Người bảo chứng họ Lưu và góc sạp chợ trấn
Gian nhà trọ họ Lưu ngập tràn mùi giấy mực ấm cúng khi Tiểu Mãn cẩn thận đặt hai hũ dưa chua giòn rụm và vò tương đậu thơm ngậy lên chiếc bàn gỗ tiếp khách.
Ánh nắng sớm mai xiên qua song cửa gỗ thông mộc mạc, rọi lên những chồng sách thẻ tre cùng mấy cuộn giấy tuyên thành đã ố vàng xếp ngay ngắn ở góc bàn. Tạ Cảnh vừa buông quản bút lông thỏ xuống giá sứ, khẽ vuốt lại nếp áo chàm giản dị rồi nghiêng mình châm chén trà vối nóng bốc khói nghi ngút, cung kính dâng lên trước mặt người đàn ông trung niên râu tóc điểm bạc đang ngồi ở ghế chủ tọa.
Lưu Văn Hòa nâng chén trà, nhấp một ngụm nhỏ, đôi mắt tinh anh sau cặp lông mày rậm khẽ liếc qua hai hũ sành da lươn được bọc miệng cẩn thận bằng lá chuối hơ lửa và dây lạt giang bện chéo hình mắt cáo. Ông là chủ nhân của gian nhà trọ hai dãy này ở trấn Liễu Kiều, xưa nay vốn tính khí cẩn trọng, hòa nhã nhưng làm việc gì cũng phân minh, rạch ròi. Nhiều năm nay, nhờ có Tạ Cảnh đỡ đần tính toán sổ sách tiền phòng, chép thư từ và dạy chữ vỡ lòng cho đám trẻ con họ Lưu trong xóm, ông mới bớt được bao nỗi nhọc nhằn, trong lòng sớm đã xem chàng thư sinh nghèo này như con cháu trong nhà. Dãy nhà trọ nằm sát bờ kênh dẫn nước ra sông cái, người tứ xứ đổ về tá túc đông đúc, đủ mọi hạng người từ lái buôn tơ lụa mạn ngược, phu chèo đò mạn xuôi cho tới những kẻ lỡ độ đường tìm chỗ dừng chân. Một chốn phức tạp như thế mà giữ được nền nếp trên dưới thuận hòa, không xảy ra trộm cắp xô xát suốt mười mấy năm qua, phần lớn là nhờ đôi mắt nhìn người sắc bén và cách đối nhân xử thế vừa mềm mỏng vừa cương quyết của Lưu lão bản.
Tạ Cảnh đứng thẳng người, hai tay chắp trước ngực theo đúng lễ tiết của bậc hậu bối, giọng nói trầm ấm nhưng dõng dạc, rõ ràng từng lời:
"Thưa Lưu thúc, hôm nay vãn bối dẫn chất nữ nhà họ Diệp ở thôn Thanh Khê tới đây, trước là kính vấn an sức khỏe của thúc, sau là có một việc hệ trọng liên quan đến đường hướng mưu sinh lâu dài, khẩn khoản mong thúc xét tình nể nghĩa đứng ra nâng đỡ."
Lưu Văn Hòa đặt chén trà xuống mặt bàn gỗ phát ra một tiếng cạch nhẹ, ánh mắt chuyển từ Tạ Cảnh sang người thiếu nữ mười bảy tuổi đang đứng khép nép nhưng lưng thẳng tắp bên cạnh. Chiếc áo vải thô màu nâu sồng của nàng tuy bạc màu nơi đầu vai nhưng đường kim mũi chỉ vá víu vô cùng cẩn thận, tà áo phẳng phiu, hai ống tay áo được xắn cao gọn gàng để lộ cổ tay thon gầy nhưng săn chắc của người quen việc đồng áng. Ông mỉm cười, giọng điệu ôn hòa:
"Cảnh nhi, con với ta còn phải câu nệ khách sáo đến thế sao? Chuyện cô nương nhà họ Diệp đây, mấy bận con về thôn rồi quay lại trấn chép sách, ta cũng đã nghe con nhắc đôi ba lần. Nhà gặp nạn lớn, phụ thân gãy chân, một mình gánh vác nợ nần ngoài ba mươi dặm đường mà giữ được ruộng, cứu được lứa rau sương muối, lại làm ra mẻ tương nức tiếng ở chợ bãi cầu đá. Một cô nương có gan dạ và chí khí như vậy, đất Liễu Kiều này mấy ai bì kịp? Con cứ nói thẳng, có việc gì cần đến cái thân già này?"
Tạ Cảnh nhìn sang Tiểu Mãn, khẽ gật đầu khích lệ nàng, rồi quay lại thưa với Lưu lão bản:
"Bẩm thúc, chợ phiên bãi đá Thanh Khê đất hẹp người thưa, sức mua của bà con lối xóm đã bắt đầu bão hòa. Diệp gia muốn gom đủ bạc trả dứt món nợ thuốc cùng tiền nợ địa chủ đúng hạn kỳ, bắt buộc phải đưa hàng hóa ra thử sức ở chốn phồn hoa đô hội hơn. Chợ trấn Liễu Kiều ta là nơi thuyền bè ngược xuôi tấp nập, khách thương buôn bán sầm uất, chính là đất dụng võ tốt nhất. Hôm qua, vãn bối cùng Tiểu Mãn đã đi trọn ba mươi dặm đường, khảo sát cặn kẽ giá cả từng đấu tương, từng cân dưa khô dọc khắp bến sông và khu hàng khô."
Chàng ngừng một nhịp, quan sát nét mặt điềm tĩnh của người đối diện rồi hạ giọng, ngữ điệu trở nên nghiêm cẩn hơn:
"Tuy nhiên, quy định của nha môn huyện Vân Thủy cùng quan quản chợ Trấn Liễu Kiều xưa nay vô cùng nghiêm ngặt: người ngoại thôn mang hàng hóa vào bán vãng lai thì chỉ được ngồi tạm ở bãi cỏ rìa sông, vừa chịu gió sương hư hại hàng, vừa bị chèn ép, tranh đoạt; còn nếu muốn dựng sạp gỗ đàng hoàng, cố định theo các phiên mùng một, mùng sáu, rằm, hai mươi mốt âm lịch ở khu hàng khô, bắt buộc phải có một hộ tịch bản xứ có danh phận, uy tín đứng ra ký giấy bảo chứng cư trú và bảo lãnh tư cách buôn bán. Vãn bối trộm nghĩ, khắp trấn Liễu Kiều này, không ai có tấm lòng bao dung và sự công chính bằng Lưu thúc. Vì vậy, hôm nay chúng con mạo muội đến đây, mong thúc mở lòng thương xót, đứng tên trên tờ văn tự bảo chứng cho sạp hàng nhà họ Diệp."
Nghe đến hai chữ "bảo chứng", sắc mặt Lưu Văn Hòa thoáng chút đăm chiêu. Ông vuốt chòm râu ngắn, khẽ thở dài, ngón tay gõ nhịp nhịp xuống mặt bàn mun. Ánh nhìn của ông không còn vẻ lơ đễnh của một người lớn nghe chuyện trẻ con nữa, mà đã chuyển thành ánh mắt thăm dò của một chủ gia đình từng trải qua bao cơn sóng gió thương trường:
"Cảnh nhi à, con đọc sách thánh hiền, hẳn hiểu rõ tờ giấy bảo chứng nơi phố thị nặng tựa nghìn cân. Chợ Trấn Liễu Kiều không phải là cái chợ làng Thanh Khê thuần hậu của các con. Nơi đó vàng thau lẫn lộn, thương lái giang hồ, đầu gấu bến tàu không thiếu. Một khi ta ký tên điểm chỉ vào nha quản chợ, nếu người được bảo lãnh trốn thuế chợ, gây gổ ẩu đả, hoặc chẳng may bán phải đồ ôi thiu làm khách ăn ngộ độc bỏ mạng, nha môn sẽ gõ cửa nhà trọ họ Lưu này đầu tiên. Ba năm trước, ta từng vì nể lời một người quen mà đứng ra bảo lãnh cho một gã bán dầu mè ngoại huyện, kết quả hắn pha dầu cặn, bị tuần chợ bắt quả tang rồi bỏ trốn trong đêm, khiến ta phải bỏ ra tròn năm lượng bạc tiền phạt mới yên chuyện. Vết thương cũ đó, ta vẫn chưa quên đâu."
Không khí trong gian phòng bỗng chốc chùng xuống. Hơi nước từ chén trà vối nhạt dần, chỉ còn lại tiếng lá phong xào xạc ngoài hiên và tiếng thở khe khẽ của Tạ Cảnh. Chàng thư sinh định mở lời phân trần thêm, muốn dùng sự hiểu biết của mình về nhân phẩm cả nhà họ Diệp để cam đoan, nhưng Tiểu Mãn đã bước lên nửa bước. Nàng không hề lộ vẻ luống cuống hay hốt hoảng, không van xin khóc lóc, mà chỉ cung kính cúi đầu, hai tay bưng lấy một chiếc đĩa sành tráng men trắng đã chuẩn bị sẵn trong tay nải, nhẹ nhàng đặt lên bàn gỗ.
"Lưu bá bá," Tiểu Mãn cất tiếng, giọng nàng trong trẻo, bình thản và vững vàng như dòng nước khe róc rách chảy qua đá tảng ngàn năm. "Cháu biết lời nhờ vả hôm nay là một gánh nặng quá lớn cho bá bá. Lòng tốt không thể trao nhầm chỗ, sự cẩn trọng của người làm chủ một cơ nghiệp chính là đạo lý sinh tồn. Cháu không dám dùng những lời hoa mỹ suông sẻ để xin bá bá tin tưởng. Trăm nghe không bằng mắt thấy, vạn lời nói không bằng một lần nếm thử. Xin Lưu bá bá hãy nếm qua sản vật do chính tay cả gia đình cháu làm ra trước đã."
Đầu ngón tay nàng thoăn thoắt cởi nút dây lạt giang buộc chéo trên miệng chiếc hũ sành da lươn nhỏ hơn. Nắp bấc làm bằng lõi ngô khô bọc vải xô trắng vừa nhấc ra, một làn hương thơm chua dịu, thanh khiết của dưa cải sen ủ chín tới lập tức lan tỏa, quyện cùng mùi gừng già cay nồng ấm áp và thoang thoảng vị ngọt của nước mía lùi tro. Mùi hương không hề có chút mùi ủng thối hay nồng gắt của dưa ngâm dấm hóa chất, mà là thứ mùi thơm mộc mạc, lành vị của đất đai và sương mai. Tiểu Mãn dùng một đôi đũa tre vót nhẵn bóng, gắp ra đĩa vài cọng dưa vàng ươm óng ả. Từng cọng cải bẹ được nén chặt, thớ lá săn giòn, róc sạch nước, không hề có chút nhớt hay váng trắng nào bám quanh, từng lát gừng thái chỉ mỏng như cánh ve xen lẫn giữa những cọng dưa đều đặn.
Tiếp đó, nàng mở chiếc vò sành thứ hai. Khác với hũ dưa, chiếc vò này vừa mở ra đã tỏa ngát một mùi hương tương đậu nành ngào ngạt, đậm đà, mùi mốc hoa cau chín ngấu hòa cùng vị mặn mòi tinh khiết của muối hạt biển rang khô. Đó là thứ mùi thơm nồng nàn đến mức khiến người ta ngay lập tức cồn cào ruột gan, gợi nhớ đến những bữa cơm chiều mùa gặt bên bếp lửa quê nhà. Nàng dùng chiếc thìa sứ múc một thìa tương đặc sánh màu cánh gián, đặt cẩn thận bên cạnh phần dưa.
"Đây là dưa cải bẹ gieo trên đất vườn ven giếng đá Thanh Khê, muối bằng nước giếng đun sôi để nguội pha gừng già và đường phèn vụn ba ngày ba đêm theo bí quyết của bà ngoại cháu. Còn đây là tương đậu nành ngậm sáp, đồ chín bằng chõ gỗ mít hai canh giờ rưỡi, lên men hoa cau truyền thống và phơi nắng đúng ngọ suốt mấy tuần ròng. Xin bá bá nếm thử xem hàng hóa của Diệp gia có đủ tư cách đứng chân ở chợ trấn hay không."
Lưu Văn Hòa nhìn đĩa dưa tương sạch bóng, ngửi thấy hương vị thanh khiết không vương chút tạp chất, ánh mắt nghiêm nghị thoáng giãn ra. Ông sống ở chốn thị tứ nhiều năm, của ngon vật lạ không thiếu, nhưng nhìn cách sắp đặt sạch sẽ, cẩn trọng từng đường đũa ngọn rau của cô gái trẻ, trong lòng đã ngầm sinh ra mấy phần kính trọng. Người làm nghề ăn uống, nhìn cách họ giữ sạch chiếc thìa, đôi đũa là biết được gốc rễ phẩm hạnh. Ông cầm đôi đũa tre, gắp một miếng dưa cải đưa vào miệng.
"Rộp!"
Tiếng giòn tan vang lên giòn giã giữa gian phòng tĩnh mịch. Miếng dưa vừa chạm vào đầu lưỡi đã đánh thức toàn bộ vị giác: độ chua thanh dịu dàng không gắt họng, vị mặn vừa vặn ngấm sâu vào từng thớ dưa, gừng già giữ cho tỳ vị ấm áp, và sau cùng là hậu vị ngọt hậu tự nhiên nơi cuống họng. Không một chút xơ, không một chút bã dai, từng tế bào rau cải như vỡ òa ra làn nước cốt chua ngọt dịu mát. Ông bất giác gật đầu, lại dùng đầu đũa chấm một chút tương đậu nành cho vào miệng nếm thử.
Chất tương sánh mượt như lụa tan đều trên lưỡi. Vị mặn mòi của muối biển rang không hề chát chúa, hạt đậu nành mềm ngậy bùi béo, hòa cùng hương thơm của mốc hoa cau lên men tự nhiên và chút vị ngọt sâu lắng của mía nướng lùi tro—tuyệt đối không phải loại tương pha bột mì hay nấu dối bằng phẩm màu của những kẻ gian thương bán dạo ngoài chợ. Đó là cái vị đậm sâu, lắng đọng của thời gian, của nắng gió và của sự nhẫn nại phi thường trong từng công đoạn ngâm, ủ, phơi sương, đảo nắng.
Lưu Văn Hòa nhắm mắt lại thưởng thức trọn vẹn dư vị đậm đà nơi cổ họng. Một thoáng hồi ức xa xăm bỗng chốc hiện lên trong đáy mắt ông. Cách đây hai mươi năm, khi ông còn là một thanh niên mới chập chững ra mở quán trọ, từng có dịp nếm thử món tương ngự dụng ở đất kinh kỳ mang về, hương vị thanh tao mà bền bỉ ấy dường như đã thất truyền từ lâu. Ông mở mắt ra, nhìn Tiểu Mãn với ánh mắt hoàn toàn khác trước:
"Dưa giòn rụm róc nước, tương sánh mịn thơm nồng! Mùi vị này... hệt như tay nghề của Lâm Thu Bà thuở xưa khi bà còn làm quản sự bếp ngoài huyện thành! Ta nhớ hơn mười năm trước, mỗi lần nha môn có tiệc lớn hay các hoa viên đón khách quý, đều phải lặn lội tìm mua cho bằng được hũ tương của bà cụ. Tay nghề này đúng là gia truyền chính tông, không sai một ly một hào!"
Tiểu Mãn xúc động khẽ mỉm cười, sống mũi nàng cay cay khi nghe người ngoài nhắc đến tên bà ngoại với lòng kính ngưỡng chân thành:
"Dạ thưa bá bá, đúng là bí quyết của bà ngoại cháu để lại. Bà cháu khi còn sống luôn dạy rằng: làm đồ ăn cho người ta bỏ vào miệng, cái tâm phải sạch như nước giếng đá. Dù nghèo đói đến đâu, hạt đậu mốc xám, giọt nước mưa rỉ vào chum cũng phải kiên quyết đổ bỏ, tuyệt đối không được tham vài đồng bạc mà bán rẻ lương tâm. Hôm trước ở thôn Thanh Khê có một đợt mưa dầm, nước giọt gianh làm hỏng mất hai chum tương của cháu, cháu đã tự tay khiêng đổ hết xuống hố phân sau vườn để làm phân bón, chứ dứt khoát không giữ lại một giọt để bán."
"Tốt! Rất tốt!" Lưu Văn Hòa vỗ đùi đánh đét một tiếng, gương mặt lộ rõ vẻ tán thưởng khôn xiết. "Cái thời buổi nhiễu nhương này, người buôn bán thì nhiều mà người giữ trọn chữ tín và lương tâm nghề nghiệp thì hiếm như lá mùa thu. Dưa tương của cháu ngon đến mức này, lại có cái tâm ngay thẳng như vậy, nếu không cho cháu một góc sạp để phát triển, thì quả là đất Liễu Kiều này có mắt như mù!"
Nói đoạn, Tiểu Mãn lấy từ trong tay nải ra một chiếc bọc nhỏ bằng vải thô nhuộm màu vỏ cây ngay ngắn. Nàng đặt lên bàn chiếc túi vải mộc thêu hình nhành hoa cải xanh xinh xắn bọc hai hũ dưa tương biếu Lưu lão bản, cùng một bọc giấy dầu nhỏ buộc lạt đỏ. Những ngón tay thon thả của nàng đẩy nhẹ bọc giấy về phía trước mặt Lưu Văn Hòa, cất lời:
"Thưa bá bá, hai hũ dưa tương này là tấm lòng thảo của gia đình cháu kính biếu bá bá nếm thử lấy thảo. Còn trong bọc giấy này là ba mươi đồng tiền kẽm, cháu xin gửi biếu bá bá tiền trà nước tượng trưng cho công sức thúc phải đi lại nha quản chợ hôm nay. Cháu biết ơn nghĩa này tiền bạc không thể nào đo đếm hết, nhưng gia đình cháu buôn bán lấy sự sòng phẳng làm đầu, tuyệt đối không dám để bá bá vì giúp đỡ cháu mà phải chịu thiệt thòi dù chỉ nửa chén trà."
Tiểu Mãn hít sâu một hơi, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào Lưu lão bản, cất giọng cam kết rành rọt từng điều:
"Trước mặt Lưu bá bá và Tạ huynh hôm nay, cháu xin lấy danh dự của Diệp gia và vong linh bà ngoại đoan thề: Thứ nhất, sạp hàng nhà họ Diệp sẽ tuân thủ nghiêm ngặt giờ giấc chợ, giờ Dần dọn hàng, đúng chính ngọ dọn sạch sẽ, tuyệt đối không nấn ná tụ tập làm cản trở lối đi. Thứ hai, mỗi phiên chợ dọn xong, rác rưởi, vỏ rơm, nước dưa thừa đều được quét dọn sạch bóng, trả lại mặt bằng tinh tươm cho khu chợ. Thứ ba, thuế sạp cố định mười lăm đồng mỗi phiên theo luật định của nha quản chợ, cùng mọi khoản lệ phí cân đo, cháu sẽ đích thân nộp đủ tận tay nha sai tuần chợ trước giờ Thìn, quyết không để nợ đọng một xu, tuyệt đối không để nha môn phải phiền hà đến cửa nhà trọ của bá bá dù chỉ một lời!"
Nhìn từng cử chỉ chững chạc, nghe từng lời thề thốt phân minh, khúc chiết và thấu tình đạt lý của nàng thôn nữ mười bảy tuổi, Lưu Văn Hòa không khỏi chấn động trong lòng. Người lăn lộn nửa đời chốn chợ búa như ông đã từng thấy bao nhiêu kẻ miệng lưỡi trơn tru, hứa hươu hứa vượn nhưng khi đụng chuyện thì trốn chui trốn nhủi; nhưng trước mắt ông lúc này là một ánh mắt sáng quắc, trong trẻo và ngập tràn dũng khí. Từng lời nói ra tựa như đinh đóng vào cột, không kiêu căng mà đầy tự trọng. Ông nhìn sang Tạ Cảnh, thấy chàng thư sinh khẽ gật đầu, ánh mắt ánh lên niềm tự hào kín đáo và sự tin tưởng tuyệt đối dành cho người con gái ấy.
Lưu lão bản mỉm cười xua tay, đẩy bọc tiền ba mươi đồng kẽm trở lại phía Tiểu Mãn:
"Tiền trà nước này cháu hãy thu lại đi. Cháu giữ được chữ tín, biết lo trước tính sau, lại trọng danh dự như thế, Lưu Văn Hòa này há lại là kẻ bòn rút mấy đồng kẽm của đứa cháu gái đang cơn hoạn nạn sao? Hai hũ dưa tương ngon tuyệt này ta nhận, coi như món quà ra mắt của người nhà. Đi! Cảnh nhi, khóa cửa phòng trọ lại, theo ta đến nha môn quản chợ ngay bây giờ. Hôm nay phiên chợ mùng sáu vừa khéo bắt đầu, phải làm cho xong thủ tục trước giờ Thìn kẻo hết chỗ tốt!"
Nói là làm, Lưu Văn Hòa đứng dậy, chỉnh đốn lại vạt áo dài bằng vải bông xám tro tươm tất, bước nhanh ra cửa. Tạ Cảnh vội vàng thu dọn nghiên bút, cài then cửa phòng trọ cẩn thận rồi cùng Tiểu Mãn rảo bước theo sau.
Trời đã sáng rõ. Những dải sương mai lãng đãng vắt ngang ngọn rặng liễu ven bờ sông đào dần tan biến dưới ánh nắng ban mai ấm áp đang rải từng vạt vàng ươm lên mặt nước lấp lánh. Trên chiếc cầu đá Liễu Kiều ba nhịp cong cong rêu phong cổ kính, dòng người gánh gồng, đẩy xe kéo kĩu kịt đổ về chợ mỗi lúc một đông. Tiếng hò hét vang dội của cánh phu khuân vác bến tàu dỡ gạo từ thuyền buôn, tiếng bánh xe gỗ nghiến ken két trên nền đá hộc gập ghềnh, tiếng người mua kẻ bán mặc cả trả giá râm ran tạo nên một bầu không khí náo nhiệt, sầm uất chưa từng thấy đối với Diệp Nhị Hòa—cậu thiếu niên mười bốn tuổi đang gánh đôi sọt tre lót rơm dày cộp đi sau lưng chị gái.
Đôi mắt Nhị Hòa tròn xoe, hết nhìn dãy thuyền buôn san sát dưới bến lại ngó những biển hiệu vải bay phấp phới trước các tửu lầu ven đường. Đôi vai cậu bé tuy còn mảnh khảnh nhưng gánh hai sọt dưa tương nặng trĩu mà bước chân vẫn thoăn thoắt, không hề nghiêng ngả. Mỗi lần có ai đó vô tình chen lấn suýt va vào gánh hàng, cậu lại khéo léo nghiêng người né tránh, hai tay giữ chặt lấy đòn gánh tre bóng loáng, bảo bọc từng hũ sành như bảo bọc tính mạng của mình.
Tòa nhà của nha quản chợ nằm ngay đầu dãy phố chợ trung tâm, xây bằng gạch hoa xám kiên cố, mái lợp ngói âm dương phủ đầy rêu phong. Phía trước hàng hiên rộng rãi treo hai chiếc lồng đèn lụa đỏ đã bạc màu mưa nắng, trên mặt đèn dùng mực đen viết bốn chữ lớn theo lối chân phương: "Thị Ty Quản Lý". Bên trong gian công đường nhỏ, khói trầm phảng phất bay ra từ chiếc đỉnh đồng con đặt cạnh bàn án thư. Vị quan quản chợ họ Tống trạc ngoài bốn mươi, mặt vuông chữ điền, mặc chiếc áo chẽn nẹp đen viền chỉ đỏ của nha sai, đang ngồi bên chiếc bàn gỗ lim uống trà hoa cúc, tay lật giở cuốn sổ bạ dày cộp ghi danh sách các chủ sạp đóng thuế tháng.
Nghe tiếng bước chân bước qua bậu cửa đá, quan quản chợ họ Tống ngẩng đầu lên. Vừa thấy bóng dáng quen thuộc của Lưu Văn Hòa, ông ta lập tức đặt chén trà xuống, trên gương mặt nghiêm nghị nở nụ cười quen thuộc:
"Ô kìa, Lưu lão bản! Ngọn gió nào đưa bác tới chốn ồn ào bụi bặm này sớm thế? Chẳng hay dãy nhà trọ có khách lạ nào cần kiểm tra giấy thông hành ư?"
Lưu Văn Hòa chắp tay cười ha hả, bước tới gần bàn án thư:
"Tống gia khách khí quá. Hôm nay lão già này không có việc quan, chỉ là dẫn người nhà đến xin ngài một ân huệ nhỏ. Chẳng là cháu gái ta đây, con nhà Diệp gia ở Thanh Khê, có nghề làm dưa tương gia truyền nức tiếng, muốn xin thuê một góc sạp cố định ở khu hàng khô để bán vào các ngày phiên chính. Ta đích thân đứng ra ký giấy bảo chứng cư trú và bảo lãnh toàn bộ tư cách buôn bán cho cháu nó."
Quan quản chợ họ Tống nghe vậy thì nhướng mày ngạc nhiên. Ông ta quá hiểu tính nết của Lưu lão bản—xưa nay vốn là người cẩn thận đến mức con ruồi bay qua cũng phải đếm cánh, sau vụ việc tên buôn dầu mè mấy năm trước, ông lão gần như đoạn tuyệt với mọi lời cầu xin bảo lãnh của người ngoài. Vậy mà hôm nay lại đích thân dắt mối, đứng ra gánh vác trách nhiệm cho một cô thôn nữ trẻ măng. Tống quản chợ đưa mắt sắc sảo đánh giá Tiểu Mãn cùng Nhị Hòa. Thấy hai chị em ăn mặc vải thô nâu mộc mạc nhưng quần áo sạch sẽ không một vết bùn dơ, đầu tóc búi gọn gàng sau gáy, ánh mắt trong sáng, thẳng thắn nhìn mình mà không hề có vẻ lấm lét hay run rẩy của phường gian lận chợ búa, vẻ mặt nghiêm nghị của ông ta dịu đi vài phần.
"Lưu lão bản đã đích thân mở lời đứng tên bảo chứng thì bản quan còn gì phải nghi ngại," Tống quản chợ kéo nghiên mực lại gần, rút một tờ giấy bản in sẵn hoa văn chìm của nha môn trải rộng ra mặt bàn. "Theo lệ định của chợ trấn Liễu Kiều thuộc nha môn huyện Vân Thủy: thuê sạp cố định khu hàng khô mỗi phiên nộp thuế mười lăm đồng kẽm, nộp trước theo tháng hoặc nộp từng phiên vào đầu giờ Thìn. Không được lấn chiếm quá ba thước lòng đường, không đổ nước bẩn bừa bãi, không bán hàng ẩm mốc giả dối. Lưu lão bản, xin mời ký tên và điểm chỉ vào đây."
Lưu Văn Hòa cầm quản bút lông, nắn nót ký ba chữ tên mình vào góc dưới tờ văn tự bảo chứng rồi ấn ngón tay cái vào khay mực chu sa đỏ thắm, dập mạnh dấu vân tay lên mép chữ. Tống quản chợ cầm con triện đồng vuông vức chấm mực đỏ, đóng đánh "cộp" một tiếng vang dội lên giữa tờ công văn. Đoạn, ông ta thò tay vào chiếc hòm gỗ bên cạnh, rút ra một mảnh thẻ bài bằng gỗ thị hình chữ nhật, bốn góc vát tròn, trên mặt khắc sâu ba chữ: "Hàng Khô - Ất Thập Bát", đưa sang cho Tiểu Mãn.
Tiểu Mãn hai tay đón lấy thẻ bài gỗ mát rượi, ngón tay mân mê những nét chữ khắc sâu, lòng tràn ngập niềm xúc động khó tả. Đây chính là chiếc chìa khóa đầu tiên mở ra cánh cửa sinh tồn cho cả gia đình nàng nơi thị trấn sầm uất này. Không một chút chậm trễ, nàng lập tức mở túi tiền thô bên hông, đếm đủ mười lăm đồng tiền kẽm sáng loáng, xếp thành ba cọc ngay ngắn đặt lên mặt bàn trước mặt quan quản chợ:
"Cháu xin nộp trước thuế sạp của phiên chợ mùng sáu hôm nay. Đa tạ Tống gia đã tạo điều kiện!"
Tống quản chợ liếc nhìn mười lăm đồng tiền kẽm xếp thành cọc ngay ngắn, không sứt mẻ, không pha lẫn tiền chì mục nát, trong lòng không khỏi gật gù hài lòng trước sự sòng phẳng, nhanh nhẹn của cô nương trẻ tuổi. Thói thường những kẻ buôn thúng bán mẹt đến xin chỗ hay kì kèo bớt một thêm hai, hoặc khất nợ đến cuối phiên mới chịu nộp thuế; người biết điều và dứt khoát như nàng quả là hiếm thấy. Ông xua tay chỉ về phía góc đông dãy hàng khô, cất giọng dặn dò:
"Vị trí Ất Thập Bát nằm ngay cạnh cột đình số ba, góc sạp ấy hơi khuất gió nhưng nền đá cao ráo, gần lối rẽ xuống bến sông. Cứ theo thẻ bài mà dựng sạp, đừng để xảy ra xích mích với các sạp bên cạnh là được."
"Dạ, chúng cháu xin ghi nhớ lời Tống gia dặn bảo." Tiểu Mãn cúi đầu tạ ơn.
Rời khỏi nha quản chợ, Lưu Văn Hòa vỗ vai Tạ Cảnh dặn dò thêm vài câu về việc sổ sách phòng trọ buổi trưa rồi quay gót trở về dãy nhà trọ giải quyết công việc. Tạ Cảnh, Tiểu Mãn cùng Nhị Hòa lập tức đi thẳng tới vị trí Ất Thập Bát ở khu hàng khô.
Chỗ sạp được phân chia quả đúng như lời Tống quản chợ nói: đó là một khoảnh đất lát đá phiến xanh rộng chừng năm thước vuông, dựa lưng vào bờ tường gạch rêu phong của gian đình chợ cổ kính. Vị trí này tuy không nằm ngay mặt tiền trục đường chính nối từ cổng chợ vào đình, nhưng lại nằm ngay ngã ba giao nhau giữa lối rẽ xuống bến bốc dỡ hàng ven sông và lối dẫn vào khu chợ thực phẩm tươi sống. Gió từ sông thổi lên mát rượi, nền đá lát cao hơn mặt đường đất xung quanh nửa gang tay, róc nước và hoàn toàn khô ráo, không lo cảnh bùn lầy nhơ nhớp mỗi khi trời đổ mưa rào.
Bên cạnh sạp Ất Thập Bát là một hàng bán nấm hương, mộc nhĩ và măng khô của một bà lão tóc bạc phơ, gương mặt phúc hậu đang ngồi lần tràng hạt gỗ. Thấy có người mới đến dọn sạp, bà lão khẽ mỉm cười gật đầu chào đón, ánh mắt hiền từ không hề có vẻ xoi mói, ganh ghét như những người buôn bán nhỏ khác.
Nhị Hòa đặt đôi gánh nặng xuống phiến đá, thở phào một hơi dài rồi nhanh nhẹn tháo chiếc dây gai buộc bốn tấm ván gỗ mộc dày dặn mà cậu cùng cha Diệp Thành đã cặm cụi đẽo gọt, bào nhẵn suốt mấy ngày nông nhàn ở quê. Những tấm ván gỗ mít dày hai ngón tay, thớ gỗ màu vàng ươm tỏa ra mùi hương thoang thoảng của nhựa cây mới cưa, mép ván được Diệp Thành khoét các mộng khuyết tinh xảo ăn khớp vào nhau chằn chặn. Dù hai chân còn chưa đi lại bình thường sau tai nạn gãy xương, nhưng đôi bàn tay người thợ mộc tài hoa của người cha vẫn dồn hết tâm huyết vào từng đường cưa nhát đục để tạo nên chiếc sạp hàng này cho các con.
"Tỷ để đệ kê chân sạp cho!" Nhị Hòa thoăn thoắt xếp bốn khúc gỗ kê hình chữ thập xuống nền đá, căn chỉnh cho thật thăng bằng, rồi cùng Tạ Cảnh nhấc hai tấm ván lớn đặt lên trên.
Mặt sạp gỗ mít vàng ươm, phẳng lì như mặt gương soi, cao cách mặt đất đúng một thước hai tấc để tránh hơi ẩm bốc lên từ nền đá ẩm ướt và ngăn không cho bụi bặm từ bước chân người qua lại bắn vào hàng hóa. Tiểu Mãn lấy từ trong sọt ra một tấm vải bạt thô màu chàm đã được giặt sạch bong, thơm ngát mùi lá sả phơi nắng, trải phẳng phiu lên mặt ván, vén mép vải ngay ngắn quanh bốn cạnh sạp.
Bấy giờ, nàng mới cẩn thận mở từng chiếc sọt tre lót rơm dày. Nhị Hòa cẩn thận chuyền tay từng hũ gốm đưa cho chị gái. Ba mươi hũ dưa chua bọc túi vải thô thêu hoa cải xanh của mẹ Lâm Tú Nương và hai mươi hũ sành da lươn đựng tương đậu nành sánh đặc được xếp thành từng hàng thẳng tắp, ngăn nắp. Những chiếc túi vải thô mộc mạc mang sắc trắng ngà của sợi bông tự nhiên, trên góc túi có thêu ba nhánh hoa cải vàng nhỏ xíu điểm xuyết chiếc lá xanh biếc, dây rút bằng sợi đay bện chặt vừa tạo vẻ thanh nhã vừa giúp người mua dễ dàng xách trên tay mà không sợ trơn tuột. Mỗi hũ tương sành bóng loáng đều có nhãn dán bằng giấy hồng điều hình vuông dán chéo, trên đó ghi rõ bốn chữ "Diệp Gia Dưa Tương" bằng nét chữ khải chân phương, mạnh mẽ và sắc sảo do chính tay Tạ Cảnh nắn nót viết từ đêm hôm trước dưới ánh đèn dầu.
Ở góc sạp hướng ra lối đi, Tiểu Mãn đặt một chiếc khay gỗ nhỏ bằng gỗ trắc đào nhẵn thín, bên trên bày sẵn chiếc đĩa sứ trắng đựng những lát dưa chua róc nước vàng ươm cắt khúc vừa miệng, một chén tương nhỏ màu nâu cánh gián thơm nức mũi và một ống tre cắm sẵn mấy chục que tre nhỏ vót mỏng, nhẵn thín không một sợi dằm để khách qua đường nếm thử.
Góc sạp tuy nhỏ bé, mộc mạc nhưng toát lên vẻ sạch sẽ, thanh nhã và tinh tươm khác hẳn với những sạp dưa tương nhếch nhác, ruồi bâu quanh các thùng gỗ cáu bẩn bốc mùi chua nồng thường thấy ở các góc chợ ẩm thấp. Người đi chợ chỉ cần liếc mắt nhìn qua là đã cảm nhận được sự kính trọng và trân quý của người bán đối với từng món ăn mình làm ra.
Chẳng mấy chốc, mặt trời lên cao ba con sào. Bầu trời quang đãng không một gợn mây, ánh nắng rực rỡ chiếu rọi xuống khắp các ngõ ngách của thị trấn. Khu chợ trấn Liễu Kiều bước vào giờ cao điểm náo nhiệt nhất trong ngày. Dòng người nườm nượp từ các ngả đường đổ về, tiếng rao hàng lảnh lót của người bán bánh hoa quế, tiếng đập búa chan chát từ lò rèn đầu cầu, tiếng cãi cọ trả giá của các bà nội trợ hòa lẫn vào nhau tạo nên một khúc nhạc huyên náo của đời sống thường nhật.
Mùi thơm nồng nàn, đậm đà của tương đậu mốc hoa cau hòa quyện với vị chua thanh ấm áp của gừng và dưa cải bắt đầu len lỏi qua làn gió sớm. Làn gió sông đưa hương thơm bay lan tỏa khắp lối đi lát đá của khu hàng khô, bay qua những sạp bán nấm hương, mộc nhĩ, rồi trườn theo con đường dốc dẫn thẳng xuống bến sông nơi hàng chục con thuyền buôn đang neo đậu.
"Ủa, mùi gì mà thơm ngậy thế này? Có phải ai vừa mở vò tương ngự tiến không?"
Một giọng nói sang sảng, ồm ồm như chuông đồng vang lên từ đầu con dốc dẫn lên từ bến thuyền. Bước tới là một người đàn ông trung niên ngoài bốn mươi tuổi, dáng người phốp pháp vạm vỡ, nước da ngăm đen vì nắng gió sông nước. Ông ta mặc một chiếc tạp dề vải thô màu nâu sẫm đã loang lổ vết dầu mỡ và tàn tro bếp, một tay xách chiếc làn mây lớn đựng đầy cá trôi tươi rói còn đang quẫy đuôi đành đạch cùng mấy tảng thịt ba chỉ lợn tươi ngon bọc lá chuối. Đi sau lưng ông ta là hai người phụ bếp trẻ tuổi gầy gò đang khiêng một rổ tre lớn chất đầy rau muống nước và hành hoa. Nhìn chiếc tạp dề đặc trưng và chiếc dao bổ cau giắt bên hông, Tiểu Mãn lập tức nhận ra đây chính là vị bếp trưởng của tửu quán "Vọng Giang Lâu"—quán ăn bình dân nổi tiếng bậc nhất ven bến Liễu Kiều, nơi chuyên phục vụ cơm canh nóng sốt cho hàng trăm cánh thương hồ, thủy thủ tàu buôn và phu bến tàu mỗi ngày.
Người đầu bếp hếch mũi lên, hít hà một hơi thật sâu như người nghiện rượu ngửi thấy mùi men nồng. Đôi mắt ti hí của ông ta quét một lượt qua các sạp hàng khô rồi dừng lại, dán chặt vào góc sạp Ất Thập Bát, nơi những chiếc hũ sành da lươn bọc túi vải thô tinh tươm đang tỏa ra thứ hương thơm quyến rũ chết người kia. Ông ta sải bước dài tiến thẳng tới trước sạp gỗ, buông chiếc làn mây xuống nền đá đánh "bịch" một tiếng.
"Cô nương, mùi tương thơm nức này là từ sạp của cô tỏa ra đấy à?"
Tiểu Mãn nở nụ cười tươi tắn, hai bàn tay đan nhẹ trước bụng, dịu dàng cúi chào theo đúng phép tắc:
"Dạ thưa đại thúc, đúng ạ. Đây là tương đậu nành lên men hoa cau truyền thống và dưa cải bẹ giòn của gia đình cháu ở Thanh Khê mang ra chợ trấn thử sức phiên đầu. Mời thúc dùng thử một que dưa chấm chút tương xem có hợp khẩu vị không ạ."
Nói rồi, nàng nhanh tay rút một chiếc que tre sạch từ ống nứa, gắp một miếng dưa cải vàng ruộm róc sạch nước, chấm ngập một phần ba vào chén tương nâu sánh đặc, cung kính đưa bằng cả hai tay.
Người đầu bếp đón lấy que tre. Là một người đứng bếp ngót hai mươi năm, ông ta không vội bỏ ngay vào miệng mà đưa lên mũi ngửi thử trước. Mùi thơm ngát của gừng, vị thanh mát của dưa lên men tự nhiên xộc thẳng vào cánh mũi, hoàn toàn không vương chút mùi giấm chua hóa chất hay mùi khú hỏng. Ông ta ngắm nghía lát dưa khô ráo, thớ cải săn chắc không một chút váng ôi, rồi mới thong thả đưa vào miệng nhai chậm rãi.
"Rắc!"
Âm thanh giòn tan, giòn giã vang lên rõ mồn một. Ngay sau đó, đôi mắt ti hí của người đầu bếp bỗng mở to hết cỡ, hai hàng lông mày rậm giật giật kinh ngạc. Ông ta chép miệng liên hồi, cơ mặt giãn ra trong sự thỏa mãn tột cùng. Vị giòn ngọt của dưa quyện chặt lấy vị bùi béo, thơm ngậy và đậm đà của hạt tương lên men hoàn hảo. Vị mặn mòi tinh khiết của muối biển làm tôn lên vị ngọt thịt tự nhiên của đậu nành ngậm sáp, lại có chút the the ấm nồng của gừng già át sạch mùi tanh nồng. Cái vị chua không gắt họng mà dịu dàng lan tỏa khắp khoang miệng, khiến cho tuyến nước bọt lập tức ứa ra, đánh thức mọi giác quan đang uể oải sau một buổi sáng sớm thức dậy nhóm lò vất vả.
"Khá lắm! Tuyệt cú mèo!" Người đầu bếp nuốt ực một cái, vỗ đùi đánh đét, tấm tắc khen ngợi không ngớt lời trước ánh mắt tò mò của hai người phụ bếp đi cùng. "Ta làm bếp ở tửu quán ven bến sông này ngót hai mươi năm, nếm qua không biết bao nhiêu thùng tương của các thương lái từ mạn ngược chở về, nhưng chưa từng thấy tương nào sánh mượt và thơm sâu đến thế này! Dưa cải lại giòn tan, không hề bị mặn chát hay ủng nước. Món này mà đem kho với cá trôi bến sông hay xào với lòng lợn phục vụ cho cánh phu thuyền kéo lưới thì tốn cơm phải biết!"
Ông ta đập bàn tay hộ pháp lên mặt sạp gỗ mít, hỏi dồn dập với vẻ hào sảng của dân sông nước:
"Bao nhiêu tiền một thăng tương? Còn dưa này bán thế nào? Cô nương nói mau để ta còn kịp về nhóm lửa nổi niêu kẻo khách thuyền cập bến!"
Tiểu Mãn vẫn giữ nụ cười điềm đạm, bình tĩnh đáp rành rọt, giữ đúng mức giá đã chiết tính cẩn thận cùng Tạ Cảnh từ hôm trước:
"Bẩm thúc, dưa cải sen muối róc nước của cháu bán mười hai đồng một cân, nếu mua cả hũ sành bọc túi vải thô thêu hoa cải xách đi xa thì tròn mười bốn đồng một phần. Còn tương đậu đặc sánh loại hảo hạng này cháu bán hai mươi đồng một thăng ạ."
Mức giá hai mươi đồng một thăng tương đặc ở chợ trấn là giá tiêu chuẩn của hàng loại một, nhưng so với phẩm chất vượt trội của mẻ tương ngậm sáp nhà họ Diệp thì lại là một món hời lớn. Người sành ăn như vị đầu bếp này chỉ cần nhìn độ sánh đặc khi nghiêng thìa là biết hũ tương này không hề pha loãng một giọt nước lã hay độn thêm bột ngô như các hàng quán gian dối khác. Ông ta không hề mặc cả nửa lời, lập tức thò tay vào túi vải bên hông, rút ra một chuỗi tiền kẽm xâu bằng dây đay chắc chắn, đếm soàn soạt:
"Được! Cân cho ta năm cân dưa cải róc nước, với lấy luôn bốn hũ tương loại hai mươi đồng kia! Nếu trưa nay khách ăn khen ngon, phiên chợ mùng mười tới ta sẽ ra đây bao trọn cả sạp!"
Nhị Hòa đứng bên cạnh nghe thấy thế thì mừng rơn, hai mắt sáng ngời. Cậu bé nhanh nhẹn bước lên, hai tay thoăn thoắt nhấc từng hũ tương sành bọc dây lạt giang chắc chắn trao cẩn thận cho hai người phụ bếp đang đứng chờ sẵn với vẻ thèm thuồng. Tiểu Mãn mở chiếc vò dưa lớn, dùng chiếc kẹp tre gắp từng cọng dưa vàng óng bỏ lên đĩa cân đồng cán gỗ mun. Quả cân đồng trượt nhẹ trên thang chia độ, dừng lại ở mức năm cân chằn chặn không thừa không thiếu một ly. Nàng thoăn thoắt trút dưa vào chiếc âu sành lớn của quán ăn mà người phụ bếp vừa mang tới.
"Leng keng! Leng keng!"
Tiếng tiền kẽm va vào nhau giòn tan, vui tai khi chuỗi tiền một trăm bốn mươi đồng rơi gọn vào chiếc hộp tre đựng tiền của Tiểu Mãn. Đây là món tiền lớn đầu tiên thu được nơi chợ trấn, tượng trưng cho một sự khởi đầu hanh thông ngoài mong đợi.
Mùi thơm ngào ngạt của dưa tương tỏa ra trong lúc mở vò cùng cảnh tượng người đầu bếp khó tính nổi tiếng của quán "Vọng Giang Lâu" tấm tắc khen ngợi mua mở hàng với số lượng lớn lập tức thu hút sự chú ý của những người đi chợ quanh vùng. Đám đông bắt đầu dừng bước, xúm xít lại quanh sạp hàng Ất Thập Bát.
"Này, dưa chua nhà ai mà thơm thế kia? Cho tôi nếm thử một miếng nào!"
"Tương này làm bằng đậu gì mà màu cánh gián đẹp mắt thế, có pha bột không đấy?"
Tiểu Mãn không hề bối rối trước sự vây quanh của hàng chục người. Nàng tươi cười đon đả, đôi tay thoăn thoắt rút từng chiếc que tre mới, gắp dưa chấm tương mời từng người nếm thử. Sự sạch sẽ, vệ sinh tuyệt đối cùng thái độ nhã nhặn, tôn trọng khách hàng của nàng đã chiếm trọn cảm tình của mọi người ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Một bà nội trợ trung niên dắt theo đứa con nhỏ chừng năm tuổi ghé vào. Đứa bé vừa ăn thử một miếng dưa giòn rụm đã thích thú vỗ tay reo lên: "Mẹ ơi, dưa giòn ngọt quá, ngon hơn dưa bà ngoại muối nhiều!" Người mẹ nếm thử que thứ hai, lập tức bị chinh phục bởi độ chua thanh dịu nhẹ. Nhìn thấy chiếc túi vải thô thêu cành hoa cải vàng xinh xắn bọc quanh hũ dưa, bà ta liền mua liền hai hũ: "Gói cho ta hai hũ có cả túi vải nhé! Chiếc túi này xinh xắn quá, mang về đựng trầu cau hay kim chỉ thì tiện biết mấy!"
Tiếp đó, hai bác phu bến tàu vừa tan ca dỡ hàng, mồ hôi còn ướt đẫm manh áo tơi, ngửi thấy mùi tương đậu thèm thuồng liền ghé vào. Họ gom những đồng tiền lẻ kiếm được từ buổi sáng, chia nhau mua chung một hũ tương hai mươi đồng cùng nửa cân dưa cải để mang về căn chòi lá ven sông chấm rau muống luộc ăn bữa trưa đạm bạc. Tiểu Mãn không những không chê họ mua ít mà còn đon đả múc thêm cho họ một muỗng tương đầy có ngọn, khiến hai người phu phen xúc động, luôn miệng cảm ơn và hứa phiên chợ sau sẽ tiếp tục ủng hộ.
Góc sạp Ất Thập Bát vốn nằm ở vị trí hơi khuất gió của đình chợ bỗng chốc trở thành tâm điểm nhộn nhịp nhất của khu hàng khô. Tiếng cười nói râm ran, tiếng đũa tre lách cách, tiếng tiền kẽm leng keng rơi vào ống nứa tạo nên một khung cảnh buôn bán tấp nập, ấm áp lạ thường. Bà lão bán mộc nhĩ bên cạnh nhìn thấy cảnh tượng ấy cũng mỉm cười hiền từ, thỉnh thoảng còn phụ giúp Tiểu Mãn giữ miệng bao hay lấy thêm lá chuối sạch cho khách.
Tạ Cảnh đứng bên cạnh sạp hàng, chiếc áo chàm giản dị phất phơ trong gió. Chàng cầm trên tay cuốn sổ thẻ tre năm cột cùng quản bút lông thỏ, chăm chú theo dõi từng giao dịch, nắn nót ghi từng mục thu nhập rõ ràng: năm cân dưa thu sáu mươi đồng, bốn hũ tương thu tám mươi đồng, hai phần dưa túi vải thu hai mươi tám đồng, một hũ tương phu thuyền thu hai mươi đồng... Nét chữ khải thanh tú, dứt khoát hằn sâu trên từng nan tre. Mỗi con số hiện lên dưới ngòi bút lông không đơn thuần là những đồng tiền vô tri, mà đó là kết tinh của những giọt mồ hôi mặn chát của cha Diệp Thành ngồi cưa gỗ bên hiên nhà, của đôi bàn tay mẹ Lâm Tú Nương thức trắng đêm thêu từng cánh hoa cải, của những bước chân lặn lội ba mươi dặm đường gió sương của chị em Tiểu Mãn, và cả niềm hy vọng cháy bỏng của cả một gia đình đang kiên cường vươn lên từ bùn lầy nợ nần tăm tối.
Mặt trời dần leo lên đỉnh đầu, tỏa ánh nắng chói chang xuống những mái ngói rêu phong. Bóng của cây cột đình số ba thu ngắn lại chỉ còn một vệt tròn dưới chân cột. Những cơn gió từ bến sông vẫn đều đặn thổi qua hàng liễu xào xạc mang theo hơi nước mát lành xua tan đi cái ngột ngạt, oi nồng của phiên chợ trưa. Đến khoảng đầu giờ Mùi, dòng người đi chợ bắt đầu thưa thớt dần để chuẩn bị về nhà dùng bữa trưa.
Lúc này nhìn lại, trên mặt sạp gỗ mít phẳng phiu chỉ còn trơ trọi lại vài chiếc hũ rỗng nằm chơ vơ. Toàn bộ ba mươi hũ dưa chua bọc túi thêu và hai mươi hũ sành da lươn đựng tương đậu nành hảo hạng mang đi từ sáng sớm đã được bán sạch không còn một giọt! Thậm chí cả phần dưa và tương bày trên khay nếm thử cũng được một người khách quen vét sạch mang về vì quá ngon miệng.
Tiểu Mãn khẽ thở phào một hơi dài nhẹ nhõm. Nàng đưa mu bàn tay áo lau đi những giọt mồ hôi lấm tấm trên vầng trán thanh tú và hai bên gò má đang ửng hồng vì nắng gió và niềm vui. Nàng quay sang mở chiếc bình gốm nhỏ mang theo từ nhà, rót ra một bát nước rễ cỏ tranh mát ngọt, đưa tận tay cho Nhị Hòa:
"Nhị Hòa, đệ uống ngụm nước cho mát này. Hôm nay đệ vất vả gánh gồng cả chặng đường dài rồi."
Cậu thiếu niên mười bốn tuổi đón lấy bát nước, tu một hơi ừng ực đến cạn đáy, lau miệng cười toe toét để lộ hàm răng trắng bóng:
"Đệ không mệt chút nào đâu tỷ! Nhìn thấy sạp hàng của tỷ bán hết veo nhanh như thế, đệ thấy trong người khỏe khoắn như có sức trâu mộng ấy! Lần sau tỷ cứ làm nhiều hơn gấp đôi, đệ gánh được hết!"
Tạ Cảnh mỉm cười nhìn hai chị em, nhẹ nhàng gập cuốn sổ thẻ tre lại, cất tiếng thông báo kết quả kiểm đếm:
"Tiểu Mãn, chuyến hàng đầu tiên ra chợ trấn Liễu Kiều hôm nay thành công mỹ mãn ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Toàn bộ tiền bán dưa và tương thu về được sáu trăm hai mươi đồng tiền kẽm. Sau khi trừ đi mười lăm đồng tiền thuế sạp nộp cho quan quản chợ và hai mươi đồng chi phí mua lạt giang, lá chuối, chúng ta còn ròng rã năm trăm tám mươi lăm đồng. Cộng với số tiền dành dụm từ những phiên chợ bãi đá Thanh Khê trước đó, chiếc hộp tre của muội hiện giờ đã tích lũy được gần một lượng bạc rồi. Với đà này, chỉ cần thêm hai phiên chợ rằm và hai mươi mốt nữa, việc gom đủ một lượng năm tiền bạc trắng để trả dứt món nợ thuốc cùng tiền lãi cho thím dâu Chu Kim Quế vào đúng ngày rằm tháng tư tới đây là điều chắc chắn nằm trong tầm tay."
Nghe những lời tính toán rành mạch của Tạ Cảnh, Tiểu Mãn cảm thấy một tảng đá vô hình ngàn cân đè nặng lên lồng ngực mình suốt bao tháng ngày qua dường như đã được dỡ bỏ phần nào. Viễn cảnh cha bị đe dọa xiết ruộng, gia đình ly tán vì món nợ thuốc thang ngặt nghèo giờ đây đã không còn là nỗi ám ảnh kinh hoàng nữa. Con đường phía trước tuy vẫn còn gian nan, nhưng ánh sáng của sự tự chủ và no ấm đã bắt đầu hé rạng rõ ràng ngay dưới chân họ.
"Đa tạ Tạ huynh đã luôn đồng hành, chỉ bảo và giúp đỡ chị em muội từng li từng tí," Tiểu Mãn chân thành nói, ánh mắt lấp lánh niềm biết ơn sâu sắc.
"Muội đừng nói lời khách sáo," Tạ Cảnh ôn tồn đáp, ánh mắt chàng dừng lại trên gương mặt kiên nghị của nàng với vẻ trìu mến khôn nguôi. "Chính sự kiên cường và tài nghệ chân chính của muội mới là gốc rễ của mọi thành công hôm nay."
Hai chị em vui vẻ bắt tay vào dọn dẹp sạp hàng. Nhị Hòa nhanh nhẹn tháo từng chốt mộng gỗ, xếp gọn bốn tấm ván mít dày dặn lại thành một bó ngay ngắn, dùng dây gai buộc chặt lại như cũ để chuẩn bị gánh về. Còn Tiểu Mãn cầm chiếc chổi tre nhỏ quét sạch từng cọng rơm lót sọt, nhặt từng mẩu vụn lá chuối rơi vãi, dùng một chiếc giẻ ẩm lau sạch từng giọt nước dưa vương trên nền đá phiến xanh. Nàng cẩn thận trả lại mặt bằng tinh tươm, khô ráo cho góc đình chợ đúng như lời đoan thề đã hứa với Lưu lão bản và quan quản chợ họ Tống sáng nay.
Xung quanh, các chủ sạp khác cũng đang lục đục thu dọn quang gánh, tiếng còi hiệu báo hiệu chợ phiên chuẩn bị vãn vang lên từng hồi từ phía nha quản chợ. Bến sông Liễu Kiều bắt đầu thưa dần những con thuyền ghé bến, chỉ còn lại tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền gỗ và bóng những cánh chim bói cá chao liệng trên mặt nước lấp lánh nắng chiều.
Ngay khi Tiểu Mãn vừa dọn hàng chuẩn bị về thì gã lái buôn áo lụa bước tới với chiếc quạt xếp trên tay.