Tiểu Thôn Nương Làm GiàuC.35 / 45
Chương 35

Bàn cờ thương lượng bên bến Vọng Giang

Gió sông Vân Thủy từ phía hạ nguồn thổi thốc lên, cuộn theo hơi nước mát rượi và vị ngai ngái nồng đượm của bãi bồi phù sa, luồn qua hàng chấn song tiện bằng gỗ lim của tầng hai Tửu lầu Vọng Giang. Những tấm rèm trúc cật đan chỉ ngũ sắc khẽ va vào cột trụ sơn then, phát ra những tiếng lách cách khô giòn, thỉnh thoảng lại nhấc bổng mép lụa viền đỏ bay phần phật ra ngoài khoảng không lộng gió.

Từ trên độ cao này phóng tầm mắt xuống, bến sông Vân Thủy hiện ra như một bức tranh sinh hoạt huyên náo đến nghẹt thở. Hàng trăm cánh buồm nâu, buồm cánh gián xuôi ngược ken dày như vảy cá, chiếc cập bến dỡ hàng tiêu điều mạn thuyền, chiếc no gió chuẩn bị nhổ neo xuôi về các thương cảng phương Nam xa xôi. Tiếng hò dô khoan nhặt của phu khuân vác, tiếng bánh xe cút kít chở muối nghiến ken két trên mặt đá dăm, tiếng lách cách của những chiếc sào tre chống thuyền hòa cùng tiếng sóng vỗ bập bõm vào mạn gỗ thông tạo nên một âm vang không dứt của chốn đô hội sầm uất nhất huyện thành.

Mùi bùn non, mùi cá tươi vừa đánh lưới còn tanh nồng trên những chiếc giỏ tre, quyện chặt lấy hương thơm ngầy ngậy của mỡ hành, mùi cá trắm đen kho nghệ vàng và mùi dầu vừng xào nấu từ gian đại trù phòng phía tầng trệt bốc lên nghi ngút. Khói bếp của Vọng Giang Lâu quyện vào gió trời, mang theo cái ấm nồng của một nơi ăn chơi bậc nhất, nơi tập vãng biết bao tao nhân mặc khách, thương buôn cự phú và quan lại xuôi ngược chốn quan trường.

Ngay tại gian phòng nhã kính kê sát mép bao lơn, bầu không khí lại tĩnh lặng và trang trọng đến lạ kỳ. Chiếc bàn trà bằng gỗ mun đen nhánh, bóng loáng như gương, phản chiếu bóng mây trắng lững lờ trôi trên nền trời đầu hạ. Ở góc bàn, một chiếc lò than con hình mắt cáo đúc bằng đồng thau đang đỏ lửa liu riu, ngọn lửa than hoa không một gợn khói xám, chỉ tỏa ra hơi ấm dịu dàng ôm ấp lấy thân ấm đất nung Nghi Hưng màu da lươn pha sắc gan gà cổ kính. Nước suối đầu nguồn sôi lăn tăn sủi tăm cua, nắp ấm khẽ rung lên từng nhịp thở nhẹ.

Tôn Như Hải ngồi xếp bằng trên tấm đệm cói dệt hoa văn chữ thọ. Lão chưởng quầy ngũ tuần khẽ vén tay áo gấm màu xanh sẫm dệt chìm hoa cúc đại đóa, để lộ cổ tay tròn lẳn đeo chuỗi tràng hạt bằng gỗ đàn hương mòn nhẵn dấu ấn thời gian. Động tác của lão thuần thục và uyển chuyển như một nghệ nhân trà đạo: tráng chén bằng nước sôi, dùng kẹp tre gắp từng búp trà Thiết Quan Âm cánh vo tròn chặt chẽ như hạt đậu xanh thả vào lòng ấm, rồi dội một dòng nước sôi từ trên cao xuống để đánh thức hương trà. Làn khói trắng bốc lên, mang theo hương lan thoang thoảng, thanh khiết mà sâu lắng, lập tức xua tan đi cái oi ả lơ lửng của buổi trưa giao mùa chớm hè.

Lão điềm tĩnh nghiêng vòi ấm, rót đều ba dòng nước vàng óng như mật ong rừng vào ba chiếc chén sứ men ngọc thanh thoát. Nước trà dừng lại đúng bảy phần chén, không thừa một giọt, không sánh một tấc ra mặt khay.

“Tiểu Mãn cô nương, Tạ tiên sinh, hai vị đường xa từ thôn dã đến đây, nắng nôi gió bụi dọc ba mươi dặm quan lộ chắc hẳn hao tổn không ít tâm lực. Mời hai vị dùng chén trà giải hạn, nhuận giọng đôi phần rồi chúng ta sẽ thong thả đàm đạo chuyện lớn.”

Tôn Như Hải khẽ mỉm cười, nụ cười hòa nhã thường thấy của một chưởng quỹ đứng đầu một thương hiệu lớn, hai tay nâng chén trà đẩy nhẹ về phía Diệp Tiểu Mãn rồi hướng sang Tạ Cảnh. Đôi mắt hẹp dài, đuôi mắt hằn sâu những nếp nhăn từng trải của lão khẽ nheo lại, kín đáo nhưng vô cùng sắc sảo lướt qua diện mạo của hai vị khách trẻ tuổi.

Trước mắt lão, Tạ Cảnh ngồi ngay ngắn với sống lưng thẳng tắp như cây tùng trên vách đá. Chàng thư sinh nghèo chỉ vận một bộ y phục vải thô màu tro nhạt đã sờn mép cổ, nhưng từng nếp gấp được giặt hồ phẳng phiu, sạch sẽ không vương một vết ố. Phong thái của chàng ung dung, đôi mắt sáng thâm trầm như giếng cổ ngàn năm không gợn sóng, bàn tay thon dài của kẻ quen cầm bút lông đặt hờ trên đầu gối, tỏa ra một khí chất trầm tĩnh, tự tại của người có học thức uyên thâm giấu kín bên trong sự giản dị hàn môn.

Thế nhưng, ánh nhìn của Tôn Như Hải dừng lại lâu nhất chính là ở Diệp Tiểu Mãn.

Chỉ mới sáng sớm nay thôi, lão đã nghe tiểu nhị chạy việc báo tin về màn đấu trí căng thẳng dưới gốc đa chợ phiên Thanh Khê. Cô thiếu nữ mười bảy tuổi này vừa phải đối mặt với những lời đồn thổi ác ý và đòn ép giá tàn độc của gã thương lái lọc lõi Phùng Kế Sinh. Một người con gái thôn quê vừa trải qua biến cố lớn như vậy, đáng lẽ phải mang vẻ mặt hoang mang, sợ sệt, hoặc chí ít cũng lộ ra sự bồn chồn của kẻ yếu thế khi bước chân vào cánh cửa sơn son thếp vàng của đệ nhất tửu lầu huyện hạt.

Nhưng không. Diệp Tiểu Mãn ngồi đó, vạt áo vải thô màu cỏ úa dính chút bụi đường đỏ quạch nơi gấu quần không hề làm giảm đi vẻ đĩnh đạc lạ thường toát ra từ cốt cách. Khuôn mặt nàng sáng trong, đôi mày thanh tú hơi giãn ra, khóe môi ngậm một ý cười kín đáo mà tự tin. Đôi bàn tay tuy có những vết chai mỏng nơi kẽ ngón vì công việc đồng áng và cời lửa trù phòng, nhưng khi nâng chén trà lên lại uyển chuyển, chừng mực, không thừa không thiếu một phân lễ tiết. Ánh mắt nàng nhìn thẳng vào mắt Tôn Như Hải, bình thản và trong suốt như nước hồ mùa thu, không có lấy một nét e dè, tự ti của phận bần hàn trước kẻ quyền thế.

Tiểu Mãn nâng chén trà bằng cả hai tay, lòng bàn tay cảm nhận hơi ấm thanh tao từ lớp sứ mỏng truyền qua. Nàng khẽ cúi đầu tạ lễ theo đúng khuôn phép của hàng vãn bối đối với bậc tiền nhân:

“Tiểu nữ xin đa tạ tấm lòng hiếu khách của Tôn thúc. Trà quý thưởng tại lầu cao, lại được chính tay bậc tiền bối pha chế, quả là vinh hạnh lớn cho người làm nông hạt đất chúng cháu.”

Nàng đưa chén trà lên ngang mũi, khẽ hít một hơi sâu để cảm nhận hương lan thanh tao quyện với mùi sương sớm vùng cao, rồi mới nhấp một ngụm nhỏ. Đầu lưỡi khẽ đón nhận vị chát dịu, thanh nhẹ như sương mai, nhưng ngay sau đó, một dòng ngọt ngào êm ái nhanh chóng bung tỏa, đọng lại nơi cuống họng thật sâu và đậm đà:

“Trà ngon lắm, Tôn thúc. Nước đầu đậm đà vị núi, hậu vị ngọt thanh thuần khiết không vướng chút gắt đắng, nước trà giữ được sắc vàng trong vắt. Quả thực xứng danh phong vị đệ nhất phẩm của đại tửu lầu Vân Thủy.”

Tôn Như Hải vuốt chòm râu hoa râm tỉa tót cẩn thận, bật ra một tràng cười sảng khoái. Tiếng cười vang lên giòn tan, nhưng khi nụ cười vừa khép lại, nét sắc lạnh, quyết đoán của một thương nhân lão luyện đã từng kinh qua muôn trùng sóng gió nơi bến chợ lập tức phủ lên gương mặt:

“Tiểu Mãn cô nương quả nhiên có khiếu thưởng vị bẩm sinh. Lâm Thu lão tẩu năm xưa nơi Thẩm phủ quả không nhìn lầm người khi truyền thụ lại chiếc áo bào trù nghệ. Ta không giấu gì hai vị, bữa tiệc chiêu đãi các chủ thuyền buôn muối và gốm sứ phương Nam ngày rằm vừa rồi thành công ngoài sức tưởng tượng của lão phu.”

Tôn Như Hải đặt chén trà xuống đĩa sứ, ánh mắt lão lóe lên vẻ đắc ý khi nhớ lại quang cảnh đêm tiệc:

“Khách thương hồ phương Nam quanh năm lênh đênh sông nước, tôm cá ăn mòn răng, sơn hào hải vị nếm đủ trăm bề, miệng lưỡi khó tính khôn cùng. Ấy thế mà khi trù phòng Vọng Giang ta bưng lên đĩa cá chép đầm kho với tương đậu nành hoa cau tầng giữa của nhà các ngươi, hương thơm bùi ngậy quyện mùi thảo mộc lan tỏa khắp ba tầng lầu. Rồi đến đĩa dưa sen nén róc nước xào với lòng cá lăng béo ngậy, vị chua thanh ấm tỳ vị, cọng dưa giòn sần sật không chút xơ nhớt, các vị đại chủ thuyền đều phải buông đũa tấm tắc ngợi khen. Họ bảo phong vị này vượt xa thứ tương nồng gắt hay dưa úng mặn chát của các quán sá tầm thường dọc bến sông.”

Lão chưởng quầy khẽ ngừng lại, ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn mun bóng loáng, nhịp gõ đều đặn mang theo sức nặng của một lời tuyên bố quan trọng:

“Tiếng thơm đồn xa, nhưng danh tiếng của Vọng Giang Lâu không thể xây dựng trên sự bấp bênh rày đây mai đó. Hôm nay ta mời hai vị lên lầu, gác lại mọi bận rộn nơi thương cảng, chính là muốn định đoạt một khế ước cung ứng lâu dài, bền chặt trọn một năm ròng. Chúng ta buôn có bạn, bán có phường, không thể cứ mãi cảnh gom nhặt từng hũ tương, đón từng gánh dưa ngoài chợ phiên như phường buôn thúng bán mẹt làm lỡ dở đại sự của đôi bên.”

Dứt lời, Tôn Như Hải giơ tay vỗ nhẹ hai tiếng giòn tan.

Từ phía góc cầu thang, một gã tiểu nhị mặc áo cộc xanh lơ, thắt lưng vải đỏ nhanh nhẹn tiến lại. Trên hai tay gã bưng một chiếc khay sơn mài đỏ thẫm viền hoa văn mây lượn mạ vàng. Đặt ngay ngắn trên mặt khay là hai bản thảo khế ước viết trên loại giấy hoa tiên thượng hạng màu ngà, mép giấy bồi lụa vàng óng ánh. Từng dòng chữ chữ khải chân phương, mực tàu đen nhánh còn tỏa ra mùi hương xạ dịu nhẹ quyện với mùi keo vỏ cây mới ráo.

Tôn Như Hải đón lấy khay, tự tay đẩy một bản thảo sang phía Diệp Tiểu Mãn và Tạ Cảnh. Ánh mắt lão chăm chú quan sát từng cử chỉ nhỏ nhất của hai người trẻ tuổi đối diện:

“Đây là dự thảo hợp đồng cung ứng định kỳ trọn một năm, bắt đầu từ tiết Thanh Minh năm nay cho đến hết tiết Xuân Phân năm sau. Mỗi tháng, xưởng họ Diệp các ngươi phải cung ứng cho Vọng Giang Lâu tròn một trăm sáu mươi thăng tương đậu nành hoa cau tầng giữa, bảo đảm không sủi bọt, không chua gắt; cùng hai trăm cân dưa cải sen nén róc nước, chia đều làm bốn đợt giao nhận vào các ngày phiên mùng một, mùng tám, rằm và hai mươi ba hàng tháng. Thêm vào đó, toàn bộ số rau cải non trái vụ các ngươi gieo trồng được trên bãi bồi Cồn Gió cũng phải ưu tiên chuyển thẳng lên bến tửu lầu, không được tự ý bán tháo ra ngoài.”

Lão chưởng quầy nâng chén trà, nhấp một ngụm nhỏ để lấy giọng, ngữ điệu trầm bổng bắt đầu mang theo uy thế ngấm ngầm của một kẻ nắm giữ huyết mạch tiêu thụ lớn nhất toàn vùng:

“Buôn bán lớn có phép tắc của buôn bán lớn. Các ngươi ra chợ phiên bán lẻ, tương được hai mươi mốt đồng một thăng, dưa được mười lăm đồng một cân, nhưng phải dãi nắng dầm mưa, gặp hôm mưa bão hàng ế ẩm coi như mất trắng công lao. Mua sỉ cả năm với số lượng hàng trăm thăng, hàng trăm cân ổn định thì giá cả buộc phải hạ xuống theo thông lệ thương trường. Lão phu định mức giá thu mua trọn gói như sau: Tương đậu hoa cau mười sáu đồng tiền kẽm một thăng; dưa cải sen nén chín đồng một cân; còn rau cải non tươi hái sáng sớm định giá hai đồng một cân. Bù lại, tửu lầu ta bảo đảm thanh toán sòng phẳng bằng bạc trắng nén đúc phân lượng rõ ràng vào ngày cuối cùng của mỗi tháng, tuyệt đối không giam vốn một đồng của các ngươi.”

Dừng lại một nhịp dài, Tôn Như Hải hơi nghiêng người về phía trước, ánh mắt đột ngột trở nên sắc lạnh như mũi dao trổ. Chiếc nhẫn ngọc bích bóng ngời nơi ngón tay trỏ của lão khẽ gõ mạnh xuống mặt bàn một tiếng “cộc” khô khốc, giọng điệu đanh lại, từng từ buông ra như tảng đá ném vào mặt hồ phẳng lặng:

“Đổi lấy việc bao tiêu số lượng lớn quanh năm, Vọng Giang Lâu yêu cầu một kỷ luật sắt về thời gian và phẩm chất hàng hóa. Các ngươi cũng thấy đấy, thuyền buôn phương Nam, thương nhân phương Bắc xuôi ngược bến sông đều tính giờ giấc theo từng con nước lên xuống. Tiệc rượu mở ra thết đãi quan khách không thể nào chờ đợi một cọng rau trễ giờ. Vì lẽ đó, lão phu đặt ra một điều khoản tối thượng: Nếu nhà họ Diệp giao hàng chậm trễ quá hai khắc vào những ngày hội lớn, ngày rằm hoặc mùa đông khách thương hồ, làm lỡ yến tiệc của trù phòng, thì ngoài việc bị hủy bỏ toàn bộ lô hàng của ngày hôm đó, các ngươi phải chịu mức phạt đền gấp ba lần tổng giá trị đơn hàng của đợt giao đó!”

Mức phạt đền gấp ba lần!

Bốn chữ cuối cùng rơi xuống giữa gian phòng như một tiếng sét xé toạc bầu không khí êm đềm ban nãy.

Gió sông ngoài bao lơn đột ngột thổi mạnh hơn, làm những dải lụa viền rèm trúc đập phần phật vào chấn song. Dưới chân cầu thang, tiếng cười nói của thực khách và tiếng dao thớt va chan chát từ trù phòng vọng lên dường như trở nên xa xăm, nhường chỗ cho một khoảng lặng căng như dây đàn vừa kéo căng hết mức.

Mười sáu đồng một thăng tương, chín đồng một cân dưa sen nén, hai đồng một cân cải non tươi! Mức giá mà Tôn Như Hải vừa đưa ra đã bị ghìm sát tận đáy bùn. So với giá bán lẻ ngoài sạp chợ, tương bị ép giảm tới năm đồng mỗi thăng, dưa sen giảm sáu đồng mỗi cân, còn rau non thì rẻ mạt chẳng khác nào mớ cỏ dại ven đê. Chưa dừng lại ở đó, điều khoản phạt đền gấp ba lần giá trị lô hàng treo lơ lửng trên đầu chẳng khác nào một chiếc thòng lọng vô hình siết chặt lấy cổ người nông dân nghèo. Ở chốn thôn quê cách trở đò giang, chỉ cần một cơn dông bất chợt làm lật thuyền, một trận mưa rào làm sạt lở bờ đê gãy trục xe kéo, chậm trễ vỏn vẹn hai khắc đồng hồ là coi như toàn bộ mồ hôi nước mắt, vốn liếng chắt bóp của cả gia đình họ Diệp sẽ tan thành mây khói, thậm chí gánh nợ ngập đầu không bao giờ ngóc lên nổi.

Trước sức ép ngột ngạt ngỡ như nghẹt thở ấy, Diệp Tiểu Mãn vẫn ngồi bất động. Nàng không hề biến sắc, khóe mắt không giật, đôi vai mảnh dẻ không hề run rẩy. Nàng điềm tĩnh đặt chén trà men ngọc xuống đĩa sứ, tiếng va chạm khẽ khàng đến mức gần như không nghe thấy. Đôi mắt nàng trong vắt, tĩnh lặng như mặt nước giếng sâu, không chút hoảng hốt, không chút oán hờn, chỉ có một sự tỉnh táo đến rợn ngườicủa một người đã thấu suốt mọi ngóc ngách của canh bạc sinh tồn này.

Tiểu Mãn khẽ nghiêng đầu, trao cho Tạ Cảnh một ánh nhìn kín đáo.

Nhận được tín hiệu từ nàng, Tạ Cảnh khẽ mỉm cười, một nụ cười đượm vẻ tự tin và điềm tĩnh lạ kỳ. Chàng nhẹ nhàng vươn tay, mở chiếc tráp gỗ thông mộc mạc đặt bên hông ghế. Từ trong tráp, chàng cẩn thận nhấc ra một tập sổ thẻ tre năm cột được chuốt gọt tỉ mỉ, đóng gáy chắc chắn bằng những sợi chỉ gai nhuộm nâu dẻo dai.

Từng thanh tre cật được nạo sạch vỏ xanh, sấy khô trên giàn bếp chống mối mọt, nhẵn bóng không một dằm xước nhỏ. Mặt trên thẻ tre, những dòng chữ viết bằng mực tàu đen nhánh hiện lên thẳng tắp, tề chỉnh theo thể chân phương sắc sảo: Nhật kỳ, Danh mục, Nhập, Xuất, Tồn. Từng con số, từng dấu chấm son đỏ đánh dấu phân lượng rõ ràng rành mạch, toát lên sự cẩn trọng tột cùng của một bậc túc nho thông hiểu việc sổ sách quản lý kho tàng.

Tiểu Mãn đưa tay đón lấy tập thẻ tre, lật mở từng nan gỗ phát ra những tiếng lách cách khô giòn, thanh thoát. Nàng ngẩng đầu lên, ánh mắt đối diện trực diện với đôi mắt đang nheo lại của Tôn Như Hải. Giọng nàng cất lên, mềm mại như dòng suối róc rách chảy qua khe đá mùa xuân, nhưng từng câu từng chữ lại đanh thép, chắc nịch như đóng đinh vào cột gỗ nghiến nghìn năm:

“Tôn thúc, ngài là bậc tiền bối đức cao vọng trọng trên thương trường huyện hạt, lại từng có mối thâm tình đồng môn đồng trù với bà ngoại Lâm Thu Bà của cháu nơi phủ Thẩm Tri phủ năm xưa. Cháu một lòng kính trọng sự công bằng, đức độ và con mắt nhìn xa trông rộng của ngài. Nhưng bản thảo khế ước một năm này, với mức giá và điều khoản phạt đền ngài vừa hạ bút đưa ra, không phải là sự che chở nâng đỡ người nông dân làm ăn chân chính, mà thực chất là dồn xưởng chế biến non trẻ của nhà họ Diệp vào bước đường cùng chịu lỗ phá sản!”

Chân mày rậm rạp của Tôn Như Hải khẽ giật nhẹ, lão hơi nhướng mày lên, đáy mắt xẹt qua một tia ngạc nhiên tột độ. Lão không ngờ một cô thôn nữ chân lấm tay bùn lại dám dùng lời lẽ bộc trực, không kiêng dè uy thế của lão như vậy ngay tại chính bản doanh của lão:

“Chịu lỗ sao? Tiểu Mãn cô nương, lời này của ngươi e rằng hơi hàm hồ rồi đó. Một trăm sáu mươi thăng tương và hai trăm cân dưa mỗi tháng, cộng thêm cả tạ rau non, tính ra là một món tiền tươi bạc trắng không hề nhỏ đối với một gia đình nông dân nơi thôn dã nghèo khó. Các ngươi có đầu ra ổn định bốn mùa, không phải dãi nắng dầm mưa gánh hàng rong ruổi khắp ngõ hẻm chào mời từng bát từng cọng, cớ sao lại bảo Vọng Giang Lâu dồn các ngươi vào đường cùng chịu lỗ?”

“Cháu nói có sách, mách có chứng. Cháu xin mời Tôn thúc cùng nhìn vào những con số thực tế được ghi chép rành rọt trên từng nan thẻ tre này.”

Tiểu Mãn đặt tập thẻ tre xuống trước mặt lão chưởng quầy, ngón tay thon dài chỉ thẳng vào cột chi phí đầu tiên được khắc chữ đỏ:

“Thứ nhất, về hạt giống và cải tạo đất đai. Để có được một trăm sáu mươi thăng tương đậu nành hoa cau đạt chuẩn thượng hạng, vỏ hạt vàng óng như sáp ong, hạt khô giòn cắn ngà, không lẫn một hạt lép mốc hay sâu mọt, xưởng cháu phải sàng sảy chọn lọc từ mười thạch đậu loại một của các nông hộ bãi bồi ven sông. Giá mua hạt giống sạch vào mùa chưa bao giờ dưới sáu đồng tiền kẽm cho một cân hạt mẩy. Lại nói về rau cải sen, muốn bẹ dày, xốp giòn, ngọt nước mà tuyệt đối không có xơ cứng, đất trồng phải được dưỡng luân canh vô cùng khắt khe.”

Nàng hơi ngừng lại, ánh mắt ánh lên vẻ nghiêm cẩn của người am tường nông vụ sâu sắc:

“Ở vùng bãi sông này, nông dân quen thói dùng phân tươi tưới luống để rau mau lớn, mỡ màng xanh tốt. Nhưng phân tươi mang tính hàn độc, làm cháy rễ non, sinh bọt thối trong cuống lá, và nguy hại nhất là sẽ làm hỏng toàn bộ men vi sinh tự nhiên trong chum tương vại dưa sau này. Nhà họ Diệp cháu tuyệt đối cấm tiệt lối làm ăn gian dối đó. Để có nguồn dinh dưỡng sạch, chúng cháu phải bỏ tiền tươi đi thu mua từng thúng tro bếp mịn từ củi gộc, từng bao trấu nếp mục của các lò xay xát, đem về ủ hoai kỹ càng suốt hai mươi ngày đêm với tỷ lệ tro rơm chuẩn xác không sai một nắm, rồi rải sâu vào lòng rãnh hai đốt ngón tay trước khi đặt mầm rau. Riêng tiền tro trấu, phân ủ hoai mục và công thợ cải tạo đất cho mỗi sào cải sen đã ngốn mất bốn mươi lăm đồng tiền kẽm ròng!”

Nói đoạn, Tiểu Mãn lật sang nan thẻ tre thứ hai, nơi Tạ Cảnh đã ghi chép tỉ mỉ từng chi phí công nhật và hương liệu phụ trợ:

“Thứ hai, là công đoạn ủ mốc hoa cau an toàn và gia vị bí truyền gia bảo. Hạt đậu nành sau khi ngâm nước giếng trong suốt một đêm phải được đồ chín bằng chõ gỗ mít lót lá chuối hơ lửa suốt hai canh giờ rưỡi, hạt mềm thấu nhưng không được nát vỡ. Khi tãi mốc, phải rải mỏng trên nong tre đan thưa được kê nâng cao hai thước cách mặt đất để tránh triệt để hơi ẩm bùn đất bốc lên làm mốc xỉn màu. Người làm việc trong xưởng trước khi bước vào phòng ủ mốc đều phải rửa tay bằng nước lá ổi đun sôi để khử trùng, đầu trùm khăn vải mộc đã được tiệt trùng bằng khói lá sả khô. Đội đổi công gồm bốn phụ nữ thạo việc trong thôn Thanh Khê làm việc cật lực từ lúc gà gáy sáng đến khi mặt trời lặn sau núi, cháu chi trả mười hai đồng một ngày công, không bớt xén một phân mồ hôi nước mắt nào của bà con.”

Giọng Tiểu Mãn ngân vang, từng chi tiết sống động như hiện ra trước mắt người nghe:

“Chưa kể đến muối hạt dùng để muối dưa và làm tương. Thứ muối rẻ tiền lẫn bùn cát ngoài chợ không bao giờ được bước qua ngạch cửa xưởng cháu. Chúng cháu phải đặt mua muối biển tinh khiết từ những thuyền buôn lớn phương Nam chở về, đem rang khô trên chảo gang dày cộp để khử sạch tạp chất đắng chát rồi mới hòa tan vào nước giếng đá Thanh Lĩnh ngọt lành. Túi thảo mộc lót đáy chum tương gồm mía tím nướng lùi tro nóng cho tứa mật, rễ cam thảo núi sao khô tẩm mật ong rừng, và hạt mùi già phơi sương giã dập – từng vị thuốc bắc đó cháu đều phải cân đong từng hoa, trả bằng tiền tươi thóc thật nơi hiệu thuốc bắc ngoài huyện thành chứ không thể nhặt nhạnh bừa bãi nơi bờ bụi.”

Bàn tay Tiểu Mãn lật tiếp sang nan thẻ tre thứ ba. Lần này, ngón tay nàng dừng lại ở dòng mực đỏ tươi chói lọi, nơi ghi nhận tỷ lệ hao hụt cơ học:

“Thứ ba, và cũng là gánh nặng lớn nhất đè nặng lên vai người sản xuất: đồ sành sứ chuyên dụng và hao hụt vận chuyển đường dài. Để giữ trọn vẹn hương vị mốc hoa cau tầng giữa suốt bốn mùa mưa nắng mà không phải dùng đến chất bảo quản độc hại, cháu không thể dùng chum vại tạp nham nung non lửa. Cháu đã phải lặn lội sang tận Phường Gốm Nam Bãi, đặt riêng nghệ nhân Đào Tam Nương chế tác dòng chum sành tráng men da lươn chịu nhiệt, miệng chum có ngấn nước khóa khí hoàn toàn, nắp vồng khum vát ba phân chuẩn xác để ngăn tuyệt đối ruồi bọ và hơi ẩm độc hại từ ngoài xâm nhập. Giá mỗi chiếc chum dung tích hai mươi thăng ấy là ba mươi lăm đồng tiền kẽm không bớt một cắc.”

Ánh mắt Tiểu Mãn sáng quắc, nàng nhìn thẳng vào khuôn mặt đang dần biến đổi sắc thái của Tôn Như Hải:

“Đường từ thôn Thanh Khê ra trấn Liễu Kiều dài ba mươi dặm đất thịt gập ghềnh, ổ gà ổ voi lởm chởm; rồi lại thêm ba mươi dặm đường sông ngược nước từ bến trấn lên đến chân thành huyện Vân Thủy này. Sóng vỗ mạn thuyền va đập, xe kéo nảy trên đá dăm, tỷ lệ nứt vỡ sành sứ và rò rỉ nước dưa thấp nhất cũng phải tính trừ hao một phần mười trên tổng số hàng vận chuyển. Nếu tính gộp đầy đủ từ tiền giống sạch, tro trấu mục cải tạo đất, công nhật đổi công của thợ xưởng, gia vị thảo mộc bí truyền cho đến khấu hao chum vại sành sứ và rủi ro rơi vỡ dọc đường, giá vốn gốc thực tế tại cửa xưởng của cháu đã là chín đồng ba phân cho mỗi thăng tương, và sáu đồng năm phân cho mỗi cân dưa cải róc nước!”

Tiểu Mãn khẽ hít một hơi sâu, giọng nói của nàng hạ thấp xuống nửa cung nhưng sức nặng lại tăng lên gấp bội:

“Tôn thúc ép giá tương xuống mười sáu đồng, dưa xuống chín đồng. Sau khi chúng cháu phải tự gánh cước xe kéo ba mươi dặm đường bộ, đóng lệ phí qua bến đò, trừ hao hụt rơi vỡ trên đường sông và nộp thuế môn bài sạp chợ, phần lãi ròng còn lại chưa đầy một đồng tiền kẽm cho mỗi thăng hàng! Trong khi đó, đối với rau cải non trái vụ, để bà con nông hộ liên kết chịu bỏ hẳn thói quen tưới phân tươi, cam tâm bỏ công bắt sâu bằng tay và che chắn sương muối ròng rã, cháu đã phải cam kết bao tiêu với giá sàn hai đồng rưỡi một cân. Nay ngài chỉ trả cho cháu hai đồng một cân, có nghĩa là người đứng mũi chịu sào làm xưởng như cháu phải tự móc tiền túi ra bù lỗ nửa đồng cho mỗi cân rau tươi giao nộp lên Vọng Giang Lâu!”

Nàng đứng thẳng dậy, hai tay chắp lại trước ngực nhưng tư thế hiên ngang không hề cúi luồn:

“Người làm nông chúng cháu còng lưng cuốc đất, thức khuya dậy sớm canh từng ngọn khói mốc tương, giữ trọn từng giọt vị sạch tinh túy truyền đời của tổ tiên. Chúng cháu muốn làm ăn lâu dài để cùng ngài hưởng lợi, chứ tuyệt đối không thể làm ăn theo kiểu lấy công làm lỗ, đem sinh mệnh của cả một gia đình và chén cơm manh áo của hàng chục con người trong đội đổi công ra đánh cược với mức phạt đền gấp ba nghiệt ngã của ngài!”

Không gian tầng hai của Tửu lầu Vọng Giang dường như đặc quánh lại.

Từng lời nói của Diệp Tiểu Mãn như những nhát búa nện thẳng vào sự toan tính thương trường bấy lâu nay của Tôn Như Hải. Từng con số chi phí, từng quy trình kỹ thuật, từ độ sâu hai đốt ngón tay khi rải tro rơm đến độ vát ba phân của nắp chum sành, từ giá công nhật mười hai đồng đến giá mua đậu loại một sáu đồng – tất cả đều rành mạch, chuẩn xác, kín kẽ đến mức không thể bắt bẻ lấy một mảy may.

Tôn Như Hải ngồi sững sờ. Đôi mắt lão mở lớn nhìn trăn trối vào tập thẻ tre năm cột trước mặt, rồi lại ngước lên nhìn cô gái mười bảy tuổi áo vải thô đang đứng sừng sững kia. Bàn tay lão đang cầm chén trà khẽ khựng lại giữa không trung, nước trà sóng sánh suýt tràn qua mép sứ men ngọc.

Nửa đời người chìm nổi nơi bến sông Vân Thủy, Tôn Như Hải đã từng ngồi đàm phán với không biết bao nhiêu hạng người. Từ những thương nhân người Hoa lọc lõi buôn tơ lụa, những chủ thuyền muối giàu nứt đố đổ vách vùng biển duyên hải, cho đến những lái buôn nông sản cáo già chuyên nghề ép giá người nghèo dọc đôi bờ sông. Khi đối mặt với thế lực và uy thế của Vọng Giang Lâu, kẻ thì khúm núm van xin giảm bớt vài đồng tiền phạt, kẻ thì nịnh nọt tâng bốc hòng kiếm chút chênh lệch cỏn con, hoặc giả có kẻ phản kháng cũng chỉ biết than nghèo kể khổ một cách mơ hồ, bất lực.

Chưa từng có một ai – lại là một cô nương thôn dã tuổi đời còn non trẻ – có thể ung dung mở sổ sách kế toán thẻ tre, phân tích chi phí ngọn ngành đến từng phân tiền kẽm, bóc trần toàn bộ cơ cấu giá thành sản xuất và vạch rõ ranh giới sinh tử giữa lợi nhuận và phá sản một cách đanh thép, khúc chiết và đĩnh đạc như một vị đại quản sự lão thành của các đại hoa viên kinh kỳ thế này!

Cái phong thái đĩnh đạc ấy, sự am tường sâu sắc về nông nghệ kết hợp với óc tính toán thương nghiệp lạnh lùng, chuẩn xác này... Tôn Như Hải khẽ rùng mình. Lão như nhìn thấy lại bóng dáng của Lâm Thu Bà năm xưa nơi phủ đường Thẩm Tri phủ. Người đàn bà huyền thoại ấy từng dùng chiếc cân tiểu ly và ngọn bút lông để quản lý toàn bộ kho lương thực, trù phòng trăm miệng ăn của quan phủ, nghiêm cẩn đến từng hạt muối, cọng hành, không một viên lại dịch hay thương lái nào dám giở trò gian lận trước mắt bà. Huyết mạch của họ Lâm quả nhiên danh bất hư truyền, thậm chí ở cô cháu ngoại này, sự quyết đoán và bản lĩnh thương trường dường như còn được mài giũa sắc bén hơn cả người xưa!

Tuy nhiên, kinh ngạc và thán phục trong lòng là một chuyện, còn việc bảo vệ quyền lợi và vị thế của người đứng đầu Vọng Giang Lâu lại là một chuyện hoàn toàn khác. Một thương nhân lão luyện không bao giờ dễ dàng buông vũ khí chỉ sau một đòn phủ đầu của đối phương.

Tôn Như Hải hít sâu một hơi, chầm chậm đặt chén trà xuống bàn phát ra một tiếng “cạch” thanh gọn. Khuôn mặt lão thu lại vẻ bàng hoàng, thay vào đó là nét uy nghiêm trầm mặc của một chủ nhân đại tửu lầu. Lão vuốt chòm râu, nhìn thẳng vào Tiểu Mãn, giọng nói trầm lắng nhưng ẩn chứa một áp lực nặng nề mới:

“Tiểu Mãn cô nương, quả thực hôm nay ngươi đã khiến lão phu phải mở rộng tầm mắt. Ngươi tính toán không sai một ly, lão phu thừa nhận làm hàng sạch theo đúng quy chuẩn cổ truyền tốn kém công sức và tiền của hơn lối làm ăn chụp giật ngoài chợ rất nhiều. Lão phu hiểu nỗi khổ tâm của người làm nông các ngươi. Nhưng ngược lại, ngươi cũng phải đứng ở vị thế của Vọng Giang Lâu mà suy xét cho nỗi khó khăn của ta.”

Lão đưa tay chỉ ra khoảng sông mênh mông ngoài bao lơn:

“Ngươi nhìn xem, Vọng Giang Lâu sừng sững ba tầng bên bến sông này, mỗi ngày đón tiếp hàng trăm lượt khách quý. Bàn tiệc dọn lên đón quan viên triều đình, đón các đại thương nhân nắm giữ hàng vạn lạng bạc. Đĩa cá kho tương hoa cau hôm nay lỡ có thiếu một bữa, khách còn có thể châm chước dùng tạm món khác; nhưng đĩa rau non xanh mướt đầu mùa xào lòng cá hay luộc chấm kho quẹt thì tuyệt đối không thể đứt đoạn dù chỉ một ngày! Khách sành ăn bỏ bạc trắng ra lầu cao ngắm sông, cái họ đòi hỏi chính là sự tươi mới, thanh khiết của đĩa rau non trái vụ giữa tiết trời khắc nghiệt.”

Ánh mắt Tôn Như Hải sắc lại như chim ưng rình mồi:

“Đất trời Vân Thủy này tính tình thất thường khôn xiết. Mùa đông thì sương muối đại hàn phủ trắng xóa đồi gò, chỉ qua một đêm là lá rau non cháy rụi đen thui; mùa hè thì mưa bão lũ lụt thượng nguồn đổ về ầm ầm, nước sông dâng cao cuốn phăng bến bãi, đường đê sạt lở chia cắt đôi bờ. Ngươi đòi ta phải nâng giá thu mua để xưởng ngươi có lãi, vậy lão phu hỏi ngươi: Ngươi lấy cái gì để bảo đảm chắc chắn về khối lượng rau non tươi tốt giao định kỳ bốn đợt mỗi tháng cho ta khi gặp phải thời tiết nghịch cảnh bất thường? Nếu luống cải ngoài bãi Cồn Gió của các ngươi bị một trận sương muối đánh chết rụi, hoặc mưa bão ngập úng không gánh rau ra bến được, khách của ta ngồi kín bàn tiệc vỗ bàn đòi ăn rau non xào, lão phu biết lấy gì để đền cho danh dự và chữ tín ngàn vàng của Vọng Giang Lâu?”

Câu hỏi sắc lẹm của Tôn Như Hải buông xuống như một gáo nước lạnh tạt vào bầu không khí đang sôi sục.

Đó chính là tử huyệt của nghề nông từ ngàn đời nay. Làm nông nghiệp là trông cậy vào trời đất, thuận thiên thì sống, nghịch thiên thì chết. Dù người nông dân có cần cù chịu khó đến đâu, có kỹ thuật un khói mùn cưa hay đắp phên chắn gió bấc tinh vi đến mức nào, cũng không một ai dám vỗ ngực cam đoan vườn rau non mỏng manh của mình sẽ trăm trận trăm thắng trước những cơn thịnh nộ khôn lường của sương muối, mưa đá hay bão lũ.

Yêu cầu bảo đảm sản lượng tuyệt đối trong mọi hoàn cảnh thời tiết khắc nghiệt của Tôn Như Hải quả thực là một đòn phản kích hiểm hóc, dồn toàn bộ rủi ro của thiên nhiên lên đôi vai trần của nhà họ Diệp.

Trong khoảnh khắc giằng co nghẹt thở ấy, không khí gian phòng như đông cứng lại. Đúng lúc này, một tiếng động nhẹ vang lên phá vỡ sự im lặng.

Tạ Cảnh từ tốn đặt ngọn bút lông sói trong tay xuống rãnh tráp gỗ thông. Chàng khẽ chỉnh lại nếp tay áo màu tro, đứng dậy một cách đĩnh đạc. Khí độ của chàng thư sinh nghèo lúc này không hề có nửa phần rụt rè, ngược lại, đôi mắt chàng sáng rực vẻ thông tuệ, khóe môi khẽ nở một nụ cười điềm đạm mà tự tin. Chàng hướng về phía Tôn Như Hải, khẽ chắp tay hành lễ theo phong thái của bậc danh sĩ:

“Tôn lão bản quả nhiên lo xa nhìn rộng, từng lời ngài nói đều xuất phát từ đại cục và chữ tín ngàn vàng của một đại tửu lầu danh tiếng. Chữ tín của Vọng Giang Lâu nặng tựa thái sơn, ngài không thể đem phó thác cho sự may rủi của trời đất, điều đó hoàn toàn chính đáng.”

Tôn Như Hải hơi nheo mắt nhìn Tạ Cảnh, trong lòng không khỏi dâng lên một mối tò mò:

“Tạ tiên sinh có cao kiến gì chăng?”

Tạ Cảnh khẽ mỉm cười, giọng nói trầm ấm mà vang rền từng nhịp, khúc chiết như từng dòng kinh điển thánh hiền:

“Tiểu sinh tuy chỉ là kẻ đọc sách hàn môn, nhưng cũng từng dùi mài kinh sử, nghiên cứu qua Đại Minh luật và các bản thương ước điển lệ của tiền triều được lưu giữ nơi huyện nha. Khi quan phủ và các phường hội thương nhân lập văn tự giao kèo làm ăn đường dài, đối mặt với sự vô thường của tạo hóa, bao giờ cổ nhân cũng thiết lập một điều khoản then chốt để bảo vệ sự tồn vong của cả đôi bên. Điều khoản ấy mang tên: Điều khoản Bất khả kháng.”

“Bất khả kháng?” Tôn Như Hải lặp lại cụm từ ấy, đôi mắt lão khẽ lóe lên một tia sáng ngẫm nghĩ, “Ý tiên sinh muốn nói đến những việc sức người không thể cưỡng lại?”

“Chính xác là như vậy!”

Tạ Cảnh bước lên nửa bước, phong thái đĩnh đạc tự nhiên:

“Thiên địa tuần hoàn, sương muối đại hàn tàn phá mùa màng, mưa bão lũ lụt làm sạt lở đê điều, đình trệ thuyền đò bến sông – đó là những tai ương do trời giáng, sức người dù có tận tâm tận lực, thức trắng thâu đêm cũng không tài nào ngăn cản nổi. Trong các bản thương ước chuẩn mực chốn quan thị, không bao giờ người ta dùng mức phạt đền tàn khốc để bức tử một đối tác sản xuất tâm huyết khi họ gặp phải thiên tai bất khả kháng. Làm như vậy là tuyệt lộ đường sinh, trái với đạo trời và nghĩa lý thương đạo. Thay vào đó, một bản khế ước thông tuệ phải thiết lập một phương án hoán đổi giá trị tương đương một cách linh hoạt, vừa giúp đại tửu lầu bảo đảm nguồn nguyên liệu dự phòng không bị gián đoạn, vừa che chở giữ vững mạng sống cho người làm nông nghiệp.”

Chàng đưa ngón tay thon dài chỉ thẳng vào bản thảo khế ước trên khay sơn mài, rành rọt từng chữ:

“Nhà họ Diệp chúng tôi kính đề nghị bổ sung vào khế ước một điều khoản hoán đổi rủi ro rõ ràng: Trong trường hợp xảy ra thiên tai sương muối đại hàn hoặc mưa bão ngập úng khiến sản lượng rau cải non tươi trên bãi bồi Cồn Gió không thể đáp ứng đủ khối lượng cam kết định kỳ, nhà họ Diệp được quyền dùng dưa cải sen nén chặt trong chum sành ngấn nước và tương đậu nành hoa cau đặc hảo hạng có giá trị tương đương để thế nợ khối lượng rau tươi bị thiếu hụt! Việc hoán đổi này tuyệt đối không bị coi là vi phạm giao kèo, và Vọng Giang Lâu không được áp dụng mức phạt đền gấp ba đối với xưởng Diệp gia!”

Tôn Như Hải khẽ giật mình, lão tựa lưng vào thành ghế mun, lẩm nhẩm nhắc lại từng từ trong miệng:

“Dùng dưa sen nén và tương đặc hảo hạng... để thế nợ rau non?”

“Đúng vậy, thưa Tôn thúc!”

Tiểu Mãn lập tức tiếp lời, ánh mắt nàng bừng sáng rực rỡ khi bắt nhịp hoàn hảo với luận điểm sắc bén của Tạ Cảnh:

“Tôn thúc hãy thử nghĩ xem, rau tươi non vào những ngày mưa gió bão bùng hay sương muối cắt da cắt thịt là thứ mong manh nhất, dễ thối nhũn, dễ dập nát nhất dọc đường vận chuyển. Nhưng dưa sen muối nén theo bí phương gia truyền của bà ngoại cháu, được chèn ép bằng vỉ tre cật và đá cuội dòng suối trong chum sành ngấn nước khóa khí, đã được róc kiệt nước chua chát. Thứ dưa nén ấy có thể lưu trữ trong hầm mát hàng tháng trời mà từng cọng dưa vẫn giữ nguyên màu vàng óng, độ giòn sần sật và vị chua thanh ấm tỳ vị, xua tan hàn khí cực kỳ công hiệu. Còn tương đậu nành hoa cau tầng giữa thì càng để qua mùa đông lại càng sánh đặc, càng dậy lên vị béo bùi ngậy lưỡi.”

Tiểu Mãn mỉm cười, đôi mắt ánh lên vẻ tự tin của một người nắm giữ trọn vẹn linh hồn ẩm thực:

“Những ngày mưa dầm gió bấc, thuyền buôn cập bến lánh nạn rét mướt căm căm, khách phương xa rùng mình bước chân vào Vọng Giang Lâu, một đĩa rau non xào nhạt nhẽo trôi tuột nơi cuống họng liệu có thể làm ấm lòng người lữ thứ bằng một nồi canh dưa sen chua nấu cá chép bốc khói nghi ngút, hay một đĩa thịt ba chỉ kho tương hoa cau béo ngậy, đậm đà ăn kèm với cơm gạo nếp mới dẻo thơm? Lấy thực phẩm chế biến dự trữ ổn định bù đắp cho nông sản tươi sống bấp bênh, trù phòng của ngài vừa chẳng bao giờ lo thiếu nguyên liệu đặc sản sạch sẽ để thết đãi khách quý, mà gia đình cháu ở thôn quê cũng có thể dốc trọn lòng dạ sản xuất, không phải nơm nớp lo sợ cảnh một đêm bão giông làm khuynh gia bại sản vì mức phạt oan nghiệt!”

Từng lời, từng lẽ của hai người trẻ tuổi như hai dòng nước hòa làm một, vừa có lý lẽ chặt chẽ của luật lệ thương ước, vừa có sự thấu hiểu tường tận về tập quán ẩm thực và tâm lý thực khách.

Một khoảng im lặng sâu sắc bao trùm lấy gian phòng tầng hai.

Gió sông ngoài bao lơn vẫn thổi từng cơn lồng lộng, mang theo tiếng sóng vỗ rì rào và mùi phù sa mặn mòi quen thuộc. Tôn Như Hải ngồi bất động trên tấm đệm cói, ánh mắt lão nhìn đăm đăm vào Diệp Tiểu Mãn rồi lại chuyển sang Tạ Cảnh. Một người dùng số liệu giá thành thực tế bảo vệ quyền lợi sinh tồn của người nông dân; một người dùng trí tuệ kinh bang tế thế thiết lập điều khoản phòng ngừa rủi ro hoàn hảo. Sự phối hợp ăn ý, nhịp nhàng đến mức không một kẽ hở giữa hai con người này đã hoàn toàn hóa giải mọi áp lực, bẻ gãy từng ngóc ngách của chiếc bẫy ghìm giá và răn đe mà lão dày công giăng ra từ đầu buổi đàm phán.

Bất thình lình, Tôn Như Hải ngửa đầu ra sau, bật ra một tràng cười lớn.

Tiếng cười vang rền, sảng khoái và hào sảng rung chuyển cả gian phòng nhã kính, khiến mấy gã tiểu nhị đứng túc trực nơi chân cầu thang tầng dưới cũng phải ngơ ngác giật mình ngước nhìn lên:

“Hay! Tuyệt vời lắm! Ha ha ha! Quả đúng là cháu ngoại chân truyền của Lâm Thu Bà! Không những nắm giữ trọn vẹn bí quyết trù nghệ xuất quỷ nhập thần, mà cái bản lĩnh kinh doanh, sự cứng cỏi và tầm nhìn chiến lược này còn vượt xa cả tiền nhân năm xưa!”

Tôn Như Hải đưa tay vuốt chòm râu, nét mặt lão giãn ra hoàn toàn, trong đôi mắt sắc sảo giờ đây chỉ còn lại sự tán thưởng chân thành và nể phục từ tận đáy lòng:

“Tiểu Mãn cô nương, Tạ tiên sinh, hai vị đã nói đến mức thấu tình đạt lý như thế này, lão phu nếu còn cố tình bẻ cong sự thật để ép giá, phạt đền vô lý thì hóa ra Vọng Giang Lâu ta là phường con buôn hẹp hòi, không biết đãi ngộ hiền tài, không biết trọng đạo lý hay sao? Được! Lão phu chấp thuận điều khoản bất khả kháng hoán đổi dưa sen nén và tương đậu nành thế nợ rau non khi gặp thiên tai thời tiết!”

Lão chưởng quầy vung tay áo, hào sảng tuyên bố mức giá mới:

“Về giá cả thu mua định kỳ, lão phu quyết định định lại toàn bộ: Tương đậu nành hoa cau nâng lên mười tám đồng một thăng; dưa cải sen nén nâng lên mười một đồng một cân; rau cải non tươi sáng sớm nâng lên hai đồng tám phân một cân! Riêng điều khoản phạt đền gấp ba lần vẫn giữ nguyên để giữ kỷ cương, nhưng chỉ áp dụng khi xưởng các ngươi cố tình giao hàng trễ hẹn vô cớ vào những ngày trời yên biển lặng, đường sá hanh thông! Hai vị thấy mức giá và điều kiện ấy đã thỏa đáng chưa?”

Nghe đến những con số mới vừa thốt ra từ miệng Tôn Như Hải, tim Diệp Tiểu Mãn khẽ nảy lên một nhịp rộn rã.

Mười tám đồng một thăng tương, mười một đồng một cân dưa sen nén, hai đồng tám phân một cân rau tươi!

Mức giá này cao hơn dự liệu ban đầu của nàng rất nhiều. Với mức giá thu mua này, sau khi trừ hết mọi chi phí từ tro trấu, chum sành, nhân công cho đến hao hụt dọc đường, mỗi tháng xưởng dưa tương nhà họ Diệp sẽ thu về một khoản lợi nhuận ròng bền vững hơn một lượng bạc trắng! Quan trọng hơn cả, mức giá hai đồng tám phân cho mỗi cân rau non tươi sẽ giúp nàng dư dả duy trì mức giá sàn cam kết hai đồng rưỡi cho bà con nông hộ liên kết ở thôn Thanh Khê. Người nông dân chịu bỏ phân tươi, chịu làm luống sạch sẽ có đồng lời xứng đáng, còn xưởng của nàng thì có được nguồn nguyên liệu sạch ổn định quanh năm mà không lo thâm hụt ngân sách.

Dù trong lòng mừng rỡ, Tiểu Mãn vẫn kìm nén cảm xúc, giữ vững phong thái điềm tĩnh, chừng mực. Nàng khẽ cúi đầu tạ lễ:

“Đa tạ Tôn thúc đã rộng lòng thấu hiểu nỗi vất vả nhọc nhằn của người làm ruộng nơi thôn dã. Mức giá mới và điều khoản ngài đưa ra vô cùng công bằng, đôi bên cùng có lợi. Tuy nhiên, để khế ước này có thể vận hành trơn tru suốt ba trăm sáu mươi ngày mà không gặp bất kỳ trắc trở nào, cháu vẫn còn một nỗi trăn trở lớn cuối cùng: đó chính là bài toán trung chuyển ba mươi dặm đường sông từ Trấn Liễu Kiều ngược nước lên huyện thành Vân Thủy.”

Tôn Như Hải nhướng mày ngạc nhiên:

“Chuyện vận tải đường sông thì có gì nan giải? Chẳng phải ngày rằm vừa rồi, ba người các ngươi đã tự mình đẩy cỗ xe hai bánh vượt dốc núi, đưa hàng đến tận cửa sau trù phòng của ta đó sao?”

Tiểu Mãn lắc đầu, ánh mắt nàng ánh lên sự tỉnh táo và tầm nhìn dài hạn của một người điều hành:

“Thưa Tôn thúc, chuyến hàng hôm rằm là đơn hàng thử nghiệm cấp bách. Ba người chúng cháu dốc toàn bộ sức lực, không tiếc thân mình, thức trắng nửa ngày đêm đẩy xe vượt qua bùn lầy sạt lở mới kịp giờ mở tiệc. Nhưng đó chỉ là giải pháp tình thế cho một chuyến đi. Bản hợp đồng này kéo dài trọn một năm, mỗi tháng bốn đợt giao nhận với tổng khối lượng lên tới hàng trăm cân dưa tương nặng trịch, cộng thêm hàng chục chiếc chum vại sành sứ cồng kềnh, dễ vỡ.”

Nàng giải thích cặn kẽ từng nút thắt:

“Nhà họ Diệp chúng cháu chỉ là một cơ sở chế biến nông hộ nơi thôn dã. Nhân lực có hạn, nếu chuyến nào cũng phải cử những lao động nòng cốt, khỏe mạnh nhất bỏ dở việc xưởng, đẩy bộ ba mươi dặm đường quan lộ rồi gánh vác ngược dốc lên huyện thành, thì sức người sớm muộn gì cũng kiệt quệ, hao mòn. Ruộng rau ở nhà ai chăm nom? Men tương trong vại ai thức đêm trông coi? Lực bất tòng tâm, con người mệt mỏi tất sẽ sinh ra sơ suất làm hỏng chất lượng hàng hóa. Đó là điều cháu tuyệt đối không muốn xảy ra.”

Tôn Như Hải khẽ gật đầu, nhận thấy lời nàng phân tích hoàn toàn có cơ sở:

“Vậy ý đồ của ngươi là muốn giải quyết khâu vận tải này thế nào?”

Tiểu Mãn nhìn thẳng vào Tôn Như Hải, nói tiếp kế sách mà nàng và Tạ Cảnh đã bàn bạc thấu đáo suốt chặng đường từ chợ phiên lên huyện:

“Hồi sáng nay ở chợ phiên Thanh Khê, gã thương lái Phùng Kế Sinh vừa bị dân làng tẩy chay vì trò tung tin đồn thất thiệt để ép giá nông sản. Gã này tính tình tuy khôn lỏi, hám lợi và gian manh, nhưng lão ta lại nắm trong tay một đội xe kéo bánh sắt chuyên nghiệp ở bến trấn Liễu Kiều, và đặc biệt là sở hữu ba chiếc thuyền đinh tải trọng lớn chạy tuyến đường sông cố định từ trấn lên bến huyện Vân Thủy mỗi ngày. Thay vì để gã rảnh rỗi bày mưu tính kế quấy nhiễu nguồn hàng của chúng ta, chi bằng chúng ta dùng một nước cờ: biến kẻ thù thành người vận chuyển trung chuyển cho chính mình!”

Đôi mắt hẹp dài của Tôn Như Hải bỗng lóe lên một tia sáng rực rỡ:

“Ngươi muốn khoán đứt khâu vận tải đường thủy cho thuyền xe của họ Phùng?”

“Đúng vậy thưa Tôn thúc!” Tạ Cảnh mỉm cười tiếp lời, từng câu từng chữ vạch rõ thế cờ:

“Vọng Giang Lâu là khách hàng tiêu thụ lớn nhất dọc đôi bờ sông Vân Thủy, tiếng nói và uy thế của Tôn lão bản nặng tựa ngàn cân đối với giới thương thuyền bến Liễu Kiều. Kính xin Tôn thúc đứng ra điều phối, trích một phần cước phí vận tải hợp lý từ ngân sách giao dịch của tửu lầu để khoán trọn gói tuyến đường thủy Liễu Kiều – Vân Thủy cho đội thuyền của Phùng Kế Sinh.”

Chàng phân định ranh giới trách nhiệm vô cùng rành mạch:

“Nhà họ Diệp chúng tôi chỉ chịu trách nhiệm dùng xe kéo cải tiến đưa hàng ra bàn giao an toàn tại mạn thuyền ở bến Liễu Kiều vào đúng đầu giờ Thìn các ngày phiên. Kể từ giây phút hàng được chuyển qua mạn thuyền, vượt ba mươi dặm đường sông ngược nước cập bến Vọng Giang Lâu trước giờ Tỵ, Phùng Kế Sinh phải chịu toàn bộ trách nhiệm về rủi ro sóng gió, nứt vỡ sành sứ và bảo đảm thời gian giao nhận. Được hưởng một nguồn tiền cước vận tải béo bở, ổn định quanh năm, lại nằm dưới sự kiểm soát uy nghiêm của Tôn lão bản, Phùng Kế Sinh vừa không dám giở trò ép giá gian xảo, vừa phải tận tụy đem tính mạng và thuyền bè ra bảo vệ từng hũ hàng của chúng ta!”

Nghe Tạ Cảnh phân tích xong, Tôn Như Hải không kìm nén được cảm xúc, lão vỗ mạnh tay xuống đùi đánh “đét” một tiếng, cười vang sảng khoái:

“Tuyệt kế! Quả là tuyệt kế mượn sức đánh sức, gậy ông đập lưng ông! Phùng Kế Sinh vốn là một con rái cá già lươn lẹo ven sông, lão phu cũng từng nghe phong thanh mấy trò bẩn thỉu của gã nhằm chèn ép nông dân bãi bồi. Nay bắt gã phải làm phu kéo thuyền vận chuyển cho chính thứ nông sản mà gã thèm muốn toan nuốt trọn, lại dùng uy danh của Vọng Giang Lâu để khóa chặt lòng tham vô đáy của gã, quả là một nước cờ vẹn toàn đôi đường, không chê vào đâu được!”

Lão chưởng quầy đứng dậy, đi đi lại lại quanh chiếc bàn mun, vẻ mặt vô cùng đắc ý:

“Việc này cứ để lão phu định đoạt! Ngay sáng mai, lão phu sẽ phái đại quản sự bến sông đích thân xuống Trấn Liễu Kiều gọi Phùng Kế Sinh đến, ký một khế ước vận tải phụ trợ riêng biệt, siết chặt trách nhiệm của gã trên từng dặm đường sông. Cước phí đường thủy tửu lầu ta sẽ thanh toán sòng phẳng trực tiếp cho gã, các ngươi chỉ việc an tâm tập trung toàn bộ tâm sức vào việc giữ vững chất lượng dưa tương và chăm bón vườn rau non nơi xưởng Thanh Khê!”

Thế là mọi nút thắt hiểm hóc nhất của bản giao kèo thương mại – từ bài toán giá thành sản xuất, rào cản rủi ro thiên tai khắc nghiệt, cho đến bài toán nan giải về vận tải đường trường – đều đã được tháo gỡ một cách hoàn mỹ.

Lợi ích của cả đôi bên được cân bằng tuyệt đối: Vọng Giang Lâu nắm giữ được nguồn cung cấp dưa tương truyền thống và rau non trái vụ độc quyền, phẩm chất thượng hạng với phương án dự phòng an toàn tuyệt đối; trong khi xưởng chế biến Diệp gia có được một điểm tựa tiêu thụ vững chắc trọn một năm bằng bạc trắng, bảo đảm giá sàn cho các nông hộ liên kết và giải phóng hoàn toàn đôi chân của người nông dân khỏi gánh nặng gồng gánh đường trường.

Không để lỡ mất thời cơ, Tôn Như Hải lập tức sai tiểu nhị mang nghiên mực đá Đoan Khê và thỏi mực thông hảo hạng lên lầu.

Chính tay lão chưởng quầy cầm ngọn bút lông sói, trải rộng hai tờ giấy hoa tiên màu ngà mới tinh ra mặt bàn. Dưới ánh nắng trưa rực rỡ rọi qua hàng chấn song gỗ lim, từng dòng chữ khải chân phương, sắc nét như rồng múa phượng bay dần dần hiện lên trên mặt giấy: thời hạn hợp đồng tròn một năm từ tiết Thanh Minh đến Xuân Phân; định mức cung ứng mỗi tháng một trăm sáu mươi thăng tương đậu nành hoa cau giá mười tám đồng; hai trăm cân dưa cải sen nén giá mười một đồng; toàn bộ rau non trái vụ giá hai đồng tám phân; điều khoản bất khả kháng cho phép hoán đổi tương dưa khi gặp bão lũ, sương muối; và điều khoản khoán vận tải đường thủy độc lập tại bến Liễu Kiều.

Sau khi cẩn thận rà soát lại từng câu chữ, không để sót một dấu chấm dấu phẩy, Tôn Như Hải mở chiếc hộp gấm đặt góc bàn, lấy ra một con dấu đồng vuông vức khắc bốn chữ triện nổi: “Vọng Giang Lâu Ấn”. Lão chấm mạnh con dấu vào hộp son chu sa đỏ thắm, rồi dập dứt khoát xuống góc dưới của cả hai bản khế ước. Một vệt son đỏ tươi như máu hiện lên trang trọng, đóng chặt giao ước ngàn vàng giữa đệ nhất tửu lầu và xưởng chế biến non trẻ.

Lão chưởng quầy ngẩng đầu lên. Ánh mắt lão lúc này không còn nét dò xét, nghi kỵ của một thương nhân cáo già, mà tràn ngập vẻ trang nghiêm, kính cẩn đối với một người có thực tài. Lão cất giọng nói rõ ràng từng lời, vang vọng khắp gian phòng lộng gió:

“Khế ước buôn bán lớn này, lão phu không ký với thư sinh Tạ Cảnh, dù tài năng của tiên sinh khiến lão phu vô cùng khâm phục. Lão phu cũng không ký dưới danh nghĩa người cha tàn tật Diệp Thành của ngươi nơi quê nhà. Người trực tiếp sáng lập và điều hành xưởng chế biến Cồn Gió, người nắm giữ trọn vẹn bí quyết hương vị gia truyền và dám đứng ra gánh vác chén cơm manh áo cho hàng chục con người thôn Thanh Khê chính là ngươi. Lão phu chỉ công nhận bản khế ước này khi nó có chữ ký và dấu điểm chỉ của chính chủ hộ kinh doanh Diệp Tiểu Mãn!”

Dứt lời, Tôn Như Hải nhúng ngọn bút lông sói vào nghiên mực đen sánh, rồi cung kính nâng bút bằng cả hai tay, đưa sang phía đối diện bàn trà.

Ngọn bút lông được Tôn Như Hải trao sang tay Tiểu Mãn, chờ đợi nét ký của chính cô gái nông thôn.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn