Tiệm Sửa Những Điều Chưa MuộnC.6 / 24
Chương 6

Tiệm phải sống đến ngày mai

Buổi sáng thứ Hai bắt đầu không phải bằng tiếng cờ-lê va vào khay sắt lách cách quen thuộc, mà bằng một luồng mùi dầu gió xoa bóp nồng nặc, cay xè, phả ra từ khoảng tối phía sau chiếc bàn thợ bằng gỗ tạp. Hơi ẩm mang theo vị muối mặn từ mé biển thổi luồn qua những thanh liếp nứa rách tả tơi, quyện chặt lấy mùi cồn long não, mùi dầu hôi ngâm xích líp và mùi sắt rỉ hoai mục lưu cữu nhiều năm dưới mái tôn xi-măng thấp lè tè.

Khi Bảo dắt chiếc xe đạp Martin 107 cũ mèm của mình trườn qua gờ xi măng gồ ghề trước cửa tiệm, cậu đã nhìn thấy bóng lưng quen thuộc của cô Mai. Người thợ cả ngồi bất động trên chiếc ghế đẩu tiện bằng gỗ nghiến tróc sơn, nửa thân trên đổ dồn về phía trước, tì toàn bộ trọng lượng cánh tay phải lên mặt bàn loang lổ những vết khoét của mũi đục và vệt cháy sém tàn thuốc. Cổ tay trái của bà gầy guộc, nổi rõ từng khớp xương thô ráp, đang nắm chặt lấy vùng khớp cổ tay phải. Những đầu ngón tay chai sần chậm rãi day miết, ấn sâu vào từng thớ thịt theo những vòng tròn nhỏ gắt gao, nặng nhọc. Lớp da quanh mắt cá tay của bà đã tấy đỏ lên như bị bỏng lửa, bóng nhẫy dưới lớp dầu xoa bóp màu hổ phách chưa kịp ngấm. Bên cạnh khuỷu tay bà, chiếc cờ-lê tròng số 14 nằm chỏng chơ cạnh chai thủy tinh dán nhãn thuốc rượu xoa bóp gia truyền, trên thân chai còn bám nguyên những vệt mỡ bò đen nhánh chưa được lau sạch.

Bảo khựng người lại ngay ngưỡng cửa. Tiếng xích xe chùng chạm nhẹ vào cacte phát ra một thanh âm *lách cách* khô khốc giữa khoảng không gian tĩnh mịch của buổi sớm.

“Đến rồi thì dắt xe nép sát vô góc trong mé vách, lấy giẻ khô lau cho sạch mấy cái vành xe hôm qua rửa xà bông còn đọng nước dưới rãnh chân căm đi,” giọng cô Mai cất lên, khàn đặc và chùng xuống ở cuối câu như một hơi thở hắt ra để nén lại cơn đau buốt. Bà không hề quay đầu lại, nhưng sự chuẩn xác quen thuộc trong từng câu lệnh khiến Bảo có cảm giác đôi mắt sắc sảo của người thợ già dường như mọc ngay sau gáy, nhìn thấu từng cử động ngập ngừng của cậu.

“Dạ, con làm liền đây cô.” Bảo vội vã gạt chân chống nghiêng, cẩn thận dựng chiếc xe của mình vào sát đống lốp cũ chất cao quá đầu người rồi bước nhanh về phía bàn thợ. Cậu không nén nổi sự lo lắng khi nhìn thấy lớp mồ hôi hột lấm tấm trên trán người đàn bà: “Cổ tay cô... lại trở chứng sưng khớp nữa hả cô Mai? Tối qua trời trở gió chướng, con ở nhà bên Xóm Cồn nghe tiếng gió rít ngoài rặng phi lao cũng đoán chừng sáng nay khớp xương của cô sẽ nhức.”

Cô Mai không đáp lời cậu ngay. Bà thở hắt ra một nhịp nặng nề qua kẽ răng cắn chặt, dùng mu bàn tay trái quệt ngang vệt mồ hôi đang rịn ra từ hai bên thái dương. Với tay lên chiếc kệ gỗ ba tầng đóng tạm bằng gỗ cốp-pha ngổn ngang những hộp đựng ốc vít, bà lấy xuống một cuộn băng thun y tế màu cháo lòng đã ngả sang sắc xám tro vì bụi sắt. Giữ một đầu băng bằng hàm răng cửa ngả màu khói thuốc, bà bắt đầu dùng tay trái quấn từng vòng thật chặt, thật đều quanh khớp cổ tay bị tổn thương. Từng nếp vải thun co giãn siết mạnh vào thịt da làm những múi gân xanh gồ hẳn lên mu bàn tay. Khi hai chiếc móc ghim bằng nhôm nhỏ xíu bấm phập vào lớp vải để cố định mối quấn cuối cùng, bà mới xoay thử cổ tay một vòng cẩn trọng. Một cái nhăn mặt kín đáo thoáng qua vội vã, đủ nhanh để giấu đi sự yếu đuối của một người cả đời sống bằng sức lực của đôi bàn tay.

“Trở chứng cái nỗi gì, bệnh nghề nghiệp ăn sâu vào cốt tủy rồi chứ chứng với tật gì nữa,” cô Mai nói, giọng ráo hoảnh như đang kể về chiếc xe đạp của người dưng nào đó. “Hơn hai mươi năm trời cầm mỏ-lết, ghì cờ-lê nối tuýp để siết những con tán chết rỉ sét ngược chiều gió biển thì khớp xương bằng đồng bằng sắt cũng phải rệu rã, huống hồ thịt da con người. Hồi trẻ cậy khỏe, mưa gió gì cũng cắm đầu đập búa, giờ mỗi lần áp thấp nhiệt đới ngoài khơi kéo mây vào là cái cổ tay này nó nhức buốt tận óc tủy, như có ai lấy dùi sắt dùi vào khớp.”

Bà kéo cuốn sổ tiếp nhận dịch vụ bìa bọc nylon xanh đặt ở mép bàn lại gần, lật sột soạt sang trang giấy trắng của ngày đầu tuần. Trên mặt giấy kẻ ô ly học trò, Bảo nhìn thấy nét chữ viết tay xiêu vẹo nhưng cứng cỏi của cô Mai từ chiều thứ Bảy tuần trước đã ghi nhận bốn đơn hẹn sửa lớn.

Cô Mai rút cây bút bi mực đỏ cài ở mép áo bà ba xám, không một giây chần chừ hay đắn đo, vạch hai đường chéo dứt khoát, đỏ lòm như hai vết chém ngang qua hai dòng đầu tiên: một chiếc xe lôi chở đá cây của vựa hải sản Ba Cương cần cưa bỏ mối hàn cũ, gia cố càng sau và đóng lại toàn bộ cụm trục bi chịu lực bạc đạn lớn; một chiếc xe thồ ba gác của vựa ve chai bị vặn xoắn toàn bộ gióng khung chính sau một cú va chạm với xe tải chở cá ở ngã ba bến tàu.

“Hai ca này gạch bỏ, dứt khoát không nhận,” ngòi bút bi đỏ ấn mạnh đến mức làm lằn rách cả mặt giấy kẻ ô. Cô Mai ngước mắt lên nhìn Bảo, đôi con ngươi nâu đục vì tuổi tác nhưng ánh nhìn vẫn đanh thép như mũi đột thép tôi: “Lát nữa chủ xe dắt qua, anh đứng ra nói năng cho gãy gọn, dõng dạc báo rõ là hôm nay tiệm không đủ nhân lực lẫn sức khỏe để làm việc nặng. Từ giờ tới lúc tắt mặt trời, chỉ nhận làm hai ca phía dưới: chiếc xe mini của cô giáo Huệ thay bộ líp tầng với canh xích, chiếc xe cào cào của thằng cháu ông Chín xóm đập chỉnh lại cụm tay phanh trước. Còn khách vãng lai tạt vô dọc ngày, anh chỉ được phép nhận các việc bảo dưỡng căn bản: vá săm xe thủng đinh, tăng sên chùng xích, bơm hơi đúng áp suất, thay vài cặp má phanh cao su mềm. Chiếc nào mâm vành cong queo hình số tám, tuôn ren trục giữa, hay mấy tay xe thồ hàng nặng nài nỉ nắn khung ép sườn thì dứt khoát từ chối, xua tay bảo dắt đi tiệm khác. Nghe cho rõ chưa?”

Bảo nhìn hai vệt mực đỏ chói lọi cắt đứt hai món tiền công chắc nịch của ngày thứ Hai, trong lòng dấy lên một cảm giác tiếc nuối xót xa thay cho tiệm. Cậu buột miệng nài nỉ:

“Nhưng cô Mai ơi... chiếc xe lôi vựa đá của chú Bảy là mối làm ăn ruột của tiệm mình mấy năm nay rồi mà cô. Sáng sớm nào chú Bảy cũng ghé qua bơm lốp, tuần nào chú cũng ủng hộ tiệm vài ba lon dầu nhớt tra sên. Hồi chiều thứ Bảy dắt xe tới gửi, chú dặn đi dặn lại là chuyến đá sáng mười giờ này chú phải chở giao cho ghe câu mực đi chuyến biển đêm, chú tha thiết nhờ cô làm giùm...”

“Thân quen hay ruột thịt gì thì hôm nay cũng dẹp qua một bên!” Cô Mai ngắt lời cậu tàn nhẫn, giọng sắc như lưỡi cưa sắt vừa mài lại me. “Cái càng sau xe chở đá cây, anh có biết nó ngậm nước muối mặn rỉ ra từ bao tải đá suốt bốn năm trời hay không? Rỉ sét nó không chỉ bám ngoài vỏ đâu, nó ăn luồn vào tận lõi thép, biến ren ốc thành một khối sắt chết cứng ngắc. Muốn tháo được cụm bạc đạn đó ra, người thợ phải đứng chân chữ bát, một tay giữ chết cờ-lê công suất lớn, một tay vung búa tạ ba cân giáng hết lực, rồi còn phải tròng thêm ống tuýp nước dài cả mét để ghì toàn bộ trọng lượng cơ thể xuống mà kích lực đòn bẩy. Cổ tay tôi đang sưng vù như cái bánh tét thế này, ráng gồng mình giáng một phát búa lệch tâm là đứt gân, giãn dây chằng ngay lập tức. Rồi lúc tôi nằm liệt giường một xó cả tháng trời, ai đứng đây mở cửa tiệm? Chú Bảy của anh có mang tiền thuốc thang, tiền gạo tới nuôi tôi không? Hay lúc đó anh tự vỗ ngực đứng ra thay tôi gánh hết tiền mặt bằng, tiền đồ nghề, tiền phụ tùng gối đầu của tiệm?”

Từng câu chất vấn sắc lạnh của người thợ cả dội xuống khiến Bảo nghẹn đắng họng. Cậu đứng chết trân, hai vai so lại, lẳng lặng nhìn xuống mũi đôi giày bảo hộ lao động mũi bọc sắt đã sờn rách, lấm tấm những đốm dầu đen ngấm sâu vào lớp da lộn không tài nào gột sạch.

Đúng lúc đó, từ ngoài con hẻm rải đá dăm dẫn ra bến cá, tiếng bánh xe nghiến kèn kẹt trên nền sỏi vụn vang lên chói tai. Một người đàn ông trung niên với nước da đen cháy vì nắng gió biển, khoác chiếc áo thun ba lỗ ướt đẫm mồ hôi dính bết vào ngực, đang hì hục kéo lê chiếc xe lôi chở đá khập khiễng rẽ vào khoảng sân trước tiệm. Bánh xe sau bên trái chao đảo dữ dội, chốc chốc lại cọ quẹt vào sườn sắt kêu *rèn rẹt* như tiếng cưa gỗ. Vừa nhìn thấy cô Mai đang đứng tựa vào bàn thợ, chú Bảy vựa đá đã thở hổn hển, cất giọng oang oang giục giã:

“Mai ơi là Mai! Cứu tao phen này với mày ơi! Cái càng sau nó lắc quá chừng lắc rồi, tao mới chất tạm ba cây đá vụn ra bến mà cái đuôi xe nó quẫy tít mù như cá mắc cạn, không tài nào giữ nổi tay lái. Mày nắn lại cái gióng sắt, lấy máy hàn chấm lại ba bốn điểm rồi siết chết cái trục sau giùm tao với! Tao đang vội chuyến đá mười giờ giao cho tàu thằng Đực đi Hòn Chuối. Mày ráng làm liền cho tao, tao trả thêm cho mày bốn chục ngàn tiền công uống nước sâm, không kỳ kèo một cắc!”

Cô Mai chậm rãi bước ra khỏi bóng râm mé hiên nhà, nhưng hai cánh tay bà đã kín đáo khoanh lại trước ngực, bàn tay phải quấn băng thun giấu gọn vào nách áo bà ba. Ánh mắt bà nhìn lướt qua chiếc xe lôi rỉ sét đỏ lòm một lượt rồi dừng lại trên khuôn mặt ướt nhẹp mồ hôi của người phu xe:

“Hôm nay em không nhận ca này của anh được đâu, anh Bảy. Cổ tay phải của em bị sưng khớp từ tối qua, sáng nay bóp không nổi cái kìm bấm thì làm sao cầm búa ba cân mà giáng lực vô càng sắt cho anh được. Anh chịu khó quay đầu xe, dắt vòng qua tiệm của anh Phúc bên ngã ba chợ lớn xem sao, bên đó có thằng cháu trai lực lưỡng nó phụ đập búa.”

“Úi giời đất ơi, dắt qua lão Phúc thì coi như xong đời tao!” Chú Bảy đập tay vào đùi đánh bốp, nét mặt méo xệch đi vì sốt ruột. “Tính lão Phúc vừa lề mề vừa vẽ việc, vô đó ổng bắt tháo tung hết ra ngâm dầu, có khi tới sẩm tối chưa xong việc thì mấy cây đá của tao tan thành nước lã hết trơn! Mày nhìn xem, thằng nhỏ phụ việc cho mày đứng sờ sờ ra đó thây!”

Người đàn ông chỉ phắt ngón tay thô ráp đầy sẹo cá cắn về phía Bảo, đôi mắt ánh lên niềm hy vọng chộp giật:

“Mày chỉ cần ngồi trên ghế chỉ việc thôi Mai! Bảo nó vác búa giáng lực, nó tròng ống tuýp ghì tán ốc theo lệnh mày! Thằng nhỏ to con khỏe mạnh thế kia, sức thanh niên dư thừa mười thằng như tao, mày sợ gì không làm nổi? Nhận giùm tao đi, mối lái làm ăn bao nhiêu năm trời chả lẽ mày nỡ lòng nào ngó lơ lúc tao kẹt cứng thế này?”

Bảo nghe gọi tên mình, tim khẽ đập thình thịch trong lồng ngực. Cậu liếc nhanh sang cô Mai. Trong một thoáng nông nổi của tuổi trẻ, một sự bốc đồng muốn lao tới nhấc ngay cây búa tạ trên giá đồ nghề, muốn chứng tỏ cho người khách quen và cho chính người thợ cả thấy rằng mình có thể làm được, mình đủ sức gánh vác việc nặng cho tiệm. Nhưng khi ánh mắt cậu chạm phải cái nhìn của cô Mai, ngọn lửa vừa nhen nhóm lập tức bị dập tắt rụi. Đôi mắt người đàn bà lạnh băng, tĩnh lặng và cứng rắn như một tảng đá ngầm nơi chân sóng.

“Không được là không được, anh Bảy. Thằng Bảo nó mới học việc được đúng hai tháng rưỡi. Nó chưa có cái cảm giác kim loại để biết lúc nào ren thép sắp đứt, chưa biết ghì cây búa tạ sao cho lực ăn thẳng vào tâm trục mà không làm dập ren tán. Cụm càng sau này mục rỗng ruột hết rồi, chỉ cần quai búa lệch một phân là nứt toác luôn cái bát moay-ơ cổ lỗ sĩ của anh, lúc đó em lấy tiền đâu ra mua phụ tùng đền chiếc xe kiếm cơm cho anh? Anh thương tình dắt qua anh Phúc giùm em. Cứ bảo là em Mai bên này tay đau gửi qua, ổng nể mặt em sẽ làm nhanh lấy giá phải chăng cho anh thôi.”

Trước thái độ dứt khoát không khoan nhượng của cô Mai, chú Bảy biết có van nài thêm cũng vô ích. Người đàn ông tặc lưỡi một tiếng thật dài, nặng trĩu vẻ bực dọc xen lẫn thất vọng. Chú càu nhàu vài câu chửi thề quen miệng của dân sông nước, quệt mạnh vạt áo lau mồ hôi trán rồi hậm hực nắm lấy càng xe kéo, quay ngoắt đầu xe dắt đi. Tiếng xích xe khô dầu nghiến vào líp sắt kêu rào rạo, rền rĩ xa dần theo con dốc dẫn ra lộ cái.

Bảo khẽ thở hắt ra một hơi dài, lén đưa mắt quan sát cô Mai. Sắc mặt người thợ già nhợt nhạt hẳn đi sau màn đối đáp căng thẳng. Bàn tay trái của bà lại vô thức tìm về cổ tay phải, năm đầu ngón tay bấu chặt qua lớp băng thun xám xịt như muốn chặn đứng cơn đau đang giần giật theo từng nhịp mạch đập.

Suốt buổi sáng hôm ấy, bầu không khí bên trong xưởng sửa xe trĩu nặng một cách ngột ngạt. Cô Mai không hề đụng tay vào bất cứ chiếc cờ-lê hay tuốc-nơ-vít nào. Bà kéo chiếc ghế đẩu ngồi sát bên cạnh chiếc xe mini Nhật của cô giáo Huệ, chỉ dùng lời nói cộc lốc và ngón trỏ tay trái để điều khiển từng thao tác của Bảo. Cậu cẩn thận dùng kìm mở khóa xích, luồn sợi xích dính đầy bùn cát đen kịt thả vào thau dầu hôi đã gạn cặn, cầm chiếc bàn chải sắt chà rửa từng mắt sên cho đến khi lộ ra màu thép xám nguyên thủy. Tiếp đó là công đoạn tháo líp tầng, chùi rửa từng viên bi con lăn li ti trong ổ líp rồi bôi mỡ bò mới.

Mỗi khi gặp phải những con tán cần siết lực chuẩn xác để định vị lại cụm phanh, cô Mai mới nặng nhọc rời ghế bước tới. Nhưng thay vì vung tay siết dứt khoát như mọi ngày, bà phải kẹp chặt cánh tay phải vào sườn, dùng cùi chỏ tì chặt lên đùi để mượn lực của toàn bộ nửa thân trên, rồi dùng bàn tay trái yếu ớt đẩy từng nấc cờ-lê ngắn ngủn. Cứ sau mỗi cú ghì ốc như thế, trán bà lại rịn thêm một lớp mồ hôi hột, khóe môi cắn chặt đến mức rớm máu vì những cơn đau nhói thấu xương truyền từ cổ tay lên tận bả vai.

Đến tận mười hai giờ trưa, khi người khách cuối cùng dắt chiếc xe cào cào đã được thay má phanh cao su mới lăn bánh rời khỏi cổng tiệm, xưởng sửa xe mới hoàn toàn chìm vào im ắng.

Cô Mai ngồi bệt xuống chiếc ghế gỗ dài sát vách tường chưa trát vữa, đầu tựa hẳn vào lớp gạch ba-vanh thô ráp phủ đầy bụi mạng nhện. Đôi mắt bà nhắm nghiền mệt mỏi, hai cánh tay buông thõng xuống hai bên mép ghế, lồng ngực phập phồng những nhịp thở ngắn và nông. Chiếc nồi cơm điện nhỏ ở góc bếp con sau tiệm vẫn chưa được cắm phích, sợi dây điện nằm cuộn tròn dưới nền đất nện. Chiếc cặp lồng nhôm đựng cơm trưa mà cô Mai mang từ nhà sang vẫn nằm im lìm trên mặt bàn thợ, phủ một lớp bụi mỏng màu xám tro.

Đứng bên giá treo phụ tùng, nhìn dáng vẻ kiệt quệ của người thợ cả đã cưu mang và dạy nghề cho mình suốt hai tháng qua, Bảo cảm thấy một nỗi sốt sắng cồn cào như lửa đốt trong lồng ngực. Cậu nhớ lại những ngày đầu tiên bước chân vào tiệm: lóng ngóng, sợ sệt, cầm cây kìm chết cũng làm trầy ốc của khách. Nhưng hôm nay cậu đã khác. Cậu đã tự tay tháo lắp trơn tru một bộ líp sáu tầng, đã biết cách soi độ đảo của vành xe bằng mắt thường kết hợp với thanh cữ đo khe hở, đã biết phân loại từng loại ốc ren thuận ren nghịch. Cậu cảm thấy mình không thể tiếp tục đứng nhìn tiệm xe mất khách, nhìn cô Mai phải cắn răng chịu đựng cơn đau hành hạ trong khi bản thân mình sở hữu sức dài vai rộng của một thanh niên tuổi đôi mươi.

Bảo bước từng bước nhẹ nhàng đến bên bàn thợ, dừng lại cách cô Mai một sải tay. Cậu hít một hơi thật sâu để lấy hết can đảm, ngập ngừng một thoáng rồi cất giọng:

“Cô Mai ơi... con có tính thế này, cô xem có được không cô. Mấy cái ca xe nặng của buổi chiều nay, hay là cô đừng vội gạch sổ từ chối hết. Cô cứ nhận xe, cứ viết phiếu nhận rồi trưa nay cô về nhà nghỉ ngơi sớm đi cô. Chiều tối nay con xin ở lại tiệm làm thêm ca tối, làm từ sáu giờ chiều tới chín, mười giờ đêm cũng được. Mấy cái càng xe chở đá hay khung xe ba gác bị cong, con sẽ xịt dầu rỉ sét RP7 ngâm trước, rồi con dùng vam cảo con nắn sơ bộ cho nhả bớt lực căng kim loại. Sáng mai cô ra tiệm, tay cô bớt sưng rồi, cô chỉ việc đứng ngó con siết lại những con ốc mấu chốt là xong. Con... con không xin cô tính thêm một đồng tiền phụ cấp ca tối nào đâu cô. Con chỉ muốn gánh bớt việc cho tiệm, để cô có thời gian dưỡng cái cổ tay cho mau lành thôi mà.”

Không gian trong xưởng như đông cứng lại sau lời đề nghị của cậu.

Cô Mai từ từ mở mắt ra. Đôi mắt sâu thẳm, vằn lên những tia máu đỏ quạch vì mất ngủ và những cơn đau nhức buốt xương, nhìn xoáy thẳng vào mặt Bảo. Ánh nhìn ấy không hề có lấy một tia cảm kích hay xúc động trước tấm lòng của đứa học trò. Nó chỉ chứa đựng một sự nghiêm khắc đến lạnh lùng, sắc lẹm như một lưỡi dao mổ vừa lấy ra khỏi cồn sát trùng.

“Anh vừa nói cái gì? Làm ca tối? Một mình anh ở lại tiệm làm ca tối?”

“Dạ... con thấy cổ tay cô đau quá mức rồi, mà tiệm mình cứ gạch sổ đuổi khách thế này thì vừa mất đi mấy mối quen mấy năm trời, vừa thâm hụt tiền chi tiêu trong tuần,” Bảo luống cuống thanh minh, ngỡ rằng người thợ già chưa hiểu hết tấm lòng thiện chí và sự nhiệt tình của mình nên cậu càng nói nhanh hơn: “Con ở lại tiệm làm cẩn thận từng chút một mà cô. Con làm từ từ, con kê kích đâu ra đấy đàng hoàng, con thề con không làm ẩu làm bừa một chi tiết nào đâu cô tin con đi...”

“Gạt phắt ngay cái trò sốt sắng bốc đồng vớ vẩn đó cho tôi!”

Cô Mai cắt ngang lời cậu bằng một tiếng quát đanh thép, giận dữ đến mức làm rung cả những thanh căm xe treo lủng lẳng trên vách nứa. Người thợ cả chống mạnh bàn tay trái xuống mặt ghế đứng phắt dậy. Ngón tay trỏ run run vì giận dữ chỉ thẳng vào chóp mũi của Bảo:

“Anh tưởng anh là ai hả anh Bảo? Anh mới bước chân vô cái tiệm này học việc được vỏn vẹn hai tháng tròn, biết cầm cái cờ-lê vặn ốc đúng chiều kim đồng hồ, biết lau sạch ba sợi xích xe đạp bằng dầu hôi là anh đã ảo tưởng mình leo lên làm thợ chính được rồi đấy à?”

Bảo đứng chết lặng. Toàn bộ máu trong người dường như dồn hết lên hai gò má, nóng bừng bừng như vừa bị ai tạt một gáo nước sôi vào mặt:

“Cô... con chỉ có ý tốt muốn giúp cô đỡ cực nhọc thôi mà...”

“Cái thứ 'ý tốt' vô lối vô căn cứ của anh không phải là giúp tôi, mà là đang giết chết cái tiệm này!” Cô Mai hạ giọng xuống nhưng từng chữ gằn ra nghe còn nặng nề hơn cả tiếng búa tạ nện xuống đe thép. “Anh đã đủ trình độ, đủ tay nghề để làm việc độc lập chưa? Hả? Trả lời tôi xem! Không có thợ chính ngồi kè kè một bên giám sát từng đường tơ kẽ tóc, anh tháo một con ốc ren ngược bị trờn ren, anh ép nắn một cái gióng khung làm nứt ngầm kết cấu thép bên trong mà mắt thường không thấy được, rồi sáng mai giao xe cho người ta thì anh tính làm sao? Lúc người ta chất lên xe ba tạ hàng, đang đổ dốc cầu Hải An thì gãy rời trục trước, xe lật nhào giữa dòng xe tải, người ta chấn thương sọ não hay mất mạng giữa đường, lúc đó ai đứng ra chịu trách nhiệm trước pháp luật? Anh lấy cái gì ra đền mạng cho người ta? Anh lấy cái bằng đại học dở dang hay lấy mấy đồng tiền túi rách của anh ra đền? Hay lúc người ta nằm trong nhà xác, anh đứng trước mặt gia đình người ta rồi chắp tay mếu máo bảo: 'Dạ tại cháu có lòng tốt muốn giúp đỡ tiệm'?”

Từng lời, từng chữ của cô Mai giáng thẳng xuống đầu Bảo như những nhát búa lạnh lùng, tàn nhẫn, đập tan tành sự tự tin non nớt và ngây thơ mà cậu đã cố công vun đắp suốt hai tháng qua. Cậu đứng chôn chân trên nền đất nện, hai tai lùng bùng như có tiếng ve kêu râm ran, lồng ngực thắt nghẹn lại vì xấu hổ và bẽ bàng.

“Tôi nói cho anh khắc cốt ghi tâm một lần nữa, và đây là lần cuối cùng tôi nhắc lại chuyện này,” cô Mai bước tới một bước, ánh mắt nghiêm nghị khoét sâu vào tâm can cậu học trò. “Nghề sửa xe này không phải là trò biểu diễn lòng nhiệt tình. Nó là cái nghề liên quan trực tiếp đến tính mạng của con người và miếng cơm manh áo của cả một gia đình sau lưng họ. Lòng tốt không bao giờ thay thế được kỹ năng chuẩn xác. Sự nhiệt tình mù quáng không thể nào bù đắp được kinh nghiệm thực tế phải trả giá bằng xương máu. Chừng nào tôi chưa đặt bút ký vào giấy xác nhận anh là một người thợ phụ độc lập, thì dù là một con tán, một sợi dây phanh tháo ra khỏi xe của khách cũng bắt buộc phải có đôi mắt này của tôi nhìn thấy. Đừng bao giờ học đòi làm ca đêm ca tối, đừng có đem cái tính nôn nóng muốn chứng tỏ bản thân ra mà áp vào tính mạng của người khác. Cái tiệm sửa xe rách nát này tồn tại được hơn mười năm nay giữa cái đất cảng này là nhờ biết lượng sức mình, biết từ chối những việc quá tầm tay, chứ không phải sống nhờ mấy cái trò liều mạng thiếu hiểu biết!”

Bảo nuốt khan một ngụm nước bọt đắng ngắt. Cổ họng cậu khô khốc, không thể thốt ra nổi một lời thanh minh nào nữa. Cậu cúi gầm mặt xuống, nhìn chăm chăm vào hai bàn tay của mình. Những vết chai mỏng đã bắt đầu hình thành ở gò bàn tay, những vệt dầu mỡ máy bám chặt vào các kẽ móng tay dù cọ xà bông bột đến rát da vẫn không trôi hết. Cậu bàng hoàng nhận ra một sự thật trần trụi mà bấy lâu nay cậu luôn cố tình che giấu dưới lớp vỏ bọc “muốn giúp đỡ cô Mai”: sâu thẳm trong lòng, cậu đang quá đỗi sốt ruột. Cậu nôn nóng muốn chứng minh rằng mình có năng lực, muốn chứng minh mình không phải là một kẻ thất bại thảm hại sau cú ngã bỏ học đại học giữa chừng, muốn chứng tỏ cho gia đình và cho chính bản thân thấy rằng con đường cậu rẽ ngang này đang tiến triển vượt bậc. Và chính cái tôi vị kỷ, nông nổi ấy suýt chút nữa đã biến cậu thành một kẻ liều lĩnh, xem nhẹ an toàn của khách hàng.

“Con... con xin lỗi cô Mai,” Bảo lí nhí, hai vai sụp xuống trong sự hối hận chân thành. “Con thiển cận và nông nổi quá. Con hứa từ nay không bao giờ tự tiện đề xuất những chuyện vượt quyền như vậy nữa.”

Cô Mai nhìn cậu hồi lâu. Cơn giận trong mắt bà dần lắng xuống, thay vào đó là một tiếng thở dài trầm đục quen thuộc của một người đi trước nhìn thấu tâm can của lớp trẻ. Bà phẩy nhẹ bàn tay trái:

“Biết nhận ra chỗ sai là còn cứu được. Đi cắm nồi cơm đi, rồi lấy chai nước mắm với mớ cá nục kho ra hâm lại. Ăn cho xong bữa trưa rồi ngồi vào bàn thợ, tôi với anh làm cho xong cái buổi tổng kết tháng học việc thứ hai.”

Bữa cơm trưa diễn ra trong sự tĩnh lặng gần như tuyệt đối, chỉ có tiếng gió xào xạc luồn qua rặng phi lao ngoài ngõ và tiếng nhai cơm chậm rãi. Bữa ăn đạm bạc gồm một tô canh rau tập tàng nấu suông với chút muối hột, một dĩa cá nục kho quéo đậm vị ớt cay xè và cơm nguội nấu từ loại gạo tấm nở xốp. Sau khi dọn dẹp bát đĩa, múc một thau nước rửa sạch dầu mỡ trên bàn gỗ, Bảo cẩn thận lấy từ trong ba-lô ra cuốn sổ tay học việc bìa bọc giấy xanh học trò, đặt ngay ngắn ở chính giữa bàn thợ.

Cô Mai với tay lấy cặp kính lão gọng đồi mồi đã bị gãy một bên gọng, phải quấn tạm bằng sợi dây đồng nhỏ, cẩn thận cài lên sống mũi. Bà mở từng trang sổ của Bảo ra xem.

Từng trang giấy kẻ ngang hiện ra với những nét chữ nắn nót, được phân chia thành các cột rành mạch bằng hai màu mực: Cột ngày tháng tiếp nhận; Cột chủng loại phương tiện và chủ xe; Cột triệu chứng hỏng hóc theo lời kể của khách; Cột kết quả chẩn đoán thực tế sau khi tháo rã kiểm tra; Cột danh mục phụ tùng thay thế kèm mã số quy chuẩn; và cuối cùng là Cột ghi chú kinh nghiệm rút ra cùng các sai sót thao tác trong ngày.

Cô Mai lật từng trang giấy một cách chậm rãi. Những ngón tay thô ráp của bà lướt qua những dòng ghi chép tỉ mỉ mà Bảo đã cặm cụi ghi lại mỗi tối dưới ánh đèn bàn ở nhà: *“Ngày 12: Xe chú Thuận thồ chuối - thay cáp phanh trước loại lõi thép bện 1.5mm. Khách xin bớt tiền công và đòi gắn thêm chuông cũ miễn phí, kiên quyết từ chối theo nguyên tắc, yêu cầu lập phụ lục dịch vụ 20.000 đồng ghi rõ vào sổ.”* *“Ngày 18: Xe bà Năm bán cá - líp năm tầng mòn vẹt răng số 2 và 3 do chở nặng leo dốc bến cá thường xuyên. Lỗi thao tác của bản thân: suýt tự ý tăng sên để chữa cháy tạm thời, bị cô Mai nhắc nhở vì tăng sên trong tình trạng líp mòn sẽ làm đứt xích khi xe chịu tải nặng.”*

Suốt mười lăm phút đồng hồ, không gian trong xưởng chỉ có tiếng sột soạt của giấy mỏng và tiếng thở đều đặn của người thợ già. Cuối cùng, cô Mai khép cuốn sổ bìa xanh lại, tháo cặp kính lão đặt lên mặt bàn gỗ.

“Hai tháng rồi,” cô Mai cất tiếng, giọng điệu đã dịu lại rất nhiều so với cơn thịnh nộ lúc ban trưa. “Xét về mặt nề nếp, kỷ luật và tác phong ghi chép, anh làm rất tốt. Anh giữ được cái thói quen ghi chép cẩn thận của người có học, biết phân loại chi phí, biết lưu vết từng phụ tùng tháo ra lắp vào. Và điều quan trọng nhất: anh đã bắt đầu hình thành được cái phản xạ biết dừng lại hỏi thợ chính trước khi quyết định can thiệp sâu, không còn cái thói hấp tấp, tự tiện hứa hươu hứa vượn với khách như cái hồi mới vô làm gãy ngàm líp xe con Sương nữa. Cái đó là cái được lớn nhất của anh trong tháng này, tôi ghi nhận và tôi khen.”

Bảo khẽ thở phào nhẹ nhõm, một cảm giác ấm áp nhen nhóm lại trong lồng ngực đang trĩu nặng.

“Nhưng,” cô Mai đột ngột gõ nhẹ đầu ngón tay trỏ xuống bìa cuốn sổ, mắt nhìn thẳng vào mắt Bảo, “tôi khen là để anh biết mình đang đi đúng hướng, chứ không phải để anh vin vào đó mà tự mãn rồi sinh tật làm càn như ban nãy. Anh phải luôn luôn tự nhắc nhở bản thân: hiện tại anh vẫn chỉ đang dừng lại ở cái ngưỡng của một 'thợ phụ tập sự có kiểm soát'. Nghĩa là sao? Nghĩa là anh chỉ mới làm đúng, làm chuẩn khi công việc đó đã có quy trình định sẵn và có mặt tôi đứng kè kè bên cạnh để giám sát từng cử động. Hễ đụng phải ca lạ, đụng phải những con xe lai tạp đồ chế của dân lao động là anh lập tức lúng túng, mất phương hướng. Cầm cây cờ-lê cân vành xe, hai bàn tay anh vẫn còn run rẩy, mắt đảo chưa chuẩn, tốc độ thao tác của anh vẫn chậm gấp đôi, thậm chí gấp ba lần một người thợ bình thường ngoài chợ. Cái cảm giác kim loại của anh còn non nớt lắm, bàn tay trần của anh chưa đủ độ nhạy để cảm nhận được một con ốc thép sắp đứt ren ngầm hay một sợi căm xe bị kéo quá lực đàn hồi đâu.”

Cô Mai đẩy cuốn sổ về phía Bảo:

“Bản thỏa thuận thử việc giữa tôi với anh có thời hạn ba tháng. Anh mới đi được hai phần ba đoạn đường thôi. Tháng thứ ba sắp tới đây sẽ là tháng bản lề, quyết định xem anh có thể bước lên làm thợ phụ độc lập hay phải xách ba-lô rời khỏi cái tiệm này. Trong tháng tới, tôi sẽ bắt đầu cho anh tiếp xúc với các bài học khó hơn: xử lý toàn bộ hệ thống truyền động đa tầng, căn chỉnh tâm khung sườn bằng dây rọi và cân vành rút căm xe chịu tải nặng. Muốn đi hết con đường đó thì phải luôn luôn giữ cái đầu cho thật lạnh, bớt cái thói sốt sắng nông nổi, vứt bỏ ngay cái tâm lý nôn nóng muốn chứng tỏ bản thân đi. Đã thông suốt hết chưa?”

“Dạ, con thông suốt rồi cô Mai,” Bảo đáp chắc nịch, hai tay đón lấy cuốn sổ tay học việc. Lần này, trong giọng nói của cậu không còn sự bốc đồng, háo thắng của một kẻ học việc non nớt, mà đã có độ trầm tĩnh, khiêm nhường của một người bắt đầu thấu hiểu cái giá của sự chuyên nghiệp.

Đúng lúc đó, từ ngoài ngõ nhỏ rải đá dăm vang lên tiếng còi xe máy bấm *tin tin* hai hồi giòn giã. Một chiếc xe máy số hiệu Honda Dream cũ mèm màu xanh rêu, bửng xe đã ố vàng theo năm tháng, rẽ qua cổng tiệm rồi dừng lại ngay trước bậc thềm xi măng.

Người phụ nữ bước xuống xe trạc ngoài bốn mươi tuổi, mặc chiếc áo sơ mi hoa nhã nhặn phối với quần tây đen sẫm, mái tóc buộc gọn gàng sau gáy bằng một chiếc kẹp lưới. Dù gương mặt lộ rõ vẻ mệt mỏi sau những giờ làm việc căng thẳng và những chuyến đi nắng, ánh mắt người phụ nữ vẫn toát lên vẻ ấm áp, cương nghị đặc trưng của một nhà giáo. Đó là cô Lê Thu Hạnh, giáo viên chủ nhiệm kiêm Tổng phụ trách Đội của Trường THCS Hải An. Dưới nách cô đang kẹp chặt một tập hồ sơ dày cộp bằng bìa cứng màu vàng cam.

“Chị Mai ơi, có nhà không chị Mai?” Cô Hạnh cất tiếng chào xởi lởi, thuần thục gạt chân chống nghiêng rồi bước vào trong tiệm.

Cô Mai lập tức đứng dậy khỏi ghế, nét mặt nghiêm nghị thường nhật giãn ra thành một nụ cười đón tiếp niềm nở:

“Kìa cô Hạnh! Trưa trật trưa trờ thế này, nắng như đổ lửa mà cô giáo chạy xe qua tiệm tôi có việc gì gấp thế? Vào đây, vào đây ngồi cho mát đã.”

Bảo nhanh thoăn thoắt kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ nghiến ra lau sạch lớp bụi kim loại bám trên mặt ghế, rót một cốc nước chè xanh đầy từ chiếc ấm ủ trong giành tích bọc vải vụn rồi hai tay kính cẩn đưa cho cô giáo.

“Em cảm ơn Bảo nhé,” cô Hạnh đón lấy ly nước chè xanh, uống liền một hơi dài như để dập tắt cơn khát cháy cổ họng sau chuyến đi ngoài đường nắng gắt. Đặt ly nước xuống góc bàn thợ, cô đặt tập hồ sơ bìa vàng dày cộp lên mặt gỗ loang lổ vết dầu: “Em chạy sang đây là để bàn với chị Mai một việc hệ trọng lắm chị ạ. Việc này em với Ban giám hiệu ấp ủ từ hồi đầu kỳ nghỉ hè lận, nhưng chạy vạy mãi tới hôm nay mới gom đủ số liệu sơ bộ với nguồn kinh phí ban đầu để dám qua đây xin ý kiến chuyên môn của chị.”

Cô Mai liếc nhìn tập hồ sơ dày cộp, hàng lông mày hơi nhíu lại đầy vẻ cẩn trọng:

“Chuyện gì mà giấy tờ, sổ sách nhiều dữ vậy cô giáo?”

Cô Hạnh mở nắp tập hồ sơ ra. Bên trong là một danh sách viết tay kín đặc ba trang giấy kẻ ngang, kèm theo đó là hàng chục bức ảnh chụp bằng điện thoại đời cũ được in đen trắng lem luốc trên những tờ giấy A4 mỏng tang.

“Thế này chị Mai ạ. Năm học mới đầu tháng Chín này là bắt đầu rồi, mà tình hình học sinh bỏ học hoặc liên tục đi học muộn ở mấy khu bãi ngang với Xóm Cồn năm nay căng thẳng quá chừng. Mấy đứa nhỏ bên đó nhà cách trường toàn bốn, năm cây số đường cát lún. Mùa nắng thì lội cát bỏng rát cả chân, mùa mưa tới thì nước ngập lênh láng cả đoạn đê bao. Cha mẹ chúng nó thì đi bạn cho tàu cá, đi chợ cá từ bốn giờ sáng, làm gì có ai đưa rước. Tụi nhỏ toàn phải đi bộ ròng rã cả tiếng đồng hồ dưới trời nắng chang chang, tới được lớp học thì người ngợm mệt lử đử, chữ nghĩa không vô đầu nổi, nhiều đứa nản chí đòi cha mẹ cho nghỉ học ở nhà phụ đan lưới luôn.”

Cô Hạnh thở dài một hơi đầy trăn trở, ngón tay run run lật từng bức ảnh chụp đen trắng:

“Thấy hoàn cảnh các em tội nghiệp quá, bên Chi đoàn giáo viên với Hội Khuyến học trường vừa rồi có phát động một đợt quyên góp lớn. Chỗ anh Hoàng Quốc Đạt bên ban liên lạc cựu học sinh khóa trước, kết hợp với mấy tiểu thương hảo tâm ngoài chợ hải sản đã vận động gom góp được một dàn xe đạp cũ. Tổng cộng được mười tám chiếc xe, hiện tại nhà trường đang xin gửi tạm ở nhà sinh hoạt cộng đồng khu phố Hai bên cạnh trường. Toàn là xe của người dân trong thị trấn quyên góp: có xe mini Nhật cũ của các mẹ đi chợ thải ra, có xe cào cào thể thao của học sinh cấp ba ra trường không dùng tới, có cả mấy chiếc xe thồ khung sắt đời cũ của các bác cựu chiến binh. Nhà trường muốn lập ra một 'Đội xe cho mượn', đứng ra phục hồi, sửa chữa lại toàn bộ mười tám chiếc xe này thật an toàn, rồi bàn giao cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn nhất mượn để tự đạp xe đi học suốt cả năm học tới.”

Đôi mắt Bảo sáng bừng lên khi nghe từng lời tâm huyết của cô Hạnh. Mười tám chiếc xe đạp! Đó không chỉ là một công việc sửa chữa đơn thuần, mà là một dự án xã hội thực sự, một hành động đầy tính nhân văn có thể trực tiếp thay đổi số phận của những đứa trẻ nghèo vùng biển. Cậu nhớ ngay đến con bé Linh ở Xóm Cồn — đứa nhỏ gần nhà hai cha con cậu, con cô Duyên bán cá ngoài chợ, ngày nào cũng phải đi bộ trầy vi tróc vảy trên đê cát để tới trường. Trái tim tuổi trẻ của Bảo đập rộn rã trong lồng ngực, cậu suýt chút nữa đã buột miệng thốt lên lời hưởng ứng nhiệt liệt nếu như không kịp bắt gặp cái nhíu mày trầm ngâm, đăm chiêu đến lạnh người của cô Mai.

Người thợ cả không hề vội vã tiếp lời. Bà đưa bàn tay trái với lấy xấp ảnh in đen trắng, lật chậm rãi từng tấm một dưới ánh sáng ban trưa hắt qua cửa tiệm. Đôi mắt sắc sảo của người thợ già nheo lại, nhìn xuyên qua những vệt mực in lờ mờ: một chiếc xe sườn võng rỉ sét lở loét từng mảng lớn quanh cổ phốt; một chiếc mất sạch toàn bộ cụm phanh sau, chỉ còn trơ lại sợi dây cáp đứt tơ tơ; một chiếc vành bánh trước vặn vẹo hẳn sang một bên, lốp xe nứt toác để lộ cả lớp bố vải trắng bợt bạt; và một chiếc xe cào cào mất luôn bộ chuyển đĩa, xích xe chùng chạm đất...

“Mười tám chiếc xe này... tình trạng thực tế thế nào cô Hạnh?” Cô Mai cất giọng hỏi, âm lượng trầm và phẳng lặng, không để lộ ra một chút cảm xúc nào.

“Dạ, em cũng xin nói thật lòng với chị để chị lượng thứ,” cô Hạnh thành thật giãi bày, vẻ mặt thoáng chút ngượng ngùng. “Đồ quyên góp từ nhiều nguồn trong dân nên đúng nghĩa là thượng vàng hạ cám chị ơi. Có chiếc người ta để xó bếp, chuồng gà suốt mấy năm trời không ngó ngàng tới, mạng nhện với bụi đất đóng dày cả lóng tay, xích líp chết cứng ngắc không quay nổi một vòng. Nhưng bù lại cũng có mấy chiếc khung sườn bằng thép tốt, nhìn còn cứng cáp lắm. Em lặn lội sang đây giữa trưa nắng thế này là tha thiết muốn nhờ cậy tay nghề và cái tâm của chị Mai. Nhà trường mong chị đứng ra nhận thầu toàn bộ việc phục hồi, đại tu lại dàn xe này giúp các cháu trước ngày lễ khai giảng năm học mới.”

Bảo nín thở nhìn chằm chằm vào cô Mai, lòng thầm mong mỏi một cái gật đầu khảng khái, một lời nhận lời dứt khoát như tinh thần nghĩa hiệp mà cậu vẫn hằng ngưỡng mộ ở người thợ già. Nhưng đáp lại sự kỳ vọng của cậu, cô Mai chỉ lặng lẽ gõ nhẹ các đầu ngón tay trái lên mặt bàn gỗ trầy xước.

“Lễ khai giảng là ngày năm tháng Chín. Hôm nay đã là ngày mười bốn tháng Bảy rồi,” cô Mai nói từng từ chậm rãi, như một người kế toán đang cân nhắc từng con số sống còn. “Tức là tính từ hôm nay tới lúc giao xe, chúng ta chỉ còn vỏn vẹn hơn một tháng rưỡi. Vậy tôi hỏi cô một câu thực tế: Tổng ngân sách nhà trường duyệt chi cho đợt phục hồi mười tám chiếc xe này là bao nhiêu tiền?”

Cô Hạnh hơi ngập ngừng, hai bàn tay đan chặt vào nhau trên mặt bàn:

“Dạ thưa chị... quỹ Khuyến học của trường chắt bóp trích ra được một khoản nhỏ, cộng với số tiền anh Đạt vận động riêng từ các anh chị cựu học sinh thành đạt gom lại, hiện tại tổng kinh phí bằng tiền mặt chúng em có trong tay là tròn ba triệu rưỡi. Số tiền này dùng để mua toàn bộ phụ tùng thay thế. Còn về phần tiền công thợ... nhà trường biết chị Mai với cháu Bảo làm lụng vất vả lắm, nhưng ngân sách eo hẹp quá, chỉ mong chị thương tình lấy mức giá hỗ trợ hữu nghị nhất để giúp đỡ cho các cháu nghèo...”

Nghe đến con số ba triệu rưỡi cho trọn gói mười tám chiếc xe đạp nát, Bảo giật nảy mình, trong đầu tự động bật lên phép tính chia nhẩm. Ba triệu rưỡi chia đều cho mười tám chiếc xe, tính bình quân mỗi chiếc chỉ vỏn vẹn chưa đầy hai trăm ngàn đồng tiền phụ tùng!

Trong khi đó, sáng nào cậu cũng nhìn thấy bảng giá niêm yết linh kiện của đại lý anh Tín ngoài chợ huyện: chỉ riêng một cặp lốp và săm loại thường rẻ tiền nhất đã ngốn đứt một trăm hai mươi ngàn đồng; một sợi xích xe đạp loại thường mất bốn mươi ngàn; một bộ líp đơn hai mươi lăm ngàn; đó là còn chưa kể tới má phanh cao su, dây cáp thép bọc nhựa, bi nồi, mỡ bò bôi trơn, xăng dầu súc rửa và ti tỉ thứ linh tinh khác. Với hai trăm ngàn đồng mỗi xe, chỉ cần thay một cặp lốp với sợi xích là đã cháy túi, lấy đâu ra tiền mua phụ tùng an toàn? Đó là còn chưa thèm tính đến một đồng tiền công thợ nào của hai cô cháu!

Cô Mai ngả hẳn lưng ra thành ghế, đưa cánh tay phải quấn băng thun đặt song song với xấp tài liệu trên bàn, đối diện trực tiếp với ánh mắt của cô Hạnh:

“Cô giáo Hạnh này, tôi với cô biết nhau ở cái xứ biển Hải An này cũng mười mấy năm có lẻ rồi, nên tôi xin phép nói thẳng thắn, nói cạn cùng một lời để cô hiểu cho cái thế khó của cái tiệm sửa xe này,” cô Mai nói, giọng điệu điềm tĩnh nhưng từng lời chắc nịch như đinh đóng cột. “Tu sửa xe đạp cho học sinh nghèo có phương tiện đến trường tìm con chữ là việc thiện, việc nghĩa. Tôi là dân lao động nghèo đi lên, tôi không phải hạng người máu lạnh, hẹp hòi mà thấy việc nghĩa lại quay lưng từ chối. Nhưng cái tiệm sửa xe đạp này của tôi mở ra không phải là trạm từ thiện của nhà nước. Nó là cái cần câu cơm mưu sinh duy nhất của tôi và là nơi thằng Bảo học cái nghề để kiếm sống sau này. Mỗi tháng mở mắt ra, tôi phải lo đủ tiền trả tiền thuê cái mặt bằng này, tiền điện, tiền nước máy, tiền thanh toán gối đầu linh kiện cho đại lý anh Tín, và tiền phụ cấp học việc mỗi tuần cho thằng Bảo mua gạo.”

Bà đưa ngón tay trỏ chỉ thẳng ra phía con đường nhựa chạy dọc bến cá ngoài ngõ:

“Khách hàng mưu sinh thường nhật của tôi là ai? Là bà Bảy gánh cá, chú Năm chạy xe ôm, chị Ba bán rau muống dạo. Chiếc xe đạp cọc cạch là toàn bộ gia tài, là cái chân đi kiếm từng bữa cơm cho con cái họ mỗi ngày. Tôi không thể nào vì nhận làm một lúc mười tám chiếc xe làm công quả cho nhà trường mà đóng sập cửa tiệm, từ chối khách quen, bỏ rơi những phận người mưu sinh đang trông chờ vào tôi từng giờ từng phút được. Cái tiệm này phải sống sót được qua từng ngày, cái nồi cơm của chúng tôi phải có gạo nấu thì mới mong có sức mà sửa xe cho học sinh của cô đạp đi học an toàn được.”

Cô Hạnh thoáng bối rối, vội vàng xua tay phân trần:

“Chị Mai ơi, em hiểu chứ! Em hiểu hoàn cảnh của tiệm mình mà! Em đâu dám có ý yêu cầu chị đóng cửa tiệm hay gạt bỏ khách quen để làm việc cho trường đâu chị. Em sang đây là muốn bàn bạc xem chị có phương án nào... phương án khả thi nào để tiệm mình vừa duy trì việc sửa chữa hàng ngày kiếm sống, vừa tận dụng thời gian rảnh rỗi hoặc có cách nào đó làm cuốn chiếu dần dần dàn xe này được không chị?”

“Tôi chưa dám hứa hẹn bất cứ một điều gì vào lúc này hết,” cô Mai lắc đầu dứt khoát. “Nguyên tắc làm nghề của tôi xưa nay: Xe quyên góp từ thiện không đồng nghĩa với xe có thể sửa chữa để lưu thông an toàn. Đừng thấy người ta cho cái xác xe mà tưởng bở. Có những chiếc xe nhìn nước sơn bên ngoài tưởng còn bóng bẩy, nhưng kết cấu thép bên trong đã mỏi mệt hoàn toàn, các mối hàn gióng khung chính bị rỉ sét ngậm nước mặn ăn mục ruột từ bên trong ra ngoài. Loại xe mục xương đó, có cho thêm tiền triệu tôi cũng dứt khoát không bao giờ cho phép chắp vá lại để giao cho học sinh đạp. Tụi nhỏ đạp xe qua cầu, qua dốc cát mà gãy đôi khung xe thì đó là tội ác chứ không phải làm từ thiện nữa!”

Người thợ cả ngừng lại một nhịp, đưa mắt nhìn sang Bảo đang đứng im phăng phắc bên góc bàn rồi quay lại nhìn thẳng vào cô Hạnh:

“Bây giờ phương án thực tế duy nhất là thế này: Chiều mai, đúng năm giờ rưỡi sau khi tiệm đóng cửa nghỉ việc thường nhật, tôi với thằng Bảo sẽ cùng cô chạy qua nhà sinh hoạt khu phố Hai để khảo sát thực tế toàn bộ mười tám chiếc xe đó. Tôi sẽ đích thân dùng búa gõ kiểm tra từng mối hàn khung sườn, kiểm tra độ rơ của càng trước, chén cổ và bát phốt từng chiếc một. Chiếc nào kết cấu thép còn đạt chuẩn an toàn thì tôi mới nhận đưa vào danh sách phục hồi. Chiếc nào khung sườn đã mục nát, biến dạng nguy hiểm thì kiên quyết loại bỏ ngay từ đầu, chỉ được phép rã xác để tận dụng ốc vít, căm xe hay bàn đạp còn xài được. Tuyệt đối không có chuyện làm ẩu, làm ráng cho đủ chỉ tiêu mười tám chiếc để trường làm báo cáo thành tích đâu nhé.”

Cô Hạnh thở phào một hơi nhẹ nhõm, ánh mắt rạng rỡ hẳn lên:

“Dạ! Được nghe chị Mai nhận lời đích thân đi khảo sát thẩm định chuyên môn là em mừng rơi nước mắt rồi chị ơi! Chỉ cần chị đồng ý đứng ra thẩm định an toàn kỹ thuật, nhà trường xin cam kết sẽ tuân thủ tuyệt đối mọi kết luận của chị, chiếc nào chị bảo loại là trường loại ngay không thắc mắc một lời!”

“Nhưng chuyện đó mới chỉ là một nửa thôi,” cô Mai nghiêm giọng nói tiếp. “Khoản tiền ba triệu rưỡi đó, nếu đem ra tiệm phụ tùng mua đồ mới tinh về gắn cho mười tám chiếc xe là chuyện hoàn toàn bất khả thi, nắm chắc phần phá sản. Chúng ta bắt buộc phải tính toán gom đơn hàng lớn để ép giá sỉ, phải tận dụng sàng lọc đồ cũ còn dùng tốt giữa các xe với nhau, và phải lập một bản dự toán chi tiết đến từng cọng dây phanh, từng viên bi nồi cho từng mã xe. Tiền nong từ thiện là tiền mồ hôi nước mắt của bá tánh, phải minh bạch rõ ràng từng cắc một, không có chuyện làm ăn tù mù, ước lượng đại khái rồi cuối cùng thâm hụt chi phí bắt tiệm sửa xe của tôi phải cắn răng bỏ tiền túi ra bù lỗ đâu.”

Đứng bên cạnh, nghe cô Mai phân tích rành rọt từng nút thắt của bài toán tài chính và quản lý, Bảo nhận ra ngay đây chính là thời điểm vàng để mình vận dụng những kiến thức đã được đào tạo bài bản. Cậu tiến lên một bước ngay ngắn, hai tay chắp trước bụng, lễ phép nhưng giọng nói đầy đặn sự tự tin:

“Cô Mai, cô Hạnh... về cái phần theo dõi số liệu kỹ thuật và tính toán dự toán chi phí này, con xin phép được nhận phụ trách toàn bộ ạ.”

Cả hai người phụ nữ cùng ngạc nhiên quay sang nhìn cậu thanh niên.

“Anh định làm cách nào?” Cô Mai nhướng một bên mày, ánh mắt soi xét nhưng đã bớt đi vẻ gay gắt.

“Dạ thưa cô, trên máy tính xách tay của con có cài sẵn phần mềm bảng tính Excel,” Bảo hào hứng nói, ánh mắt rực lên niềm say mê của một người tìm lại được vũ khí sở trường của mình sau bao ngày bị vùi lấp. “Con có thể lập ngay một file bảng tính quản lý dự án chuyên biệt cho đợt phục hồi này. Toàn bộ mười tám chiếc xe sẽ được con đánh mã số định danh riêng từ X01 đến X18. Trong bảng tính, con sẽ chia thành các trường dữ liệu rõ ràng: Cột thứ nhất là hiện trạng kỹ thuật chi tiết của từng cụm chi tiết khi cô Mai khám xe. Cột thứ hai là danh mục các bộ phận an toàn bắt buộc phải thay mới một trăm phần trăm như lốp, săm, má phanh, dây cáp. Cột thứ ba là danh mục các phụ tùng cũ còn dùng tốt có thể hoán đổi, 'râu ông nọ cắm cằm bà kia' giữa các xe với nhau để tiết kiệm tối đa chi phí. Cột thứ tư là đơn giá dự kiến con sẽ cập nhật trực tiếp theo bảng báo giá sỉ của đại lý anh Tín. Và cột cuối cùng là theo dõi chi phí thực tế phát sinh theo thời gian thực.”

Bảo nuốt một ngụm nước bọt, hào hứng trình bày tiếp giải pháp cậu vừa phác thảo nhanh trong đầu:

“Ngoài ra, con sẽ cài đặt các thuật toán phân loại mức độ ưu tiên theo mã màu: Màu xanh cho những xe hỏng nhẹ, tốn ít phụ tùng để ưu tiên phục hồi làm trước; Màu vàng cho những xe hỏng nặng cần gia công phức tạp; và Màu đỏ dành riêng cho những xe không đạt chuẩn an toàn kết cấu khung sườn, bắt buộc phải loại bỏ để rã phụ tùng. Như vậy, chỉ cần nhìn vào bảng tính, cô Hạnh và nhà trường có thể kiểm soát được từng đồng chi phí minh bạch tới từng con tán, còn cô Mai sẽ nắm được chính xác tiến độ và khối lượng công việc mỗi ngày mà không sợ bị sót hay thâm hụt ngân sách.”

Cô Hạnh nghe Bảo nói một mạch với những thuật ngữ quản lý gãy gọn, rành mạch thì hai mắt tròn xoe vì ngạc nhiên, rồi một nụ cười rạng rỡ nở bừng trên khuôn mặt mệt mỏi của người cô giáo:

“Trời đất ơi, hay quá Bảo ơi! Xuất sắc quá! Ban giám hiệu bên trường mấy hôm nay đang vò đầu bứt tai không biết làm sao để quản lý cho xuể danh mục phụ tùng với hóa đơn chứng từ cho thật minh bạch để sau này còn báo cáo giải trình với Hội Khuyến học và các nhà hảo tâm. Có được một cái bảng tính chi tiết, khoa học như cháu vừa nói thì đúng là gỡ được cái nút thắt lớn nhất cho nhà trường rồi! Minh bạch và chuyên nghiệp quá chừng!”

Cô Mai ngồi im, ánh mắt sâu thẳm nhìn chằm chằm vào cậu học trò suốt một lúc lâu. Trong đáy mắt người thợ già từng trải thoáng qua một tia hài lòng rất kín đáo — sự công nhận thầm lặng đối với thế mạnh thực sự của đứa trẻ có học thức mà bà đã nhìn ra ngay từ ngày đầu nhận cậu vào xưởng. Tuy nhiên, nét mặt nghiêm khắc thường trực nhanh chóng được bà kéo trở lại:

“Ý kiến đó nghe được đấy. Biết đem cái đầu học hành chữ nghĩa của anh ra để phục vụ việc ghi chép sổ sách, quy củ hóa đồ nghề là đúng chỗ, đúng sở trường. Nhưng tôi phải dặn trước cho anh một điều để anh khỏi bay bổng: Mấy cái số liệu trên màn hình vi tính, dù anh có kẻ khung cho đẹp, tô màu xanh đỏ cho bắt mắt, hay tính toán mấy cái hàm cộng trừ chuẩn xác tới từng con số lẻ, thì chung quy lại nó cũng chỉ là những con chữ chết nằm im trên mặt kính mà thôi.”

Bà đưa bàn tay trái thô ráp gõ mạnh xuống mặt bàn gỗ một tiếng *cộc* khô khốc:

“Một con ốc rỉ sét ngậm muối mặn nó không tự nhả ra chỉ vì anh gõ phím lạch cạch. Một cái vành xe méo mó hình số tám nó không tự tròn trịa lại nhờ mấy cái công thức tính toán của anh đâu. Muốn xe chạy được trên đường cát, cuối cùng vẫn phải dùng mồ hôi, dùng sức lực của đôi bàn tay, dùng cờ-lê mỏ-lết mà tháo từng con tán, nắn từng chiếc căm xe. Cho nên, đừng có nhìn vào mấy cái bảng tính sạch sẽ thơm tho trên máy tính rồi lại sinh ra cái thói ảo tưởng, coi thường thực tế, tưởng rằng việc phục hồi mười tám cái xác xe đạp rách nát này nó dễ như trở bàn tay. Nghe rõ lời tôi dặn chưa?”

“Dạ, con nhớ kỹ lời cô dạy rồi ạ,” Bảo cúi đầu thật thấp, đón nhận bài học thực tế một cách chân thành và khiêm nhường nhất. Sự bồng bột lúc ban trưa đã hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho một ý thức trách nhiệm rõ ràng đang hình thành trong tâm trí.

Cô Mai với tay kéo tập hồ sơ bìa vàng của cô Hạnh lại sát mép bàn mình, cẩn thận gấp mép bìa lại ngay ngắn:

“Được rồi. Tập hồ sơ khảo sát sơ bộ này cô Hạnh cứ để lại đây cho chúng tôi. Tối nay thằng Bảo đem về nhà, nhập hết danh sách mười tám chiếc xe với thông tin người quyên góp vô máy tính trước đi. Đúng năm giờ rưỡi chiều mai, hai cô cháu tôi sẽ có mặt ở nhà sinh hoạt khu phố Hai. Cứ phải đích thân tôi gõ búa kiểm tra sắt thép thực tế, có số liệu kỹ thuật chính xác rồi lúc đó ba người chúng ta mới ngồi lại tính tiếp xem nhận làm bao nhiêu chiếc và phương án làm ra sao.”

“Dạ, em cảm ơn chị Mai nhiều lắm! Cảm ơn Bảo nhé cháu!” Cô Hạnh xúc động đứng dậy, nắm lấy bàn tay trái của cô Mai siết nhẹ một cái đầy cảm kích, rồi cẩn thận chào hai người để ra về.

Tiếng còi xe máy của cô giáo vang lên một hồi ngắn ngoài ngõ rồi lịm dần sau rặng phi lao. Xưởng sửa xe lại chìm vào khoảng không gian yên ắng quen thuộc của buổi xế chiều. Gió biển từ ngoài vịnh bắt đầu thổi mạnh hơn, mang theo những luồng hơi muối mằn mặn luồn qua những thanh liếp nứa, thổi bay những hạt bụi sắt li ti trên mặt bàn thợ.

Bảo đứng lặng hồi lâu bên cạnh bàn làm việc. Trước mặt cậu lúc này, tập hồ sơ bìa vàng cam dày cộp của Trường THCS Hải An — nơi chứa đựng danh sách của mười tám đứa trẻ nghèo vùng bãi ngang đang khao khát có một chiếc xe đạp để tiếp tục con đường đến trường — đang nằm ngay ngắn, song song cạnh cuốn sổ nhật ký học việc bìa xanh bọc nylon của tiệm. Cuốn sổ bìa xanh ấy chi chít những dòng gạch xóa màu mực đỏ, những phép tính chi li từng đồng bạc lẻ tiền công, những đơn hẹn sửa xe chở cá, xe thồ chuối — những phương tiện kiếm cơm trần trụi, nhọc nhằn để người thợ già giữ được nồi cơm không bao giờ tắt lửa qua ngày đoạn tháng.

Hai cuốn sổ đặt cạnh nhau, tương phản rõ rệt nhưng lại gắn chặt vào nhau như một định mệnh: một bên là gánh nặng mưu sinh thường nhật nghiệt ngã không một ai được phép buông lơi; và một bên là trách nhiệm của một lời đề nghị cộng đồng đầy rủi ro, thiếu thốn kinh phí nhưng lại chứa chan tình người.

Bảo chậm rãi đưa bàn tay còn vương mùi dầu hôi lật mở trang đầu tiên của tập tài liệu nhà trường. Nhìn những dòng tên học sinh nắn nót kèm theo địa chỉ ở tận cùng những cồn cát xa xôi, cậu cảm thấy lồng ngực mình thắt lại trong một cảm giác hồi hộp, âu lo xen lẫn một luồng sinh khí mới mẻ. Cậu biết, một mùa hè đầy giông bão, nhọc nhằn và thử thách đang chực chờ ập xuống đôi vai của cậu và người thợ cả của tiệm sửa xe nghèo này.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn