Tiểu Thôn Nương Làm GiàuC.17 / 45
Chương 17

Cơn mưa dầm thử thách sân phơi tương

Tiếng sấm rền vang rách toạc chân trời phía tây, kéo theo một màn mưa xối xả đập liên hồi xuống những mái ngói rêu phong cũ kỹ và khoảng sân đất vừa mới được dọn dẹp phong quang để bày kín chum vại.

Gió thốc qua rặng tre ngà sau bờ dậu rít lên từng hồi ken két, uốn cong những ngọn tre cong vút như muốn quật rạp chúng xuống bùn lầy. Từng luồng gió xoáy cuốn theo những đám lá khô mục, cành xoan gãy vụn bay rào rào trong không trung rồi dập thẳng xuống nền đất nhão nhoét. Cơn mưa rào đầu thu thoạt tiên đổ ập xuống dữ dội như ai trút hàng ngàn chum nước từ trên cao, khiến khoảnh sân đất nện nhà họ Diệp bỗng chốc loang lổ những vũng nước đục ngầu, sủi bọt trắng xóa. Thế nhưng, điều khiến lòng người thắt lại không phải là một cơn mưa rào sấm sét ào ạt rồi chóng vánh tạnh ráo, mà chỉ sau nửa canh giờ cuồng phong gầm rú, bầu trời xứ Thanh Khê chẳng hề hé ra lấy một tia sáng nào dù là mỏng manh nhất.

Những đám mây xám chì nặng trĩu hơi nước từ phía ngọn núi Thanh Lĩnh sừng sững cứ tầng tầng lớp lớp cuộn tới, trườn xuống thung lũng, là là sát ngọn cau, biến trận mưa rào trái mùa ban đầu thành một đợt mưa dầm dề, dai dẳng và xám xịt. Hơi nước lạnh buốt bốc lên mù mịt từ khắp các ngõ ngách, mái rạ, bờ rào dâm bụt, chẳng mấy chốc đã phủ kín không gian một lớp sương mù ẩm đục và ảm đạm. Đất trong thôn Thanh Khê vốn là thứ đất thịt pha sét màu mỡ khi khô ráo, nhưng một khi đã gặp mưa ngâm lâu ngày liền trương phềnh lên, dẻo quánh và trơn tuột như bôi mỡ dưới từng bước chân. Không khí cuối thu trở nên lạnh ngắt và ẩm sì, thứ ẩm ướt nhớp nháp luồn lách qua từng khe cửa liếp, bám chặt vào từng thớ vách đất trát rơm, rồi ngưng tụ thành từng hạt nước to tròn, li ti đọng trĩu trịt trên những chiếc xà tre hun khói trong nhà.

Tiểu Mãn đứng chôn chân dưới mái hiên hẹp, hai bàn tay siết chặt lấy mép cột gỗ tạp, nhìn màn mưa dày đặc giăng trắng xóa ngoài sân mà tim thắt lại từng cơn.

Sáu chiếc chum sành da lươn tráng men màu cánh gián đậm—vốn liếng lớn nhất, niềm hy vọng gom góp bao mồ hôi nước mắt của cả gia đình cho mẻ tương đậu non vừa mới vào nước muối hồi đầu giờ chiều—đang nằm trơ trọi giữa trời đất mịt mùng nước xối. Từng hạt đậu nành trên đất gò Cồn Gió đã được chọn lọc kỹ càng, hạt nào hạt nấy tròn mẩy như mắt chim phượng, trải qua bao công đoạn phơi sấy, sàng sẩy, rồi đồ chín ngậm sáp bằng chõ gỗ mít suốt hai canh giờ rưỡi. Đậu ủ trên nia rơm lót lá chuối hơ lửa đã lên đều một lớp mốc hoa cau óng ả, ngả màu vàng lục tơ non mịn màng như phấn bướm. Nước muối biển thô rang khô trên chảo gang để trừ bớt vị chát, đun sôi kỹ rồi lắng trong để nguội cũng vừa được hòa trọn vẹn vào chum theo đúng tỷ lệ vàng mà tổ tiên truyền lại.

Đây chính là thời khắc hệ trọng nhất, khi men tương bắt đầu ngấu giai đoạn đầu, chuyển hóa những hạt đậu nành thành chất đạm ngọt ngào và dậy hương. Nhưng cũng chính vào lúc này, men non mỏng manh lại kỵ nhất là nước mưa sống chưa qua đun nấu cùng hơi ẩm tạp khuẩn từ trời cao rơi xuống. Chỉ cần một ngụm nước mưa từ mái gianh, từ ngọn cây chuối hay từ rào rậm rỏ xuống, lọt qua mép miệng chum, bao nhiêu công sức thức khuya dậy sớm, bao nhiêu đùm muối hạt biển tinh khiết sẽ tan thành mây khói, biến mẻ tương non thành một vũng nước chua ủng hôi thối.

"A Lan! Mau, khiêng mấy tấm bạt tre dưới chái bếp ra đây! Nhanh lên kẻo không kịp!" Tiểu Mãn vội vã giật lấy chiếc nón tơi đan bằng lá cọ treo trên vách hiên khoác tạm lên vai, thắt chặt dải yếm gai ngang lưng rồi quay đầu gọi giật giọng vào chái bếp.

Từ trong chái bếp tối lờ mờ sực mùi tro ẩm, Trần A Lan đã xắn cao hai ống quần vải thô quá đầu gối, đầu đội chiếc nón mê rách tơi bời ở mép vành, hai tay ôm ghì lấy một chồng vỉ tre đan dày cộp chạy vụt ra hiên. Gương mặt tròn trĩnh của cô nàng ướt đẫm nước mưa lẫn mồ hôi hột, hai bắp chân lấm lem bùn đất, nhưng trong đôi mắt mở to ấy lại tràn ngập vẻ sốt sắng, hốt hoảng chẳng kém gì Tiểu Mãn.

"Tao mang ra hết đây rồi! Còn cả mấy cuộn dây gai se chặt với đống rơm nếp khô nữa, bác gái để dành trên gác bếp hôm trước hun khói kỹ nên vẫn khô roong, tao gom cả một ôm lớn đây!" A Lan vừa thở hổn hển vừa đặt xịch bó vỉ tre xuống thềm gạch, tiếng thở dốc hòa cùng tiếng mưa gầm réo rắt bên tai.

Ngay lúc đó, tiếng gậy gỗ gõ lộc cộc, nặng nề trên nền đất nện vang lên vội vã từ phía gian nhà giữa.

Diệp Thành một tay chống chiếc gậy gỗ mít mòn vẹt, một tay ôm tấm ván gỗ tạp dày cộp bước khập khiễng ra cửa. Dù khớp gối bên chân bị thương sau đợt uống thuốc bắc của thầy lang Triệu đã bớt sưng buốt, vết rách cũ đã kéo da non, nhưng cứ mỗi bận gặp tiết trời mưa dầm ẩm lạnh gió bấc thế này, từng thớ gân thớ thịt của ông vẫn giật lên từng cơn đau nhức buốt thấu tận tủy xương. Gương mặt người cha sạm đen vì gió sương đồng bãi, gầy hóp hai bên má, lúc này hằn rõ vẻ lo lắng tột cùng:

"Tiểu Mãn, để cha phụ một tay! Mưa này cha nhìn sắc trời là biết không phải mưa dạo đầu mùa đâu con ơi, gió bấc mé sườn núi Thanh Lĩnh đưa nước về ngâm lâu lắm đấy. Trời này khéo phải dầm dề năm bảy ngày chưa chắc đã ráo! Phải che thật dày, lót rơm nếp thật chặt thì nước mới không ngấm qua khe miệng vại được!"

"Cha! Không được đâu cha! Chân cha vừa mới bớt buốt, mưa gió quất rát thế này, đất ngoài sân trơn tuột như bôi mỡ, cha bước ra là trượt ngã thì vết thương lại toác ra mất!" Tiểu Mãn vội vã kêu lên, ánh mắt đầy xót xa ngăn cản. "Cha cứ đứng vững trên thềm gạch đưa đồ cho chúng con thôi! Nhị Hòa với A Lan cùng con làm là được rồi!"

"Được, nghe con, nhưng việc kê kích, chèn nắp phải làm cho thật cẩn thận, hạt mưa sống nó sắc lắm, khe hở bằng sợi tóc nó cũng luồn vào được đấy!" Diệp Thành sốt ruột gật đầu, nhưng vẫn cương quyết đứng ngay mép thềm hiên, hai bàn tay thô ráp chai sần liên tục với lấy từng đoạn tre, từng bó rơm nếp khô thơm mùi nắng cũ chuyển xuống sân cho các con.

Lâm Tú Nương từ trong buồng bước vội ra, hai tay ôm ghì lấy một rổ giẻ sạch bằng vải mộc đã giặt khô cùng những mảnh vải thô còn thừa sau đợt cắt may túi đựng dưa hôm nọ. Đôi mắt bà đỏ hoe vì lo lắng, bờ môi run rẩy không thốt nên lời. Nhị Hòa thì nhanh thoăn thoắt chạy tót ra sau chuồng gà, lôi về mấy thanh gỗ mít xẻ dở mà cậu đẽo cán đòn gánh bữa trước, tiếng chân dẫm bồm bộp trên đất bùn.

Mưa mỗi lúc một thêm nặng hạt, từng giọt nước lạnh buốt quất rát rạt vào mặt, vào cổ như kim châm.

Tiểu Mãn cùng A Lan không chần chừ thêm một khắc nào, đồng loạt lao thẳng ra giữa sân. Lớp bùn đất lạnh ngắt lập tức luồn qua kẽ ngón chân, dính dấp và trơn trượt. Ba bóng người nhỏ bé—Tiểu Mãn, A Lan và Nhị Hòa—nhanh chóng chia nhau ra trấn giữ từng chiếc chum sành da lươn đang run rẩy dưới làn mưa xối.

Từng lời chỉ dạy tỉ mỉ, từng động tác che đậy chum tương non trong ngày mưa bão của bà ngoại Lâm Thu Bà năm xưa lập tức hiện rõ mồn một trong tâm trí Tiểu Mãn, sống động và chuẩn xác đến từng chi tiết nhỏ nhất. Nàng vừa dùng sức giữ chặt nẹp tre, vừa ghé sát tai hai người em mà lớn tiếng dặn dò giữa tiếng mưa gầm:

"A Lan, Nhị Hòa, hai đứa nghe chị dặn cho kỹ! Trước tiên lấy mảnh vải sạch này, lau thật kiệt từng giọt nước đọng quanh vành gờ miệng chum, tuyệt đối không được để một giọt nước mưa sống nào dính vào mép sành! Lau xong mặt ngoài, mới được khẽ nâng nắp sành lên đặt nẹp vải mộc trùm kín cổ chum, rồi mới quấn rơm khô ra bên ngoài! Rơm nếp phải bện thành từng vành tròn bện ba, chèn thật khít dưới gờ nắp để hứng nước tạt men theo thành vò, cuối cùng mới úp nón lá hoặc phủ bạt tre đan lên trên cùng!"

"Em nhớ rồi chị Cả!" Nhị Hòa quỳ hẳn một bên gối xuống nền đất nhão để lấy thế, đôi bàn tay của thiếu niên mười bốn tuổi dạn dày sương gió thoăn thoắt dùng giẻ sạch vuốt khô từng giọt nước mưa đang chực chảy men theo gờ sành bóng láng. Cậu cẩn thận bện những túm rơm nếp khô vàng óng, quấn chặt lấy cổ chiếc chum thứ nhất, rồi dùng dây gai buộc chằng chịt nhiều vòng như người ta bó giò ngày Tết.

A Lan phụ trách giữ chặt tấm bạt tre đan dày cộp, hai tay ghì chặt xuống bốn phía thân chum để Tiểu Mãn dùng dây thừng gai siết vòng quanh eo vại, thắt những nút kép chắc nịch không thể xê dịch. Trên mặt nắp mỗi chiếc chum, theo lời Diệp Thành hướng dẫn từ trên hiên, Nhị Hòa khiêng những tấm ván gỗ mộc bản rộng đặt ngang qua, rồi dằn lên trên cùng hai viên đá cuội nặng chịch nhặt từ lòng Khe Thanh, giữ cho nắp chum vững như bàn thạch để phòng cuồng phong giật tung.

Gió lạnh quất từng đợt ràn rạt, chiếc nón tơi lá cọ trên lưng Tiểu Mãn rung bần bật từng chập theo từng cơn gió giật. Nước mưa buốt giá chảy dài từ trán xuống cằm, thấm ướt sũng vạt áo vải thô chàm đã bạc màu, dán chặt vào da thịt nàng lạnh ngắt. Cả gương mặt nàng tê dại đi vì gió lạnh đầu thu, nhưng đôi mắt Tiểu Mãn vẫn sáng quắc, chăm chú rà soát từng đường buộc, từng nút thắt.

Chỉ khi nhìn thấy từng chiếc chum sành được bọc kỹ càng nhiều lớp, tựa như những người lính mặc áo giáp rơm rạ kiên cường đứng sừng sững giữa sân bùn, nàng mới khẽ trút ra một hơi thở dài mệt nhọc nhưng đôi phần an tâm.

Sáu chiếc chum được bố trí thành hai cụm: bốn chiếc kê ngay ngắn trên những phiến đá xanh phẳng phiu ở chính giữa khoảng sân nện cao ráo, nơi thoáng đãng nhất để đón trọn gió lành bốn phương; riêng hai chiếc mé bờ rào râm bụt phía tây do diện tích sân chật hẹp, lại vướng đống củi gỗ mít tích trữ của Diệp Thành, nên buộc phải kê sát mép đất, hơi gần với rãnh thoát nước tạm thời chảy ra vườn.

Tiểu Mãn nhìn dòng nước mưa từ bờ rào dâm bụt đang bắt đầu dâng lên sền sệt, trong lòng vẫn thấy gợn lên một mối bất an khó tả. Nàng liền cầm lấy chiếc cuốc cùn đặt bên chái hiên, bất chấp bùn bắn tung tóe lên mặt, cong lưng kéo thêm một đường rãnh sâu hoắm men theo chân tường đất, dẫn dòng nước mưa dồn hết về phía mương thoát nước vườn rau phía sau, quyết không để nước đọng ngập đến chân đế của hai chiếc chum ngoài rìa.

Đến khi cả ba đứa trẻ lấm lem bùn đất từ đầu đến chân dắt díu nhau bước lên thềm hiên, người nào người nấy đã ướt như chuột lột, hàm răng va vào nhau lập cập vì rét mướt. Lâm Tú Nương đã bưng sẵn từ bếp ra một nồi nước gừng già đập giập nấu với đường mía thô, khói bốc lên nghi ngút thơm lừng khắp gian nhà tranh.

"Mau, mau uống bát nước gừng nóng này cho ấm bụng kẻo lại trúng hàn cảm lạnh, các con ơi!" Tú Nương rơm rớm nước mắt xót xa, run run múc từng bát nước gừng màu nâu sẫm, cay nồng trao tận tay Tiểu Mãn, A Lan và Nhị Hòa.

Tiểu Đậu và Tam Nha cầm sẵn những chiếc khăn vải khô chạy ùa lại, đứa thì nhón chân lau những giọt nước mưa ròng ròng trên tóc chị Cả, đứa thì ngồi xổm xuống dùng khăn phủi sạch lớp đất cát dính bết trên ống chân Nhị Hòa. Tiếng cười khúc khích trong trẻo của bầy trẻ nhỏ giữa gian nhà tranh vách đất đơn sơ phần nào xua tan đi sự lạnh lẽo u ám của màn mưa dầm đang đổ xuống trắng trời ngoài kia.

Thế nhưng, đợt thời tiết khắc nghiệt này lại kéo dài dai dẳng hơn bất cứ dự tính nào của những người nông dân lão luyện nhất xứ Thanh Khê.

Một ngày, hai ngày, rồi ba ngày trôi qua, bầu trời phía trên dãy núi Thanh Lĩnh vẫn rền rĩ một màu xám xịt nặng nề như chì đúc. Mưa không còn đổ xuống ầm ầm như thác trút của buổi đầu, mà biến thành một dạng mưa dầm rả rích, buốt giá đến tận xương tủy. Những hạt mưa nhỏ li ti nhưng dày đặc như rây bột, giăng mắc từ sáng sớm tinh mơ cho đến tận đêm khuya thanh vắng, không ngớt một khắc nào.

Không khí trong toàn bộ thôn trang đặc quánh một mùi hơi ẩm ngai ngái của rơm rạ mục và đất sét ướt. Những bức tường đất nện trong căn nhà gianh ba gian ẩm ướt đến mức rịn ra những giọt nước nhờn nhợt, sờ vào thấy lạnh buốt như chạm vào tảng đá ngâm đáy giếng. Ngọn đèn dầu lạc thắp lên le lói giữa đêm hôm cũng tỏa ra một làn khói mù mờ khét lẹt, ngọn lửa đỏ quạch vì bấc đèn bị hơi nước xâm nhập. Quần áo giặt giũ xong phơi bên chái hiên ròng rã suốt ba ngày vẫn ẩm sì, sờ vào chỉ thấy lạnh toát và bốc lên mùi ngai ngái chua nồng khó chịu.

Nghề nông nhàn phụ thuộc hoàn toàn vào sắc trời và từng ngọn gió. Chiếc khung cửi gỗ sến của Lâm Tú Nương đặt sát vách gian bếp cũng chịu ảnh hưởng nặng nề; thoi gỗ rít lại không trượt êm trên máng, những sợi bông dệt hút no hơi ẩm trở nên nặng trịch, giòn gãy liên tục khiến bà dệt được vài gang tay lại phải dừng tay nối sợi. Cuối cùng, Diệp Thành phải gom những mẩu than củi sót lại trong lò gốm cũ, đốt một chậu than nhỏ liu riu kê dưới gầm cửi để sấy bớt không khí ẩm đặc quánh quanh chân vợ.

Mỗi một ngày trôi qua trong tiếng mưa rỉ rả là một ngày lòng dạ Tiểu Mãn như có lửa đốt. Nàng ra vào ngóng trông ra sân, nhìn sáu chiếc vò sành trùm rơm xơ xác đứng im lìm dưới làn mưa mịt mùng mà ruột gan quặn thắt. Tương đậu lên men là thứ sống, nó cần hơi ấm của đất, cần khí trời quang đãng, cần nắng sớm để dậy men thơm. Bị giam hãm trong màn mưa dầm lạnh lẽo và ẩm ướt kéo dài thế này, tương rất dễ bị bí khí, độ ấm tụt dốc sẽ khiến quá trình lên men tự nhiên bị đình trệ.

Đến ngày thứ năm của đợt mưa dầm u ám, bầu trời mới bắt đầu có dấu hiệu quang đãng hơn đôi chút. Mưa ngớt hẳn, chỉ còn lại những hạt bụi nước lất phất bay như sương giăng trên cành xoan, gió lạnh thổi từng cơn rười rượi qua những tán lá chuối tiêu rách bươm sau cơn dông bão.

Từ sáng sớm tinh mơ, khi tiếng gà gáy le te đầu thôn vừa cất lên, Tiểu Mãn đã không thể nào nằm yên trên chiếc chõng tre thêm một khắc nào nữa. Nàng bật dậy, thắt lại dải tạp dề bằng vải thô chàm quanh eo. Nàng múc một gáo nước giếng khơi đổ vào nồi đồng nhỏ, thả vào mấy nắm lá ổi khô đã tích trữ từ vụ trước, bắc lên bếp củi đun sôi sùng sục. Chờ cho nước lá ổi ấm lại, Tiểu Mãn tỉ mỉ rửa sạch hai bàn tay từ kẽ ngón cho đến tận cổ tay—đây là thói quen tiệt trùng bất di bất dịch, nghiêm ngặt như một giới luật nhà Phật mà bà ngoại Lâm Thu Bà đã răn dạy nàng từ thuở ấu thơ khi bước chân vào nghề làm men tương.

Rửa tay xong xuôi, nàng cầm theo chiếc gáo tre cán dài đã được trần qua nước sôi bước thoăn thoắt ra thềm hiên.

"Tiểu Mãn, ra kiểm tra chum tương đấy à con?" Diệp Thành đã thức giấc từ lâu, ông ngồi bên bậu cửa gian giữa, tay đang tỉ mẩn dùng dao sắc chuốt lại mấy nan nứa để đan sọt đựng củ đậu, ngước đôi mắt trũng sâu vì mất ngủ nhìn con gái với vẻ bồn chồn lộ rõ.

"Vâng cha, năm ngày mưa ngâm dầm dề rồi, sáng nay trời ngớt hạt hẳn, con phải mở ra xem men tương ngấu thế nào. Nếu tương bị bịt kín, bí khí quá lâu trong tiết trời ẩm lạnh này cũng không tốt, phải tranh thủ lúc gió lặng hé nắp đón chút dương khí cho tương thở," Tiểu Mãn đáp khẽ, giọng nàng tuy giữ vẻ bình tĩnh để cha yên lòng nhưng từng đầu ngón tay đang run rẩy nhẹ. Trong thâm tâm, nàng liên tục thầm cầu khấn trời đất tổ tiên phù hộ cho mẻ đậu đầu mùa này tai qua nạn khỏi.

Đúng lúc đó, cánh cổng tre khẽ kêu cót két, A Lan từ ngoài ngõ bước vào, trên tay bưng một chiếc rổ tre đậy miếng vải nâu, bên trong là mấy củ khoai lang luộc còn nóng hổi bốc khói thơm phức do mẹ cô gửi sang làm bữa lỡ cho cả nhà họ Diệp. Thấy Tiểu Mãn đang đứng bên thềm cầm gáo tre, A Lan liền vội vàng đặt rổ khoai lên chiếc chõng tre trước sân rồi xắn tay áo chạy ùa lại bên cạnh:

"Tao sang phụ mày một tay đây! Trời ơi mấy hôm nay ở nhà tao cứ cồn cào cả ruột gan, đêm nằm nghe tiếng mưa rơi rả rích mà chỉ sợ nước ngấm vào chum thì uổng phí bao nhiêu công sức của chị em mình thức mấy đêm liền nhặt từng hạt đỗ sâu."

"Cảm ơn mày, A Lan. Nào, chúng mình cùng dỡ chum thứ nhất xem sao." Tiểu Mãn gật đầu, hít sâu một hơi để lấy lại sự bình tĩnh.

Hai cô gái bước ra giữa sân nện, bắt đầu cẩn thận nhấc từng viên đá cuội dằn trên nắp chiếc chum thứ nhất ở vị trí trung tâm khoảng sân gạch. Lớp bạt tre đan dày bên ngoài đã ngả sang màu xám xịt vì ngấm nước mưa suốt năm ngày đêm, từng lớp rơm nếp bện quanh cổ chum sũng nước, nặng trĩu tay. Thế nhưng, khi Tiểu Mãn dùng kéo cắt đứt sợi dây gai, khẽ bóc tách lớp rơm nếp ngoài cùng ra, nàng khẽ thở phào một hơi nhẹ nhõm: lớp rơm nếp lót sát thân sành bên trong nhờ có lớp vải mộc ngăn cách nên vẫn khô ráo nguyên vẹn, tỏa ra mùi thơm ngai ngái, ấm áp của rơm mùa gặt mới.

Nàng cẩn thận dùng chiếc khăn khô sạch lau qua viền mép nắp gốm một lần nữa, rồi từ từ nhấc chiếc nắp sành dày nặng ra.

Một làn hơi ấm nhè nhẹ lập tức bốc lên từ lòng chum, mang theo thứ mùi thơm dịu ngọt, mộc mạc đặc trưng của đậu nành lên men hòa quyện cùng vị mằn mặn thuần khiết của muối biển rang khô. Mặt nước tương trong veo, ánh lên một màu vàng hổ phách nhạt dưới ánh sáng ban mai lờ mờ. Những hạt đậu nành phủ lớp mốc hoa cau óng ả đang từ từ trương nở đều đặn, chìm dần xuống đáy chum một cách êm ả, tĩnh lặng. Trên mặt nước tuyệt nhiên không hề có một vệt màng lạ, không có đốm nấm tạp hay bất kỳ một bọt khí sủi tăm độc hại nào.

"Tốt rồi! Tạ ơn trời đất, chum này ngấu đẹp lắm mày ơi!" Tiểu Mãn không giấu nổi niềm vui sướng nghẹn ngào, nụ cười rạng rỡ bừng sáng trên gương mặt thanh tú. Nàng dùng chiếc gáo tre sạch khẽ khuấy một vòng tròn nhẹ nhàng theo chiều kim đồng hồ để kiểm tra độ sệt của đáy chum. Nước tương sánh nhẹ, hạt đậu mềm tơi ra nhưng không hề bị nát vụn. "Men hoa cau giữ nguyên được sắc vàng lục tơ non, nước muối đun kỹ đã hãm được toàn bộ vị chua hoang dại, men đang ngấu rất êm!"

Hai cô gái tiếp tục bước sang chiếc chum thứ hai, thứ ba, rồi chiếc thứ tư—tất cả bốn chiếc chum sành da lươn kê trên các phiến đá xanh cao ráo ở chính giữa sân đều an toàn tuyệt đối sau năm ngày mưa dầm dề khắc nghiệt. Đậu nành bên trong đang bước vào giai đoạn chuyển hóa đạm chậm rãi, mùi thơm ngọt bùi của đậu quyện trong vị mặn mòi của muối biển bắt đầu lan tỏa thoang thoảng khắp góc sân nhà.

Thế nhưng, khi Tiểu Mãn và A Lan bước chân sang mé bờ rào dâm bụt phía tây—nơi đặt hai chiếc chum số năm và số sáu—nụ cười trên gương mặt Tiểu Mãn bỗng chốc tắt ngấm.

Ngay từ khoảnh khắc đầu tiên chạm tay vào lớp bạt tre che ngoài chiếc chum số sáu, Tiểu Mãn đã cảm nhận được một sự ẩm ướt nhớp nháp khác thường. Tấm bạt tre ở đây không chỉ sũng nước mưa đơn thuần mà còn bết chặt lại, dính đầy những mảng bùn đất đỏ quạch bắn lên từ rãnh nước dưới chân bờ rào. Đáng sợ hơn cả, chiếc chum số sáu nằm ngay dưới đường giọt gianh kéo dài từ phần mái hiên chái chuồng gà cơi nới thò ra rào dâm bụt. Suốt năm ngày đêm mưa gió ròng rã, nước mưa từ mái rạ chuồng gà mục nát tích tụ phân chim, bụi bặm đã liên tục nhỏ giọt từng chặp nặng nề xuống mép tấm ván gỗ dằn trên nắp chum. Sức nặng của nước nhỏ giọt cùng độ ẩm ngâm lâu ngày đã khiến tấm ván gỗ tạp bị cong vênh hẳn sang một bên, làm trật một góc vành rơm nếp chèn cổ chum, để lộ ra một khe hở nhỏ chỉ bằng nửa ngón tay út.

Tim Tiểu Mãn đập thình thịch liên hồi trong lồng ngực, một linh cảm chẳng lành dâng lên nghẹn ứ nơi cuống họng khiến nàng khó thở.

Nàng run run đưa tay gỡ lớp rơm bện sũng nước nhờn nhợt ra khỏi cổ chum. Vừa chạm đầu ngón tay vào mép sành, một luồng mùi chua gắt, khé rát xộc thẳng vào mũi nàng, nồng nặc và tanh tưởi đến mức khiến sống mũi cay xè.

"Tiểu Mãn... mùi gì lạ thế này?" A Lan đứng bên cạnh cũng giật mình, sắc mặt biến đổi.

Tiểu Mãn cắn chặt môi, hít một hơi run rẩy rồi dùng sức nhấc chiếc nắp gốm lên.

Chiếc nắp vừa rời khỏi miệng chum, A Lan đứng bên cạnh đã vô thức lùi lại nửa bước, hai tay vội vã đưa lên bịt chặt lấy mũi, miệng bật ra một tiếng thất thanh kinh hãi:

"Ôi trời đất ơi... Tiểu Mãn ơi! Cái này... sao lại ra nông nỗi này?!"

Tiểu Mãn đứng chết trân tại chỗ, đôi mắt mở to bàng hoàng nhìn trừng trừng vào lòng chiếc chum sành số sáu.

Không còn sắc vàng hổ phách trong trẻo, không còn mùi thơm ngọt dịu của đậu nành ủ men hoa cau thuần khiết như bốn chiếc chum trước đó. Mặt nước trong chiếc chum số sáu này đã bị bao phủ hoàn toàn bởi một lớp màng váng mốc hoa xám tro loang lổ, xốp xúp dày cộm như bọt xà phòng bẩn nổi lềnh bềnh trên mặt cống rãnh. Từng mảng mốc xám đục ngầu, nhờn nhợt bám chặt lấy thành sành men lươn, xen lẫn những đốm đen li ti ghê rợn đang phát triển tua tủa như lông tơ loài chuột cống. Mùi chua nồng nặc, khét lẹt và hôi hám bốc lên cuồn cuộn, lấn át hoàn toàn mọi mùi vị của đậu nành và muối biển.

Nước mưa từ giọt gianh mái hiên chuồng gà mang theo uế khí, bụi bẩn và hàng vạn tạp khuẩn hoang dại đã len lỏi qua khe hở của tấm ván cong vênh, rỉ từng giọt liên tục vào bên trong lòng vò suốt năm ngày qua. Lượng nước mưa sống ấy đã làm loãng độ mặn của nước muối biển rang, tạo cơ hội cho các loại nấm mốc tạp độc và men chua hoang dại bùng phát dữ dội, giết chết toàn bộ men mốc hoa cau non nớt, biến cả vò tương đậu thành một ổ tạp dịch chua ủng.

Chưa kịp hoàn hồn sau cú sốc, Tiểu Mãn luống cuống quay sang lật tiếp chiếc nắp của chum số năm đặt sát cạnh đó.

Tình hình chiếc số năm tuy không đến mức đen đặc như chum số sáu, nhưng trên mặt nước cũng đã kết thành những vệt màng mốc mỏng màu xám xịt như da rắn lột. Toàn bộ nước tương chuyển sang màu trắng đục lờ lờ như nước vo gạo ngâm thiu, từng hạt đậu nành bên dưới trương phềnh, nổi lềnh bềnh trong thứ mùi rượu chua lên men ủng nồng nặc đến rát cả họng.

Hai chiếc chum sành lớn—tương đương với gần một thạch đậu nành loại một mẩy tròn cùng mấy chục cân muối hạt biển tinh khiết rang tay—đã hoàn toàn bị hủy hoại!

"Sao thế các con? Có chuyện gì ngoài đấy thế hở A Lan, Tiểu Mãn?"

Tiếng gậy gỗ gõ vội vã trên thềm hiên vang lên dồn dập. Diệp Thành nghe tiếng kêu thất thanh của A Lan liền không quản chân đau, chống nạng tất tả bước từng bước khập khiễng xuống sân đất nhão. Lâm Tú Nương từ trong gian bếp cũng hốt hoảng buông rơi chiếc muôi gỗ, chạy ùa ra sân, phía sau là Nhị Hòa và Tam Nha mặt mày ngơ ngác chạy theo mẹ.

Thế nhưng, khi vừa bước tới mé bờ rào dâm bụt, nhìn thấy hai vũng tương nổi váng mốc hoa xám tro xơ xác, bốc lên mùi chua nồng khác thường át cả mùi đất ẩm, sắc mặt của Lâm Tú Nương lập tức trắng bệch không còn một giọt máu. Hai chân bà mềm nhũn ra như sợi bún, cả người lảo đảo suýt ngã quỵ xuống vũng bùn lầy lội, may nhờ Nhị Hòa nhanh tay lao tới ôm chặt lấy cánh tay mẹ.

"Trời cao đất dày ơi... sao lại ra nông nỗi này hở con ơi..." Giọng Tú Nương run rẩy nghẹn ngào, từng giọt nước mắt đục ngầu trào ra từ khóe mắt nhăn nheo, lăn dài trên đôi gò má hốc hác sạm đen. "Bao nhiêu đậu nành mẩy của cả nhà... bao nhiêu công lao của con với các thím trong xóm Cây Gạo suốt mấy tuần lễ... Hai cái chum này là gần hai ngàn bát tương chứ ít ỏi gì đâu trời ơi là trời!"

Diệp Thành đứng sững sờ như pho tượng đá giữa màn sương lạnh. Bàn tay thô ráp của người cha nắm chặt lấy thân gậy gỗ mít đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra, run lên bần bật. Đôi môi thâm sì vì lạnh của ông mím chặt lại thành một đường thẳng tắp, lồng ngực phập phồng dữ dội dưới lớp áo vải thô vá chằng vá đụp. Nỗi đau xót của cải, nỗi bế tắc của một người chủ gia đình nghèo khó đè nặng lên đôi vai còng của ông như đá tảng ngàn cân.

Gia đình ông vừa mới chắt chiu từng đồng tiền bán dưa, bán tương non để trả được một lượng năm tiền bạc nợ thuốc thang cứu mạng ông đợt trước. Thế nhưng trước mắt, hạn nợ địa chủ Lương vào rằm tháng mười với số tiền khổng lồ mười lăm lượng bạc vẫn đang treo lơ lửng trên đầu cả nhà như một lưỡi gươm sắc bén. Mỗi một hạt đậu, mỗi một giọt tương vào thời điểm này đều quý giá tựa như từng giọt máu thịt của cả gia đình, là manh áo manh quần cho bầy con thơ qua mùa đông giá rét, là hy vọng giữ lại mảnh đất mái nhà tranh này khỏi rơi vào tay bọn cường hào.

Nhị Hòa nhìn mặt tương xám ngoét nổi bọt bẩn thỉu mà uất ức đến mức hai mắt đỏ hoe, nước mắt trào ra quanh khóe mi. Cậu thiếu niên mười bốn tuổi vội vàng quỳ sụp xuống bên mép chum sành, ngó đầu nhìn thật sâu vào đáy nước lờ đờ rồi ngước đôi mắt ầng ậng nước nhìn Tiểu Mãn, giọng nói run rẩy, van lơn thiết tha:

"Chị Cả! Chị nhìn kỹ lại xem, cái chum này nước ở tít bên dưới hình như vẫn chưa bị đen hết đâu mà! Hay... hay là mình lấy muôi tre vớt sạch cái lớp váng mốc xám này đi chị? Em vớt thật khéo léo, em vớt sâu xuống hẳn một tấc nước, vớt sạch bong không chừa lại một tí bọt nào! Rồi mình khiêng cả chum bắc lên bếp lửa đun sôi sùng sục lại, đổ thêm thật nhiều muối hạt biển rang mặn chát vào để hãm chua! Dù... dù không đem đi bán ra chợ huyện cho người ta được, thì nhà mình giữ lại ăn dè qua mùa đông giá rét này, chứ đổ đi hết thế này thì... thì xót ruột chết mất chị ơi!"

"Phải đấy Tiểu Mãn à!" Tú Nương nghẹn ngào khóc nấc lên từng hồi, bàn tay gầy guộc chằng chịt vết chai sạn run rẩy túm chặt lấy ống tay áo chàm của con gái cả, run rẩy nài nỉ. "Đậu nành ruộng Cồn Gió vất vả biết bao nhiêu tháng trời cha con với các em mới cuốc xới thu hoạch được từng thúng, muối biển cũng chắt chiu từng đồng tiền kẽm bán dưa mới dám mua về. Người nghèo khó như nhà mình, củ khoai hà củ sắn sượng còn gọt đi luộc ăn tạm cho đỡ đói lòng, tương này hơi chua một tí gạn váng đi đun sôi kỹ lại vẫn chấm ngọn rau muống, chấm củ khoai qua ngày được mà con... Đừng đổ đi con ơi, đổ đi uổng tội với trời đất, mang tội chết mất con ơi!"

A Lan đứng bên cạnh nhìn cảnh tượng ấy cũng không cầm được nước mắt, cô nàng đưa tay quệt ngang giọt lệ nóng hổi trên má, khẽ lay lay bờ vai đang cứng đờ của Tiểu Mãn:

"Tiểu Mãn, hay là mày nghe lời bác gái với Nhị Hòa đi? Mày xem, vớt bỏ hết phần mốc ở trên đi rồi chia cho nhà tao một nửa chum, nhà tao đông người mang về kho cá kho rau ăn dần cũng đỡ phí phạm, chứ vứt bỏ trắng tay cả hai vò lớn thế này tao nhìn tao cũng đứt từng khúc ruột khúc gan..."

Tam Nha và Tiểu Đậu thấy cha mẹ và anh chị ai nấy đều đau buồn rơi lệ, không khí nặng nề như có tang tóc bao trùm, hai đứa trẻ sợ hãi nép chặt vào vạt áo mẹ, cũng bắt đầu sụt sùi khóc nấc lên thành tiếng.

Không gian trong khoảng sân nện nhà họ Diệp bỗng chốc chìm sâu vào một sự u uất, bi thương và nghẹn ngào buốt giá, thứ buốt giá của nỗi nghèo hèn và cơ cực còn lạnh lẽo, tàn nhẫn hơn cả đợt mưa dầm dề vừa quét qua mảnh đất cằn cỗi này.

Tiểu Mãn đứng lặng phắc giữa sân bùn. Đôi mắt nàng cay xè, từng đường gân xanh trên hai bàn tay nổi rõ lên khi nàng siết chặt lấy vạt áo chàm thô ráp. Làm sao nàng không đau xót cho được? Từng hạt đậu nành này chính tay nàng

và các em đã gieo xuống mảnh đất cằn cỗi gò Cồn Gió, từng nhát cuốc khơi mương ngầm Cây Gạo đến toét máu bàn tay, từng đêm thức trắng canh nia mốc hoa cau... Nàng biết rõ từng bát tương này quy đổi ra được bao nhiêu bát cháo, bao nhiêu đồng tiền kẽm để gom góp trả nợ cho nhà họ Lương. Mỗi một hạt đậu nành màu vàng mơ tròn mẩy chìm dưới đáy vò sành kia đều thấm đẫm mồ hôi mặn chát của cha, bàn tay nứt nẻ rớm máu của mẹ trong những chiều đông rét mướt xới đất phát cỏ, cùng những bước chân nhỏ bé liêu xiêu của bầy em thơ gồng gánh từng thùng nước giếng vơi đầy tưới tắm suốt một mùa vụ nhọc nhằn. Làm sao nàng có thể dửng dưng coi như không có chuyện gì khi nhìn công sức của cả nhà trút xuống thành bùn đất được?

Nhưng giữa lúc cõi lòng giằng xé như có hàng ngàn mũi kim châm buốt nhói, giữa những tiếng nấc nghẹn ngào xé ruột của mẹ và đôi mắt đỏ hoe ngơ ngác của đàn em, trong tâm trí nàng lúc này, lời dạy răn nghiêm khắc của bà ngoại Lâm Thu Bà năm xưa lại vang lên rõ mồn một như khắc vào tâm can:

*"Tiểu Mãn, làm nghề thực phẩm, cái tâm phải sạch hơn nước giếng khơi, cái đức phải đanh hơn hạt muối mỏ. Tương ngấu nhờ trời, nhưng hỏng là do người sơ suất. Một khi nước mưa sống đã xâm nhập, mốc xám sinh ra ấy là tạp độc, độc ngấm vào từng thớ đậu từ trong ruột ngấm ra. Người ăn phải nhẹ thì đau bụng tiêu chảy, nặng thì tổn hại tỳ vị. Con giữ lại ăn trong nhà là con hại người thân; con tiếc của mà đem bán ra ngoài là con tự tay bẻ gãy chữ tín của chính mình. Chữ tín một khi đã mốc meo thì ngàn lượng bạc cũng không gột sạch được!"*

Từng câu, từng chữ của bà ngoại như hồi chuông giáng thẳng vào sự dùng dằng mềm yếu đang manh nha trỗi dậy trong lòng nàng. Giọng bà trầm hùng, uy nghiêm như một vị tổ nghề đứng che chở trước ngưỡng cửa đạo đức, không cho phép bất cứ hậu nhân nào vì lòng tham lam hay nỗi xót của tầm thường mà bước qua lằn ranh tối thiểu của lương tâm người làm nghề ủ chượp.

Tiểu Mãn hít một hơi thật sâu. Luồng không khí ẩm lạnh sau cơn mưa dầm tràn qua buồng phổi, buốt rát nhưng lại gột rửa sạch sẽ mọi nỗi đắn đo, yếu mềm vừa thoáng qua. Nàng ngẩng đầu lên, ánh mắt dần lấy lại vẻ kiên định, dứt khoát lạ thường. Nàng đưa mu bàn tay thô ráp quệt dứt khoát giọt nước mắt vừa ứa ra nơi khóe mi, nhìn thẳng vào cha mẹ và các em:

"Không được! Tuyệt đối không thể giữ lại một giọt nào!"

Lời nói của Tiểu Mãn dứt khoát như đinh đóng cột, vang lên giữa khoảng sân nện trơn trượt khiến cả sân nhà bỗng chốc im bặt. Cơn gió bấc se lạnh thổi tạt qua mái rạ ướt sũng, cuốn theo mùi chua nồng của váng mốc xám bay là là trên mặt đất, nhưng không át nổi sự đanh thép toát ra từ vóc dáng mảnh khảnh của nàng.

Nhị Hòa buông lỏng hai cánh tay đang ôm chặt lấy gờ chum, ngơ ngác nhìn chị, hai mắt sưng húp còn đọng nước:

"Chị Cả... chị thật sự nỡ lòng nào..."

"Nhị Hòa, mẹ, và cả A Lan nữa, mọi người hãy nghe con nói!" Giọng Tiểu Mãn trầm xuống nhưng rành rọt, từng câu từng chữ đều thấm đượm sự thấu suốt và chín chắn vượt xa tuổi đời mười bảy: "Con hiểu mọi người tiếc của. Bản thân con đau xót gấp mười lần mọi người. Từng hạt đậu trên gò Cồn Gió do chính tay con cùng Nhị Hòa nhặt từng gốc rạ gom về, từng hạt muối mỏ con gánh gãy cả vai từ chợ phiên trấn Liễu Kiều về đây, con đâu phải loài sắt đá mà không biết đứt ruột? Nhưng thứ mốc hoa xám này không phải là mốc thông thường. Nó sinh ra do nước mưa sống giọt gianh chuồng gà ngấm vào mang theo uế khí, sinh ra độc mốc. Đậu đã bị chua ủng từ tận đáy, dù có gạn váng, dù có đun sôi mười lần thì độc tố vẫn còn nằm trong nước tương! Nhà mình ăn vào sinh bệnh tật, tiền thuốc thang chạy chữa liệu có đắt hơn hai chum tương này không?"

Nàng hít thêm một hơi, bước đến gần chiếc chum sành số sáu, trỏ tay vào lớp màng mỏng xam xám đang bốc lên mùi nồng hắc:

"Mọi người nhìn kỹ xem, nước tương ngấu thật sự phải có sắc vàng ấm như da lươn, hương thơm như mật mía phơi sương sớm. Còn hai vò này, lớp màng nhầy nhụa kia là mầm mống của chứng thương hàn, kiết lỵ. Nếu chúng ta tiếc rẻ, giữ lại chan cơm ăn qua bữa, cha mẹ già yếu, hai đứa nhỏ bụng dạ non nớt ngã bệnh ra đó thì ai gánh nổi? Lúc ấy, tiền thuốc thang của lang băm trên trấn còn tốn gấp ba, gấp năm tiền vốn hai chum này, chưa kể còn nguy hại đến tính mạng!"

Nàng dừng lại một chút, ánh mắt chuyển từ vẻ xót xa sang một sự kiên định đanh thép, nàng quay người nhìn về phía bốn chiếc chum còn nguyên vẹn ở giữa sân:

"Hơn thế nữa, mẻ tương này là mẻ đầu tiên nhà họ Diệp chúng ta liên kết cùng xóm giềng làm ra, là nền móng để sau này đưa ra chợ trấn Liễu Kiều buôn bán lâu dài. Nếu hôm nay chúng ta vì tiếc mấy trăm bát tương hỏng mà dùng dằng, lỡ để lẫn một giọt tương ôi này vào bốn chum sạch kia, hay đem ra ngoài bán cho người ta ăn đau bụng, thì danh tiếng dưa tương nhà họ Diệp sẽ ra sao? Bác cả, mụ Quế Hoa sẽ nhân cơ hội đó mà gièm pha thế nào? Người buôn bán ở trấn Liễu Kiều liệu có còn ai dám tin tưởng mua một hũ tương của chúng ta nữa không?!"

Mỗi một lời nàng thốt ra như một nhát búa nện thẳng vào tâm can từng người có mặt. A Lan đứng bên cạnh buông thõng hai tay, đôi môi mấp máy rồi im bặt. Nàng hiểu rõ miệng lưỡi cay độc của mẹ con mụ Quế Hoa ở đầu làng; chỉ cần ngửi thấy một chút hơi hướng thất bại hay tai tiếng của nhà Tiểu Mãn, mụ ta nhất định sẽ rêu rao khắp hang cùng ngõ hẻm, bêu rếu rằng tương nhà họ Diệp làm ăn gian dối, lấy tương thiu tương thối lừa gạt bà con lối xóm. Đến lúc ấy, đừng nói là trả món nợ bạc trắng cho nhà họ Lương, ngay cả đất dung thân ở làng Thanh Khê này cũng chẳng còn.

Lời phân tích thấu tình đạt lý của Tiểu Mãn như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào sự dùng dằng tiếc của của mọi người.

Diệp Thành đứng lặng hồi lâu, lồng ngực người cha nghèo phập phồng sau lớp áo vá thô dày. Đôi mắt trũng sâu vì những đêm dài lo nghĩ của ông nhìn chằm chằm vào đứa con gái lớn. Nhìn ánh mắt kiên nghị, ngời sáng bản lĩnh của đứa con gái mười bảy tuổi, nỗi xót của trong lòng người cha bỗng chốc hóa thành niềm tự hào sâu sắc. Trong huyết quản con bé rõ ràng chảy dòng máu cứng cỏi, thanh sạch của nhà họ Lâm danh giá năm xưa, một khí phách không chịu cúi đầu trước nghịch cảnh, không chịu để cái đói cái nghèo làm hoen ố nhân phẩm.

Ông gật mạnh đầu, chống chiếc gậy tre gõ mạnh xuống nền đất nện phát ra một tiếng "cốp" chắc nịch:

"Con bé Tiểu Mãn nói đúng! Rất đúng! Làm người nghèo nhưng không thể nghèo nhân cách, làm ăn buôn bán chữ tín là mạng sống! Nhà họ Diệp ta ba đời làm nông chất phác, nay con gái muốn mở đường buôn bán, ta làm cha dẫu có phải đi ăn mày cũng không thể để con mình gánh tiếng bán đồ độc hại hại người! Nhị Hòa, con là con trai lớn trong nhà, không được dùng dằng tiếc rẻ thứ đồ độc hại! Nghe lời chị con, mang đòn cước ra đây, khiêng hai chum này đổ đi!"

Lời tuyên bố của Diệp Thành như chiếc then cài đóng chặt lại mọi sự chần chừ. Lâm Tú Nương khẽ thở dài một tiếng xót xa, lấy vạt áo chùi nước mắt trên gò má hốc hác, nhưng bà cũng hiểu rõ đạo lý mà con gái và chồng vừa nói. Bà vòng tay ôm lấy Tam Nha và Tiểu Đậu, kéo hai đứa trẻ nép vào lòng mình, khẽ gật đầu nghẹn ngào:

"Mẹ nghe con... Nghe con hết... Đổ đi thì đổ đi, người còn khỏe mạnh thì củ khoai củ sắn vẫn làm ra được, mất cái đức mới là mất hết..."

Nhị Hòa nghe cha và mẹ đều đã thuận lòng, liền lau vội giọt nước mắt còn vương trên má. Cậu cắn chặt môi, sự ấm ức ban nãy dần nhường chỗ cho vẻ can trường của một cậu thiếu niên đang tập gánh vác việc nhà. Cậu co cẳng chạy một mạch vào chái bếp, mang ra chiếc đòn khiêng bằng tre già đã ngả màu nâu bóng và hai dải dây thừng bện bằng vỏ đay to bản chắc chắn.

Tiểu Mãn cùng Nhị Hòa và A Lan tròng dây thừng qua thân chiếc chum số sáu. Dây thừng thít chặt vào lớp sành da lươn ram ráp, phát ra những tiếng cọ kẹt khô khốc. Chiếc đòn tre gác ngang qua hai nút thừng, Nhị Hòa đứng phía trước tì đòn lên vai, Tiểu Mãn và A Lan cùng ghé vai vào đầu đòn phía sau.

"Một, hai, ba... lên!"

Ba chị em dồn sức nhấc bổng chiếc chum sành nặng trịch. Chiếc chum chứa đầy đậu nành ủ men cùng nước muối nặng hơn trăm cân, đè trĩu đôi vai gầy guộc của ba người. Dưới chân, nền sân đất nện sau chuỗi ngày mưa dầm sũng nước nhão nhoét, trơn như bôi mỡ. Họ cẩn thận bấm từng ngón chân trần xuống bùn đất, bước từng bước vững chãi trên nền sân trơn trượt, khiêng thẳng ra mảnh vườn rau phía sau nhà.

Gió bấc vẫn hun hút thổi qua rặng chuối sau vườn, làm những tàu lá rách tươm va vào nhau xào xạc. Ở góc vườn sát mép giếng nước, Tiểu Mãn từ hôm trước đã tính toán cẩn thận, đào sẵn một hố ủ phân chuồng sâu ba thước, xung quanh lót rơm rạ mục và tro bếp khô dày cộp để đề phòng bất trắc.

Nàng cùng Nhị Hòa nhẹ nhàng hạ chum xuống bên miệng hố. Hai chị em kẹp chặt thân chum, dùng hết sức bình sinh nghiêng miệng vò sành, dốc ngược toàn bộ số tương chua nổi váng mốc xám tro xuống hố ủ.

"Ào... ào..."

Dòng nước tương đục ngầu cuồn cuộn đổ xuống, bốc lên mùi chua nồng nặc xen lẫn mùi hôi ngai ngái của giấm ôi, xộc thẳng vào cánh mũi buốt nhức. Dòng nước đen sẫm mang theo từng mảng váng mốc xám rữa nát ngấm dần vào lớp rơm mục và tro trấu dưới đáy hố, sủi lên những bọt khí tanh nồng.

Không một phút chần chừ, ba chị em lại khiêng tiếp chiếc chum số năm ra mé vườn. Tiếng đòn tre kẽo kẹt nghiến trên vai, tiếng bước chân bì bõm lội bùn. Chiếc chum thứ hai cũng được nâng lên, lật úp và đổ trút toàn bộ vào hố sâu.

Nhìn những hạt đậu nành béo tròn từng được chọn lựa kỹ càng nay rào rào rơi xuống đáy hố, vùi mình vào bùn đất và rơm rạ mục, lòng Tiểu Mãn quặn thắt lại, nhưng ánh mắt nàng không hề ngoảnh mặt đi. Nàng đứng thẳng lưng, đón nhận trọn vẹn nỗi mất mát này như một người lính nhìn nhận vết thương sau trận chiến.

Nàng lập tức cầm chiếc xẻng sắt cắm ở bờ đất, xúc từng xẻng tro bếp khô màu xám mịn rải đều lên trên mặt hố. Lớp tro bếp kiềm tính gặp nước tương chua lập tức xèo xèo bốc khói nhẹ, nhanh chóng áp chế và khử sạch thứ mùi chua nồng khó chịu, rồi nàng xúc thêm một lớp lá mục cùng đất mùn dày cộp đắp phủ kín toàn bộ miệng hố ủ.

"Đậu nành tuy không thành tương cho người ăn, nhưng ủ cùng tro bếp và rơm mục sẽ thành nguồn phân bón hữu cơ tốt nhất cho đất," Tiểu Mãn chống xẻng, quay sang khẽ nói với Nhị Hòa, giọng nàng nhẹ nhõm như vừa trút được một tảng đá đè nặng trong lòng suốt mấy ngày qua. "Chất đạm từ đậu nành ngấm vào đất, tro bếp giữ ấm rễ, đất vườn sau nhà nhờ hai chum đậu này mà vụ cải đông tới sẽ càng thêm màu mỡ, ngọt bắp. Chúng ta không mất trắng hoàn toàn, Nhị Hòa ạ. Đất mẹ nhận của chúng ta vị chua chát hôm nay, ngày mai sẽ trả lại cho chúng ta những mầm rau xanh mướt, ngọt lành."

Nhị Hòa đứng nhìn lớp tro bếp phủ kín miệng hố ủ phẳng phiu, nghe những lời giải thích vừa lạc quan vừa sáng suốt của chị gái, nỗi ấm ức và tiếc nuối trong lòng cậu hoàn toàn tan biến. Cậu đưa tay áo chùi mồ hôi lấm tấm trên trán, nhìn thẳng vào gương mặt lấm lem bùn đất nhưng rạng rỡ của Tiểu Mãn, trong lòng dâng trào một sự nể phục vô bờ bến đối với người chị Cả kiên cường.

Hai chị em cùng A Lan xách gáo dừa múc từng gáo nước giếng khơi trong vắt, cọ rửa kỹ lưỡng từng ngóc ngách của hai chiếc chum sành da lươn vừa đổ rỗng. Nước giếng mát lạnh cuốn trôi đi những vết mốc hoa xám bám trên thành vò, làm lộ ra lớp men gốm màu da lươn bóng bẩy, sạch sẽ không tì vết. Họ vần hai chiếc vò không vào góc chái bếp, kê ngược miệng xuống những thanh tre khô để hứng gió hong ráo nước.

Đúng lúc hai chị em rửa sạch hai chiếc chum không bằng nước giếng khơi và chuẩn bị mang vào chái bếp phơi khô, thì từ cổng ngõ lát đá ven rặng dâm bụt, một bóng người thanh mảnh trong tà áo dài màu lam nhạt, tay che chiếc ô giấy dầu màu nâu sẫm đang bước nhanh vào sân.

Đó là Tạ Cảnh.

Chàng thư sinh bước qua cổng tre kẽo kẹt. Dưới vành ô giấy dầu sẫm màu, gương mặt chàng toát lên vẻ tuấn tú, nho nhã nhưng ngập tràn vẻ âu lo. Trên vai chàng vẫn đeo chiếc túi vải chàm đựng nghiên bút và sổ sách quen thuộc. Dưới chân chàng, đôi giày vải mộc tuy dính chút bùn đỏ của đường thôn sau mưa, nhưng từng bước đi vẫn điềm đạm, đĩnh đạc như thường lệ, không hề có vẻ nhếch nhác hay vội vã quá mức.

Vừa bước vào sân, ánh mắt sắc sảo của Tạ Cảnh đã bao quát trọn vẹn quang cảnh gia đình nhà họ Diệp: hai chiếc chum rỗng nằm nghiêng bên miệng giếng nước vừa được cọ rửa sạch sẽ, mùi tro bếp và tương chua thoang thoảng sau vườn, cùng ánh mắt vừa trải qua biến cố đầy chông gai nhưng đã dần bình tâm của mọi người. Chàng liếc mắt qua bốn chiếc chum sành bọc rơm nguyên vẹn sừng sững giữa sân, rồi nhìn sang khoảng đất trống sát bờ rào mé chái chuồng gà nơi mặt đất còn in hằn hai vệt tròn sâu hoắm và vũng nước mưa tù đọng, trong lòng chàng lập tức hiểu rõ mọi sự.

"Tạ công tử! Mưa gió dầm dề thế này sao huynh lại lội bùn sang đây?" Tiểu Mãn ngạc nhiên, vội buông gáo dừa, lau hai bàn tay còn ướt nước lạnh vào vạt tạp dề thô.

Tạ Cảnh cẩn thận gấp chiếc ô giấy dầu, khẽ rũ những giọt nước mưa còn đọng lại trên tán ô rồi đặt ngay ngắn bên góc hiên nhà. Chàng bước lên thềm đất nện, khẽ cúi đầu vòng tay hành lễ chào Diệp Thành và Lâm Tú Nương:

"Thưa bác trai, bác gái. Mấy ngày mưa dầm vừa qua, tiểu sinh ở nhà trọ họ Lưu luôn bận tâm đến mẻ tương non của Tiểu Mãn cô nương. Cơn mưa cuối thu này ẩm lạnh quá mức, gió bấc lại thổi xiên, tiểu sinh nằm đọc sách mà lòng không yên. Sáng nay trời vừa tạnh ráo, tiểu sinh liền đem theo sổ ghi chép sang đây xem có thể giúp được việc gì không. Vừa bước vào ngõ đã nghe thấy lời dứt khoát của cô nương ngoài vườn..."

Chàng quay sang nhìn Tiểu Mãn, ánh mắt thanh tú chan chứa sự khâm phục chân thành:

"Bỏ đi cái lợi nhỏ trước mắt để giữ trọn chữ tín lâu dài, dũng cảm loại trừ mầm họa từ trong trứng nước—bản lĩnh này của Tiểu Mãn cô nương, dẫu là những bậc thương nhân từng trải ngoài huyện thành cũng chưa chắc đã làm nổi. Thường người đời tiếc một vốn bốn lời mà che giấu cái sai, lừa dối miệng lưỡi thiên hạ, nhưng cô nương lại dám đập bỏ cái hư hỏng để giữ lấy cái gốc thanh sạch. Tiểu sinh thực sự vô cùng kính nể."

Tiểu Mãn nghe lời khen ngợi chân thành, mộc mạc mà sâu sắc của Tạ Cảnh thì hai má khẽ ửng hồng dưới làn gió lạnh. Nàng khẽ lắc đầu, nụ cười thoáng chút ngậm ngùi chua xót:

"Huynh đừng chê cười muội. Là do muội chủ quan, sắp xếp chum vại chưa tính hết được hướng gió tạt và giọt gianh từ mái chuồng gà cơi nới. Lúc trời nắng ráo thì thấy chỗ nào cũng quang đãng, đến khi mưa dầm đổ xuống mới lộ ra sơ hở chết người. Một bài học đắt giá bằng hai chum đậu mẩy đấy huynh ạ."

"Thất bại là mẹ của thành công," Tạ Cảnh mỉm cười ấm áp, nụ cười như xua tan đi cái lạnh lẽo ẩm ướt của khoảng sân sau mưa. Chàng bước lại gần chiếc bàn gỗ mộc đặt ngoài hiên, tháo chiếc túi vải chàm trên vai xuống: "Bà ngoại Lâm Thu Bà từng dạy, nghề làm tương muối dưa phụ thuộc bảy phần vào trời, ba phần vào người. Nhưng ba phần vào người ấy chính là sự quan sát, ghi nhớ và sửa đổi không ngừng. Thay vì ngồi tiếc nuối những gì đã trôi vào lòng đất, chúng ta hãy đem bài học đắt giá hôm nay ghi chép lại thành quy tắc, phân tích cặn kẽ ngọn nguồn, để từ nay về sau không bao giờ lặp lại sai sót này nữa."

Lời nói đĩnh đạc và đầy lý lẽ của Tạ Cảnh như tiếp thêm một nguồn sinh khí mới cho cả gia đình. Không khí ảm đạm vừa bao trùm lấy ngôi nhà tranh bỗng chốc tan biến, nhường chỗ cho sự hăng hái bắt tay vào việc.

"Đúng thế! Phải ghi lại thật cẩn thận!" Tiểu Mãn gật mạnh đầu, ánh mắt bừng sáng trở lại. Nàng lập tức quay sang Nhị Hòa: "Nhị Hòa, mau vào buồng trong bưng chiếc tráp tre đựng cuốn sổ công thức cũ của bà ngoại cùng cuốn sổ thẻ tre năm cột ra bàn hiên cho chị!"

Nhị Hòa dạ ran một tiếng, thoăn thoắt chạy vào nhà. Trong chốc lát, chiếc tráp tre đựng sách vở quý giá của gia đình đã được đặt ngay ngắn trên chiếc bàn gỗ mít mộc mạc.

Tạ Cảnh ngồi xuống chiếc ghế băng dài, từ tốn mở hộp bút, lấy thỏi mực tàu màu đen tuyền khẽ mài trên nghiên đá xám. Từng giọt nước giếng khơi trong trẻo hòa cùng muội than thông tỏa ra một mùi thơm mực tao nhã, thanh khiết, làm dịu hẳn mùi chua nồng còn vương vất trong không gian. Tiểu Mãn ngồi xuống bên cạnh chàng, mái tóc đen nhánh khẽ lay động theo làn gió bấc, nàng chăm chú lật mở trang sổ mới còn trắng tinh thơm mùi giấy bổi.

Hai người bắt đầu đối chiếu thời tiết, quan sát thực tế và ghi chép tỉ mỉ từng chi tiết kỹ thuật:

"Tạ huynh, huynh ghi giúp muội: Tiết cuối thu, năm ngày mưa dầm liên tiếp, khí Thấp cực thịnh, nhiệt độ hạ thấp đột ngột. Bốn chum giữa sân nhờ kê cao cách đất một thước hai tấc trên đá xanh tảng lớn, nắp gốm khít men, bọc ba lớp rơm nếp khô và phủ bạt tre nên men hoa cau vẫn bảo toàn trọn vẹn."

Ngọn bút lông dê mềm mại trong tay Tạ Cảnh lướt thoăn thoắt trên mặt giấy mộc. Từng nét chữ Hán chân phương, sắc sảo và rắn rỏi hiện lên ngay ngắn dưới ngòi bút:

"Tiểu Mãn, vậy còn hai chum mé bờ rào thì sao?" Chàng khẽ ngước mắt hỏi, ánh nhìn chăm chú dừng lại trên gương mặt thanh tú của nàng, kiên nhẫn chờ đợi nhận định kỹ thuật chi tiết nhất.

Tiểu Mãn ngẫm nghĩ một thoáng, đôi lông mày thanh tú khẽ nhíu lại khi hồi tưởng lại chính xác từng biểu hiện hư hỏng:

"Hai chum mé tây kê sát chân rào dâm bụt, bị giọt gianh từ mái rạ chuồng gà rỏ trực tiếp xuống nắp đậy suốt mấy ngày đêm. Ván dằn bằng gỗ tạp bị thấm nước ẩm lâu ngày cong vênh, làm lệch góc nắp đậy năm phân. Nước mưa sống xâm nhập làm loãng độ mặn của nước muối biển xuống dưới ngưỡng an toàn, khiến men hoang dại sinh sôi, mặt tương nổi mốc xám tro, có mùi chua nồng của giấm hỏng. Đậu nành chìm đáy bị yếm khí thối rữa. Kết luận kỹ thuật: Vị trí đặt chum tuyệt đối phải cách xa mép mái hiên và giọt gianh ít nhất năm thước; chân chum phải kê cao trên đá tảng, không được đặt sát rãnh thoát nước ẩm ướt; tuyệt đối không dùng ván gỗ tạp mỏng để chèn nắp vì dễ cong vênh khi gặp ẩm."

Tạ Cảnh vừa ghi chép cẩn thận từng chữ, từng con số, vừa gật đầu tấm tắc:

"Ghi chép rất chuẩn xác, mạch lạc rõ ràng. Từng nguyên nhân và hậu quả đều được mổ xẻ rành mạch. Nhưng còn về độ muối của bốn chum còn lại thì sao? Đợt mưa ẩm kéo dài này, độ ẩm không khí lên rất cao, hơi nước chắc chắn đã thẩm thấu một phần qua các khe rơm bọc vào trong vò."

"Huynh nói rất đúng ý muội," Tiểu Mãn chỉ tay vào một dòng chữ son đã phai mờ trong cuốn sổ công thức cũ của bà ngoại. "Bà ngoại muội có ghi: 'Gặp tiết nồm ẩm dầm dề, muối phải thêm phân lượng để giữ gốc tương không bị chua đáy'. Bốn chiếc chum giữa sân tuy không bị nước mưa dột trực tiếp, màng mốc hoa cau vẫn giữ được sắc vàng mơ, nhưng hơi nước ẩm ngâm năm ngày qua chắc chắn đã làm giảm nồng độ muối mặt trên. Muội tính thế này: Mỗi chum còn lại phải tăng thêm một cân hai lạng muối hạt biển đã rang thật khô, rải đều lên mặt nước tương để dằn men, đồng thời lùi thời gian mở nắp phơi nắng thêm ba ngày nữa cho men ngấu sâu, đợi khi có nắng hanh thật đậm mới mở hẳn nắp ra khuấy tương."

"Một cân hai lạng muối rang khô cho mỗi chum sáu mươi cân..." Tạ Cảnh khẽ nhẩm tính trong đầu, ngón tay thon dài gõ nhẹ theo nhịp trên mặt bàn tre rồi mỉm cười thán phục: "Tỷ lệ này vừa khéo bổ sung đúng lượng hao hụt do hơi ẩm không khí xâm nhập, lại không làm tương bị mặn chát khé cổ. Lượng muối rang khô sẽ hút hết phần ẩm thừa trên bề mặt trước khi tan dần xuống đáy vò, vừa bảo vệ lớp màng men vi sinh, vừa giữ cho tương có hậu vị ngọt đằm. Tiểu Mãn, cô nương tính toán lượng muối rất tinh tế, không sai một ly một hào nào so với sách cổ!"

Được Tạ Cảnh khen ngợi, ánh mắt Tiểu Mãn lấp lánh niềm vui rạng rỡ. Đôi gò má ửng hồng làm bừng sáng cả khuôn mặt thanh tú lấm lem bùn đất. Dưới mái hiên tranh đơn sơ, hai người kề sát bên nhau, người đọc số liệu kinh nghiệm dân gian, người hạ bút ghi chép thành thư tịch bài bản. Ánh sáng dịu nhẹ của buổi sớm sau mưa rọi xuống mái tóc đen nhánh vấn gọn của Tiểu Mãn và tà áo chàm mộc mạc của Tạ Cảnh, tạo nên một khung cảnh êm đềm, hòa hợp đến lạ kỳ.

A Lan đứng tựa bên cột hiên, khoanh tay trước ngực nhìn hai người họ làm việc ăn ý nhịp nhàng từng cử chỉ, khóe môi cô nàng khẽ nở một nụ cười tinh quái. Nàng khẽ nghiêng người, đưa cùi chỏ huých nhẹ vào sườn Nhị Hòa:

"Nhìn kìa, Nhị Hòa, chị mày với Tạ công tử trông xứng đôi vừa lứa chưa kìa. Một người tài hoa thông thái, một người tháo vát thông minh, thật chẳng khác nào đôi ngọc bích!"

Nhị Hòa bị huých đau khẽ "ái" lên một tiếng, ngơ ngác gãi đầu gãi tai nhìn chị gái rồi lại nhìn Tạ Cảnh, trên môi nở nụ cười ngây ngô chẳng hiểu hết sự đời của một đứa trẻ mới lớn.

Ghi chép xong xuôi trang sổ cuối cùng, Tạ Cảnh cẩn thận đặt ngọn bút lông dê xuống chiếc giá gỗ gác bút. Ánh mắt chàng hướng ra khoảng sân rộng, nhìn chăm chú vào những chiếc chum sành da lươn miệng tròn rộng ngoài sân, khẽ trầm ngâm vuốt cằm nói:

"Tiểu Mãn, hôm nay nhìn chiếc chum bị ngấm nước từ khe nắp hở do tấm ván dằn cong vênh, tiểu sinh chợt nghĩ ra một việc. Chum vại da lươn cổ truyền này tuy chất sành rất đanh, chịu được sương muối và giữ nhiệt tốt, nhưng thiết kế miệng vò hơi loe phẳng, nắp đậy chỉ là một chiếc đĩa gốm úp lên trên, rất dễ bị xô lệch khi gặp gió bão hoặc nước mưa tạt xiên. Dù ta có bọc rơm nếp kỹ đến đâu, chỉ cần một trận bão lớn gió giật mạnh làm xô lệch lớp rơm là nước mưa lại tìm được kẽ hở chui vào. Nếu sau này cô nương mở rộng xưởng tương lên hàng chục, hàng trăm chum, chúng ta không thể ngày nào cũng trông cậy vào việc chèn rơm nếp và dằn đá cuội thủ công thế này được. Nhân lực không xuể, mà rủi ro lại quá lớn."

Tiểu Mãn tròn xoe mắt, lòng chợt bừng sáng một ý nghĩ mới mẻ, nàng vội nhoài người tới trước:

"Ý của Tạ huynh là... chúng ta có thể cải tiến hình dáng của chiếc chum sành sao cho an toàn hơn?"

"Đúng thế," Tạ Cảnh khẽ mỉm cười. Chàng dùng ngón tay trỏ nhúng nhẹ vào chén nước trà xanh đã nguội, vẽ phác họa từng đường nét sắc sảo lên mặt bàn gỗ mít bóng loáng: "Tiểu sinh từng đọc trong sách nông thư của tiền triều, có một số phường gốm lớn ở phương Nam chế tạo loại chum chuyên dụng để muối dưa chua và ủ tương ngấu. Cô nương nhìn xem: Miệng chum vẫn giữ độ tròn rộng để tiện thao tác khuấy đảo, nhưng xung quanh cổ chum, người thợ gốm sẽ vuốt thêm một chiếc gờ rãnh sâu lõm xuống như một cái máng nước nhỏ bao quanh cổ vò."

Tiểu Mãn nín thở dõi theo từng vệt nước trên mặt bàn.

"Khi đậy nắp," Tạ Cảnh tiếp tục vẽ một đường cong úp ngược, "chiếc nắp gốm không phải là chiếc đĩa phẳng nữa, mà được nặn thành hình chuông úp ngược, mép nắp chuông sẽ cắm ngập sâu vào trong lòng chiếc rãnh ấy. Sau đó, người ta chỉ việc đổ một bát nước giếng sạch vào đầy lòng rãnh. Nước sẽ bịt kín hoàn toàn khe hở giữa nắp và miệng chum. Nước mưa dột từ trên xuống chỉ chảy tràn qua rãnh nước mà trôi xuống đất, không khí bên ngoài cùng bụi bặm và ruồi bọ tuyệt đối không thể lọt vào, nhưng khi khí gas lên men bên trong tích tụ đầy, áp suất sẽ tự động đẩy mép nước sủi tăm ùng ục thoát ra ngoài một cách vô cùng tự nhiên. Người ta gọi đó là loại 'chum nắp kín ngấn nước'."

Tiểu Mãn nhìn chăm chú vào hình vẽ bằng vệt nước của Tạ Cảnh trên mặt bàn gỗ mít. Từng đường nét, từng nguyên lý vận hành của chiếc rãnh nước hiện lên rõ ràng trong đầu nàng. Trái tim nàng bỗng đập rộn ràng, lồng ngực như muốn nổ tung vì sự thán phục tột độ trước trí tuệ của người xưa và sự uyên bác của chàng thư sinh trước mặt.

"Kỳ diệu quá! Chum nắp kín có gờ giữ nước!" Tiểu Mãn vỗ tay reo khẽ, hai mắt nàng sáng rực lên như gom trọn ánh nắng ban mai: "Nước dùng làm chiếc khóa vô hình! Vừa kín như bưng để chống tạp khuẩn và nước mưa sống, lại vừa thông thoáng để men tương thở được! Nếu có loại chum này, dù mưa bão dầm dề cả tháng trời chúng ta cũng hoàn toàn kê cao gối ngủ kỹ, không sợ nước mưa hay uế khí lọt vào làm hỏng mẻ tương non nữa! Tạ huynh, huynh có biết ở đâu quanh vùng này làm được loại chum tuyệt vời như thế này không?"

Tạ Cảnh khẽ cười, ánh mắt chàng chan chứa niềm khích lệ và trìu mến nhìn nàng:

"Ở trấn Liễu Kiều có một vùng gọi là Phường Gốm Nam Bãi, nằm ven bến sông nơi thuyền buôn tấp nập qua lại. Nơi đó đất sét pha cát mịn rất thích hợp làm đồ sành chịu nhiệt. Ở đó có lò gốm của Đào Tam Nương chuyên nung đồ sành gia dụng rất nổi tiếng khắp dải sông Tiêu. Tay nghề vuốt gốm trên bàn xoay và kỹ thuật nung men da lươn của bà ấy đứng đầu cả vùng, những người thợ nặn gốm thông thường không thể sánh bằng. Đợi khi mẻ tương bốn chum này hoàn tất, chúng ta đem dưa và tương ra khảo sát chợ trấn, tiểu sinh sẽ đích thân dẫn cô nương sang Phường Gốm Nam Bãi tìm gặp Đào Tam Nương để đặt hàng loại chum chuyên dụng này."

"Được! Nhất định phải đặt làm loại chum đó!" Tiểu Mãn nắm chặt hai bàn tay thành nắm đấm nhỏ, sự hào hứng và quyết tâm mới mẻ tràn ngập khắp huyết quản nàng.

Sự cố mất đi hai chum tương sáng nay từng khiến cả nhà đau xót rơi lệ tưởng chừng như trời đất sụp đổ, nhưng giờ đây qua sự đúc kết bài học kỹ thuật rành mạch trên trang giấy và ý tưởng táo bạo về dòng chum gờ nước mới, nàng hiểu rằng đây chính là cái giá phải trả để bước chân nàng trên con đường lập nghiệp thêm phần vững chãi. Mất hai chum đậu, nhưng nàng thu về được một bài học quản trị rủi ro vô giá, một người bạn đồng hành tài trí vẹn toàn, và một hướng đi xưởng gốm tương lai đầy xán lạn.

Ngay trưa hôm đó, bầu trời xứ Thanh Khê bắt đầu hửng gió. Những đám mây đen nặng trĩu tan biến dần, để lộ ra khoảng trời xanh ngắt cao vời vợi.

Nhị Hòa nhóm lửa trong chái bếp, ngọn lửa củi khô bập bùng reo vui, cậu bắc chiếc chảo gang lớn lên bếp, rang nốt mẻ muối hạt biển khô. Những hạt muối biển to bản trắng tinh gặp nhiệt độ cao nổ lách tách như pháo ran, tỏa ra mùi thơm mằn mặn nồng đượm khắp gian bếp nhỏ.

Tiểu Mãn đích thân bưng chiếc chậu gốm đựng muối rang nóng hổi ra sân. Nàng cẩn thận gỡ từng lớp bạt tre và rơm nếp khô của bốn chiếc chum khỏe mạnh giữa sân. Nhẹ nhàng mở nắp gốm ra, một mùi thơm ngậy dìu dịu của mốc hoa cau đang thời kỳ ngấu men lan tỏa ngào ngạt trong không khí. Nàng khẽ mỉm cười nhẹ nhõm, dùng chiếc muôi gỗ múc từng cân muối rang khô rải đều tay thành một lớp mỏng dằn lên mặt nước tương, tạo thành một tấm khiên bảo vệ vững chắc chống lại mọi tà khí ẩm ướt còn sót lại.

Từng chiếc nắp gốm sau đó được lau rửa sạch sẽ bằng nước giếng, dùng vải mềm phơi khô ráo rồi đậy khít khao trở lại. Tiểu Mãn cẩn thận dùng những hòn đá cuội tròn nhẵn chèn chặt trên nắp, chờ đón những ngày nắng hanh ấm áp sắp tới.

Thời gian trôi qua êm ả. Ba ngày sau đợt mưa dầm kinh hoàng, bầu trời xứ Thanh Khê hoàn toàn trút bỏ lớp mây mù xám xịt u uất.

Gió heo may mang theo hơi hanh khô đặc trưng của tiết cuối thu tràn về từ phía triền đồi, xua tan hoàn toàn những vũng bùn lầy lội nơi ngõ xóm. Mặt đất nện trong sân khô cong, nứt ra những đường vân chân chim trắng xóa, sạch sẽ và phẳng phiu.

Sau tuần mưa ẩm kéo dài, ánh nắng hanh rực rỡ trở lại bừng sáng cả khoảng sân phơi đang tỏa mùi thơm ngậy. Nắng thu vàng như rót mật xuống từng ngọn tre, mái rạ, sưởi ấm từng thớ đất cằn cỗi sau bao ngày rét buốt.

Bốn chiếc chum sành da lươn đứng kiêu hãnh giữa nắng vàng rực rỡ, lớp rơm bọc ngoài đã được tháo bỏ để thân sành đón trọn hơi ấm của mặt trời. Tiểu Mãn bước ra sân, nhẹ nhàng nhấc nắp gốm của chiếc chum số một.

Một cảnh tượng tuyệt mỹ hiện ra trước mắt nàng: Lớp muối hạt biển rang khô rải dằn ba ngày trước đã tan biến hoàn toàn vào lòng nước tương, thúc đẩy quá trình lên men sâu dưới đáy. Lớp nước tương bên trong sau khi được tăng cường muối hạt biển rang khô đã chuyển hóa hoàn hảo, không còn một gợn màng tạp, ánh lên sắc nâu đỏ óng ả như mật mía dưới ánh mặt trời rực rỡ, tỏa ra thứ hương thơm nồng nàn, đậm đà, ngầy ngậy và ngọt hậu, báo hiệu một mẻ tương hảo hạng của nhà họ Diệp sắp đến ngày chín rộ để xuất xưởng.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn