm mù sương hay chiều tà bóng xế như những sách dạy làm tương thông thường ngoài hiệu sách. Bắt buộc phải mở nắp chum vào đúng giờ Ngọ ba khắc, khi mặt trời đứng bóng chiếu thẳng luồng dương khí mạnh mẽ nhất xuống mặt đất. Người khuấy phải dùng đòn khuấy làm bằng gỗ mít già tiện nhẵn, đảo tròn đều tay đúng ba mươi sáu vòng theo chiều kim đồng hồ, không thừa một vòng, không thiếu một vòng, để tương hấp thụ trọn vẹn dương khí ấm áp của đất trời, xua tan và hãm triệt để mọi tà khí ẩm nồm độc hại tích tụ nơi thung lũng.

Thứ ba là công thức thảo mộc gia truyền điều vị: Mía tím bánh tẻ nướng lùi tro rơm hồng cho chín thấu, cạo sạch lớp vỏ phấn đen cháy bên ngoài, đem phối cùng rễ cam thảo núi sao mật ong rừng và hạt mùi già phơi khô giã dập theo một tỷ lệ bí truyền khắt khe. Thứ hỗn hợp thảo mộc thơm lừng ấy được cho vào túi vải thô sạch thả sâu xuống đáy chum trước khi ngả mẻ mốc hoa cau vào nước muối. Chính sự hòa quyện kỳ diệu này đã tạo nên tầng hương béo ngậy, ngọt sâu và hậu vị êm ái như nhung mà không một xưởng tương nào ở chốn trần gian có thể sao chép hay bắt chước nổi.

Viết xong nét chữ cuối cùng, Tiểu Mãn đặt bút lông xuống giá gỗ, lặng lẽ chờ cho lớp mực tàu đen nhánh ngấm sâu và khô hẳn trên từng thớ sợi vải thô.

Đoạn, nàng cẩn thận gấp mảnh vải lại thành một miếng vuông vức chỉ bằng nửa lòng bàn tay. Với đôi bàn tay khéo léo, nàng luồn mảnh vải ấy vào chiếc túi nhỏ bí mật được Lâm Tú Nương may giấu kín bên trong nẹp áo ngực của mình, rồi cài chặt chiếc khuy xương lại.

Làm xong mọi việc, trước ánh mắt gật đầu đầy vẻ thấu suốt của mẹ, Tiểu Mãn cung kính đặt cuốn sổ tay bọc da dê của Lâm Thu Bà trở lại đáy hòm gỗ long não. Nàng sập chiếc nắp gỗ nặng trịch xuống, tra chìa khóa đồng vào then, xoay một tiếng “cạch” dứt khoát rồi trao chiếc chìa khóa lại cho mẹ cất giữ bên mình.

“Bí quyết cốt lõi giữ kín bên người, kỹ thuật canh tác sẻ chia cho xóm làng.” Lâm Tú Nương đưa bàn tay ấm áp vuốt nhẹ lọn tóc mai vương trên trán con gái, xúc động nghẹn ngào nói. “Bà ngoại con dưới suối vàng nếu nhìn thấy con gái mẹ biết lo toan chu đáo, biết nhu biết cương đúng lúc thế này, nhất định sẽ mỉm cười thanh thản mà ngậm cười nơi chín suối.”

***

Ba ngày sau, tiết trời xứ Thanh Khê bỗng chuyển biến diệu kỳ. Những cơn mưa phùn ẩm ướt đầu xuân nhường chỗ cho những ngày nắng hanh vàng rực rỡ, vòm trời cao xanh vời vợi, trong vắt không một gợn mây mù.

Khuôn viên chái đông nhà họ Diệp ngập tràn không khí lao động nhịp nhàng, khẩn trương nhưng ngăn nắp như một cỗ xe tam mã đã được tra dầu mỡ trơn tru, bon bon lăn bánh trên đường bằng phẳng. Nhờ sự phân chia công việc rành mạch, khoa học từ cuộc họp gia đình hôm trước, Tiểu Mãn giờ đây không còn phải thức trắng đêm từ canh tư để làm lụng mọi việc sự vụ vặt vãnh như trước nữa. Nàng chỉ việc đứng bao quát toàn cục, kiểm tra gắt gao từng mắt xích và giữ vững quy chuẩn chất lượng ở khâu cuối cùng.

Diệp Thành ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp ngoài hiên, đôi chân bị gãy nay đã co duỗi vững vàng, tay thoăn thoắt đan những tấm phên nứa mắt cáo mới để chuẩn bị che chắn gió bấc cho dãy chum tương mùa tới. Lâm Tú Nương túc trực bên bếp củi rực lửa, trông nom nồi nước lá sả lá bưởi bốc khói nghi ngút để giặt phơi tiệt trùng những tấm khăn phủ miệng vại. Nhị Hòa đĩnh đạc kiểm kê từng đấu muối hạt đã rang khô nỏ mang ra sân, trong khi Tam Nha thoăn thoắt xếp những chiếc nắp khum vát ngấn nước đã được cọ rửa sạch bong thành một hàng dài mé bờ giậu.

Đúng giờ Ngọ ba khắc, khi bóng nắng tròn xoe thu lại dưới chân cột hiên, Tiểu Mãn cùng mẹ thong thả bước lại dãy mười chiếc chum sành da lươn khóa ngấn nước của Đào Tam Nương đặt thẳng tắp trên những tảng đá xanh giữa sân.

Nàng khẽ nghiêng người, đưa hai tay nhấc nhẹ chiếc nắp vồng của chiếc chum sành số một đặt ở đầu hàng.

Một làn hương thơm béo ngậy, nồng ấm lập tức ùa ra ngào ngạt, quấn quýt lấy sống mũi của tất cả những người có mặt trong sân. Bên trong lòng chum sâu thẳm, mẻ đậu nành đồ chín tãi mỏng trên nong tre sau ba ngày ba đêm ủ kín theo đúng quy trình nghiêm ngặt đã lên men hoa cau hoàn hảo mười phần.

Lớp mốc men phủ đều tăm tắp khắp bề mặt từng hạt đậu một màu vàng ươm, tươi tắn như những bông hoa cải nở rộ giữa tiết xuân thì. Nó mịn màng và tơi xốp như một lớp nhung tơ tằm thượng hạng, tuyệt nhiên không có lấy một đốm mốc đen hay vệt xám tạp khuẩn nào vương vất. Hơi ấm từ khối men bốc lên nhè nhẹ, mang theo sinh khí mãnh liệt của sự lên men tự nhiên thuần khiết nhất.

“Hoa cau ngấu đẹp quá con ơi!” Lâm Tú Nương không kìm được tiếng trầm trồ khe khẽ, khóe mắt người mẹ bỗng ánh lên những giọt lệ mừng vui sướng khôn xiết.

Nhị Hòa và Diệp Thành cũng bước lại gần ngắm nhìn mẻ men đầu mùa. Cả gia đình cùng hít hà mùi thơm ngầy ngậy, bùi béo đặc trưng của men hoa cau thượng phẩm. Làn hương ấy theo ngọn gió trưa hanh hao nhanh chóng lan tỏa ra khắp khoảng sân đất nện, bay qua rặng giậu râm bụt nở hoa đỏ chót, rồi dậy khắp ngõ xóm thôn Thanh Khê. Mấy người dân đi làm đồng ngang qua cổng ngõ đều bất giác dừng chân, hít hà bầu không khí thơm lừng rồi tấm tắc khen ngợi mẻ tương đầu mùa của nhà Diệp Thành sao mà thơm nức, ngọt lành đến thế.

Tiểu Mãn nhắm mắt lại, hít một hơi thật sâu mùi hương quen thuộc của nghề tổ truyền. Nàng đưa những đầu ngón tay khẽ chạm nhẹ vào lớp men tơ mịn, cảm nhận hơi ấm nồng nàn phát ra từ sự sống của hàng vạn vi sinh vật có ích.

Lần đầu tiên sau bao tháng ngày gồng mình vất vả, chống chọi với cảnh nợ nần bủa vây và bệnh tật của cha mẹ, nàng mới thấy lồng ngực mình nhẹ nhõm đến thế. Không còn những đêm thức trắng kiệt sức đến ngất lịm bên bếp than hồng, không còn nỗi lo sợ cô độc một mình phải gánh vác cả gia đình trên vai. Mẻ tương hoa cau mới đã thành hình rực rỡ nhờ vào sự đồng lòng, chung sức của cha mẹ, của các em và sự tin cậy của những người phụ nữ chân chất trong làng.

Đúng lúc Tiểu Mãn chuẩn bị cùng mẹ đổ nước muối rang và mía nướng vào chum để bắt đầu công đoạn phơi nắng khuấy tương đầu tiên, thì từ ngoài ngõ bờ tre bỗng vang lên tiếng bước chân dồn dập, hớt hải.

Cánh cổng tre bật mở đánh “rầm” một tiếng. Trần A Lan từ phía con đường cái dẫn ra trạm dịch Thạch Đình vừa chạy thục mạng về tới nơi. Chiếc nón lá rách cầm trên tay quạt lia lịa lấy gió, vạt áo chàm ướt sũng mồ hôi dán chặt vào lưng, mặt mũi đỏ bừng bừng vì kiệt sức và lo lắng tột độ. Nàng lao qua khoảng sân, vừa thở hổn hển vừa gọi giật giọng:

“Tiểu Mãn! Nguy to rồi Tiểu Mãn ơi! Có tin dữ từ ngoài trấn Liễu Kiều vừa báo về!”

Tiểu Mãn dừng tay đòn khuấy, quay phắt lại nhìn người bạn thân:

“Có chuyện gì mà mày hớt hải, mất vía thế A Lan? Cứ bình tĩnh thở lấy hơi đã!”

A Lan chống hai tay lên đầu gối, cúi gập người thở dốc từng cơn, đôi mắt to tròn nhìn dáo dác xung quanh sân rồi kéo Tiểu Mãn lại góc bóng râm cây bưởi, hạ thấp giọng xuống mức tối đa nhưng vẻ mặt thì vô cùng nghiêm trọng:

“Lão Phùng Kế Sinh... cái lão thương lái béo ục ịch hay mặc áo lụa xanh chuyên thu mua dưa tương ở bến sông Liễu Kiều ấy! Sáng sớm nay lão vừa từ huyện thành Vân Thủy cưỡi lừa trở về trấn. Người nhà bác Lưu Văn Hòa ngoài bến nghe ngóng được tin chuẩn xác mười mươi: lão Phùng đang liên kết với mấy chủ buôn lớn nhất trên huyện để chặn toàn bộ đường tiêu thụ dưa tương của các hộ lẻ ở khắp các thôn bãi bồi ven sông! Lão tuyên bố kỳ này sẽ ép giá thu mua xuống tận đáy bùn, nếu nhà nào không chịu cúi đầu ký khế ước bán rẻ độc quyền cho lão thì đừng hòng mang được một hũ tương, một vò dưa nào qua nổi bến sông Liễu Kiều!”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn