Tiểu Thôn Nương Làm GiàuC.19 / 45
Chương 19

Đường ra Trấn Liễu Kiều và bài toán giá vốn

Mặt trời vừa ló rạng sau dãy Thanh Lĩnh, Diệp Tiểu Mãn đã cùng Tạ Cảnh rảo bước trên con đường đất đỏ gập ghềnh hướng về phía Trấn Liễu Kiều.

Sương sớm mùa thu còn đọng từng giọt tròn trịa trên những ngọn cỏ may hai bên lối mòn, quệt vào ống quần vải thô thẫm màu của Tiểu Mãn những vệt nước mát lạnh. Gió sớm từ các khe núi thổi thốc xuống mang theo hơi thở ngai ngái của đất ướt, mùi lá thông mục rữa và hương hoa dại thơm nhàn nhạt. Nàng quấn chiếc khăn vuông bằng vải mộc gọn gàng ngang trán, giấu đi những sợi tóc con lòa xòa trước trán, vai đeo một tay nải nhỏ bằng vải bố nâu sẫm đựng hai chiếc bánh ngô nướng lùi tro từ tối hôm trước cùng một bầu nước đun sôi để nguội đã ngả màu vàng nhạt vì nấu chung với vài nhánh rễ cỏ tranh ngọt mát. Bên cạnh nàng, Tạ Cảnh mang một chiếc tráp gỗ nhẹ khoác chéo lưng—chiếc tráp bằng gỗ thông mộc mạc đã mòn nhẵn các góc cạnh, bên trong đựng sẵn ống bút tre khâu chỉ gai, thỏi mực bán nguyệt đã mòn phân nửa và một tập giấy bản xơ vàng được đóng gáy cẩn thận bằng sợi chỉ bông nhuộm vỏ dà.

Tiểu Mãn bước những bước thoăn thoắt nhưng vững vàng. Đôi giày vải đế gai khâu dày dặn do chính tay mẹ nàng may ép chặt xuống mặt đường đất nện lạo xạo sỏi đá, từng đường kim mũi chỉ sít sao ghìm chặt bàn chân nhỏ nhắn nhưng rắn rỏi. Đã quen với việc đồng áng, sớm tối quảy đôi thùng gỗ nặng trịch gánh nước từ giếng sâu đầu làng, chiều muộn lại xắn quần lội mương nạo bùn vét rãnh, nàng không hề có vẻ mệt mỏi hay hụt hơi; trái lại, đôi mắt đen láy mở to, sáng ngời vẻ tò mò và linh hoạt, chăm chú quan sát từng khúc quanh, từng rãnh xói của con đường cái quan nối liền thôn xóm hẻo lánh với phố thị phồn hoa. Mỗi bước chân của nàng đều dứt khoát, mang theo cái dẻo dai của một người con gái lớn lên từ sương gió ruộng đồng, không chút ngập ngừng, không hề chậm trễ.

Suốt nửa ngày đường đi bộ, Tạ Cảnh chỉ cho Tiểu Mãn các trạm dịch, bến thuyền và cách giới buôn hàng tính toán quãng đường vận chuyển nông sản.

Đi được chừng mười dặm, khi vầng dương đỏ rực đã hoàn toàn nhô cao khỏi rặng cây râm bụt và những tán xoan non trổ hoa tím nhạt, con đường đất nhỏ hẹp bắt đầu mở rộng ra ở một ngã ba lớn thênh thang. Nơi đó dựng một trạm dịch bằng gạch nung rêu phong với mấy gian nhà kho lợp ngói âm dương đã sứt mẻ nhiều mảng, vài chuồng ngựa rải đầy rơm khô bốc mùi phân súc vật ngai ngái, và một chiếc quán nước chè tươi che mái lá cọ tạm bợ nằm nép dưới chân rào dâm bụt.

Tạ Cảnh dừng bước dưới bóng râm mát rượi của một cây hòe cổ thụ xum xuê cành lá, đưa tay áo dài đã sờn mép chỉ về phía dãy cọc mốc bằng đá hoa cương xám cắm nghiêng nghiêng bên mép lộ:

"Nàng nhìn những cột mốc khắc chữ kia xem. Đó là mốc dặm do nha môn đặt định từ thuở lập trấn. Giới buôn hàng lớn hay các phường xe kéo bánh gỗ đều dựa vào những vết khắc trên đá đó để chia chặng, định cước và tính toán thời gian đi đường. Từ ranh giới thôn Thanh Khê ra đến trạm dịch Thạch Đình này là mười hai dặm đường đất gồ ghề; từ đây gập ghềnh men theo bờ đê đi tiếp đến bến thuyền Liễu Kiều thêm mười tám dặm nữa, tổng cộng tròn ba mươi dặm lộ trình, tương đương nửa ngày đường đi chân không của một tráng đinh khỏe mạnh."

Tiểu Mãn nheo mắt nhìn dòng chữ Hán 'Huyện hạt - Thạch Đình dịch' khắc chìm trên mặt đá xám đã sứt sẹo, mòn mờ vì mưa nắng và những vết cọ quẹt của đòn xe tải qua hàng chục năm ròng. Nàng khẽ gật đầu, trong đầu lập tức xoay chuyển các phép tính thực tế:

"Ba mươi dặm lộ trình... Nếu một tráng đinh gánh hai sọt dưa cải muối hoặc vò sành đựng tương, mỗi sọt nặng chừng ba mươi cân, đi hết quãng đường này phải mất hơn hai canh giờ rưỡi. Gặp lúc trời nắng gắt hay mưa dầm trơn trượt, chân bước chậm lại thì có khi mất trọn cả buổi sáng từ lúc gà gáy le te cho tới tận trưa trờ trưa trật mới tới nơi. Còn nếu thuê xe bò hoặc xe kéo tay gỗ mít đóng khung sắt thì sao hở huynh?"

Tạ Cảnh mỉm cười, ánh mắt thoáng lộ vẻ tán thưởng trước sự nhạy bén và thói quen luôn quy đổi mọi thứ ra cân nặng cùng công sức lao động của nàng. Chàng đứng dịch sang bên cạnh, tránh cho nàng một cỗ xe rỗng vừa lọc cọc lăn qua cuốn theo lớp bụi mù, rồi điềm đạm giải thích:

"Đó chính là mấu chốt sâu xa mà người ít đi xa thường không ngờ tới. Phường xe kéo ở trạm dịch Thạch Đình hay bến Liễu Kiều không bao giờ tính tiền bằng cách đo độ dài dặm đường đơn thuần như người ta tưởng. Họ tính cước dựa trên ba yếu tố bất di bất dịch: trọng lượng hàng hóa nặng nhẹ ra sao, độ dốc gập ghềnh của mặt đường, và thời gian quay đầu xe trong ngày. Đoạn mười hai dặm đầu từ cổng thôn ta ra tới trạm dịch này nhiều sống trâu, rãnh xói sâu hoắm sau những trận mưa lũ đầu nguồn, xe kéo bánh gỗ rất dễ sụt lầy, kẹt moay-ơ hoặc gãy nan hoa, nên cước đoạn này tính đắt hơn đường phẳng ven sông chừng hai phần mười. Lại nữa, khi chở hàng nặng và dễ rò rỉ như chum vò chứa chất lỏng, người đánh xe phải chèn thêm một lượng lớn rơm rạ mục hoặc trấu khô, bánh xe phải lăn cực kỳ chậm rãi để tránh va đập. Nếu người thuê xe không nắm rõ cách tính dặm đường và cước phụ thu qua đò ngang, thương lái rất dễ bị nhà xe ép giá cước vận chuyển, nuốt trọn số tiền chênh lệch giá bán mà mình nhọc nhằn kiếm được."

Tiểu Mãn vừa lắng nghe vừa ghi tạc từng lời vào tâm trí, đôi mày lá liễu khẽ cau lại suy ngẫm. Nàng nhìn sang mép sông nhánh rẽ từ Khe Thanh tụ về, nơi dòng nước màu phù sa đang lững lờ trôi, có những chiếc thuyền tam bản nhỏ chở đầy củi khô, sọt khoai lang và từng chồng mẹt tre đang chậm rãi xuôi dòng về phía hạ lưu. Đôi mắt nàng khẽ sáng lên, nàng lập tức liên hệ:

"Đường bộ thì xóc nảy, tốn tiền đòn gánh và hao mòn bánh xe; nhưng nếu đi đường thủy bằng thuyền nan nhỏ từ bến bãi Hạ ra thẳng bến Liễu Kiều, dẫu thuận dòng êm ả không lo sành sứ va đập nứt vỡ, nhưng lại phải chịu tiền lệ bến đỗ và phụ thuộc hoàn toàn vào con nước lớn ròng. Mùa cạn thì thuyền dễ mắc cạn nơi bãi cát ngầm, người chèo phải nhảy xuống sông đẩy thuyền toát mồ hôi hột; mùa mưa dầm thì dòng nước chảy xiết cuộn xoáy, chỉ một xoáy nước ngầm hay một khúc quanh bất ngờ là lật úp cả cơ nghiệp, nguy hiểm khôn lường."

"Đúng là như vậy," Tạ Cảnh gật đầu tán đồng, ánh mắt ánh lên nét rạng rỡ khi thấy nàng suy xét chu toàn mọi bề mà không hề bị sự tiện lợi trước mắt che mắt. "Cho nên những lái buôn dạn dày kinh nghiệm bao giờ cũng chia theo mùa mà liệu việc: mùa cữ thu khô ráo, đường đất cứng cáp thì họ dồn hàng đi xe kéo đường bộ, chèn rơm dày để đảm bảo hàng đến đúng buổi chợ; mùa xuân nước êm, sóng phẳng mới kết bè mảng chở các loại chum vại cồng kềnh, nặng nề. Không một người buôn khôn ngoan nào dám mù quáng chất hàng lên đường mà chưa nắm chắc đường đi nước bước cùng cái giá phải trả cho từng dặm đất, dặm sông."

Hai người tiếp tục cất bước, nhịp chân đều đặn dưới bóng những rặng tre gai đan xen với những tán bàng đang chuyển sang màu lá đỏ.

Khi bóng nắng dưới chân thu tròn lại thành một chấm nhỏ ngay dưới đế giày báo hiệu canh giờ chính ngọ, trước mắt họ dần hiện ra một vệt tường thành hoa xám dài dằng dặc, những rặng liễu rủ biếc xanh rủ bóng ven một dải sông lớn mênh mông, tấp nập thuyền bè đậu san sát. Tiếng hò dô kéo neo của phu bến, tiếng bánh xe sắt nghiến trên đường lát đá hộc kêu ken két, cùng âm thanh ồn ã, náo nhiệt của hàng ngàn con người chốn thị thành ùa tới như một đợt sóng cuộn trào, xua tan đi cái tịch mịch, vắng lặng của vùng đồng rừng Thanh Khê.

Trấn Liễu Kiều bề thế đã ở ngay trước mắt.

Khác hẳn với cảnh chợ phiên nghèo nàn họp chớp nhoáng trên bãi sỏi cầu đá Thanh Khê—nơi người bán kẻ mua chỉ tụ tập vỏn vẹn trong hai canh giờ đầu buổi sớm rồi vội vã gánh thúng về lo việc đồng áng—chợ Trấn Liễu Kiều là một khu chợ cố định quy mô lớn, chia thành nhiều khu phố kinh doanh rực rỡ cờ hiệu bằng vải điều, vải chàm bay phấp phới trong gió thu. Hai bên lối vào chợ lát đá xanh bóng nhẵn là những dãy quán ăn mái ngói vảy cá san sát nhau, khói bếp nghi ngút bốc lên mang theo mùi thơm ngào ngạt của thịt kho tương, mỡ lợn rán giòn, bánh hấp nhân hành hoa và cháo hoa nấu đậu xanh. Tiếng quát tháo của lính tuần tra, tiếng mặc cả the thé của các bà nội trợ phố thị, tiếng rao hàng lanh lảnh của những đứa trẻ bán kẹo mạch nha đan xen vào nhau tạo thành một thứ âm thanh đặc quánh của sự phồn hoa và toan tính.

Đến chợ Trấn Liễu Kiều, cả hai dành trọn buổi trưa đi quanh các sạp hàng đồ chua, tương đậu và ngũ cốc, khảo sát giá bán lẻ lẫn cách cân đo, đóng gói của thương nhân phố thị.

Tiểu Mãn kéo nhẹ mép áo chàm của mình cho phẳng phiu, hít sâu một hơi dài đầy ắp không khí nồng nặc mùi gia vị và khói bếp để ổn định lại nhịp tim đang đập rộn ràng vì choáng ngợp. Nàng không vội vã lao vào hỏi han hay chen lấn giữa dòng người đông đúc, mà lặng lẽ bước chậm lại, nửa bước nép sau bờ vai rộng của Tạ Cảnh, để đôi mắt sắc sảo của một nông nữ quen quán xuyến gia đình quan sát tỉ mỉ từng cử chỉ, từng chi tiết nhỏ nhặt nhất trên các dãy quầy hàng.

Khu hàng khô và đồ muối chua nằm ở mạn đông chợ, giáp với một con mương nhỏ xây bằng đá hộc dẫn nước sạch ra bờ sông cái. Tại đây có đến bảy, tám sạp chuyên bán các loại tương đậu, dưa muối, củ cải khô ướp ớt và dấm gạo.

Tiểu Mãn dừng lại trước sạp của một gã thương nhân trung niên béo tốt, đầu đội mũ chỏm bằng vải thô xanh, hai cánh tay áo xắn cao để lộ đôi bắp tay tròn lẳn nhờn mỡ. Trên mặt bàn gỗ dày thau dọn sạch bóng của sạp bày la liệt những chiếc âu sành miệng rộng tráng men đen nhánh, bên trong đựng dưa cải muối vàng ươm, củ cải ngâm tương màu cánh gián và dưa kiệu trắng nõn điểm vài lát ớt chỉ thiên đỏ chót.

Tiểu Mãn đứng nép bên cạnh một người phụ nữ trâm cài gỗ mun đang săm soi chọn mua đồ chua, chăm chú nhìn cách gã bán hàng thao tác bằng đôi tay thoăn thoắt. Gã dùng một chiếc kẹp tre cật dài bản rộng gắp dưa cải ra khỏi âu sành, đưa lên miệng âu vẩy mạnh ba cái thật dứt khoát cho róc gần hết nước chua rồi mới thả tọt lên chiếc đĩa cân bằng đồng thau sáng loáng.

"Dưa cải muối loại một dưa cọng giòn rụm, mười hai đồng một cân không bớt một cắc! Muốn lấy thêm nước dưa về nấu canh cá hay luộc rau thì trả thêm một đồng tiền kẽm cho chiếc gáo tre nhỏ này!" Gã bán hàng cất giọng oang oang sang sảng, ngón tay cái thoăn thoắt gạt quả cân mắt cáo chạy dọc trên cần cân bằng xương thú.

Tiểu Mãn khẽ nhíu mày, đầu ngón tay giấu trong tay áo bấm nhẹ vào lòng bàn tay để ghi nhớ: *Ở thôn Thanh Khê, chỉ cần bốn đồng tiền kẽm là mua được một bát dưa đầy tú hụ của bà thím bên xóm bãi, người ta múc kèm luôn cả nửa bát nước chua ngập miệng không tính toán chi li; một cân dưa ở thôn quy đổi ra chỉ chừng bảy đến tám đồng kẽm là kịch trần. Thế mà ở phố trấn này, một cân dưa cải róc khô nước đã bán tới mười hai đồng, lại còn chẹt thêm một đồng tiền nước dưa riêng biệt! Người phố thị tính toán từng giọt nước chua, từng cọng rau muối xót xa đến thế!*

Nàng khẽ nhích chân bước sang sạp bán tương đậu nành bên cạnh. Mùi tương bốc lên nồng đượm, ngai ngái mùi đỗ lên men, nhưng thoang thoảng lẫn vào đó lại có chút mùi chua gắt khó chịu của loại mốc men bị thúc ép không đều trong những ngày thiếu nắng. Tiểu Mãn chỉ cần liếc mắt lướt qua lớp váng tương mỏng nổi trên miệng vò sành đã nhận ra ngay manh mối: mẻ tương này đậu nành không được rang kỹ trên chảo gang lửa nhỏ, vỏ đậu xay chưa nhuyễn nên còn lợn cợn tấm cám, và màu sắc ngả sang vàng nhạt đục ngầu chứ không thể sánh đặc, óng ánh sắc nâu đỏ màu mật mía như bốn chiếc chum sành da lươn ủ men hoa cau của nàng ở góc sân nhà.

Một người phụ nữ làm nghề giúp việc mặc áo cánh trắng ngắn, tóc búi lưới bước vội tới bên mép sạp, đặt chiếc bình gốm con xuống mặt bàn:

"Cho hai thăng tương đỗ loại ngon nhất, chủ quán! Hôm nay trong phủ có khách quý ăn chay, chớ có đong lẫn tương cặn đấy!"

Gã bán tương nhanh nhảu dùng chiếc muôi đồng dài có chia vạch thăng đong tương từ vò lớn, vừa rót từng dòng tương sền sệt vào chiếc bình gốm của khách, vừa đon đả khoe mẽ:

"Hai mươi đồng tiền kẽm một thăng tương đậu nành hạt hoa cúc thượng hạng ủ chum đất nung! Tiền đóng nút lá chuối khô và dây lạt bện giữ nắp tính thêm một đồng kẽm, tổng cộng là bốn mươi mốt đồng kẽm, thiếu một cắc cũng không mở miệng vò đâu thưa thím!"

Tiểu Mãn nín thở đứng quan sát từng cử chỉ đóng gói của gã bán tương. Khác với cách nàng thường làm ở nhà—chỉ dùng mảnh vải thô thêu cành hoa cải vàng buộc túm miệng bình gửi người quen—thương nhân ở trấn Liễu Kiều có cách thức đóng gói vô cùng chặt chẽ và chuyên nghiệp. Gã dùng những mảnh lá sen khô đã hơ qua lửa cho dai mềm xếp chồng lên nhau thành hình phễu, lót thêm một lớp lá chuối héo bên trong để ngăn rỉ nước, sau đó đóng sập một nút bấc tiện bằng gỗ xốp gọt tròn vừa khít miệng bình. Đoạn, gã rút một sợi lạt gai dẻo dai bện đôi, quấn chặt hình chữ thập quanh cổ bình và nút bấc, gút lại một nút thắt kép vô cùng chắc tay. Bình gốm của họ đều được tráng một lớp men bóng kín mít cả mặt trong lẫn ngoài, trên cổ bình luôn có một đường gờ nổi vòng quanh để sợi lạt gai khi siết chặt sẽ bám vào đó, không bao giờ bị trơn tuột hay xộc xệch khi khách xách tòng teng đi bộ cả quãng đường dài.

Tạ Cảnh đứng ngay sau lưng nàng, dáng người cao gầy che bớt dòng người xô đẩy qua lại. Đôi mắt quan sát trầm tĩnh và sắc sảo của chàng cũng không hề bỏ sót một động tác nhỏ nhặt nào của gã bán hàng. Chàng hơi cúi đầu xuống, ghé sát tai nàng thì thầm bằng chất giọng trầm thấp, chỉ vừa đủ cho hai người nghe:

"Nàng để ý quả cân đồng trên tay gã kia chứ?"

Tiểu Mãn khẽ chớp mắt, khóe môi hơi mím lại gật đầu:

"Muội thấy rồi. Cán cân bằng xương thú mài rất nhẵn, nhưng quả cân đồng thau dường như có một vết mài lõm hình bán nguyệt ở đáy, được gọt giũa rất khéo. Lúc gã gạt quả cân sang mức một cân, đầu cần cân hơi chúi xuống nhanh hơn nhịp bình thường nửa khắc. Cân ở trấn Liễu Kiều này nghiêm ngặt hơn chợ quê nhiều, nha môn có đóng triện kiểm định bằng đồng khắc hình hoa mai ở đuôi cán, song bọn họ vẫn có mẹo tay miết nhẹ dây treo để giữ mức cân trông thì chuẩn xác nhưng luôn nghiêng phần lợi về phía người bán."

"Rất tinh ý, không hổ danh là Tiểu Mãn của ta," Tạ Cảnh khẽ mỉm cười tán thưởng, ánh mắt chan chứa sự dịu dàng. "Phố thị tấc đất tấc vàng, mỗi lạng hàng hóa đưa vào đây đều phải gánh thêm vô số chi phí vô hình mà người ở chốn thôn quê nếu chỉ nhìn vào mức giá niêm yết chênh lệch sẽ rất dễ bị lóa mắt, ngỡ rằng mở bao hàng ra là nhặt được bạc trắng."

Cả hai tiếp tục rảo quanh các sạp hàng ngũ cốc, đồ khô và phường làm gia vị. Họ đi chậm rãi, vừa đi vừa hỏi han giá cả các loại nông sản nguyên liệu: đậu nành loại mẩy hạt, vỏ mỏng vàng ươm ở trấn bán với giá một trăm hai mươi đồng một thạch; muối biển hột to trắng tinh khiết nhập từ thuyền buôn dưới duyên hải bốc lên giá chín mươi đồng một bao năm mươi cân—mức giá này rẻ hơn một chút so với giá mà Tiểu Mãn phải mua lẻ từ thuyền buôn ghé bãi Hạ hôm trước, nhưng gã cai kho tuyên bố thẳng thừng: muốn mua được giá chín mươi đồng bắt buộc phải lấy từ năm bao trở lên và tự thuê phu khuân vác từ kho bến cảng ra xe.

Mặt trời bắt đầu chếch dần về hướng tây, hơi nóng hầm hập bốc lên từ những phiến đá xanh lát đường của khu chợ đông nghịt người, quyện với mùi tanh nồng của cá tôm bờ sông và mùi mồ hôi chua nồng khiến Tiểu Mãn cảm thấy vạt trán lấm tấm mồ hôi. Nàng đưa ống tay áo chàm lên chấm nhẹ vệt mồ hôi bên thái dương, lồng ngực khẽ thở dài một nhịp. Bụng nàng bắt đầu réo lên cồn cào sau chặng đường dài cuốc bộ từ sáng sớm và nửa ngày liên tục căng óc ghi nhớ từng con số, từng thủ thuật buôn bán nơi phố thị.

"Đi thôi, chúng ta ra bến sông ngồi nghỉ một lát. Ở đó thoáng gió, mặt sông rộng rãi và tiện để bày giấy mực tính toán sổ sách." Tạ Cảnh khẽ khàng lên tiếng, thanh âm ấm áp như một làn gió mát xua tan đi sự mệt mỏi đang trĩu nặng trên đôi vai nàng.

Tiểu Mãn mỉm cười nhẹ nhõm, gật đầu bước theo sau lưng chàng, rời khỏi vòng vây ồn ào, bụi bặm của dãy phố chợ đông đúc, hướng về phía bờ bến Liễu Kiều rợp bóng mát rượi.

Ngồi dưới bóng râm bên bến sông, Tạ Cảnh lấy giấy bút giúp Tiểu Mãn lập bảng chiết tính: giá bán ở trấn cao hơn chợ thôn ba phần mười, nhưng phải gánh thêm phí thuê sạp, tiền cước xe kéo, bữa ăn dọc đường và hao hụt do va đập dập nát.

Bến Liễu Kiều là nơi hợp lưu hùng vĩ giữa dòng suối nhánh Khe Thanh từ vùng núi đổ về với dòng đại giang mênh mông cuộn sóng đỏ nặng phù sa. Từng đoàn thuyền buôn đáy bằng giương những cánh buồm nâu cũ kỹ nối đuôi nhau tấp nập ngược xuôi về hướng huyện thành Vân Thủy, tiếng phu khuân vác hò reo bốc dỡ bao tải muối, kiện vải và sọt sành sứ vang dội cả một khúc sông rộng. Nước sông vỗ oong oóc vào những mảng cọc gỗ lim cắm sâu dưới mép nước, bọt tung trắng xóa.

Hai người chọn một mỏm đá xanh bằng phẳng, nhẵn nhụi nằm khuất dưới bóng mát của một cây liễu cổ thụ cành lá xum xuê buông rủ dài chấm mép nước. Gió sông lồng lộng từ phía hạ lưu thổi ngược lên mang theo vị ngai ngái mằn mặn của phù sa và hơi nước mát rượi, cuốn phăng đi cái ngột ngạt, oi ả của buổi trưa hè thu giao mùa, đem lại một cảm giác khoan khoái, dễ chịu lạ kỳ.

Tạ Cảnh cẩn thận tháo chiếc tráp gỗ khỏi lưng, đặt vững chãi trên mỏm đá phẳng. Chàng mở nắp tráp, lấy chiếc nghiên đá xám nhỏ xíu mài vài giọt nước sông vừa múc bằng chiếc chén sành với thỏi mực đen nhánh. Mùi mực tàu thanh nhã thoang thoảng bay lên trong gió sông. Chàng trải phẳng một tờ giấy bản thô màu vàng nhạt lên mặt nắp tráp bằng phẳng, lấy hai viên sỏi tròn chặn mép giấy cho khỏi bị gió bay, rồi nhúng ngọn bút lông thỏ mềm mại vào nghiên mực, ngẩng đầu nhìn Tiểu Mãn bằng ánh mắt điềm tĩnh:

"Tiểu Mãn, bây giờ chúng ta hãy đặt toàn bộ những con số mắt thấy tai nghe ban nãy lên mặt giấy này. Nàng cứ nói rành rẽ từng khoản, ta sẽ chia cột giúp nàng chiết tính rõ ràng từng đồng tiền kẽm, để xem mẻ tương hay gánh dưa muối đưa ra trấn này thực sự còn lại bao nhiêu phần ruột."

Tiểu Mãn ngồi xếp bằng đoan trang trên phiến đá bên cạnh chàng, chỉnh lại tà áo chàm. Ánh mắt nàng ngay lập tức trở nên sắc sảo, tập trung cao độ hệt như những đêm nàng ngồi thâu canh bên khung cửi dệt vải hay lúc nàng đứng trước bốn chiếc chum sành da lươn ủ men hoa cau ở góc sân nhà. Nàng hít sâu một hơi lồng lộng gió sông, rành rọt mở lời:

"Huynh ghi giúp muội dòng đầu tiên: Giá bán tương tại chợ Trấn Liễu Kiều. Một thăng tương đặc loại ngon ở đây họ bán lẻ với giá hai mươi đồng tiền kẽm. Trong khi ở chợ phiên cầu đá Thanh Khê, muội chỉ có thể bán được mười lăm đồng một thăng cho người quen trong làng, còn nếu bán sỉ cả vò cho mấy mụ buôn chuyến ghé bến sông thì bị ép giá xuống tận mười ba đồng. Như vậy, tính trên mỗi thăng tương, giá bán lẻ ở trấn Liễu Kiều cao hơn chợ thôn đúng năm đồng tiền kẽm, tức là cao hơn trọn vẹn ba phần mười!"

Ngọn bút lông trên tay Tạ Cảnh lướt nhẹ thoăn thoắt trên mặt giấy bản, từng nét chữ Hán chân phương, ngay ngắn hiện ra: hai chữ 'Thực thu' viết hoa đậm nét cùng con số hai mươi đồng nằm rành rọt ở hàng đầu tiên. Chàng khẽ gật đầu, trầm giọng phân tích:

"Đúng, mức chênh lệch ba phần mười là một con số rất lớn, đủ sức làm xiêu lòng và làm mờ mắt bất cứ nông hộ lam lũ nào. Người ta chỉ cần nghe thấy bán ở trấn được hai mươi đồng thay vì mười lăm đồng là đã vội vàng mơ tưởng đến chuyện làm giàu nhanh chóng. Nhưng bây giờ, chúng ta phải dùng ngòi bút này để trừ đi từng khoản chi phí phát sinh thực tế để đưa được một thăng tương từ sân nhà nàng ra tới mặt sạp chợ này."

Tạ Cảnh chấm nhẹ đầu bút vào nghiên mực, vạch một đường thẳng đứng dứt khoát chia đôi tờ giấy bản thành hai nửa rõ rệt: bên phải ghi chữ 'Nhập', bên trái ghi chữ 'Xuất'. Chàng ngước nhìn nàng, giọng điềm đạm gợi mở từng bước:

"Khoản đầu tiên mà bất cứ ai bước chân vào chợ trấn cũng phải đối mặt: Phí chỗ ngồi tại chợ Trấn Liễu Kiều."

Tiểu Mãn nhớ lại tấm bảng gỗ sơn đen niêm yết quy củ chợ treo sừng sững trước cổng nha quản chợ mà ban nãy nàng và Tạ Cảnh đã dừng lại đọc từng chữ:

"Họ chia làm hai hạng người bán rất rõ ràng: Người bán hàng rong gánh gồng chạy chợ, quẩy mẹt đi dạo nộp lệ mỗi ngày ba đồng tiền kẽm, nhưng chỉ được phép đứng lấp ló ở rìa ngoài bãi đất trống đầy sình lầy, không có mái che nắng mưa, và hễ tuần đinh đi tuần tra thấy vướng lối đi là bị vung roi xua đuổi như xua vịt. Còn nếu muốn có một góc sạp cố định bằng ván gỗ ở dãy hàng khô có mái hiên che mưa nắng, mỗi phiên chợ bắt buộc phải nộp mười lăm đồng tiền thuế sạp và tiền quét dọn vệ sinh cho nha quản chợ!"

"Mười lăm đồng một phiên chợ," Tạ Cảnh hạ bút, viết ngay ngắn chữ 'Thuế sạp' cùng con số mười lăm đồng vào cột 'Xuất'. "Khoản thứ hai: Tiền cước vận chuyển vượt qua ba mươi dặm đường bộ từ thôn ra trấn."

Tiểu Mãn nhẩm tính trong đầu, ngón tay khẽ gõ nhẹ lên đầu gối theo từng nhịp:

"Một cỗ xe kéo tay đóng bằng gỗ mít của phường xe kéo Thạch Đình, người ta chỉ nhận chở tối đa bốn mươi hũ sành loại một thăng mỗi chuyến. Tính cả trọng lượng của bốn mươi thăng tương, bốn mươi vỏ hũ sành nung dày cùi và rơm rạ chèn xung quanh, tổng khối lượng ngót nghét gần một trăm cân hàng nặng. Tiền cước khứ hồi cho một phu xe kéo trọn vẹn một ngày đường vượt ba mươi dặm gồ ghề ít nhất là sáu mươi đồng tiền kẽm. Nếu chúng ta không thuê phu ngoài mà để Nhị Hòa hay cha kéo chiếc xe cút kít của nhà đi, thì gia đình ta cũng mất đứt sức lao động của một tráng đinh trọn vẹn một ngày trời, không thể cuốc đất, gieo cải hay lên rừng đốn củi."

"Cứ tính theo giá thuê ngoài sáu mươi đồng để thấy rõ giá vốn thực tế của sức lao động, không thể nhập nhèm công nhà vào làm một được: sáu mươi đồng tiền cước xe kéo," Tạ Cảnh tiếp tục viết con số sáu mươi thẳng hàng dưới con số mười lăm. "Khoản thứ ba: Bữa ăn dọc đường và tiền lệ phí qua đò ngang bến Thạch Đình."

"Phải có hai người đi áp tải hàng mới an tâm: một người kéo xe hoặc dẫn đường, một người giữ hàng và đon đả bán buôn. Hai người đi bộ ba mươi dặm, ăn hai bữa cơm nắm hoặc bánh ngô dọc đường, uống bát nước chè tươi ở trạm dịch Thạch Đình, cộng thêm bốn đồng tiền phí qua cầu phao nổi Thạch Đình cho một cỗ xe kéo bánh gỗ, tính tằn tiện, dè sẻn hết mức cũng mất đứt mười đồng tiền kẽm không thể bớt."

Tạ Cảnh mỉm cười tán đồng, đầu ngọn bút lông khẽ dừng lại trên mặt giấy xơ vàng, chàng ngẩng lên nhìn sâu vào đôi mắt đen láy của nàng:

"Còn một khoản chí mạng nhất, khoản tiền vô hình mà các nông hộ ít kinh nghiệm buôn bán hoặc những người mới chập chững ra chợ phố thường bỏ qua, nàng có nhớ đến không?"

Đôi mày thanh tú của Tiểu Mãn khẽ nhíu lại thật sâu, trong đáy mắt nàng lóe lên tia sáng kiên định của một người đã từng nếm trải bao vất vả nhọc nhằn:

"Muội nhớ rất rõ, không bao giờ dám quên! Đó là hao hụt do va đập và dập nát dọc đường! Ba mươi dặm đường đất đỏ đầy rẫy sống trâu, đá dăm sắc nhọn và những rãnh xói mùa mưa lũ. Vỏ hũ sành tráng men da lươn của xóm gốm Khe Thanh tuy cứng cáp nhưng giòn, nung lửa củi thủ công nên rất dễ rạn nứt chân chim nếu bị xóc nảy liên tục. Chỉ cần bánh xe sụp xuống một ổ gà sâu, hoặc phu xe sẩy chân trợt ngã bên rãnh nước, vò sành va vào nhau rạn miệng rỉ nước tương ra ngoài, hoặc vỡ tan tành hai ba chiếc hũ thì không những mất trắng số tương bên trong, mà nước tương đen sì còn rỉ lem nhem làm ố bẩn cả các hũ khác xung quanh, người mua sẽ chê bai ép giá. Tỷ lệ hao hụt, hư hỏng dọc đường đi ba mươi dặm này, tính ở mức nhẹ nhất, may mắn nhất cũng bắt buộc phải trừ hao một phần mười tổng số hàng mang đi!"

Tạ Cảnh nhìn nàng bằng ánh mắt tràn đầy sự thấu hiểu và trân trọng sâu sắc. Chàng nhanh thoăn thoắt chấm mực viết thêm dòng chữ 'Hao hụt rủi ro vận chuyển: một phần mười' vào góc dưới của bảng tính, sau đó dùng đầu ngón tay khẽ gạt nhẹ cho mực mau khô, cất tiếng tổng kết rành rọt từng con số lạnh lùng:

"Nàng xem bảng chiết tính này: Nếu nàng chỉ mang một chuyến hàng nhỏ lẻ tẻ, chừng mười lăm hũ tương ra trấn bán thử nghiệm như thói quen của người làng ta: Tổng thu bán lẻ tối đa: mười lăm hũ nhân với hai mươi đồng một hũ, nàng thu về tròn ba trăm đồng tiền kẽm. Bây giờ, chúng ta hãy trừ đi các khoản chi phí thực tế mà ta vừa liệt kê: Tiền thuế sạp chợ cố định: mười lăm đồng. Tiền cước xe kéo ba mươi dặm quy đổi: sáu mươi đồng. Tiền lệ phí cầu phao và ăn uống dọc đường: mười đồng. Hao hụt một hũ sành bị nứt rỉ dọc đường: mất hai mươi đồng tiền tương cộng thêm sáu đồng tiền vốn mua vỏ hũ sành là hai mươi sáu đồng. Như vậy, tổng các chi phí phụ trợ dọc đường và sạp chợ đã ngốn mất một trăm mười một đồng tiền kẽm của nàng! Lại trừ tiếp chi phí vốn gốc ban đầu để làm ra mười lăm hũ tương đó (tiền mua hạt đậu nành, muối biển bãi Hạ, công xay đỗ, ủ mốc hoa cau ròng rã nửa tháng trời, cùng tiền mua mười bốn vỏ hũ sành còn nguyên) mất đứt một trăm hai mươi đồng nữa... Cuối cùng, sau trọn một ngày trời ròng rã thức dậy từ canh năm gà gáy, lặn lội ba mươi dặm đường dài gió bụi mỏi nhừ đôi chân, nàng chỉ còn cầm về tay vỏn vẹn sáu mươi chín đồng tiền lãi ròng! Thậm chí, nếu rủi ro trên đường xe trượt bánh làm vỡ thêm một chiếc hũ sành thứ hai, số tiền lãi sáu mươi chín đồng ít ỏi ấy coi như tan thành mây khói, người buôn xem như đi làm không công cho nha môn và phường xe kéo!"

Tiểu Mãn ngồi bất động, chăm chú nhìn từng hàng chữ mực đen ngay ngắn, thẳng tắp trên nền giấy bản xơ vàng. Từng con số hiện lên rành rọt, trần trụi, lạnh lùng và chuẩn xác đến gai người.

Những ảo tưởng màu hồng về việc "bán hàng ở phố trấn lãi gấp bội quê nhà" mà người dân thôn Thanh Khê vẫn thường kháo nhau mỗi khi ngồi tụm năm tụm ba dưới gốc đa đầu làng lập tức tan biến hoàn toàn trước mắt nàng. Giá bán ở trấn cao hơn thật, phố thị đông đúc người mua kẻ bán thật, nhưng những thứ chi phí vô hình dọc ba mươi dặm đường đất hệt như chiếc miệng thú dữ chực chờ nuốt trọn từng đồng mồ hôi nước mắt nếu người ta làm ăn một cách ngây thơ, chắp vá và liều lĩnh!

Tiểu Mãn nhận định nếu chỉ đem lẻ tẻ vài vò thì tiền chi phí sẽ nuốt trọn lợi nhuận; muốn có lời bắt buộc phải gom đủ chuyến hàng quy mô vừa, giữ tỷ lệ hỏng dưới mức một phần mười và bán dứt điểm trong ngày họp chợ chính.

Tiểu Mãn hít một hơi thật sâu, lồng ngực phập phồng sau làn áo chàm mộc mạc. Nàng ngẩng đầu lên, ánh mắt nhìn thẳng vào Tạ Cảnh, giọng nói tuy nhỏ nhẹ để tránh người ngoài nghe thấy nhưng dứt khoát và rành mạch từng tiếng một:

"Huynh nói trúng tim đen mọi chuyện rồi, Tạ huynh. Nếu chúng ta làm ăn theo kiểu cò con, gom được dăm ba vò tương hay mươi bát dưa cải rồi lủi thủi gánh bộ ba mươi dặm ra trấn bán rong, thì tiền thuế chợ, tiền cước xe và tiền bánh dọc đường sẽ nuốt trọn toàn bộ công lênh và lợi nhuận! Cách đó chỉ dành cho kẻ bán dạo kiếm bữa cháo lót dạ qua ngày, tuyệt đối không thể giúp nhà họ Diệp tích lũy bạc trắng để trả nợ cho Chu Kim Quế và địa chủ Lương."

Nàng đặt đầu ngón tay thon nhỏ nhưng chai ráp lên bảng chiết tính của Tạ Cảnh, cất giọng phân tích sắc sảo:

"Muốn việc buôn bán ra Trấn Liễu Kiều này thực sự sinh lời bền vững, chúng ta bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt ba điều kiện sống còn: Thứ nhất, quy mô mỗi chuyến vận chuyển phải đủ lớn. Tuyệt đối không chở lắt nhắt dăm ba hũ. Ít nhất mỗi chuyến xe ra trấn phải chở từ năm mươi đến sáu mươi hũ tương trở lên. Khi ấy, chi phí cước xe kéo sáu mươi đồng và phí sạp mười lăm đồng sẽ được san đều cho sáu mươi hũ sành, tính ra mỗi hũ chỉ phải cõng thêm hơn một đồng tiền chi phí phụ trợ, biên lợi nhuận chênh lệch ba phần mười mới thực sự phát huy tác dụng và sinh ra món lãi ròng đáng kể! Thứ hai, khâu đóng gói và vận chuyển phải cải tiến triệt để nhằm giữ tỷ lệ hư hỏng, rạn nứt dưới mức một phần mười. Không thể dùng sọt tre lót rơm xơ sài như khi đi chợ phiên Thanh Khê được nữa. Chúng ta cần nhờ thợ mộc đóng những chiếc khung gỗ có từng vách ngăn riêng biệt chèn chặt bằng trấu khô xốp, và quan trọng nhất là phải tìm đặt được loại chum vò sành có nắp đậy ngấn nước kín khí, cổ hũ có gờ sâu để siết dây lạt không bao giờ xê dịch như mẫu vò tráng men của phường gốm mà huynh từng bảo. Và điều thứ ba, hàng đưa ra trấn bắt buộc phải bán dứt điểm ngay trong ngày họp chợ chính—tức các ngày phiên mùng một, mùng sáu, rằm và hai mươi mốt âm lịch, khi thương nhân các bến thuyền lớn từ huyện thành đổ về đông nhất. Tuyệt đối không để hàng ế ẩm đọng lại qua đêm trên phố trấn, vì tiền thuê kho bãi gửi hàng qua đêm ở Liễu Kiều này đắt đỏ vô cùng, nó sẽ bóp nghẹt mọi đồng lãi li ti của chúng ta!"

Tạ Cảnh ngồi lặng người lắng nghe nàng nói. Đôi mắt sâu thẳm, thông tuệ của chàng thư sinh nghèo ánh lên sự kinh ngạc tột cùng, rồi nhanh chóng chuyển thành niềm thán phục và kính trọng không hề che giấu.

Một cô gái nông thôn mới mười bảy tuổi, chưa từng bước chân ra khỏi ranh giới huyện hạt, chưa từng kinh qua trường lớp thương nghiệp hay học qua sổ sách kế toán của nha môn, nhưng chỉ sau một buổi sáng đi quanh chợ búa quan sát và nhìn qua một bảng tính sơ lược đã có thể đúc kết ra những quy luật kinh doanh cốt lõi của giới thương nhân phố thị! Nàng không hề bị sự hào nhoáng, xa hoa của phố xá làm hoa mắt, cũng không bị sự sợ hãi trước những con số chi phí nặng nề làm nhụt chí; nàng bình tĩnh mổ xẻ từng tầng rủi ro và tìm ra con đường sống duy nhất cho gia đình mình.

"Nàng nhìn nhận vấn đề vô cùng chuẩn xác, Tiểu Mãn," Tạ Cảnh khẽ nói, thanh âm trầm ấm như dòng suối mát lành len lỏi qua kẽ đá mùa thu. "Có tầm nhìn sắc sảo và sự cẩn trọng này, gia đình nàng chắc chắn không chỉ dừng lại ở góc sạp chợ phiên nghèo nàn bãi đá Thanh Khê. Nhưng con đường phía trước còn đòi hỏi sự chuẩn bị rất công phu và tỉ mỉ."

Tiểu Mãn khẽ thở phào một hơi dài, bao nhiêu sự căng thẳng dồn nén từ sáng sớm lúc băng qua mười hai dặm đường đất gồ ghề dường như tan biến bớt một phần. Bấy giờ nàng mới cảm thấy bụng mình réo lên khe khẽ vì đói cồn cào. Gương mặt thanh tú thoáng ửng hồng vì ngượng ngùng, nàng vội vàng mở chiếc tay nải bằng vải thô nâu mang bên hông ra.

Bên trong là hai chiếc bánh ngô nướng vùi tro từ tối hôm qua, vỏ ngoài cháy sém vàng ruộm, vẫn còn thoang thoảng mùi ngô già xay mịn thơm bùi mộc mạc của ruộng đồng quê nhà. Nàng cẩn thận bẻ đôi chiếc bánh làm hai nửa bằng nhau chằn chặn, chìa một nửa về phía Tạ Cảnh:

"Huynh cũng đói lả rồi, mải tính toán nãy giờ chưa có hạt cơm nào vào bụng. Mau ăn đi kẻo bánh nguội khô khốc mất."

Hai người ngồi cạnh nhau chia đôi chiếc bánh ngô nướng đạm bạc bên bến Liễu Kiều tấp nập, ánh mắt chạm nhau trong sự thấu hiểu và tin cậy ngày một sâu sắc.

Tạ Cảnh đón lấy nửa chiếc bánh ngô còn vương hơi ấm từ tay nàng. Đầu ngón tay hai người khẽ chạm vào nhau trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Một cảm giác run rẩy nhè nhẹ, ấm áp lan tỏa từ đầu ngón tay chạy dọc vào lồng ngực cả hai, khiến nhịp thở của chàng thư sinh thoáng chút ngập ngừng.

Dưới bóng râm mát rượi của cành liễu rủ, mặt nước sông xanh biếc dập dềnh những con sóng nhỏ vỗ về bờ đá. Ngoài kia, dòng đời cuồn cuộn trôi đi với đủ phường buôn bán, kẻ hò người hét, những cỗ xe kéo nặng nề chở đầy hàng hóa ngược xuôi, những chiếc thuyền buôn giương buồm nâu đỏ rực hướng ra phía biển lớn. Thế nhưng ngay tại góc mỏm đá rêu phong này, không gian dường như lắng đọng lại trong sự bình yên kỳ lạ.

Họ cắn từng miếng bánh ngô khô khốc nhưng ngọt bùi nơi cuống họng, nhấp từng ngụm nước rễ cỏ tranh mát ngọt từ chiếc bầu hồ lô đã sờn miệng. Tiểu Mãn nhìn nghiêng gương mặt khôi ngô, cương nghị của chàng thư sinh bên cạnh—người đã không ngần ngại đi bộ ba mươi dặm đường đất đỏ đầy bụi bặm, nhẫn nại giảng giải từng con chữ, từng phép tính dặm đường, bảo vệ nàng trước những cạm bẫy giấy tờ khế ước từ những ngày tăm tối nhất khi gia đình nàng lâm vào bước đường cùng.

Còn Tạ Cảnh nhìn đôi bàn tay nhỏ nhắn của nàng với những vết chai mỏng nơi kẽ ngón tay vì dệt cửi, cắt cỏ và khuấy tương suốt những ngày tháng nhọc nhằn, nhìn bờ vai mảnh dẻo nhưng kiên cường gánh vác cả sinh kế của một gia đình sáu miệng ăn. Trong lòng chàng dâng lên một thứ tình cảm thuần khiết, sâu đậm hơn ngàn vạn lời thề non hẹn biển: đó là sự kính trọng bản lĩnh, là lòng cảm thông trước những nhọc nhằn, và là sự tin cậy tuyệt đối vào tương lai mà hai người đang từng bước cùng nhau gầy dựng từ hai bàn tay trắng.

Họ nhìn nhau, không cần nói thêm một lời nào hoa mỹ, nhưng trong đáy mắt của cả hai đều đọc được sự đồng lòng sắt đá. Khó khăn trước mắt vẫn còn chất chồng như núi đá Thanh Lĩnh: món nợ bạc trắng của địa chủ Lương cận kề ngày thu hồi, sự soi mói đầy ác ý của bác dâu Chu Kim Quế, và con đường ba mươi dặm đầy sỏi đá hiểm trở ra bến Liễu Kiều. Thế nhưng chừng nào còn có sự đồng hành, sẻ chia và tương trợ bằng trí tuệ lẫn tấm lòng này, họ biết mình sẽ vượt qua tất cả.

Tiểu Mãn cẩn thận gấp gọn tờ giấy bản chiết tính cất sâu vào vạt áo trong, bên cạnh cuốn sổ tay ghi chép công thức ủ tương bí truyền của bà ngoại Lâm Thu Bà. Nàng phủi sạch những vụn bánh ngô vương trên vạt áo chàm, đứng dậy bước ra sát mép nước, phóng tầm mắt nhìn về phía khu phố chợ đông đúc trước mặt:

"Tạ huynh, ăn xong rồi, bây giờ chúng ta tới nha quản chợ hỏi thủ tục đăng ký thuê sạp cố định đi. Có một góc sạp đàng hoàng thì mẻ tương tháng tư mới có chỗ đứng chân."

Tạ Cảnh cất bút nghiên vào tráp gỗ, khẽ lắc đầu, vẻ mặt thoáng chút ngưng đọng đầy nghiêm túc:

"Tiểu Mãn, việc thuê sạp ở chợ trấn không đơn giản như nộp mười lăm đồng tiền kẽm cho quan quản chợ là xong đâu."

Tiểu Mãn giật mình quay lại nhìn chàng: "Sao cơ huynh? Còn có quy định gì ngặt nghèo nữa ư?"

Gió sông thổi tung tà áo dài đã sờn chỉ của Tạ Cảnh. Chàng nhìn về phía dãy nhà kho gạch hoa xám kiên cố của nha môn trấn bên kia cầu đá, trầm giọng nói ra điều kiện cốt lõi mà nãy giờ chàng vẫn âm thầm suy tính:

"Chợ Trấn Liễu Kiều thuộc quyền quản lý trực tiếp của nha môn huyện Vân Thủy, không phải chợ làng tự phát. Để ngăn ngừa gian thương trộm cắp và kẻ lạ mặt trà trộn gây rối trật tự phố thị, quan quản chợ đặt ra một quy định bất di bất dịch: Muốn bán hàng cố định ở chợ trấn, người ngoại thôn bắt buộc phải có người bản xứ đứng ra bảo chứng."

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn