Hương tương chín tới và ranh giới rõ ràng
Dưới ánh nắng hanh rạng rỡ bừng lên sau chuỗi ngày mưa dầm dề ẩm ướt, bốn chiếc nắp chum sành giữa sân nhà họ Diệp được khẽ khàng nhấc mở, để lộ ra những vòng tương ngả sắc vàng nâu sánh mượt như mật ong rừng, phả vào không gian tĩnh lặng một làn hương thơm ngậy nồng nàn, vấn vít men theo từng ngọn gió lan khắp ngõ xóm.
Gió heo may chớm lạnh thổi hun hút từ triền núi Thanh Lĩnh sà xuống, mang theo cái khô ráo của tiết thu xua tan đi đến tận cùng từng ngóc ngách ẩm mốc còn vương lại nơi bờ giậu râm bụt xơ xác. Mặt sân đất nện nhà họ Diệp sau bao ngày che chắn, tát nước giờ đây đã khô cong, phẳng phiu và mịn màng dưới những vạt nắng vàng tươi như rót mật. Bốn chiếc chum sành phủ men da lươn màu nâu thẫm, lưng chum tròn lẳn, được kê vững chãi trên những phiến đá tảng xanh chôn sâu giữa lòng sân. Vị trí đặt chum này nằm cách xa mép mái gianh dột nát hơn năm thước đất—đây chính là kinh nghiệm xương máu được đánh đổi bằng bao nhiêu nước mắt và âu lo sau cơn giông bão bất thần vừa qua. Trên miệng từng chiếc chum, lớp vải mộc trắng tinh được giặt sạch bằng nước giếng khơi, phơi no gió thu cho đến khi thơm mùi sợi mới, nay được cẩn thận lật sang một bên mép vành.
Diệp Tiểu Mãn cầm trên tay chiếc muôi tre cán dài vừa được chính tay nàng dùng dao bài vót nhẵn thín từng thớ xơ, đứng sát mép chiếc chum số một. Nàng hơi nghiêng người, hạ thấp bờ vai mảnh khảnh, khẽ khép hờ mi mắt rồi hít sâu một hơi thật dài. Một làn hương đậu nành đồ chín quyện cùng men ủ đạt đến độ chín hoàn mỹ lập tức tràn ngập khoang mũi, thấm sâu vào lồng ngực. Không còn sót lại dù chỉ một chút mùi chua gắt của màng mốc hỏng, cũng tuyệt nhiên chẳng có lấy một thoáng ngai ngái ẩm ướt của thứ nước mưa sống từng đe dọa biến tất cả công sức thành tro bụi. Trước mắt nàng, bề mặt tương phẳng lặng như một tấm gương soi, sánh đặc và óng ả một màu nâu hạt dẻ pha lẫn ánh hổ phách trầm ấm, lấp lánh rạng ngời dưới ánh mặt trời rực rỡ buổi sớm mai.
"Chị cả ơi, chiếc chum này... thật sự mở ra được rồi sao chị?"
Diệp Tam Nha đứng nép sát bên sườn chị, hai con mắt đen láy mở to tròn xoe, cái sống mũi nhỏ nhắn cứ hếch lên hít lấy hít để từng luồng hương thơm đang bốc lên ngào ngạt. Con bé không kìm được mà nuốt nước miếng cái ực, bàn tay gầy gò với những khớp xương nhỏ vô thức níu chặt lấy một góc vạt áo chàm đã sờn chỉ của Tiểu Mãn, tựa hồ sợ rằng chỉ cần chớp mắt một cái thôi thì mùi tương thơm ngọt ngào này sẽ tan biến mất như một giấc chiêm bao.
"Mở được rồi em. Nắng hanh ba ngày qua đã rút cạn những giọt hơi ẩm cuối cùng, muối rang lùi tro dằn men cũng đã hòa tan trọn vẹn xuống tận đáy chum rồi."
Tiểu Mãn khẽ mỉm cười, thanh âm trong trẻo tựa tiếng suối reo nhưng từng lời thốt ra đều mang theo sự thận trọng và chín chắn vượt xa lứa tuổi. Nàng cầm chắc cán muôi tre sạch bóng, từ tốn nhúng ngập vào lòng chum sành, nhẹ nhàng khuấy một vòng tròn mềm mại thuận theo chiều mặt trời mọc. Khi chiếc muôi rẽ nước, lớp tương sánh đậm bên dưới lập tức cuộn trào lên, mịn màng và dẻo quánh như váng cháo hoa ninh nhừ. Những hạt đậu nành vàng mẩy, hạt nào hạt nấy tuy đã mềm rục đến từng thớ thịt nhưng tuyệt đối không hề nát vụn, từng hạt ngậm no sắc nước tương nâu sẫm, căng tròn và bóng bẩy.
Tiểu Mãn đưa muôi lên, múc lấy lưng một chiếc thìa con bằng gỗ thị, chìa về phía cô em gái nhỏ:
"Nếm thử xem sao. Nhớ nhấp từng chút một thôi, để đầu lưỡi chạm vào giọt tương trước tiên, ngậm lại một nhịp cho ngấm vị rồi mới từ từ nuốt xuống họng."
Tam Nha đón lấy chiếc thìa gỗ, cẩn thận ghé bờ môi nhỏ vào mép thìa, khẽ nhấp một giọt tương nâu óng ả. Thoạt đầu, hàng mi dài của con bé khẽ chớp chớp liên hồi, hai hàng chân mày thanh tú hơi nhíu lại như đang dồn hết toàn bộ tâm trí và cảm giác non nớt vào nơi đầu lưỡi. Nhưng chỉ chớp mắt sau đó, khóe miệng nhỏ nhắn dần dần giãn ra, đôi gò má ửng hồng bừng sáng thành một nụ cười rạng rỡ khôn tả.
"Mặn mà không hề chát một tí nào chị ơi!" Tam Nha reo khẽ, giọng nói run rẩy vì mừng rỡ nhưng vẫn cố ghìm lại thật nhỏ để không làm xáo động bầu không khí trang nghiêm, tĩnh lặng của buổi sớm. "Đầu tiên con nghe rõ vị mặn mòi của muối biển, cái mặn rất sạch và đượm, thơm nức mùi đậu rang lúc vừa dỡ khỏi chõ mít. Rồi khi nuốt trôi qua cổ họng, nó lại để lại một vị ngòn ngọt, thanh thanh mát dịu vô cùng, không hề đắng ngắt hay khé cổ như cái thứ tương thối mụ Ngô Quế Hoa muối hỏng hồi đầu hè!"
Tiểu Mãn nghe vậy liền khẽ gật đầu tán đồng. Tự tay nàng cũng đưa đầu thìa tre lên nhấp một giọt tương nhỏ để đích thân kiểm nghiệm. Quả đúng như cảm nhận vô cùng tinh tế và nhạy bén của cô em gái mười tuổi, vị mặn của loại muối hạt biển loại một mua tận bến sông, sau khi được nàng tự tay rang khô trên chảo gang rồi vùi vào tro nóng để rút sạch tạp chất chát đắng, nay đã hoàn toàn thuần hóa. Hương thơm bùi ngậy của những mầm mốc hoa cau lên đều tăm tắp quyện chặt lấy chất ngọt đậm đà tiết ra từ những hạt đậu nành mẩy tròn thu hoạch trên gò Cồn Gió. Sau khi nuốt xuống, nơi cuống họng lưu lại một dư vị ngọt dịu, thanh nhã và kéo dài bền bỉ—đó chính là kết quả của việc kiên trì canh đúng thời khắc bóng nắng tròn đứng trưa để đảo tương đủ ba mươi sáu vòng không sót một lượt, cùng với bí quyết bỏ thêm vài khúc mía nướng lùi tro đỏ để hãm độ chua theo đúng phương pháp gia truyền mà bà ngoại Lâm Thu Bà từng tỉ mỉ chỉ dạy.
Hai chị em cẩn thận đậy hờ nắp chiếc chum thứ nhất, rồi lần lượt bước sang kiểm tra ba chiếc chum còn lại. Chum số hai và chum số ba được xếp đặt ở vị trí đắc địa nhất giữa sân, đón trọn vẹn luồng nắng ấm rực rỡ từ hướng đông nam rọi tới, bởi thế nên sắc tương có phần ngả màu cánh gián đậm đà hơn một bậc, độ sánh đặc và độ dẻo quánh gần như đạt tới mức tuyệt hảo không tì vết. Riêng chiếc chum số bốn nằm ở góc chếch về phía bắc, hứng chút gió lạnh đầu mùa nên lớp tương bên trong có phần non tơ hơn đôi chút; dẫu vậy, hương vị cốt lõi vẫn giữ nguyên vẹn chuẩn mực thanh khiết, bề mặt không hề xuất hiện một gợn màng tạp, đáy chum sạch bong không vướng một sợi mốc tro.
"Khá lắm... Thật sự rất khá."
Từ trong chái nhà mát rượi, Diệp Thành chống chiếc gậy tre khẽ khàng bước ra hiên. Nhìn sắc mặt tươi tắn, rạng rỡ của đứa con gái đầu lòng cùng làn hương tương thơm nức đang cuộn tròn bay lượn khắp sân nhà, đôi chân mày vốn luôn nhíu chặt vì những âu lo dồn dập bấy lâu nay của người cha tật nguyền rốt cuộc cũng giãn ra hoàn toàn. Ánh mắt ông dừng lại trên từng phiến đá xanh kê chum, giọng nói trầm đục thoáng run run vì xúc động:
"Mẻ tương này... thật sự thành công viên mãn rồi con gái. Cái mùi thơm nồng đượm, ngậy mà thanh tao này chính là phong vị tương của bà ngoại ngày xưa, không sai lệch đi một phân một ly nào cả."
Cùng lúc đó, Lâm Tú Nương từ gian dệt bên chái đông bước vội ra sân. Bàn tay gầy guộc của bà vẫn còn nắm chặt con thoi gỗ bóng nhẵn, đứng lặng người nhìn bốn chiếc chum sành da lươn đang hé mở mà khóe mắt bất giác rưng rưng ngấn lệ. Mới chỉ cách đây mấy hôm thôi, khi chứng kiến hai chum tương đầu tiên bị nước mưa dột ngấm vào làm chua hỏng, buộc phải nuốt nước mắt khiêng đổ xuống hố ủ phân sau vườn, lòng bà đã xót xa, quặn thắt đến từng khúc ruột. Khi ấy, bà chỉ nơm nớp lo sợ đứa con gái cả gánh vác việc gia đình quá sớm sẽ vì nhát búa giáng xuống bất ngờ ấy mà ngã lòng, nản chí. Thế nhưng giờ đây, nhìn dáng đứng thẳng tắp như cây trúc non, ánh mắt trong veo kiên định của Tiểu Mãn bên mẻ tương chín tới, bao nhiêu âu lo nặng trĩu trong lòng người mẹ bỗng chốc tan biến sạch trơn, nhường chỗ cho một niềm tin tưởng vững chãi và niềm tự hào sâu sắc.
"Nhị Hòa, Tiểu Đậu, hai đứa mau mau mang thùng nước giếng đun lá ổi ấm ra đây cho chị để tráng lại toàn bộ giàn hũ sành nhỏ!" Tiểu Mãn quay đầu, cất tiếng dặn dò hai đứa em đang lúi húi bên góc hiên.
Nhị Hòa nhanh nhẹn đáp lời, hai tay xách chiếc thùng gỗ bốc khói nghi ngút bước thoăn thoắt tới bên chiếc bàn dài. Tiểu Đậu lon ton chạy theo sau, ôm khư khư trong lòng một chiếc rổ mây chất đầy những mảnh giẻ lau bằng vải mộc đã được luộc kỹ qua nước sôi khử trùng. Tiếng cười nói ríu rít, tiếng gáo gỗ va vào miệng thùng chan chát khiến cả khoảng sân đất nện nhà họ Diệp bỗng chốc rộn ràng, bừng bừng sức sống giữa buổi sớm thu.
Chẳng để mọi người phải đợi lâu, ngoài ngõ râm bụt xanh mướt đã vang lên tiếng bước chân rộn rã, xen lẫn những tiếng chuyện trò râm ran quen thuộc. Trần A Lan xăm xăm đi trước dẫn đường, theo sát phía sau là thím Năm xóm Cầu Đá, chị Dâu bác Tư bến sông, cô Ba Thược xóm Miễu và dì Bảy Đậu xóm Trong. Bốn người phụ nữ trong nhóm đổi công chân chất, vừa mới bước qua khỏi ranh giới hàng rào râm bụt đã đồng loạt dừng sững bước chân, ngửa mặt lên trời rồi đưa tay lên mũi hít hà không ngớt.
"Trời đất tổ tiên ơi, cái mùi thơm ở đâu mà nức mũi, ngọt ngào đến thế này!" Thím Năm trầm trồ thốt lên, hai con mắt dán chặt vào bốn miệng chum sành đang he hé mở giữa sân, không nén nổi sự kinh ngạc: "Tôi vừa mới bước chân xuống khỏi con dốc Khe Thanh đã ngửi thấy mùi đậu ngậy lừng theo gió bay tới, trong bụng cứ đinh ninh nhà ai giàu có đang đồ xôi gấc, nấu đại tiệc cúng đình!"
"Mùi tương chín ngấu của nhà Tiểu Mãn đấy thím Năm ơi!" Trần A Lan ngoảnh lại cười giòn giã, rồi chạy tót tới khoác lấy vai Tiểu Mãn, giọng điệu đầy vẻ hãnh diện: "Cháu đã nói với các cô các thím từ trước rồi mà, tay nghề làm tương của Tiểu Mãn nhà ta thì dẫu trời có đổ mưa dầm hay bão gió tới đâu cũng chẳng tài nào làm khó được con bé đâu!"
Tiểu Mãn mỉm cười tươi tắn đón chào mọi người bước vào sân, ân cần mời từng người ngồi xuống những chiếc đẩu con bằng gỗ mít mộc mạc được xếp ngay ngắn dưới bóng râm râm mát của chái bếp. Đoạn, nàng quay người bước vào gian nhà chính, hai tay nâng ra một chiếc tráp tre nhỏ nhắn đan cài tỉ mỉ. Đặt chiếc tráp lên mặt bàn đá phẳng phiu, Tiểu Mãn cẩn thận mở chốt, lấy ra cuốn sổ kết bằng những thẻ tre bản mỏng được xâu chuỗi ngay ngắn bằng sợi dây gai dẻo dai—đây chính là cuốn sổ công nhật năm cột chuẩn mực, rành rọt từng nét do Tạ Cảnh đích thân kẻ vẽ cẩn thận trong những ngày chàng nán lại hướng dẫn nàng quản lý sổ sách.
"Hôm nay, mẻ tương đầu tiên của nhà cháu đã ngấu men hoàn tất, nước tương sánh mịn đạt chuẩn để đóng hũ chuẩn bị đưa ra chợ phiên ngày mai." Tiểu Mãn ngồi thẳng lưng trên chiếc ghế tre, ánh mắt chân thành, nghiêm túc và sáng trong nhìn lướt qua một lượt bốn người phụ nữ trong nhóm đổi công. "Trước khi chúng ta cùng nhau bắt tay vào việc chiết tương đóng hũ, cháu muốn cùng các cô, các thím đối chiếu lại toàn bộ sổ sách công nhật cho thật sòng phẳng, phân minh, không để ai phải chịu thiệt thòi một hạt thóc, nửa đồng tiền."
Nghe nhắc đến chuyện công nhật và tiền nong, khoảng sân đất vốn đang rộn rã bỗng chốc lắng dịu hẳn lại. Người nhà nông ở chốn thôn quê nghèo khó này quanh năm suốt tháng chỉ biết bán mặt cho đất, bán lưng cho trời; chuyện đổi công giúp đỡ lẫn nhau từ xưa tới nay vốn dĩ chỉ áng chừng bằng miệng, nhà này sang cấy gặt giúp nhà kia dăm ba buổi rồi đãi nhau bữa cơm độn sắn độn khoai, họa hoằn lắm mới có chuyện phân định rạch ròi. Xưa nay, mấy ai từng thấy cảnh tượng đem thẻ tre, bút mực ra cân đo đong đếm từng ngày công, từng giờ làm như những phường buôn lớn ngoài trấn huyện bao giờ.
Tiểu Mãn khẽ lật từng thanh thẻ tre bóng nhẵn, ngón tay thon thả chỉ vào từng dòng chữ Hán chân phương cùng những ký hiệu điểm khắc bằng dao bài vô cùng rõ nét:
"Theo đúng quy ước mà nhóm đổi công chúng ta đã cùng nhau định ra từ đầu tháng: một ngày công trọn vẹn bắt đầu từ giờ Thìn và kết thúc vào giờ Thân được tính tròn mười hai đồng tiền kẽm. Những ai chọn tích lũy ngày công để đổi lấy thành phẩm thì cứ hai ngày công sẽ được nhận ba hũ tương sành loại nhỏ, hoặc ba phần dưa chua đóng gói bằng túi vải thô sạch. Trong suốt đợt ủ mẻ tương này:
Thím Năm xóm Cầu Đá đã làm trọn vẹn năm ngày công, bao gồm các khâu nhặt sạch hạt lép, đồ chín đậu nành trên chõ mít và hai buổi trưa đứng bóng đảo tương, tổng cộng tiền công là sáu mươi đồng tiền kẽm.
Chị Dâu bác Tư bến sông đã làm bốn ngày công rưỡi, chuyên trách việc gánh nước giếng khơi đun sôi để nguội và rang muối hạt biển lùi tro, tổng cộng tiền công là năm mươi tư đồng tiền kẽm.
Cô Ba Thược xóm Miễu làm bốn ngày công, phụ trách việc tãi đậu ủ mốc hoa cau trên các nong tre, tổng cộng tiền công là bốn mươi tám đồng tiền kẽm.
Dì Bảy Đậu xóm Trong phụ trách ba ngày công giặt giũ vải mộc, đan vỉ tre cài miệng chum và chèn đá nén, tổng cộng tiền công là ba mươi sáu đồng tiền kẽm."
Tiểu Mãn cất giọng đọc rành rọt từng con số, ngữ điệu rõ ràng, dứt khoát, không vấp váp một từ và tuyệt đối không nhầm lẫn một đồng. Đọc xong, nàng đưa cuốn thẻ tre cho Trần A Lan chuyền tay để từng người phụ nữ được tận mắt nhìn ngắm những vết vạch ngang chia tách từng buổi sớm trưa tương ứng với công sức mồ hôi của chính mình.
"Mọi người xem lại thật kỹ giúp cháu, xem các ngày công cháu ghi nhận trên thẻ tre này có chỗ nào nhầm lẫn, sai sót hay thiếu hụt công sức của ai không ạ?"
Thím Năm run run đón lấy thanh thẻ tre. Dù mắt không biết mặt chữ Hán, nhưng nhìn những vết vạch khắc nông sâu rành mạch chia theo từng buổi sớm chiều rất đỗi trùng khớp với trí nhớ của mình, người phụ nữ luống tuổi xúc động xua xua đôi bàn tay thô ráp:
"Khớp lắm, chuẩn xác đến từng buổi một cháu ơi! Hôm nhà thím có giỗ bên ngoại, thím đến muộn mất nửa buổi, cháu cũng ghi rành rọt là nửa công chứ chẳng hề gạt phắt đi, lòng dạ cháu ngay thẳng thế này thì còn ai dám thắc mắc nửa lời nữa!"
"Dạ, nếu tất cả mọi người đều đã đồng thuận và nhất trí, cháu xin phép được thanh toán đầy đủ tiền công bằng tiền kẽm trao tay cho các cô và các thím."
Tiểu Mãn mỉm cười nhẹ nhõm, mở chiếc túi vải thô đặt trong tráp, thoăn thoắt đếm từng xâu tiền đồng sáng loáng. Những đồng tiền kẽm va vào nhau lách cách, lanh lảnh vang lên những âm thanh giòn giã, vui tai giữa buổi sớm mai. Từng cọc tiền được xâu bằng sợi dây cói bền chắc được nàng cung kính nâng bằng cả hai tay, trân trọng trao tận nơi cho từng người phụ nữ.
Cầm những đồng tiền kẽm mát lạnh, nặng trịch trong lòng bàn tay chai sạn, nứt nẻ vì sương gió và bùn đất, chị Dâu bác Tư bỗng thấy khóe mắt mình nong nóng, rơm rớm những giọt lệ tủi mừng. Ở cái mảnh đất Thanh Khê hẻo lánh này, phận đàn bà con gái đi làm thuê làm mướn kiếm thêm chút tiền lúc nông nhàn thường xuyên bị các chủ lò, lái buôn ép giá sát ván, tiền công thì khất lần khất lữa từ vụ chiêm sang vụ mùa, có khi còn bị viện cớ trừ bớt tiền củi đóm, nước nôi. Đã bao giờ họ được nhận những đồng tiền công sòng phẳng, minh bạch và nhận được sự tôn trọng nâng niu đến mức này đâu.
Thế nhưng, sự chu đáo của Tiểu Mãn vẫn chưa dừng lại ở đó. Nàng khẽ quay đầu sang, đưa mắt gật đầu ra hiệu cho Tam Nha. Cô bé mười tuổi hiểu ý ngay tắp lự, liền cùng với Nhị Hòa nhanh nhẹn bưng từ trong chái bếp ra bốn chiếc hũ sành men da lươn bóng bẩy loại dung tích một thăng. Bên trên từng miệng hũ nhỏ, một lớp vải mộc trắng tinh được túm gọn gàng, thêu nổi hình một nhành lá đậu non xanh biếc vô cùng xinh xắn—đó là thành quả của những đêm thức khuya ngồi bên ngọn đèn dầu của Lâm Tú Nương.
"Ngoài phần tiền công nhật theo đúng quy ước ghi trên thẻ tre," Tiểu Mãn cất giọng dịu dàng, ấm áp, "đây là bốn hũ tương thơm ngon nhất được cháu đích thân chiết ra từ chiếc chum số một. Gia đình cháu xin được kính biếu thím Năm, chị Dâu, cô Ba và dì Bảy mang về cho gia đình, con trẻ cùng ăn thử lấy thảo. Đây là tấm lòng tri ân của cả nhà họ Diệp chúng cháu, cảm ơn sự tận tụy, không quản ngại mưa gió của các cô các thím đã cùng cháu thức trắng đêm che chắn cho chum tương qua những ngày dông bão vừa rồi. Nếu không có bàn tay sạch sẽ rửa bằng nước lá ổi, không có sự nâng niu, tỉ mỉ canh chừng từng nong mốc của mọi người, mẻ tương này vĩnh viễn không thể có được màu sắc và hương vị thanh sạch như ngày hôm nay."
Bốn người phụ nữ sững sờ nhìn những chiếc hũ sành da lươn nâu óng ả, tỏa hương thơm ngát vừa được đặt vào vòng tay mình. Ai nấy đều không giấu nổi sự ngỡ ngàng, rồi niềm vui sướng nghẹn ngào bỗng chốc vỡ òa trên từng khuôn mặt lam lũ.
"Tiểu Mãn à, cháu sống có trước có sau, làm ăn giữ trọn chữ tín như thế này thì quý hóa quá!" Cô Ba Thược siết chặt lấy bàn tay nhỏ nhắn của Tiểu Mãn, giọng nói nghẹn ngào xen lẫn sự nể phục tự đáy lòng: "Sau này dẫu nhà cháu có bận rộn trăm công nghìn việc đến đâu, chỉ cần cháu cất tiếng ới một lời qua rào, mấy chị em chúng tôi dẫu đang dở tay việc gì cũng nhất định gác lại để chạy sang phụ giúp cháu ngay!"
Đúng lúc bầu không khí dưới bóng râm chái bếp đang dạt dào niềm phấn khởi và ấm áp tình làng nghĩa xóm, thì từ ngoài con ngõ râm bụt bỗng vang lên hàng loạt tiếng bước chân huỳnh huỵch nện mạnh xuống nền đất, xen lẫn tiếng kim loại va đập leng keng chói tai. Một bóng người đẫy đà, khoác chiếc áo chẽn màu nâu đất sẫm đã bạc màu ở hai bên nách, thô bạo lách mạnh qua khe rào râm bụt xăm xăm bước vào sân. Đó chẳng phải ai xa lạ, chính là Chu Kim Quế, người bác dâu cả của Tiểu Mãn bên nhánh họ Diệp lớn.
Trên đôi tay hộ pháp của Chu Kim Quế lúc này không phải là một chiếc bát ăn cơm hay chiếc âu sành đựng canh nho nhỏ của những người hàng xóm sang xin chút gia vị thông thường. Mụ đang ôm khư khư trước bụng một chiếc âu sành cỡ đại—loại âu sành miệng loe rộng hoác, thành dày cộp, vốn là thứ đồ chuyên dùng để muối cả con cá chép lớn hoặc dùng để chứa mỡ lợn muối ăn quanh năm của những gia đình giàu có trong làng, dung tích ước chừng phải chứa được tới bốn, năm thăng nước là ít.
Vừa mới đặt chân qua khỏi ranh giới chiếc cổng tre, cặp mắt ti hí sắc lẹm như dao cau của Chu Kim Quế lập tức đảo quanh một vòng như chong chóng. Ánh mắt mụ quét thật nhanh từ những xâu tiền kẽm sáng loáng đang nằm gọn trong tay bốn người phụ nữ đổi công, rồi dừng lại trừng trừng trên bốn chiếc chum sành da lươn đang ngào ngạt hương thơm quyến rũ giữa sân. Khóe môi mỏng dính của mụ giật giật liên hồi, lộ rõ vẻ thèm thuồng xen lẫn sự đố kỵ hằn học; thế nhưng chỉ trong chớp mắt, mụ đã lập tức nặn ra một nụ cười nở toe toét, giả lả đến mức khiến người ta phải rợn người, giọng nói the thé cất lên ngọt xớt như rót mật vào tai:
"Ối chao ôi là trời đất ơi! Tôi vừa mới bước chân ra tới đầu ngõ xóm Giữa đã nghe thấy tiếng cười nói rộn ràng râm ran bên này rồi! Lại thêm cái mùi tương thơm ngậy, ngòn ngọt bay phảng phất khắp cả góc làng, làm tôi đứng ngồi không yên, phải bỏ dở cả nồi cá kho trên bếp mà tất tả chạy vội sang đây xem sự tình thế nào!"
Chu Kim Quế đon đả bước những bước chân nặng trịch tới sát bên miệng chiếc chum số một, thò chiếc cổ ngẳng ra, dòm trừng trừng vào lớp tương vàng óng sánh mịn như nhung, hai cánh mũi phập phồng hít lấy hít để:
"Khéo tay thật đấy chứ chẳng đùa! Đúng là cốt cách cháu gái dòng họ Diệp nhà chúng ta có khác, làm cái gì cũng ra trò! Con bé Tiểu Mãn này từ lúc bé tí đã nhanh nhẹn, tháo vát, mẻ tương đầu mùa khó làm thế này mà ngấu men đẹp mắt thế kia thì khắp cả cái tổng Thanh Khê này làm gì có ai bì kịp!"
Nói đoạn, Chu Kim Quế chẳng thèm đợi ai lên tiếng mời mọc, mụ vung mạnh chiếc âu sành to đùng đoàng trong tay lên, chìa thẳng ra ngay trước mặt Tiểu Mãn, giọng điệu lập tức chuyển sang vẻ tự nhiên, sỗ sàng như thể đó là điều hiển nhiên của trời đất:
"Tiểu Mãn này, bác dâu sang đây trước hết là để chúc mừng mẻ tương của cháu gái thành công rực rỡ, sau nữa là cũng muốn xin một âu tương đầy đặn mang về nhà! Đấy, cháu xem, thằng Văn Long nhà bác mấy hôm nay cắm đầu dùi mài kinh sử ôn thi mệt mỏi quá, người gầy rộc đi, cơm nước chẳng buồn nuốt, lại thêm đứa cháu gái đầu lòng của bác vừa mới cai sữa, đang cần chút tương ngon hảo hạng để quấy bột lấy may! Cháu là chị lớn trong nhà, lại là cháu gái ruột thịt cùng một gốc rễ tổ tiên, mau mau hào phóng múc cho bác một âu đầy có ngọn này về ăn thử lấy thảo nhé! Coi như cháu múc chút lộc đầu chum biếu bác dâu và cháu gái, vừa thơm thảo tình máu mủ, lại vừa lấy hên cho mẻ hàng ngày mai buôn may bán đắt, thuận buồm xuôi gió!"
Lời lẽ trơ trẽn vừa dứt khỏi đầu môi Chu Kim Quế, toàn bộ bầu không khí ấm áp dưới bóng râm chái bếp lập tức đông cứng lại như có một luồng gió lạnh thấu xương vừa quét qua.
Thím Năm và cô Ba Thược đưa mắt nhìn nhau đầy ngao ngán, nụ cười trên môi mấy người phụ nữ đổi công vụt tắt ngấm. Chiếc âu sành mà Chu Kim Quế mang sang to đến mức dị thường, nếu múc cho đầy ắp cái miệng loe ấy thì lượng tương hao hụt phải tương đương với cả chục chiếc hũ nhỏ mà Tiểu Mãn vừa trân trọng biếu tặng nhóm đổi công sau nửa tháng trời đổ mồ hôi sôi nước mắt. Đòi hỏi một lượng hàng hóa lớn đến chừng ấy dưới cái danh nghĩa mỹ miều "xin ăn thử lấy may", rõ ràng là cái thói vòi vĩnh, bòn mót trơ tráo quen thuộc mà nhánh bác cả vẫn thường dùng để ức hiếp, bóc lột gia đình người em thứ ba tàn tật suốt bao năm qua.
Đứng bên khung cửi, bàn tay Lâm Tú Nương khẽ siết chặt lấy con thoi gỗ, sắc mặt bà tái đi vì uất ức nhưng bản tính nhẫn nhục bấy lâu khiến bà ngập ngừng không dám lên tiếng. Trên tấm phản gỗ ngoài hiên, Diệp Thành chống mạnh chiếc gậy tre xuống sàn nhà đánh "cốp" một tiếng khô khốc, lồng ngực ông phập phồng dữ dội, toan mở miệng quát đuổi người chị dâu tham lam, mặt dày mày dạn kia đi. Thế nhưng, trước khi cha mẹ kịp nổi cơn lôi đình, Tiểu Mãn đã khẽ nghiêng đầu sang một bên, trao cho song thân một ánh mắt bình tĩnh và kiên định đến lạ kỳ, ngầm ra hiệu trấn an để mọi việc cho nàng tự tay xử lý.
Nàng quay người lại, đối diện trực tiếp với gương mặt trơ trẽn đang cười giả lả của Chu Kim Quế. Đôi mắt nàng trong veo, sâu thẳm như làn nước mùa thu, tuyệt nhiên không gợn lên một tia bối rối hay e sợ. Khóe môi Tiểu Mãn khẽ cong lên thành một nụ cười hòa nhã, lễ độ và đúng mực theo khuôn phép của một người cháu gái trong họ:
"Bác dâu quá khen rồi ạ. Cháu rất mừng vì mẻ tương mộc mạc của nhà cháu lại được bác và anh Văn Long để mắt tới."
Chu Kim Quế thấy Tiểu Mãn mỉm cười nhã nhặn thì bụng bảo dạ rằng con bé này dẫu sao cũng chỉ là đứa nít ranh chưa ráo máu đầu, vừa thấy người lớn phủ đầu bằng tình nghĩa ruột thịt thì ắt hẳn sẽ mềm lòng khiếp sợ như cha mẹ nó ngày trước. Mụ đắc chí ra mặt, vội vã chìa chiếc âu sành sâu hoắm ra sát sạt mép chiếc chum số một:
"Thế thì còn gì bằng nữa! Mau múc đi cháu gái, nhớ múc cho bác cái lớp tương sánh đặc nhất lắng dưới đáy chum ấy nhé, chứ đừng có vớt lớp nước trong ở trên mặt, tương đáy mới thật sự là tương béo, tương ngon!"
Thế nhưng, bàn tay của Tiểu Mãn không hề với lấy chiếc muôi tre cán dài đang gác bên mép chum. Nàng vươn đôi bàn tay mảnh khảnh nhưng vô cùng rắn rỏi, đón lấy chiếc âu sành nặng trịch từ tay Chu Kim Quế một cách dứt khoát. Xoay người lại, nàng thong thả mang chiếc âu sành đặt ngay ngắn lên mặt chiếc bàn đá—nơi chiếc cân tiểu ly và chiếc cân đòn bằng đồng sáng loáng của nàng đang nằm im lìm bên cạnh cuốn sổ công nhật thẻ tre.
Tiểu Mãn thuần thục nhấc chiếc cân đòn lên, móc chiếc móc sắt sắc nhọn vào quai âu sành, ngón tay đẩy nhẹ quả cân đồng chạy dọc theo những nấc khắc tinh vi trên thân gỗ mun. Nàng chăm chú nhìn vạch thăng bằng, hạ quả cân xuống rồi ngước mắt lên, từ tốn cất lời:
"Bác dâu đã có lòng cất bước sang đây mở hàng lấy may cho cháu gái, cháu nào dám từ chối thịnh tình của bác. Chiếc âu sành này của bác thành rất dày, nặng đúng một cân hai lạng. Nếu múc đầy tương sánh đặc đến tận gờ miệng âu, thì vừa vặn chứa được trọn vẹn bốn cân tương thành phẩm."
Nói xong, nàng ngước mắt nhìn thẳng vào đôi mắt ti hí của Chu Kim Quế, giọng nói rành rọt, âm vang rõ từng tiếng giữa sân:
"Giá tương hảo hạng mẻ đầu này, ngày mai cháu đưa ra chợ phiên Thanh Khê bán với giá mười lăm đồng tiền kẽm một cân. Chỗ người nhà ruột thịt, lại là người mở hàng lấy may đầu tiên, cháu xin phép bớt cho bác hai đồng mỗi cân, chỉ tính tròn mười ba đồng một cân thôi ạ. Bốn cân tương của bác tính ra vị chi là năm mươi hai đồng tiền kẽm. Bác dâu đưa tiền mặt để cháu ghi vào sổ thu chi, rồi cháu sẽ đích thân múc cho bác bốn cân tương sánh đặc nhất dưới đáy chum."
Nụ cười giả lả còn chưa kịp tan hết trên mặt Chu Kim Quế lập tức đông cứng lại. Đôi mắt ti hí vốn kèm nhèm ngấn mỡ của mụ bỗng trợn trừng trừng, khóe miệng giật giật méo xệch vì một nỗi kinh ngạc xen lẫn giận dữ tột cùng. Mụ đứng sững giữa sân như vừa bị giội một gáo nước lạnh buốt giữa trưa hè, chiếc âu sành năm cân ôm khư khư trước ngực chao đảo suýt nữa thì tuột khỏi đôi bàn tay thô ráp.
"Mày... mày nói cái gì thế hả Tiểu Mãn?! Mày tính tiền tao đấy à?!"
Chu Kim Quế the thé cất giọng, tiếng rít the thé như mảnh sắt vụn cào mạnh vào đáy chảo gang, ngón tay trỏ đen đúa chìa thẳng vào chiếc âu sành rồi chỉ xốc vào mặt con bé cháu gái:
"Tao là bác dâu ruột của mày! Thằng Long là anh họ đích tôn của mày! Tao sang xin chút tương ăn thử lấy may cho cháu gái, thế mà mày nỡ lòng nào vác cân ra đòi tiền tao từng đồng từng cắc sao? Mày xem, mấy bà người ngoài kia mày còn biếu không mỗi người một hũ tương to đùng, thế mà với bác dâu ruột thịt mày lại tính toán chi li đến thế hả? Đạo lý họ hàng để đi đâu rồi?!"
Mụ vừa ngoạc mồm lu loa vừa dộng chân bành bạch xuống nền đất nện, hòng dùng cái uy bệ vệ của bề trên cùng giọng điệu cay nghiệt quen thuộc để lấn lướt, ép đứa cháu gái phải chùn bước như bao lần trước đây. Thế nhưng, trước cơn thịnh nộ đùng đùng và những lời trách móc chụp mũ gay gắt của Chu Kim Quế, Tiểu Mãn vẫn đứng vững như cây tùng cắm rễ bên vách đá. Nàng khoanh hai tay trước ngực, vạt áo vải thô đã bạc màu bay nhẹ trong làn gió sớm. Nàng không hề biến sắc, không lùi nửa bước, đôi mắt hạnh đen láy phẳng lặng như mặt nước giếng khơi, nhưng bên dưới đáy sâu lại ánh lên một sự kiên định cứng cỏi khôn cùng.
"Bác dâu nói thế là không hiểu thấu đạo lý rồi ạ."
Tiểu Mãn cất giọng nhẹ nhàng nhưng đanh thép, từng câu từng chữ như lưỡi dao cắt đứt mọi lý lẽ cùn:
"Bốn hũ tương cháu biếu thím Năm, chị Dâu bác Tư, cô Ba và dì Bảy hôm nay là phần thưởng thêm ngoài tiền công nhật cho những người đã thức khuya dậy sớm, đổ mồ hôi sôi nước mắt phụ giúp nhà cháu làm việc suốt nửa tháng qua. Các cô các thím ấy bỏ công bỏ sức lao động chân chính, giữ gìn vệ sinh cho từng nong đậu, che chắn từng hạt muối, họ hoàn toàn xứng đáng được nhận thành quả ấy. Còn bác dâu, những ngày mưa bão nước ngập tới thềm nhà, cháu chạy vạy khắp nơi tìm người cứu chum tương, bác đứng bên kia rào nhìn sang chỉ buông lời mỉa mai, không hề bước chân sang đỡ giúp một hòn đá chèn nắp. Bác không gieo hạt, không tưới nước, không đổ một giọt mồ hôi, vậy cớ sao nay chum tương ngấu chín thơm ngon, bác lại vác chiếc âu năm cân sang đòi hớt tay trên mồ hôi nước mắt của cả gia đình cháu? Đạo lý họ hàng là để đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau lúc hoạn nạn khó khăn, chứ không phải cái bình phong để một người lười biếng ỷ thế ruột thịt sang bòn rút, cướp đoạt công sức của người khác đâu ạ!"
Ánh mắt Tiểu Mãn lướt qua vẻ mặt giận bầm tím của Chu Kim Quế, rồi đưa tay chỉ thẳng vào bốn chiếc chum sành da lươn bóng loáng đang tỏa hương nồng nàn giữa khoảng sân phơi:
"Còn mẻ tương này, xin bác dâu nhớ cho, không phải tự nhiên từ trên trời rơi xuống. Để có được bốn chum tương ngấu men đạt chuẩn này, gia đình cháu đã phải dùng mồ hôi của cha mẹ, công sức của các em để cày cuốc cải tạo từng tấc đất trên gò Cồn Gió trồng đậu xanh, đậu nành. Cháu phải bỏ tiền túi xuống tận bến sông mua từng bao muối biển hảo hạng với giá một trăm bảy mươi đồng, mua đậu nành khô của ông Hứa, rồi lại chịu thiệt hại mất trắng hai chum tương trong trận mưa dầm năm ngày vừa qua. Từng hạt đậu, từng giọt nước trong chum này đều là mồ hôi, nước mắt và vốn liếng đi vay của nhà cháu!"
Tiểu Mãn bước lên nửa bước. Dáng người nàng tuy mảnh dẻo nhỏ nhắn nhưng khí thế bức người, đối diện thẳng tắp với cái nhìn hung hăng nhưng đã bắt đầu lộ vẻ lúng túng của Chu Kim Quế:
"Hơn nữa, tại từ đường họ Diệp hôm giỗ xuân, trước mặt cụ Bảy và Trưởng thôn Phạm Đức Thuận, bản 'Tộc Ước Sinh Kế Khế Thư' đã ghi rõ: Mọi việc kinh tế, buôn bán của chi Ba do cháu toàn quyền quyết định, hạch toán minh bạch để lo trả nợ địa chủ Lương và trả nợ thuốc cho chính bác dâu vào rằm tháng tư tới! Mọi chi phí, vốn liếng cháu đều phải ghi chép vào thẻ tre từng đồng từng chữ, trừ hết chi phí mới ra tiền lãi để thanh toán khế ước. Nếu hôm nay cháu cứ nể tình họ hàng mà múc không cho bác bốn cân tương, ngày mai các chú bác khác trong họ cũng xách âu sang xin ăn thử lấy may, thì đến rằm tháng tư, cháu lấy cái gì để gom đủ một lượng năm tiền bạc trắng trả nốt đợt nợ thứ hai cho bác đây?"
Lời Tiểu Mãn vừa dứt, cả khoảng sân rộng lớn bỗng chốc lặng ngắt như tờ. Chỉ còn tiếng gió lùa qua rặng tre rì rào và mùi men tương ngọt đậm bảng lảng trong không gian.
Những lý lẽ sắc bén, công bằng, rành mạch từng đường đi nước bước của nàng đã chặn đứng hoàn toàn cái miệng lưỡi giảo hoạt của mụ đàn bà chuyên nghề bắt chẹt người nghèo. Đem cả Tộc Ước thiêng liêng lẫn món nợ một lượng năm tiền bạc mà chính Chu Kim Quế đang ngày đêm trông ngóng vào rằm tháng tư ra làm bằng chứng thép, Tiểu Mãn đã khéo léo đẩy mụ vào thế gậy ông đập lưng ông. Nếu mụ cứ cố tình giở thói ngang ngược đòi lấy không bốn cân tương đầy ắp, chẳng khác nào mụ đang tự tay phá hoại nguồn thu của chi Ba, tự mình làm mất đi số bạc trắng mà mụ đang nôn nóng thu hồi về tay.
Những người phụ nữ trong nhóm đổi công đứng quanh sân khẽ liếc mắt nhìn nhau. Thím Năm đặt chiếc gáo dừa xuống thành chậu, hắng giọng một tiếng thật vang rồi mỉm cười nói chen vào, giọng điệu vừa nhẩn nha vừa mỉa mai:
"Bác dâu cả à, con bé Tiểu Mãn nó nói chí phải đấy. Làm ăn buôn bán thì công tư phải phân minh rõ ràng. Cháu nó một thân một mình gánh vác việc lớn, làm lụng vất vả ngày đêm, trên vai lại trĩu nặng nợ nần, bác là bề trên trong họ, thương cháu thì mở hàng trả tiền ủng hộ cho nó lấy cái may cái khước, chứ ai đời bề trên lại xách cái âu to như cái chậu sang đòi ăn không ăn hỏng thế bao giờ!"
"Đúng đấy, bốn cân tương chứ có phải bốn hạt vừng đâu mà bảo là nếm thử!" Cô Ba Thược cầm chiếc khăn lau tay cười khẩy, tiếp lời ngay tắp lự. "Bốn cân tương sánh ngấu men này, mai đem ra chợ phiên khéo người ta tranh nhau mua trong chớp mắt. Bác dâu nhà bác cả ruộng sâu trâu nái, thóc đầy bồ, thiếu thốn gì dăm chục đồng kẽm mà nỡ sang bòn mót của cháu gái ruột thịt đang lúc ngặt nghèo!"
Mặt Chu Kim Quế từ đỏ bừng như gấc chín thoắt cái chuyển sang xám ngoét rồi tím tái lại vì sượng sùng và căm tức. Mụ lúng túng nhìn quanh, chạm phải những ánh mắt khinh bỉ, soi mói của đám đàn bà trong thôn làng. Mụ nhìn chiếc âu sành trơ trọi đặt chỏng chơ trên mặt bàn đá, rồi lại liếc sang những miệng chum tương da lươn màu nâu óng đang bốc khói hương ngào ngạt, hai hàm răng mụ nghiến chặt lại ken két đến phát đau.
Mụ hiểu rõ mười mươi rằng hôm nay mụ không thể nào đem cái danh nghĩa bác dâu bề trên ra để đè bẹp con bé này được nữa. Con ranh con này không còn là đứa trẻ rụt rè khóc thút thít mỗi khi bị mụ mắng mỏ thuở trước; nó đã nắm chắc khế ước trong tay, nói câu nào trúng tim đen câu ấy. Nhưng nếu giờ đây mụ xách chiếc âu không lủi thủi đi về qua ngõ, thì mặt mũi nào mụ nhìn bà con chòm xóm ven bờ mương này nữa? Cái tiếng "đi ăn chực không thành bị đuổi về" sẽ lan khắp thôn chỉ sau nửa buổi sáng.
Hít một hơi thật sâu để nén cơn nghẹn ứ nơi cổ họng, Chu Kim Quế cắn chặt răng, run rẩy thọc bàn tay xương xẩu vào túi áo trong. Mụ lục lọi một hồi lâu rồi móc ra một nắm tiền kẽm cũ kỹ, xỉn màu. Đôi mắt ti hí trợn trừng đếm từng đồng, đếm đi đếm lại ba lần cho đủ năm mươi hai đồng tiền kẽm, đoạn mụ dằn mạnh từng vốc tiền ném cộp một tiếng đanh gọn xuống mặt bàn đá:
"Được! Mày giỏi lắm! Cứ róc rách như dao cạo thế này thì xem mày giàu có đến đâu! Múc đi! Đủ bốn cân, không được thiếu của tao một giọt!"
Tiểu Mãn nhìn những đồng tiền kẽm nằm ngổn ngang trên mặt đá, trên môi nàng chỉ thoáng nở một nụ cười điềm đạm, không hề lộ ra một chút kiêu căng hay đắc ý:
"Cháu cảm ơn bác dâu đã mở hàng lấy may cho mẻ tương mới. Tiền nong phân minh thì tình họ hàng mới bền chặt được ạ. Nhị Hòa, em mang chiếc âu sành này lại đây, múc đúng bốn cân tương đặc dưới đáy chum cho bác."
"Vâng ạ!"
Nhị Hòa phấn khởi đáp lời, cậu bé nhanh nhẹn bước tới bưng lấy chiếc âu sành. Dưới sự chứng kiến chăm chú của cả nhóm đổi công, Nhị Hòa dùng chiếc muôi tre dài cẩn thận khuấy nhẹ lớp tương sóng sánh, múc từng muôi tương mịn màng, màu nâu đỏ óng ánh như mật đổ vào âu. Từng muôi tương trĩu nặng, mùi thơm nồng đượm xộc thẳng vào khứu giác. Khi âu sành đã đầy ngập, Nhị Hòa cẩn thận đặt chiếc âu lên đĩa cân đòn bằng đồng thau, kéo quả cân lướt trên các khấc đồng.
Tiểu Mãn nghiêng người kiểm tra rồi bảo Nhị Hòa giơ cao cán cân lên:
"Mời bác dâu nhìn cho kỹ ạ. Cán cân thăng bằng tăm tắp, đúng bốn cân chẵn, không thiếu của bác dù chỉ nửa thìa."
Chu Kim Quế mặt mày sa sầm như trời sắp giông bão, không thèm nhìn mặt ai cũng chẳng buồn hé răng nói lấy nửa lời. Mụ thô bạo ôm chầm lấy chiếc âu tương nặng trịch, dằn từng bước chân huỳnh huỵch qua rào râm bụt, bóng dáng khuất sau khúc quanh dẫn về nhà trên trong nỗi ấm ức không nói nên lời.
Đợi cho bóng lưng tức tối của mụ bác dâu hoàn toàn biến mất sau rặng tre ngoài ngõ, cả khoảng sân bỗng vỡ òa thành một tràng cười sảng khoái.
"Tiểu Mãn, con bé này cừ thật đấy!" Trần A Lan đập mạnh một bàn tay xuống mặt bàn đá, cười nghiêng ngả đến chảy cả nước mắt. "Từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ, sống ở cái đất Thanh Khê này tôi mới lần đầu tiên thấy mụ Chu Kim Quế phải tự tay móc từng đồng tiền kẽm trong ruột tượng ra mua đồ của người khác mà không bòn rút, cướp giật được nửa hào nào! Nhìn cái mặt mụ lúc ném tiền mà tôi hả hê hết cả ruột gan!"
"Phải thế chứ! Cứ mềm nắn rắn buông thì có ngày mụ ấy sang khuân cả chum tương về nhà mụ ấy chứ chẳng chơi!" Chị Dâu bác Tư cũng gật gù tán thưởng.
Đứng bên khung cửa chái bếp, Lâm Tú Nương khẽ thở phào một hơi nhẹ nhõm, bàn tay gầy gò buông vạt áo mà bà vừa túm chặt vì lo lắng. Nhìn con gái lớn đứng giữa sân, vóc dáng tuy mảnh khảnh nhưng vững chãi như núi đá, ánh mắt bà tràn ngập niềm xúc động và tự hào khôn xiết. Con gái bà đã thực sự trưởng thành rồi; nàng không còn là đứa trẻ chỉ biết cắn răng cam chịu những lời miệt thị bất công ngày nào, mà đã biết dùng lẽ phải, dùng quy củ và sự đàng hoàng để dựng nên một bức tường kiên cố, chở che cho cả mái nhà tranh này.
Không để lỡ dở thời gian, ngay sau khi tiễn Chu Kim Quế, Tiểu Mãn lập tức cùng nhóm đổi công bắt tay vào công đoạn chiết tương vào các hũ nhỏ.
Những chiếc hũ sành da lươn loại nhỏ dung tích một thăng—vốn đã được nàng ngâm rửa kỹ càng bằng nước lá ổi đun sôi để khử sạch tạp chất rồi đem phơi thật khô giòn dưới nắng gắt từ hôm trước—bây giờ được xếp thành từng hàng dài tăm tắp trên phản gỗ. Từng chiếc muôi tre sạch lần lượt múc tương từ bốn chum lớn rót nhẹ nhàng vào miệng hũ. Tương ngấu đặc quánh, khi chảy vào hũ tạo thành từng dòng êm ái, bọt khí li ti vỡ ra tỏa hương thơm ngát.
Sau khi múc đầy ngang cổ hũ, Tiểu Mãn tỉ mỉ đặt lên miệng mỗi hũ một mảnh vỉ nứa mỏng đã vót nhẵn thín, chèn thêm một lớp vải mộc trắng tinh đã giặt sạch phơi khô, rồi dùng những sợi dây cói gai bện chặt quấn ba vòng quanh gờ miệng hũ, thắt nút chữ thập vô cùng chắc chắn. Từng chiếc hũ sành nhỏ nhắn, lớp da lươn màu nâu sẫm bóng bẩy, miệng hũ bịt vải trắng thắt dây cói mộc mạc trông vô cùng sạch sẽ, ngon mắt và tinh tươm.
Ba mươi chiếc hũ sành thành phẩm đầu tiên lần lượt được sắp ngay ngắn vào hai chiếc sọt tre lớn. Bên trong sọt, Nhị Hòa đã khéo léo lót một lớp rơm nếp vàng óng, khô ráo và mềm mại, chèn chặt từng khe hở giữa các thân hũ để khi gánh đi đường xa, dù có dằn xóc thế nào thì các hũ sành cũng không thể va đập vào nhau làm nứt vỡ.
Đêm hôm ấy, cả nhà họ Diệp ngủ một giấc thật sâu trong sự háo hức rộn ràng.
Sáng sớm hôm sau, khi tiếng gà gáy canh tư vừa cất lên lanh lảnh bên sườn đồi Thanh Lĩnh, lớp sương mù dày đặc còn giăng mắc mờ ảo trên mặt nước dòng Khe Thanh, ngọn đèn dầu le lói trong chái bếp nhà họ Diệp đã được thắp sáng.
Tiểu Mãn cùng Nhị Hòa đã tề chỉnh áo quần thô sạch sẽ, búi tóc gọn gàng sau gáy. Lần này, Trần A Lan cũng dậy thật sớm, xách theo một làn mây lớn chứa đầy dưa cải chua bọc túi vải thô có thêu hoa văn xinh xắn để cùng sang nhập bọn.
"Đi thôi nào, ra sớm để chiếm lấy cái chỗ đầu mố cầu đá cho quang đãng!" Trần A Lan phấn khởi thúc giục.
Nhị Hòa khẽ khom người, ghé bờ vai rắn chắc vào chiếc đòn gánh bằng gỗ mít uốn cong lưng tôm. Hai chiếc sọt tre nặng trịch chứa ba mươi hũ tương từ từ nhấc bổng khỏi mặt đất. Nhờ lớp rơm đệm êm ái cùng những bước chân dẻo dai của cậu thiếu niên vùng đồi núi, hai đầu quang gánh chỉ khẽ nhún nhảy nhịp nhàng theo từng nhịp bước mà không hề phát ra một tiếng va chạm lách cách nào.
Ba bóng người rời khỏi con ngõ nhỏ thôn Thanh Khê khi vạn vật vẫn còn chìm trong giấc ngủ chập chờn.
Con đường đất ven sông ẩm ướt hơi sương, cỏ non hai bên đường đẫm những giọt sương mai long lanh như hạt ngọc. Khi mặt trời bắt đầu nhô lên khỏi rặng tre xa xa, rải những tia nắng ấm áp đầu tiên dát vàng lên những mái nhà tranh ven chợ, thì ba chị em cũng vừa vặn đặt chân tới bãi cầu đá chợ phiên Thanh Khê.
Chợ phiên buổi sớm đã rộn rã những âm thanh quen thuộc của vùng quê nghèo: tiếng lợn con ủn ỉn trong rọ tre, tiếng gà vịt quang quác gọi đàn, tiếng bánh xe bò kẽo kẹt nghiến trên sỏi đá, cùng tiếng chào mời, mặc cả í ới vang lên từ khắp các ngả đường.
Tiểu Mãn nhanh chân bước về góc sạp quen thuộc bên chân mố cầu đá—nơi nàng từng bán sạch những mớ cải non mơn mởn và những hũ dưa chua dạo trước. Nàng cùng Trần A Lan trải tấm bạt gai dày dặn, sạch sẽ ra nền đất bằng phẳng. Mười chiếc hũ sành da lươn bóng bẩy được nàng cẩn thận xếp thành một hàng ngang ngay ngắn phía trước mặt sạp, lớp vải mộc trắng thắt dây cói nổi bật trên nền sành nâu sẫm.
Bên cạnh hàng hũ, Tiểu Mãn đặt một chiếc âu nhỏ đựng tương mẫu đặc sánh, cùng một bó que tre vót mỏng, nhẵn nhụi, được rửa sạch và phơi khô tinh tươm để khách đi chợ có thể nếm thử miễn phí.
Chẳng cần nàng phải cất tiếng rao dài, ngay khi Tiểu Mãn vừa khẽ gỡ lớp vải bịt miệng chiếc âu tương mẫu, một luồng hương thơm nồng nàn, ngầy ngậy, đậm đà vị đậu chín hòa quyện với men mốc hoa cau thanh khiết đã lập tức bung tỏa theo làn gió sớm, bao trùm cả một góc bãi chợ ven sông.
Hương thơm ấy khác hẳn thứ mùi ngai ngái, chua loét của những loại tương dấm vội người ta hay gánh đi bán dạo. Đó là cái mùi thơm sâu thẳm, mộc mạc nhưng quyến rũ đến lạ kỳ của hạt đậu đất đồi được nắng gió tôi luyện qua hàng tháng ròng.
"Mùi gì mà thơm ngậy, ngọt lựng thế này nhỉ?" Một bà nội trợ trung niên xách chiếc giỏ tre đi ngang qua lập tức khựng lại, mũi khẽ hít hà, ánh mắt đảo quanh rồi dừng lại ngay nơi sạp hàng của Tiểu Mãn.
"Dạ, tương hạt truyền thống nhà làm đấy thím ơi!" Trần A Lan vốn lanh lợi, vừa thấy khách dừng chân liền đón lời đon đả. Nàng nhanh tay rút một chiếc que tre sạch, chấm nhẹ vào âu tương mẫu rồi đưa tận tay người phụ nữ: "Thím nếm thử một chút xem sao ạ! Tương nhà họ Diệp chúng cháu ủ hoàn toàn bằng đậu nành trồng trên gò Cồn Gió và muối biển sạch, bảo đảm thơm ngon ngọt hậu, nếm không vừa miệng cháu không lấy tiền!"
Người phụ nữ tò mò đón lấy que tre, đưa lên đầu lưỡi nếm thử một giọt nhỏ. Vừa nhấm nháp, đôi mắt bà ta lập tức mở to, ánh lên sự ngạc nhiên tột độ:
"Ối chao ôi! Tương gì mà đậm đà, bùi béo mà lại ngọt hậu sâu đến thế này! Không hề có chút vị chát đắng ở đầu lưỡi, cũng chẳng chua nồng như mấy thứ tương người ta hay bán rong ngoài bến sông! Vị này... vị này hệt như thứ tương tiến vua ngày xưa bà ngoại tôi từng làm cho các quan tri huyện dùng!"
"Dạ, thím sành ăn quá ạ!" Tiểu Mãn tươi cười tiếp lời, giọng nói trong trẻo ấm áp như rót mật vào tai người nghe. "Tương này nhà cháu ủ ròng rã suốt nhiều tuần lễ, phơi nắng lấy sương, hạt đậu ngấu nhừ tan mịn trên đầu lưỡi. Mười lăm đồng một hũ một thăng đầy đặn, đem về chấm ngọn rau muống luộc, kho với cá đồng bến sông hay dầm một bát cà pháo giòn tan thì cả nhà ăn bay nồi cơm thím ạ!"
"Khéo nói quá cơ! Lấy cho tôi hai hũ! Mau gói cho tôi hai hũ không chốc nữa người ta xúm lại tranh mất thì toi!" Người phụ nữ không chút đắn đo, lập tức thọc tay vào túi vải móc ra ba mươi đồng tiền kẽm xếp ngay ngắn lên bạt.
Tiếng trầm trồ khen ngợi cùng mùi hương thơm nức nở đặc trưng nhanh chóng thu hút sự chú ý của đám đông người đi chợ sớm. Những người đi ngang qua đều bất giác dừng bước ngó nghiêng. Nhiều khách quen từng mua dưa cải bọc túi thêu của Tiểu Mãn những phiên trước nhận ra nàng, lập tức chen chân xúm lại:
"Cô bé bán dưa cải hoa cúc hôm nay bán tương à? Cho tôi nếm thử một tí nào!"
"Chà, thơm thật đấy! Này bé con, bán cho tôi một hũ!"
"Tôi lấy ba hũ về biếu ông bà thông gia dưới bến đò!"
"Để phần cho tôi một hũ, trưa nay nhà tôi có đĩa thịt luộc đang thiếu thứ chấm ngon!"
Cứ thế, quầy hàng nhỏ nơi chân mố cầu đá bỗng chốc trở nên náo nhiệt lạ thường. Người này vừa mua xong tấm tắc khen ngon, người kia đã vội chen vào dúi tiền vào tay Tiểu Mãn. Nhị Hòa thoăn thoắt xếp từng hũ tương từ sọt rơm ra sạp, đôi tay Trần A Lan thoăn thoắt đếm tiền kẽm, còn Tiểu Mãn luôn miệng chào hỏi, giải thích cặn kẽ cách bảo quản tương cho từng vị khách.
Giữa lúc đám đông đang chen lấn, một người đàn ông trung niên mặc áo dài vải quyến xanh, dáng vẻ bệ vệ xuất hiện. Nhìn dáng điệu, ai cũng nhận ra đây chính là bác quản bếp của một gia đình giàu có ở xóm Đông trang viên—người từng đích thân ra chợ gom ba mươi mớ cải non của Tiểu Mãn cho tiệc giỗ dạo trước.
Ngửi thấy mùi tương thơm lừng, ông ta rẽ đám đông bước vào, nhìn thấy Tiểu Mãn liền mỉm cười gật đầu:
"Hóa ra là cô bé họ Diệp trồng rau sạch! Hôm nay lại trổ tài làm cả tương hạt à?"
"Dạ, cháu chào bác quản sự!" Tiểu Mãn lễ phép cúi chào, nhanh tay lấy một que tre mới chấm tương mời ông nếm thử. "Hôm nay mẻ tương đầu tiên của nhà cháu ngấu chín, cháu mang ra chợ bán thử, mời bác nếm thử xem tay nghề nhà cháu có làm bác vừa ý không ạ."
Bác quản bếp cẩn thận nhấp thử một chút tương, đôi lông mày rậm khẽ nhướng lên, sau đó gật gù liên tục:
"Tốt! Rất tốt! Đậu ngấu nhuyễn, men dậy mùi thơm ngát, vị mặn vừa phải mà hậu ngọt đượm rất lâu. Nhà trang viên chúng tôi mấy hôm nay đang chuẩn bị mở tiệc mời khách quý từ huyện về, đầu bếp đang lo không tìm đâu ra thứ tương ngon để làm nước chấm thịt dê nướng và cá kho tộ. Mẻ tương này của cháu đúng là cứu nguy cho ta rồi!"
Nói đoạn, ông ta dứt khoát vung tay:
"Bao nhiêu tiền một hũ? Ta lấy trọn mười hũ mang về trang viên ngay bây giờ!"
"Dạ, giá mười lăm đồng một hũ, mười hũ của bác là một trăm năm mươi đồng kẽm ạ!" Tiểu Mãn tươi cười đáp.
Bác quản bếp lập tức rút ra một chuỗi tiền kẽm sáng loáng trao cho Tiểu Mãn, sai người nhà đi theo phụ bê mười hũ tương cẩn thận đặt vào đôi quang gánh của trang viên rồi rảo bước ra về.
Ở phía xa xa, dưới bóng cây đa cổ thụ râm mát, Ngô Quế Hoa ngồi ủ rũ bên sạp rau muống héo queo, ế ẩm không một bóng người hỏi han. Mụ trừng trừng nhìn về phía mố cầu đá, thấy người mua vây quanh sạp của Tiểu Mãn đông như trẩy hội, tiền kẽm đổ vào túi vải của nàng kêu leng keng không dứt, mà hai mắt mụ đỏ hoe vì ghen ăn tức ở. Mụ bặm môi, nghiến răng ken két, nhưng nhớ lại bài học bị Trưởng thôn Phạm Đức Thuận phạt cảnh cáo và dọa đuổi khỏi chợ phiên lần trước, mụ chỉ đành nuốt cục tức nghẹn đắng vào trong họng, không dám hó hé lấy nửa lời.
Chỉ trong chưa đầy một canh giờ của buổi chợ sớm, toàn bộ ba mươi hũ tương mà chị em Tiểu Mãn mang theo đã được bán sạch bách không còn sót lại một giọt.
Nhiều người đi chợ muộn, chen chân mãi mới vào đến nơi thì chỉ còn thấy chiếc sọt tre trống trơn lót rơm vàng. Họ tiếc ngơ tiếc ngẩn, có bà cụ nắm lấy tay Tiểu Mãn dặn đi dặn lại:
"Bé con ơi, phiên sau ngày kia cháu nhất định phải mang nhiều tương hơn nhé! Nhớ phần cho bà hai hũ, bà để dành tiền chờ cháu đấy!"
"Dạ, bà yên tâm ạ, phiên chợ tới cháu sẽ mang thêm thật nhiều tương ngon ra phục vụ bà con!" Tiểu Mãn lễ phép đáp lời, trong lòng rộn rã một niềm vui sướng khôn tả.
Đến phiên chợ thứ hai diễn ra vào hai ngày sau đó, Tiểu Mãn quyết định nâng số lượng lên. Nàng huy động Nhị Hòa gánh một gánh nặng trịch gồm bốn mươi hũ sành da lươn thẳng tiến ra bãi cầu đá.
Đúng như nàng dự đoán, danh tiếng mẻ tương hảo hạng của nhà họ Diệp đã lan truyền khắp thôn trên xóm dưới. Vừa đặt gánh xuống mố cầu, khách mua đã lập tức vây kín. Nàng nhanh chóng bán lẻ được hai mươi hũ với giá mười lăm đồng một hũ cho những người đã đặt trước và khách vãng lai.
Thế nhưng, điều bất ngờ lớn nhất của phiên chợ này lại đến từ sự xuất hiện của hai người đàn ông lạ mặt. Họ mặc áo ngắn thắt đai vải gai, dáng dấp phong trần, nước da ngăm đen vì sương gió bến sông—đó là hai thương lái chuyên thu gom hàng khô và gia vị bằng thuyền buôn ở bến sông bãi Hạ.
Nhận thấy đám đông xúm xít quanh sạp hàng, hai người thương lái tò mò tiến lại gần. Một người dùng ngón tay chấm thử một giọt tương đưa lên miệng nếm, người kia cúi sát mũi ngửi mùi men mốc hoa cau tỏa ra từ miệng chiếc hũ mẫu.
Sau một thoáng thì thầm trao đổi, người thương lái lớn tuổi ngẩng đầu nhìn Tiểu Mãn, ánh mắt sắc sảo của dân buôn đường dài khẽ sáng lên:
"Này cháu gái, tương này chất lượng vượt trội hẳn những thứ hàng xén quanh vùng này đấy. Màu sắc nâu óng đẹp mắt, hạt đậu ngấu tơi xốp mà không bị chua gắt, chở thuyền đường dài vài ngày chắc chắn không sợ bị hỏng men. Hai mươi hũ còn lại trong sọt này, chúng ta muốn mua đứt toàn bộ để chở thuyền sang tiêu thụ tại các làng nghề bên kia sông. Nhưng mua buôn số lượng nhiều một lúc, cháu có bớt giá cho chúng ta được không?"
Tiểu Mãn khẽ mỉm cười, ánh mắt nàng toát lên vẻ chững chạc, nhạy bén của một người làm ăn từng trải:
"Dạ thưa hai chú, tương nhà cháu làm hoàn toàn bằng thủ công, nguyên liệu chọn lọc kỹ càng, bán lẻ mười lăm đồng người ta tranh nhau mua không đủ hàng. Nhưng hai chú là thuyền buôn đường xa, lấy số lượng lớn mở đường cho hàng của cháu đi xa, cháu xin phép để lại cho hai chú với giá sỉ hữu nghị là mười ba đồng một hũ. Hai mươi hũ tròn hai trăm sáu mươi đồng tiền kẽm ạ."
Hai người thương lái nhìn nhau gật đầu hài lòng trước cách ứng xử rành mạch, dứt khoát của cô gái nhỏ:
"Được! Giá đó rất hợp lý! Mau đóng gói cẩn thận cho chúng ta chuyển xuống thuyền!"
Thế là, chỉ sau hai phiên chợ liên tiếp trôi qua nhanh như một giấc mộng ngắn ngủi, toàn bộ bảy mươi hũ tương thành phẩm của mẻ tương đầu tiên đã được bán sạch nhẵn không còn một hũ nào.
Chiều tà ngày phiên chợ thứ hai, ánh hoàng hôn đỏ ối rải những vạt nắng vàng muộn màng trên con đường đất dẫn về thôn Thanh Khê. Ba chị em Tiểu Mãn cùng Trần A Lan gánh hai chiếc sọt rỗng nhẹ tênh trên vai, bước chân thoăn thoắt trở về nhà trong tiếng cười nói rộn rã râm ran cả một khúc đường quê.
Khi bóng hoàng hôn buông xuống chái bếp, gió chiều thổi hiu hiu qua rặng chuối sau nhà, cả gia đình họ Diệp lại quây quần bên chiếc bàn đá quen thuộc nơi góc sân.
Tạ Cảnh—chàng thư sinh sau giờ dạy học cho đám trẻ trong thôn—cũng vừa hay ghé sang chơi. Nhìn thấy những xâu tiền kẽm nặng trịch được trút ra mặt bàn đá kêu leng keng vui tai, Tạ Cảnh mỉm cười ngồi xuống bên cạnh Tiểu Mãn. Chàng trải một dải lụa mỏng cùng mấy thẻ tre phẳng phiu ra bàn, cẩn thận chấm chiếc bút lông thỏ vào nghiên mực đen láy, chiếc bàn tính gỗ gõ đặt ngay ngắn bên tay phải.
"Nào, Tiểu Mãn cô nương, nàng đọc đi, ta sẽ giúp nàng đối chiếu và ghi chép lại toàn bộ sổ sách thu chi cho mẻ tương này." Tạ Cảnh dịu dàng nói, ánh mắt ánh lên vẻ ấm áp và khích lệ.
Tiểu Mãn lấy những thẻ tre ghi nhớ vạch sẵn từ trong túi áo ra, rành rọt đọc từng khoản mục:
"Tổng cộng qua hai phiên chợ, chúng ta đã xuất bán được bảy mươi hũ tương thành phẩm: Ba mươi hũ của phiên chợ đầu bán lẻ giá mười lăm đồng, thu về bốn trăm năm mươi đồng tiền kẽm. Hai mươi hũ của phiên chợ sau bán lẻ thu về ba trăm đồng. Hai mươi hũ bán sỉ cho hai chú thương lái bến sông với giá mười ba đồng, thu về hai trăm sáu mươi đồng. Lại cộng thêm năm mươi hai đồng tiền bán bốn cân tương đặc cho bác dâu Chu Kim Quế hôm mở chum... Tổng số tiền thu về từ mẻ tương này là một nghìn không trăm sáu mươi hai đồng tiền kẽm!"
Những ngón tay thon dài của Tạ Cảnh thoăn thoắt gảy lách cách trên các hạt bàn tính gỗ gõ, tiếng gỗ va vào nhau giòn giã như một điệu nhạc vui tai:
"Một nghìn không trăm sáu mươi hai đồng tiền kẽm doanh thu, hoàn toàn chuẩn xác." Tạ Cảnh ngẩng đầu nhìn nàng, nụ cười rạng rỡ. "Bây giờ đến phần chi phí vốn liếng đã bỏ ra."
"Chi phí gồm có:" Tiểu Mãn tiếp tục đếm trên đầu ngón tay, "Tiền mua muối hạt biển sạch dưới bến sông hết một trăm bảy mươi đồng; tiền đặt cọc và mua đậu nành khô của ông Hứa hết một trăm đồng; tiền trả công nhật cho nhóm đổi công bốn người trong nửa tháng qua hết một trăm chín mươi tám đồng; tiền mua vỏ hũ sành loại nhỏ hết sáu mươi đồng... Sau khi trừ hết toàn bộ các khoản chi phí vốn liếng, nguyên vật liệu và tính cả phần bù trừ tổn thất của hai chiếc chum tương bị hỏng trong đợt mưa dầm năm ngày trước..."
Tạ Cảnh gạt mạnh thanh ngang bàn tính, ghi một nét chữ mực đen nhánh, sắc sảo lên thẻ tre, giọng chàng vang lên đầy thán phục:
"Sau khi khấu trừ tất cả, mẻ tương đầu tiên này mang lại cho gia đình nàng một khoản lãi ròng là năm trăm ba mươi tư đồng tiền kẽm!"
"Năm trăm ba mươi tư đồng tiền kẽm lãi ròng ư?!"
Diệp Thành ngồi trên chiếc ghế mây bên cạnh, nghe con số ấy mà đôi bàn tay thô ráp run rẩy đánh rơi cả chiếc điếu cày xuống đất. Lâm Tú Nương thì ôm chặt lấy ngực, nước mắt xúc động trào ra nơi khóe mắt nhăn nheo, nghẹn ngào không thốt nên lời.
Năm trăm ba mươi tư đồng tiền kẽm! Đối với một gia đình nông dân nghèo khó quanh năm chỉ biết cúi mặt xuống đất trông vào mấy luống khoai củ sắn, chắt bóp từng cắc từng đồng thì đây là một khoản tiền khổng lồ ngoài sức tưởng tượng. Số tiền này vượt xa toàn bộ thu nhập từ việc bán rau tươi của cả gia đình gom góp ròng rã suốt cả vụ đông năm ngoái cộng lại!
"Hoan hô! Nhà mình có nhiều tiền rồi!"
Nhị Hòa và Tam Nha không kìm được niềm sung sướng, nắm lấy tay cậu bé Tiểu Đậu reo hò ầm ĩ, nhảy múa quanh chiếc bàn đá khiến không khí gian nhà tranh rộn rã như ngày hội lớn.
Thế nhưng, giữa khung cảnh hân hoan, rạng rỡ của cả gia đình, Tiểu Mãn lại chậm rãi bước ra mép sân, khẽ tựa lưng vào gốc cây mận già. Ánh mắt nàng trầm ngâm nhìn về phía con đường mòn dẫn ra bờ sông.
Nàng nhìn những đồng tiền kẽm xâu lạt nằm ngay ngắn trên bàn đá, rồi lại đưa mắt nhìn bốn chiếc chum sành da lươn giữa sân giờ đây đã vơi đi hơn một nửa. Trong lòng nàng không hề có sự tự mãn của một kẻ vừa thắng trận đầu. Trái lại, một nỗi trăn trở sâu xa đang cuộn trào trong tâm trí nàng.
Nàng nhận thức rất rõ một thực tế nghiệt ngã: Chợ phiên Thanh Khê suy cho cùng cũng chỉ là một ngôi chợ nhỏ nghèo nàn của một vùng nông thôn hẻo lánh. Sức mua của người dân trong thôn có hạn, đời sống ai nấy đều chật vật. Một hũ tương một thăng mua về, một gia đình nông dân có thể ăn dè sẻn, chấm mút ròng rã suốt cả tháng trời mới hết. Sau hai phiên chợ gây sốt ban đầu, nhu cầu tiêu thụ tại chỗ này chắc chắn sẽ nhanh chóng bão hòa. Những phiên tới, số lượng bán ra sẽ giảm dần đều.
Mà mục tiêu lớn nhất của nàng không chỉ dừng lại ở vài trăm đồng tiền kẽm để đong gạo qua ngày. Nàng phải gom đủ một lượng năm tiền bạc trắng trả dứt nợ thuốc cho Chu Kim Quế vào rằm tháng tư, và trên hết là gom đủ mười lăm lượng bạc trắng nguyên bảo để trả đứt món nợ gốc cho địa chủ Lương vào rằm tháng mười tới, nhằm chuộc lại mảnh đất hương hỏa của gia đình.
Nếu chỉ quanh quẩn mãi bên bờ lũy tre làng, bên góc mố cầu đá chật hẹp của chợ Thanh Khê, thì dù có vắt kiệt sức lực nàng cũng không bao giờ có thể tạo nên sự bứt phá để tích lũy đủ số bạc khổng lồ ấy.
Nàng cần một thị trường lớn hơn nhiều lần. Nàng cần tìm đến những nơi có những tửu lầu sang trọng, những quán ăn đông đúc, những bến thuyền buôn tấp nập ngày đêm có tàu bè ngược xuôi, và những thương gia giàu có sẵn sàng mở hầu bao chi trả giá cao cho thứ tương sạch, nguyên chất và hảo hạng này.
Tiểu Mãn bước từng bước chậm rãi ra tận cổng ngõ rào tre. Nàng phóng tầm mắt nhìn qua những dải sương chiều đang dần buông lững lờ trên những cánh đồng lúa xanh ngút ngát, nhìn về phía con đường thiên lý chạy dài thăm thẳm về hướng tây.
Nơi cuối con đường thiên lý ấy chính là Trấn Liễu Kiều—một thị trấn buôn bán sầm uất bậc nhất của cả vùng, nơi hội tụ đủ mọi phường buôn, bến cảng và những tửu lầu tráng lệ.
Đôi bàn tay nhỏ nhắn của nàng khẽ siết chặt chiếc đòn gánh gỗ mít cong lưng tôm đang dựng bên vách rào. Ánh mắt kiên định, rực sáng của nàng phản chiếu ráng chiều hoàng hôn đang bùng cháy rực rỡ nơi chân trời xa.
Đã đến lúc nàng phải vươn xa hơn.