Giao hàng đúng hẹn, bước ngoặt danh tiếng
Mùi thức ăn thơm phức cùng tiếng đàn sáo rộn rã từ các tầng lầu Vọng Giang ùa ra bến sông, đón chiếc xe kéo ướt sũng của nhà họ Diệp vừa cập cửa sau tửu lầu đúng giờ hẹn.
Gió sông Vân Thủy thổi lồng lộng qua rặng liễu rủ ven bờ, cuốn theo hơi nước mát lạnh ngai ngái sau cơn mưa rào dữ dội ban sáng. Phía sau cửa nách trù phòng của Vọng Giang Lâu, cảnh tượng tấp nập đến nghẹt thở. Từng toán gia đinh, tiểu nhị áo vải thô vắt chéo ngang vai chạy đôn chạy đáo, tiếng đế giày rơm dẫm lép bép trên nền đá phiến ướt rượt; tiếng dao thớt va chan chát vào mặt thớt gỗ nghiến nặng trịch, tiếng dầu mỡ sôi xèo xèo trong những chiếc chảo gang sâu lòng, và mùi hành hoa phi thơm, mùi rượu hoa điêu nồng nặc bốc lên ngùn ngụt qua từng chấn song gỗ của các ô cửa thông gió áp mái.
Diệp Tiểu Mãn đưa bàn tay gầy guộc quấn chặt dải vải áo thô của Tạ Cảnh gạt vội những giọt mồ hôi đang đọng lại nơi cằm, rồi ghì chặt càng xe gỗ, khẽ nghiêng đầu ra hiệu cho Diệp Nhị Hòa hạ thanh chống gỗ nghiến xuống nền đá xanh. Chàng thiếu niên thở phì phò, bờ vai áo rách bươm vì cọ sát với tao dây gai suốt ba mươi dặm đường đồi Thạch Lĩnh lầy lội, bùn non đỏ quạch bám từ bắp chân lên tận hông, nhưng đôi mắt cậu sáng quắc như hai vì sao giữa trời quang. Đứng cạnh chiếc bánh xe còn bết chặt những mảng đất sét chưa kịp khô, vạt áo dài bằng vải thô của Tạ Cảnh dù lấm lem bùn đỏ khô quắt lại nơi gấu quần, phong thái chàng vẫn điềm tĩnh, ung dung tựa nhành tùng bách đứng sừng sững giữa sương gió sau cơn dông.
"Đến rồi! Mau báo cho chưởng quầy, hàng từ Thanh Khê đã tới!"
Một tên tiểu sai canh giữ cửa nách vừa đảo đôi mắt sắc lẻm nhìn cỗ xe bọc bạt gai dầu trẩu đen nhánh, vừa quay đầu vào khoảng sân lát gạch phía trong gào lớn. Tiếng gọi lập tức xé toạc không khí hối hả, dội thẳng vào tận gian bếp chính nơi ngọn lửa đỏ rực đang hắt bóng những bóng người bận rộn lên vách tường gạch xám.
Chỉ trong chốc lát, một bóng người to béo, vận áo lụa xám viền chỉ bạc nền nã, đầu đội khăn vấn tề chỉnh vội vã sải bước ra khỏi cánh cửa gỗ lim dày cộp. Đó chính là Tôn Như Hải. Khuôn mặt tròn phúc hậu vốn luôn treo nụ cười điềm đạm, hòa nhã của một người buôn ba dạn dày sóng gió hôm nay lộ rõ vẻ căng thẳng tột độ. Hai bên thái dương lão lấm tấm mồ hôi, bước chân gấp gáp đến mức tà áo lụa bay phần phật. Đoàn thương nhân phương Nam với ba mươi bàn tiệc trọng thể đã tề tựu đông đủ trên lầu hai, tiếng nói cười của các vị khách quý đã bắt đầu lộ vẻ sốt ruột. Giờ Ngọ đã điểm ba khắc, nếu không có món rau non đầu mùa tươi giòn để khai vị và vị tương hạt chuẩn mực gia truyền để kho cá chép sông bến Ngự, danh tiếng mười lăm năm gầy dựng của Vọng Giang Lâu coi như đổ sông đổ biển trong một buổi trưa.
"Tiểu Mãn cô nương! Các người... thực sự vượt được đoạn sạt lở dốc Khe Cạn sao?" Ánh mắt Tôn Như Hải lướt qua ba bóng hình lấm lem bùn đất, dừng lại trên cỗ xe kéo gỗ sồi hai bánh với lớp bạt gai quét dầu trẩu đen bóng còn đọng từng vũng nước mưa nhỏ lăn tăn trên bề mặt nếp gấp.
"Bẩm Tôn thúc, đường đầm lầy Khe Cạn tắc nghẽn nghiêm trọng, bùn lún ngập gối trâu, chúng cháu buộc phải chuyển hướng đi vòng qua đồi Thạch Lĩnh rồi bắt vào quan lộ trạm dịch Thạch Đình." Tiểu Mãn khẽ cúi đầu chào theo đúng lễ nghi của bậc vãn bối, giọng nói bình thản, rành rọt không hề run rẩy dù lồng ngực mảnh khảnh bên trong lớp áo vá vẫn còn phập phồng sau một chặng đường dài dùng sức kéo xe vượt dốc. "Đúng giờ Tỵ ba khắc, hàng đã đến tận sân sau tửu lầu, không trễ của quý quán một khắc nào. Mời thúc kiểm hàng."
Tôn Như Hải không nén nổi sự kinh ngạc, ánh mắt đảo qua đôi bàn tay quấn vải thô thấm máu khô của cô gái nhỏ, khẽ gật đầu một cái rồi đích thân bước tới bên hông xe. Lão là tay sành ăn bậc nhất đất huyện, cũng là người nổi tiếng khắt khe về nguyên liệu; chỉ một chút dập nát, chỉ một chiếc lá úa vàng hay một mùi khét lạ vương vào hũ tương, lão sẵn sàng sai người đổ bỏ xuống dòng nước cuộn chứ quyết không đưa lên bàn tiệc để làm hoen ố tấm biển gỗ thếp vàng treo trước cổng lâu quán.
"Mở bạt ra!" Tôn Như Hải trầm giọng ra lệnh cho hai phụ bếp lực lưỡng đang đứng chờ phía sau.
Nhị Hòa nhanh nhẹn bước lên trước một bước, rút con dao con gọt lạt giắt nơi thắt lưng, cẩn thận cắt từng mối thừng chữ nhân bện bằng sợi đay săn chắc. Hai lớp bạt gai tẩm dầu trẩu dày cộp kêu ro ro khi được lật ngược ra hai bên mạn xe, để lộ ra khung sàn xe bằng gỗ sồi khô ráo tuyệt đối, không vương lấy một giọt bùn lỏng. Dọc theo thành xe, những con cúi rơm nếp bện hình múi bưởi được chèn khít rịt quanh từng góc sọt và khe hở giữa các vò gốm, tạo thành một lớp đệm đàn hồi êm ái, triệt tiêu mọi chấn động từ mặt đường đá sỏi gập ghềnh của đồi Thạch Lĩnh.
Tôn Như Hải đưa bàn tay to dày, ngón tay đeo chiếc nhẫn ngọc cẩm thạch xanh ngắt dỡ nắp chiếc sọt tre đầu tiên được lót kín bằng những tàu lá chuối ngự hơ lửa mềm dai.
Màn sương ẩm mát lành cùng mùi hương ngai ngái, ngọt ngào thanh khiết của cải bẹ non lập tức xộc thẳng vào cánh mũi lão. Năm mươi cân cải non trái vụ của luống đất bãi bồi nhà bác Ngô Quế Hoa, được cắt từ đầu giờ Dần khi sương sớm còn đọng nguyên từng giọt li ti trên kẽ lá, qua bàn tay xếp lớp và nẹp nan tỉ mỉ của Tiểu Mãn, nay vẫn xanh mướt mọng nước. Từng cọng lá mơn mởn, thân mập mạp và thẳng thớm, xếp lớp so le như những nan quạt ngọc bích. Dưới đáy sọt hay men theo các nan tre hoàn toàn không có lấy một vết bầm dập, không một giọt nước nhớt ứ đọng hay dấu hiệu dập nát nào do bị đè nén trên đường dài.
"Rau non... đúng là thứ rau bãi bồi ven suối thu hái lúc rạng đông!" Tôn Như Hải buột miệng khen ngợi, bàn tay mũm mĩm khẽ nâng một nhành cải lên ngắm nghía dưới ánh mặt trời rực rỡ vừa ló rạng sau màn mây đen. Lão đưa hai ngón tay bẻ nhẹ một cọng cải non, một tiếng "tách" giòn tan, thanh thoát vang lên giữa khoảng sân bếp, giọt nước cốt trong vắt rỉ ra ngay đầu ngón tay lão. "Được! Giữ được trọn vẹn độ giòn ngọt mọng nước này qua ba mươi dặm đường bùn lầy gió bão, quả là một kỳ tích!"
Dứt lời, lão chưởng quầy không nán lại thêm, xoay người tiến lại sáu chiếc vò sành đựng sáu mươi cân dưa cải sen muối nén xếp thẳng hàng nơi lòng xe. Miệng vò được nẹp chặt bằng ba thanh tre cật già đan chéo hình hoa thị, cài chặt lớp vải mộc tẩm sáp ong nguyên chất và trát kín mép ngoài bằng một đường bột tro nếp hòa vôi tôi đã khử trùng khô khốc. Tôn Như Hải cong ngón tay gõ nhẹ lên thân vò men da lươn bóng bẩy, tiếng "coong coong" đanh giòn, vang xa như tiếng khánh đá, chứng tỏ chất sành nung củi đủ lửa, xương gốm dày dặn và không hề xuất hiện một vết rạn chân chim nào sau những cú dằn xóc trên đường gồ ghề.
Lão đón lấy con dao nhỏ từ tay phụ bếp, khéo léo nậy bung lớp niêm phong bằng tro vôi của chiếc vò đầu tiên. Khi lớp vải mộc tẩm sáp vừa được nhấc ra, một luồng hương chua thanh dìu dịu, hòa quyện với mùi thơm cay nồng của gừng già nướng đập giập và mùi hành hoa bốc lên ngào ngạt, lan tỏa khắp khoảng sân sau trù phòng. Nước dưa trong vắt, vàng ươm màu hổ phách, phẳng lặng như mặt gương soi. Từng bẹ cải sen nén chặt róc kiệt nước nhưng vẫn giữ nguyên từng đường gân thớ lá xanh vàng bóng bẩy, giòn rụm chứ không hề mềm nhũn hay nổi váng trắng.
Tôn Như Hải rút chiếc que tre vót nhẵn giắt bên thắt lưng, gắp một miếng cải sen đưa vào miệng, từ tốn khép môi lại rồi nhai chậm rãi.
Tiếng nhai giòn rụm vang lên rành rọt bên tai mọi người. Đôi mắt ti hí của lão chưởng quầy bỗng nhắm nghiền lại, đầu khẽ lắc lư theo từng nhịp răng nghiền nát thớ rau. Vị chua thanh tao nhã không hề gắt nơi cuống họng, hậu vị ngọt sâu lắng của mật mía cùng đường phèn vụn hòa quyện hoàn hảo với vị cay ấm nồng nàn của gừng già xứ đồi, lập tức đánh thức trọn vẹn vị giác vốn đã quá quen thuộc với những món sơn hào hải vị đầy dầu mỡ của một người sành ăn lão luyện.
"Chính là phong vị này... Dưa cải sen muối nén bằng vỉ tre đá cuội suối, ba ngày ba đêm trong bóng râm, không thừa không thiếu một khắc!" Tôn Như Hải thở hắt ra một hơi dài đầy khoan khoái, đôi mắt mở bừng ra, rồi vội vàng sải bước sang dãy bốn mươi hũ tương ngấn nước đặt cẩn mật ở khoang giữa cỗ xe.
Đây mới thực sự là linh hồn của chuyến hàng, là thứ khiến lão thấp thỏm đứng ngồi không yên suốt từ canh năm tới giờ. Từng chiếc hũ men da lươn bóng bẩy của Phường Gốm Nam Bãi nằm ngay ngắn trong các ô rơm bện nẹp gỗ thông. Lớp nước sạch ngăn bụi ở rãnh khóa khí tròn quanh miệng hũ vẫn còn nguyên vẹn, mặt nước phẳng lặng không vương một hạt bụi đỏ, chứng minh nắp vồng khum vát không hề bị xô lệch hay nảy mầm hở khí trên suốt chặng đường đồi hiểm trở.
Tôn Như Hải đích thân vươn tay, dùng hai ngón tay nhấc nhẹ chiếc nắp vồng khum khum lên.
Không hề có mùi chua khé hăng hắc của thứ tương non ủ vội, cũng không vương một chút mùi tanh mốc ẩm ướt của mẻ tương nhiễm nước mưa đường sá. Thay vào đó, một mùi thơm bùi béo ngậy, ngọt đậm đà, thoang thoảng hương cốm non đầu mùa hòa quyện cùng hương hoa cau thanh nhã ngào ngạt bốc lên, đặc quánh cả bầu không khí ẩm ướt quanh miệng vò. Bề mặt tương sánh đặc như mật ong rừng mùa thu, màu nâu đỏ ánh lên sắc hạt dẻ chín mọng dưới ánh nắng ban trưa.
Tôn lão bản nhận lấy chiếc thìa bạc nhỏ do tiểu nhị bên cạnh kính cẩn bưng sang, khẽ gạt nhẹ lớp váng tương mặt óng ánh, múc một thìa nhỏ tương đậu nành ở tầng giữa của hũ gốm.
Lão đưa thìa tương vào miệng, ngậm lại nơi đầu lưỡi.
Không gian quanh cửa nách trù phòng như ngưng đọng lại trong vài nhịp thở nặng nề. Tiếng gió xào xạc qua rặng liễu ven sông dường như cũng lùi xa. Chỉ thấy khóe môi Tôn Như Hải khẽ run rẩy, đôi lông mày rậm rạp nhíu chặt lại rồi giãn ra, trong ánh mắt lão ánh lên sự bồi hồi xúc động khôn tả.
"Mặn đầu lưỡi bằng vị mặn đằm thắm của muối biển rang kỹ khử chát, nhưng vừa chạm tới cuống họng thì vị ngọt bùi béo ngậy của hạt đậu nành gò đồi lên men mốc cau cùng mía nướng bùng nổ... Thanh khiết, đậm đà, trơn tru nơi cổ họng mà không vương lấy một hạt bụi trần!" Lão mở to mắt nhìn trừng trừng vào Tiểu Mãn, giọng nói lão nghẹn ngào, run rẩy vì xúc động thực sự: "Chuẩn mực xưa của cố sư phụ Lâm Thu Bà! Hơn hai mươi năm rồi, từ ngày lão phu rời khỏi trù phòng Thẩm phủ ngoài huyện lỵ để về đây lập nghiệp, mới lại được nếm lại đúng thứ tương hoa cau tuyệt phẩm bậc này!"
Lão chưởng quầy quay phắt người lại, hai tà áo lụa bay tung lên, lão quát lớn một tiếng vang dội cả gian trù phòng: "Trần đại trù! Mau mang người ra đây! Hàng đã tới đủ, lập tức nổi lửa dâng tiệc!"
Từ bên trong cửa bếp, một người đàn ông trung niên quấn dải khăn vải trắng trên trán, tay lăm lăm chiếc muôi đồng sáng loáng, dẫn theo bốn tên phụ bếp vạm vỡ chạy ùa ra sân sau. Vừa nhìn thấy những sọt rau cải xanh mướt mọng nước và hũ tương sánh đặc màu cánh gián, đôi mắt sâu hoắm của Trần đại trù sáng rực lên như bắt được vàng: "Trời phù hộ tửu lầu! Cứ ngỡ trưa nay toàn bộ trù phòng phải hạ biển, quỳ gối tạ tội với đoàn khách buôn đường sông phương Nam! Mau lên các ngươi, cẩn thận khiêng hết vào trù phòng! Chia làm hai nhóm thao tác: nhóm một nhặt sạch gốc cải, rửa nhẹ qua nước giếng ngọc rồi xào nhanh mỡ lợn trên lửa lớn; nhóm hai múc tương ra âu đồng, chuẩn bị đánh vảy năm mươi con cá chép bến sông đang thả trong bể đá!"
Cảnh tượng trong gian bếp rộng lớn của Vọng Giang Lâu lập tức biến thành một trận chiến ẩm thực đỉnh cao, náo nhiệt và chuẩn xác đến từng động tác.
Tiểu Mãn, Tạ Cảnh và Nhị Hòa lặng lẽ lùi lại, đứng nép mình bên dưới mái hiên lợp ngói âm dương rêu phong, đưa mắt quan sát toàn bộ quy trình qua khung cửa sổ lớn mở toang nhìn thẳng vào gian bếp chính.
Trên dãy bếp lò xây bằng gạch chịu lửa đang rực than hoa đỏ hồng, ngọn lửa xanh lè liếm láp quanh đáy chiếc chảo gang khổng lồ đen bóng. Trần đại trù đích thân vén tay áo, tự mình đứng bếp chính. Một muôi mỡ lợn trắng muốt được trút vào chảo gang nóng rẫy, bốc lên tiếng xèo xèo giòn giã; một nắm hành hoa thái nhỏ cùng vài tép tỏi đập giập vừa chạm đáy chảo đã tỏa ra một làn khói thơm nức mũi. Năm mươi cân cải non xanh biếc được các phụ bếp chuyển vào, thả thoăn thoắt từng rổ vừa vặn vào lòng chảo. Chiếc muôi đồng trong tay bếp trưởng đảo nhanh như múa lượn, tiếng gió rít xé không khí hòa cùng tiếng lửa reo phần phật. Người đầu bếp lão luyện chỉ nêm đúng một nhúm muối hạt rang khô và rưới một vòng rượu gạo trong vắt men theo thành chảo, tuyệt đối không dùng thêm bất kỳ loại hương liệu cầu kỳ nào khác để giữ trọn vẹn phong vị thanh đạm của rau bãi bồi. Chỉ trong tích tắc vài mươi nhịp thở, những bẹ cải non chín tới bóng bẩy, giữ nguyên vẹn sắc xanh ngọc bích nguyên thủy, được trút gọn gàng ra những chiếc đĩa sứ hoa lam viền chỉ vàng óng ả đang xếp hàng dài trên bàn soạn lễ.
Ở góc bếp bên kia, một dãy ba mươi chiếc thố đất nung cỡ lớn tráng men nâu sẫm đang bắt đầu sôi sùng sục trên than đỏ. Từng con cá chép sông Vân Thủy béo mẫm, vảy ánh bạc lấp lánh vừa được đánh bắt từ sáng sớm tinh sương đã được chiên sơ qua dầu nóng cho săn chắc từng thớ thịt trắng phau, sau đó xếp ngay ngắn vào lòng thố cùng vài lát thịt ba chỉ lợn đen mỡ màng, vài quả ớt chỉ thiên chín đỏ và gừng già xứ đồi thái sợi mỏng manh.
Trần đại trù đích thân cầm chiếc gáo gỗ mun, múc từng muôi tương đậu nành hoa cau sánh mịn từ hũ gốm da lươn của Tiểu Mãn rưới đều khắp sống lưng từng con cá chép. Nước tương màu nâu đỏ ánh hạt dẻ len lỏi qua từng vết khía trên mình cá, ngấm sâu vào đáy thố, hòa cùng mỡ lợn chảy ra từ miếng thịt ba chỉ tạo thành một thứ nước sốt đặc quánh, bọt sủi tăm li ti. Khi chiếc vung đất nung nặng trịch đậy khít lại, hơi nóng bị ép chặt bên trong bốc lên nghi ngút qua lỗ thông hơi nhỏ trên nắp, mùi thơm bùi béo ngậy của đậu nành ủ men cau quyện chặt với vị ngọt thanh tự nhiên của thịt cá chép sông tạo nên một luồng phong vị đậm đà, quyến rũ đến mức khiến cả đám tiểu nhị đang đứng đợi bưng bê bên ngoài cũng phải nuốt nước bọt ừng ực.
Tiếng khánh đồng trên xà nhà vang lên giòn giã từng hồi, báo hiệu giờ dọn tiệc đã tới. Từng mâm cỗ bằng gỗ sơn son thếp vàng nối đuôi nhau được các tiểu nhị áo vắt vai bưng thoăn thoắt bước lên cầu thang gỗ lim dẫn lên lầu hai, nơi đoàn thương thuyền đường sông gồm hơn ba mươi chủ tàu buôn tơ lụa, gấm vóc và gốm sứ phương Nam đang sốt ruột chờ đợi từ đầu giờ Ngọ.
Chẳng mấy chốc, từ các ô cửa sổ chạm trổ hoa văn trên lầu hai vọng xuống những tràng cười sảng khoái, tiếng gõ đũa lách cách và tiếng bàn tay vỗ mạnh xuống mặt bàn trầm trồ khen ngợi không ngớt:
"Hay cho Vọng Giang Lâu! Giữa tiết trời xuân ẩm ướt gió bấc căm căm này mà lại tìm đâu ra được đĩa cải non tươi giòn mọng nước, nhai nghe sần sật ngọt lịm từng kẽ răng thế này?"
"Món cá chép sông kho tương đậu này mới thực là tuyệt phẩm nhân gian! Vị tương đậu béo ngậy, ngọt hậu sâu lắng, hãm sạch không còn một chút mùi tanh của bùn sông, lại ăn kèm với miếng dưa cải sen nén chua thanh giòn rụm thì dẫu có bày sơn hào hải vị chốn kinh kỳ ra đây cũng quyết không đổi!"
"Tôn chưởng quầy đâu rồi? Mau lên đây cạn với chúng ta một chén rượu hoa điêu! Chuyến buôn đường sông năm nay của đoàn thuyền chúng ta, nhất định phải neo lại bến Vân Thủy này thêm ba ngày chỉ để thưởng thức cho trọn vẹn thứ phong vị đồng quê thanh khiết, tao nhã bực này!"
Nghe từng tràng reo hò, chúc tụng không dứt vọng xuống từ sàn gác lầu hai, Tôn Như Hải đứng dưới khoảng sân lát đá thở phào một hơi dài thườn thượt. Toàn bộ gánh nặng ngàn cân đè nặng lên vai lão suốt từ nửa đêm hôm qua dường như tan biến sạch sẽ; khuôn mặt tròn béo căng thẳng giãn ra thành một nụ cười rạng rỡ, tươi tỉnh khác hẳn lúc ban nãy. Lão quay người lại, bước chậm rãi về phía mái hiên nơi ba người nhà họ Diệp đang đứng đợi, ánh mắt lão nhìn Tiểu Mãn chan chứa sự cảm kích và nể phục chân thành.
"Tiểu Mãn cô nương, Tạ tú tài, Nhị Hòa tiểu đệ, ba vị hôm nay vất vả vì Vọng Giang Lâu quá nhiều rồi. Mời theo lão phu vào phòng khách bên chái đông dùng chén trà nóng giải tỏa mệt nhọc."
Phòng khách nhỏ bên chái đông của Vọng Giang Lâu được bài trí vô cùng trang nhã, ấm cúng và tĩnh lặng, cách biệt hoàn toàn với không khí hầm hập khói lửa nơi trù phòng và tiếng ồn ào chén thù chén tạc phía trên lầu tiệc. Một chiếc lư đồng nhỏ hình con nghê đặt nơi góc phòng đang tỏa ra làn khói trầm hương thơm ngát, mỏng manh như sợi tơ. Trên chiếc bàn gỗ gụ đánh sáp bóng loáng, một bình trà Thiết Quan Âm bốc khói nghi ngút vừa được gã tiểu nhị kính cẩn dâng lên, bên cạnh là chiếc đĩa sứ hoa lam bày sẵn những phong bánh đậu xanh nướng xốp mịn.
Tôn Như Hải ngồi xuống chiếc ghế tựa bọc gấm êm ái, kéo chiếc tráp gỗ hương khảm xà cừ đặt ở góc bàn lại gần. Lão mở khóa đồng, lấy từ bên trong ra một chiếc túi vải thô dày dặn, nặng trịch, rồi đặt cạch một tiếng dứt khoát xuống mặt bàn gỗ.
"Theo đúng giao ước ban đầu giữa tửu lầu và Diệp gia, chuyến hàng thử nghiệm này bao gồm: năm mươi cân cải non trái vụ tính giá hảo hạng sáu đồng một cân là ba trăm đồng tiền kẽm; sáu mươi cân dưa cải sen muối nén tính theo giá mười lăm đồng một cân là chín trăm đồng; bốn mươi thăng tương đậu nành hoa cau tính giá ba mươi đồng một thăng là một ngàn hai trăm đồng tiền kẽm. Tổng cộng toàn bộ số hàng hóa là hai ngàn bốn trăm đồng tiền kẽm."
Tôn Như Hải đưa tay nới lỏng miệng túi vải, để lộ ra những ánh bạc lấp lánh bên trong: "Lão phu biết đường sá xa xôi, mang vác tiền kẽm nặng nề bất tiện, nên đã cố ý đổi sẵn: hai nén bạc vụn mỗi nén tròn năm tiền—vị chi là một lượng bạc trắng nguyên chất—cộng thêm một lượng bạc nén đúc phân khối vuông vức của nha môn huyện, và một xâu bốn trăm đồng tiền đồng Cảnh Hưng xâu bằng dây đay mới tinh tươm. Sòng phẳng, minh bạch, không thiếu của cô nương một phân một ly, đúng theo lệ giao dịch uy tín trước nay của Vọng Giang Lâu."
Nhìn thấy hai thỏi bạc trắng lấp lánh ánh kim cùng xâu tiền đồng dày cộp nằm ngay ngắn trên mặt bàn gỗ gụ, mắt Nhị Hòa sáng rực lên như ngọn đèn lồng. Cậu thiếu niên mười bốn tuổi đứng chôn chân bên cạnh ghế, hai bàn tay nắm chặt lấy vạt áo rách bươm, cổ họng giật giật nuốt nước bọt đánh ực một cái. Từ lúc cha gặp nạn ngã gãy chân, sống lay lắt dựa vào vài sào ruộng cằn cỗi ở thôn nghèo, cậu chưa bao giờ được nhìn thấy tận mắt một số tiền lớn đến dường này trong một lần giao dịch buôn bán của gia đình.
Thế nhưng, Diệp Tiểu Mãn không hề có lấy một tia vội vã. Nàng đứng thẳng lưng, hai tay nâng tà áo thô khẽ cúi mình nhận lấy chiếc túi vải đựng bạc và tiền kẽm, nhẹ nhàng đặt nó sang một góc bàn trà, tuyệt đối không mở ra đếm lại hay nhét vội vào túi áo như phường lái buôn thông thường. Nàng khẽ xoay người, hướng về phía Tạ Cảnh gật đầu điềm đạm:
"Tạ huynh, xin phiền huynh giúp muội mở sổ, chiết tính sổ sách chuyến hàng."
Tạ Cảnh mỉm cười, đôi mắt sáng thông tuệ ánh lên sự tán đồng tuyệt đối. Chàng thong thả cởi bỏ tay nải đeo bên hông, lấy ra cuốn sổ thẻ tre năm cột quen thuộc đã được cạo nhẵn mép, cùng một chiếc nghiên mực đá xám nhỏ nhắn và cây bút lông đóm đầu nhọn hoắt. Chàng dùng chút nước trà nóng thấm vào lòng nghiên, mài nhẹ thỏi mực đen nhánh vài vòng, rồi nhúng ngọn bút lông vào nghiên, đặt ngòi bút sắc sảo lên nan tre đầu tiên đã kẻ sẵn năm cột mực đỏ rành mạch: Nhật kỳ, Danh mục, Nhập, Xuất, Tồn.
Tôn Như Hải khẽ nhướng đôi lông mày rậm rạp, trong mắt lóe lên tia tò mò tột độ. Lão tựa lưng vào thành ghế gỗ gụ, hai tay đan vào nhau đặt trên bụng, im lặng quan sát từng cử chỉ của ba người trẻ tuổi trước mặt. Lão đã mở quán buôn bán suốt nửa đời người, từng giao thiệp với hàng trăm lượt nông hộ, tiểu thương từ các thôn cùng ngõ hẻm ven sông Vân Thủy đưa nông sản tới bán; phần lớn bọn họ khi nhìn thấy bạc trắng và tiền xâu là mắt mờ tai ù, vội vã thọc tay vào đếm đi đếm lại ba bốn lần cho sướng mắt, rồi cẩn thận nhét tọt vào cạp quần, hớn hở bước chân sáo ra về. Chưa từng có một cô thôn nương mười bảy tuổi nào, áo quần còn vương bùn đất sạt lở, lại có thể điềm tĩnh ngồi đối diện với một lượng bạc lớn mà không chút dao động, trái lại còn bày biện cả nghiên bút, sổ sách để tính toán phân minh ngay tại trận tiền như thế này.
Tiểu Mãn cất giọng trầm tĩnh, rõ ràng từng âm sắc, thanh âm vang nhẹ trong gian phòng khách thoảng hương trầm:
"Khoản thu từ đơn hàng cung ứng thử nghiệm cho Vọng Giang Lâu ngày hôm nay: tổng thu tròn hai ngàn bốn trăm đồng tiền kẽm."
Tạ Cảnh khẽ đưa cổ tay, ngọn bút lông chấm mực lướt nhẹ nhàng trên nan tre, ghi rõ ràng con số hai ngàn bốn trăm đồng vào cột Nhập bằng nét chữ Hán chân phương, cứng cáp như rồng bay phượng múa.
"Bây giờ, xin Tạ huynh và Tôn thúc cùng kiểm tra các khoản phí tổn thực tế phát sinh để hoàn tất chuyến hàng này," Tiểu Mãn tiếp tục, ánh mắt nàng tập trung cao độ, đôi bàn tay gầy thon thả khẽ bấm từng đốt ngón tay theo quy tắc tính toán của riêng mình. "Thứ nhất, tiền thu mua năm mươi cân cải non tươi từ bờ ruộng của bác Ngô Quế Hoa: giá thỏa thuận sỉ tại luống là hai đồng một cân, tổng chi một trăm đồng tiền kẽm, khoản này cháu đã thanh toán sòng phẳng cho bác ấy ngay từ lúc trời chưa rạng."
"Thứ hai, tiền giá vốn nguyên liệu gốc để làm tương và dưa: bốn mươi thăng tương đậu nành hoa cau tiêu tốn hết bốn mươi cân hạt đậu nành gò đồi Cồn Gió loại mẩy hạt, mười lăm cân muối hạt rang khô khử chát, cùng củi đun và mía nướng ủ mốc, tính chi phí giá vốn theo thời giá là ba trăm bảy mươi đồng tiền kẽm; sáu mươi cân dưa cải sen cùng muối hạt, củ gừng già nướng và đường phèn vụn để ủ nén sáu vò gốm ngốn hết hai trăm bốn mươi đồng tiền vốn vật liệu."
"Thứ ba, tiền công nhật cho nhóm đổi công gồm bốn người trong xóm: thím Năm, chị Dâu bác Tư, cô Ba Thược và dì Bảy Đậu. Bốn người họ đã hỗ trợ Diệp gia liên tục suốt một ngày rưỡi qua, từ khâu rửa lá cải, chẻ nan tre nẹp miệng vò, rửa sạch bốn mươi hũ gốm đến việc thức trắng đêm qua tẩm sáp niêm phong nắp hũ; mỗi người nhận ba mươi ba đồng tiền công một ngày, bốn người trong một ngày rưỡi quy đổi thành một trăm chín mươi tám đồng tiền kẽm."
Tạ Cảnh thoăn thoắt đưa ngọn bút lông đóm trên mặt nan tre, từng dòng chữ mục từ, từng con số mục chi phí Xuất hiện ra đều tăm tắp, rõ ràng minh bạch như nước giếng soi đáy.
"Và thứ tư," Tiểu Mãn dừng lại một nhịp, ánh mắt nàng lướt qua dải vải thô thấm máu khô nơi mu bàn tay mình, rồi dừng lại trên bờ vai áo rách bươm còn in hằn vệt bầm tím của Nhị Hòa, giọng nói nàng trầm xuống nhưng đanh chắc, kiên định: "Các khoản chi phí phát sinh khẩn cấp do mưa dông làm sạt lở đường đồi và đối phó với địa hình hiểm trở: mua gấp hai tấm bạt gai dầu trẩu chống thấm của trạm dịch Thạch Đình hết tám mươi đồng tiền kẽm; mua rơm nếp múi bưởi và dây đay bện néo chữ nhân gia cố chống xóc hết bốn mươi đồng; tiền mua đinh tán sắt và then gỗ nghiến để Nhị Hòa gia cố bọc bánh xe da trâu vượt đường đá sỏi hết ba mươi đồng; chi phí lót dạ ba bát mì nóng dọc đường và tiền trà nước cho phu trạm Thạch Đình hết mười lăm đồng tiền kẽm."
Tạ Cảnh đặt chiếc bút lông xuống giá gác bằng đá vân mây, ngón tay thon dài lướt nhanh trên các nan tre thực hiện phép tính cộng dồn và khấu trừ một cách chuẩn xác không sai lệch một ly. Chàng ngẩng đầu lên, ánh mắt đầy thấu hiểu nhìn thẳng vào Tiểu Mãn:
"Tổng chi phí tổn thực tế phát sinh để đưa chuyến hàng này về tới Vọng Giang Lâu là một ngàn không trăm bảy mươi ba đồng tiền kẽm. Lấy tổng thu hai ngàn bốn trăm đồng trừ đi toàn bộ chi phí hao tổn, tiền lãi ròng thực tế Diệp gia thu về trong chuyến đi này là một ngàn ba trăm hai mươi bảy đồng tiền kẽm—tương đương một lượng bạc trắng và ba trăm hai mươi bảy đồng tiền kẽm."
Căn phòng khách bên chái đông bỗng chốc rơi vào một khoảng lặng tờ mờ, chỉ còn nghe tiếng than nổ lép bép rất nhỏ trong chiếc lư trầm nơi góc phòng.
Khuôn mặt hớn hở, tràn đầy hy vọng của Diệp Nhị Hòa đang từ đỉnh điểm bỗng xẹp lép xuống như một chiếc bong bóng da cá bị xì hơi. Đôi mắt cậu thiếu niên mở to tròn xoe nhìn chằm chằm vào những con số viết bằng mực đen trên nan tre, hai bờ môi mấp máy lẩm bẩm tính toán:
"Chỉ... chỉ còn lại có một lượng bạc ba tiền thôi sao? Lúc đầu... lúc đầu em cứ ngỡ chúng ta cầm chắc hai lượng tư tiền kẽm trong tay cơ chứ! Ba người chúng ta dầm mưa gió suốt từ nửa đêm, suýt chút nữa thì cả người lẫn xe lộn nhào xuống vực sâu mỏm Cây Khế, mồ hôi ướt đẫm mấy tầng áo thô, vai rách chân trầy... Vậy mà tính qua tính lại, trừ đầu trừ đuôi, tiền lãi mất đứt gần phân nửa!"
Nhìn vẻ mặt tiu nghỉu, thất vọng tràn trề hiện rõ trên từng đường nét của cậu em trai mười bốn tuổi, Tiểu Mãn không hề cất lời trách mắng hay bực bội. Nàng dịu dàng vươn bàn tay quấn vải thô sang, khẽ đặt lên bờ vai còn đau nhức của Nhị Hòa, nở một nụ cười ấm áp đầy bao dung:
"Nhị Hòa, đệ tuyệt đối không được nhìn nhận sự việc một cách ngắn ngủi, nông cạn như thế. Con số một lượng ba tiền bạc này, với cảnh ngộ nhà họ Diệp chúng ta hiện nay, là đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt thật đấy, nhưng nó là đồng tiền sạch sẽ, vững chãi và chắc chắn từng cắc từng đồng một."
Nàng ngẩng cao đầu, ánh mắt trong veo nhìn thẳng vào khuôn mặt đang chăm chú lắng nghe của Tôn Như Hải, rồi khẽ quay sang Tạ Cảnh, trong thanh âm của nàng toát lên một sự chín chắn, thấu đáo và tầm nhìn chiến lược vượt xa độ tuổi mười bảy của một cô thôn nữ:
"Nếu chỉ chăm chăm nhìn vào con số tiền lãi ròng trước mắt, quả thực chuyến hàng đầu tiên này lợi nhuận thu về không cao ngất ngưởng như con số tính toán trên giấy tờ ban đầu ở nhà. Nhưng đệ thử ngẫm nghĩ lại xem, sau chuyến đi vượt dốc bão bùng này, nhà chúng ta đã thu về được những tài sản gì vô giá hơn tiền bạc?
Thứ nhất, cỗ xe kéo hai bánh đóng bằng gỗ sồi, bọc da trâu đính đinh tán sắt của đệ chế tác đã vượt qua bài kiểm tra khắc nghiệt nhất của thời tiết và địa hình đồi núi; từ nay về sau, dẫu trời mưa bão đường đầm lầy hay dốc đá Thạch Lĩnh gập ghềnh, ba chị em chúng ta đều có thể tự mình vận chuyển hàng hóa trơn tru, không còn phải ngửa tay đi van nài, thuê mướn xe bò của người ta với giá cắt cổ nữa.
Thứ hai, hai tấm bạt gai quét dầu trẩu dày dặn và đống đệm rơm múi bưởi kia đâu có tan biến đi mất? Chúng ta bỏ tiền mua một lần trong lúc nguy cấp, nhưng từ nay chúng sẽ trở thành nông cụ bảo hộ dùng được cho hàng chục, hàng trăm chuyến hàng sau này của Diệp gia.
Thứ ba, và đây mới là điều cốt tử quan trọng nhất: chúng ta đã nắm giữ trong tay dữ liệu chi phí vận hành thực tế. Chúng ta biết rõ một chuyến vận tải ba mươi dặm đường rừng núi sẽ hao tổn bao nhiêu công sức, cần phòng bị những gì để cọng rau không dập úng, vò gốm không rạn nứt nắp niêm phong. Món tiền lời tức thời của chuyến này có thể vơi đi vài trăm đồng tiền kẽm, nhưng chữ tín giữ trọn vẹn với Vọng Giang Lâu và bài học thực tế đắt giá này... có mang mười lượng bạc trắng ra đổi, cũng quyết không mua nổi!"
Tạ Cảnh ngồi bên cạnh khẽ mỉm cười, trong đáy mắt sâu thẳm của chàng tú tài ánh lên niềm thán phục và tự hào khôn xiết. Chàng gấp nhẹ cuốn sổ thẻ tre lại, gật đầu tán thưởng:
"Tiểu Mãn nói không sai một chữ nào. Trong thương đạo xưa nay, kẻ phàm phu tục tử chỉ biết dán mắt vào món lợi nhỏ nhoi trước mắt của từng chuyến buôn thì cả đời cũng chỉ quanh quẩn làm chân buôn thúng bán mẹt nơi đầu chợ góc làng. Chỉ có người biết nhìn ra sự hao mòn của công cụ, biết biến rủi ro trắc trở thành bài học xương máu và lấy chữ tín đặt lên trên món lợi nhất thời, đó mới là người mang phong thái của bậc đại thương, đủ sức gầy dựng nên cơ nghiệp trăm năm."
Tôn Như Hải ngồi đối diện trên chiếc ghế gụ, thu trọn từng lời phân tích khúc chiết, từng cử chỉ đĩnh đạc và tác phong rành mạch của cô gái nhỏ vào tầm mắt. Trong lòng lão chưởng quầy dâng lên một cơn sóng chấn động dữ dội.
Lão đã lăn lộn hơn ba mươi năm trên thương trường từ khi còn là chân chạy bàn cho tới lúc làm chủ một tửu lầu lừng lẫy bên bến sông Vân Thủy. Lão từng chứng kiến không biết bao nhiêu phường con buôn vì tranh giành vài đồng tiền lẻ hao hụt mà chửi bới, xé mặt nhau ngay trước cửa sảnh; lão từng thấy biết bao nhiêu nông phu nghèo khó khi bị trừ vài cắc tiền rau héo thì lăn đùng ra đất khóc lóc ăn vạ, kể khổ kể nghèo. Vậy mà hôm nay, đứng trước mặt lão là một cô thôn nương mười bảy tuổi, áo vá vai lấm lem bùn đỏ của dốc Khe Cạn, lại có thể điềm tĩnh ngồi phân tích từng dòng chi phí khấu hao, rành rẽ về giá trị tích lũy tài sản và đặt sự nguyên vẹn của chữ tín lên trên hết thảy!
Tác phong làm việc quy củ, có sổ sách ghi chép năm cột minh bạch theo lối quản lý kho tàng của quan phủ, có văn nhân học rộng tài cao phò tá chiết tính từng phân tiền, lại nắm giữ trong tay bí quyết làm tương hoa cau và muối dưa gia truyền độc nhất vô nhị... Đây tuyệt đối không phải là một gia đình nông dân manh mún, tầm thường của chốn sơn dã!
Tôn Như Hải hít sâu một hơi dài, hai bàn tay to béo vỗ mạnh xuống mặt bàn gỗ gụ đánh "bốp" một tiếng đầy dứt khoát. Lão cất tiếng cười vang, sảng khoái đến mức khiến chiếc lư đồng trên góc phòng cũng khẽ rung lên:
"Hảo! Hảo một cô nương Diệp Tiểu Mãn! Lão phu mở Vọng Giang Lâu này mười lăm năm, tiếp xúc với biết bao thương đoàn xuôi ngược Nam Bắc, nhưng hiếm thấy một người trẻ tuổi nào lại có được bản lĩnh, sự tỉnh táo và tầm nhìn khoáng đạt đến bực này!"
Tiếng cười dứt, nét mặt Tôn Như Hải thu lại vẻ xuề xòa thường nhật, thay vào đó là sự nghiêm túc, trịnh trọng và cẩn trọng của một thương gia lớn đang chuẩn bị mở ra một cuộc đàm phán trọng đại:
"Tiểu Mãn cô nương, bữa tiệc lớn trưa nay của đoàn thuyền buôn phương Nam đã thành công rực rỡ ngoài mong đợi của lão phu. Ba mươi bàn tiệc sạch bách, các chủ thuyền không chỉ khen ngợi hết lời mà còn ký thác với tửu lầu: từ nay về sau, mỗi lần đoàn thuyền vận tải tơ lụa của họ cập bến sông Vân Thủy, Vọng Giang Lâu bắt buộc phải phục vụ đúng món cá chép kho tương đậu hoa cau và đĩa dưa cải sen nén giòn này. Chuyến hàng thử nghiệm của cô nương hôm nay, lão phu chấm mười phần trọn vẹn, không chê vào đâu được một điểm nhỏ!"
Lão chưởng quầy khẽ nghiêng người về phía trước, hai mắt nhìn thẳng vào Tiểu Mãn, giọng nói lão hạ thấp nhưng âm vang, chắc nịch:
"Hôm nay, lão phu chính thức ngỏ lời: Tửu lầu Vọng Giang muốn xúc tiến ký hợp đồng cung ứng định kỳ lâu dài với Diệp gia các người. Mỗi tháng, tửu lầu chúng ta cần cố định một trăm sáu mươi thăng tương đậu nành hoa cau thượng hạng, hai trăm cân dưa cải sen muối nén theo đúng phẩm vị chuyến hàng này, cùng toàn bộ lượng rau non tươi trái vụ các mùa mà nhà cô nương có thể canh tác được trên đất bãi bồi. Lượng hàng này sẽ chia đều làm bốn đợt giao nhận cố định vào các ngày phiên chợ chính mỗi tháng, tiền hàng thanh toán dứt điểm bằng bạc trắng trao tay ngay tại cửa sau trù phòng!"
Diệp Nhị Hòa ngồi bên cạnh nghe đến những con số khổng lồ ấy thì nín bặt thở, hai mắt mở to như chiếc chuông đồng, lồng ngực đập thình thịch liên hồi. Một trăm sáu mươi thăng tương đậu! Hai trăm cân dưa cải sen nén mỗi tháng! Đó là những con số khổng lồ mà trước đây, dẫu có nằm mơ giữa ban ngày, một gia đình nghèo rớt mồng tơi như nhà họ Diệp cũng không bao giờ dám nghĩ tới.
Thế nhưng, Tôn Như Hải bỗng giơ một ngón tay trỏ lên không trung, ánh mắt lão lóe lên tia nhìn sắc bén như mũi dao cạo, giọng điệu trở nên nghiêm khắc đến lạnh lùng:
"Nhưng Tiểu Mãn cô nương, lão phu đã coi cô nương là người có chí lớn thì cũng phải nói trước một lời ngay thẳng, không giấu giếm nửa phần: Nhu cầu của Vọng Giang Lâu là cực kỳ lớn và nghiêm ngặt. Một khi văn khế định kỳ đã ký kết, ấn định ngày giờ giao hàng, nếu phía nhà cô nương trễ hẹn dẫu chỉ nửa canh giờ làm lỡ tiệc khách, hoặc phẩm chất tương và dưa suy giảm dù chỉ một phần, tiền phạt vạ theo điển lệ thương nghiệp của huyện quán sẽ không hề nhỏ, đủ sức làm cô nương khuynh gia bại sản!"
Lão chưởng quầy dừng lại một nhịp, gằn từng tiếng cảnh tỉnh rơi nặng trịch xuống gian phòng:
"Quy mô sản xuất hiện tại của nhà cô nương—lão phu biết tỏng—vẫn chỉ là lối làm ăn manh mún nơi sân đất vài gian nhà chái dột nát, dựa vào mấy người đàn bà phụ nữ trong xóm đổi công cho nhau, chum vò thì đi gom góp chắp vá từng góc chợ... Lối làm ăn tài tử ấy tuyệt đối không thể nào gánh vác nổi sản lượng hàng trăm thăng tương và hàng trăm cân dưa mỗi tháng một cách ổn định!"
Ánh mắt Tôn Như Hải nhìn xoáy vào đôi mắt sâu thẳm của Tiểu Mãn, như muốn thử thách ý chí của cô thôn nữ trước mặt:
"Muốn nuốt trôi miếng bánh lớn này của Vọng Giang Lâu mà không bị nghẹn chết giữa đường, cô nương bắt buộc phải có một xưởng chế biến riêng biệt, quy củ, có nguồn nước sạch cách ly tuyệt đối với khu dân cư, có kho ủ râm mát thông thoáng gió trời, và một quy trình quản lý nhân công nghiêm ngặt như quân ngũ. Nếu cô nương vẫn cứ ôm đồm, cố đấm ăn xôi làm theo lối chắp vá ở xóm quê như chuyến này, thì trận mưa dông gió bão vừa rồi sẽ chỉ là khởi đầu nhỏ nhoi cho những thảm họa vỡ nợ, đền khế ước sau này mà thôi!"
Từng lời răn dạy sắc bén, thẳng thắn của Tôn Như Hải dội vào tai ba người, khiến Diệp Nhị Hòa khẽ rùng mình một cái, bờ vai co rút lại vì sợ hãi trước những rủi ro quá lớn của thương trường.
Thế nhưng, Diệp Tiểu Mãn không hề có lấy một tia nao núng hay e sợ. Ngược lại, bên dưới vạt áo thô sờn cũ, lồng ngực nàng phập phồng mạnh mẽ, một ngọn lửa khát vọng rực cháy đang bùng lên dữ dội trong đáy mắt. Lời cảnh báo sắc lạnh của Tôn chưởng quầy không hề dập tắt ngọn lửa trong lòng nàng, mà trái lại, nó chính là chiếc chìa khóa bằng sắt mở toang cánh cửa mà nàng hằng ấp ủ bấy lâu nay trong những đêm dài thao thức: Thanh Khê Điền Trang không thể mãi mãi là một giấc mơ mơ hồ nằm trên trang giấy rách, nó phải bắt đầu thành hình ngay từ ngày hôm nay, bằng một xưởng chế biến dưa tương chuyên nghiệp và bài bản!
Nàng đứng thẳng dậy, hai tay chắp lại trước ngực, thi lễ một cách đĩnh đạc, ung dung và đầy khí chất:
"Đa tạ lời răn dạy vàng ngọc của Tôn thúc. Từng lời, từng chữ của thúc hôm nay, Tiểu Mãn xin khắc cốt ghi tâm, coi như kim chỉ nam cho con đường phía trước. Cháu hiểu rất rõ quy mô hiện tại của Diệp gia là giới hạn lớn nhất, và cháu tuyệt đối không bao giờ lấy uy tín của Vọng Giang Lâu ra để đánh cược liều lĩnh."
Nàng ngẩng cao đầu, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào lão chưởng quầy: "Xin Tôn thúc cho cháu thời hạn mười ngày. Đúng ngày hai mươi lăm tháng hai này, cháu sẽ cùng Tạ huynh quay trở lại đây, mang theo một bản dự thảo khế ước cung ứng định kỳ hoàn chỉnh, kèm theo toàn bộ phương án tổ chức xưởng chế biến mới của Diệp gia tại gò Cồn Gió để trình lên cho thúc xem xét!"
"Được! Khá khen cho khẩu khí của cô nương! Lão phu sẽ đợi cô nương đúng ngày hai mươi lăm!" Tôn Như Hải cười lớn đầy mãn nguyện, đích thân nâng ấm trà gốm, tự tay rót đầy chén trà Thiết Quan Âm nóng hổi mời Tiểu Mãn.
Nửa canh giờ sau, ba bóng người bước ra khỏi cánh cửa nách trù phòng của Vọng Giang Lâu.
Tiểu Mãn cẩn thận dùng dải vải thô bọc kín chiếc túi đựng hai nén bạc trắng và xâu tiền đồng Cảnh Hưng sáng loáng, buộc chặt vào trước ngực áo, áp sát vào lồng ngực ấm nóng. Nàng bước chậm rãi ra mép bến sông, đứng tựa vào chiếc lan can bằng đá xanh chạm trổ hoa văn sóng nước của bờ kênh Vân Thủy.
Lúc này, vầng thái dương đỏ ối đang từ từ lặn xuống phía sau những rặng tre xa xăm. Hoàng hôn buông xuống, ráng chiều rực rỡ như lửa cháy nhuộm đỏ thắm cả mặt nước sông mênh mông, phản chiếu muôn ngàn đốm sáng lấp lánh như dát vàng dát bạc lên từng gợn sóng lăn tăn.
Trên dòng sông lớn tấp nập thuyền bè, hàng trăm cánh buồm nâu của các đoàn thương thuyền phương Nam đang từ từ hạ xuống, tiếng hò kéo lưới, tiếng mái chèo khua nước bì bõm hòa cùng tiếng còi đồng rúc lên từng hồi giục giã. Phía sau lưng nàng, dãy đèn lồng đỏ treo dọc theo các tầng lầu của Vọng Giang Lâu bắt đầu được thắp sáng đồng loạt, hắt những vệt sáng lung linh, huyền ảo và rực rỡ xuống mặt sông đang dần chuyển sang màu lam thẫm.
Gió sông chiều muộn thổi lồng lộng qua bến nước, thổi tung những lọn tóc mai lơ thơ vương bên vầng trán thanh tú của Tiểu Mãn. Nàng đưa mắt nhìn về hướng tây nam mịt mờ xa xăm, nơi có những dãy núi mờ xanh của rặng Thanh Lĩnh sừng sững giữa trời chiều, nơi có ngôi làng nhỏ Thanh Khê nghèo khó với mảnh đất gò Cồn Gió khô cằn sỏi đá đang chờ đợi bàn tay nàng khai phá.
Nhìn ra dòng sông lấp lánh ánh đèn, Tiểu Mãn biết rằng mảnh đất thôn Thanh Khê sắp tới sẽ không chỉ nuôi sống một gia đình cô.