Tiệm Sửa Những Điều Chưa MuộnC.5 / 24
Chương 5

Phiếu công việc có hai chữ ký

Tháng thứ hai học việc bắt đầu bằng xấp phiếu tiếp nhận mới in từ tiệm của Vy, góc dưới có thêm hai ô ký tên: người tiếp nhận và thợ duyệt.

Tập giấy bãi bằng màu trắng đục, khổ A5, còn thơm nồng mùi mực in offset lẫn mùi keo dán gáy vừa se mặt dưới nắng sớm. Vy đã canh lề rất thẳng, những đường kẻ chấm chấm li ti dành cho phần ghi nhận tình trạng hư hỏng được bố trí cách đều nhau đúng nửa phân, chừa vừa đủ khoảng trống cho những nét chữ nguệch ngoạc dính mạt sắt hay dầu nhớt. Ở góc dưới cùng bên phải, hai khung chữ nhật viền đôi nằm cạnh nhau như một sự phân định ranh giới rành rọt: một bên dành cho người trực tiếp chẩn đoán và viết phiếu, một bên là con dấu hoặc chữ ký chấp thuận của người thợ cả. Từng trang giấy được dập răng cưa ở sát mép gáy để có thể xé rời thành hai liên bằng một cái giật tay gọn gàng, để lại một đường viền tua tủa những sợi xơ bột gỗ.

Cô Mai lật lật xấp phiếu trên mặt bàn làm việc bằng gỗ thông ghép đã lên nước đen bóng vì dầu luyn, ngón tay cái chai sần miết qua đường răng cưa xé giấy nghe rột roạt. Ánh mắt cô dừng lại thật lâu ở ô ký duyệt, đoạn quay sang nhìn Bảo đang đứng nép bên cạnh trụ sắt tròn đỡ mái hiên tôn.

“Từ hôm nay, cô cho cậu tự tay tiếp nhận những ca hỏng nhẹ,” cô Mai nói, giọng bình thản như thường lệ nhưng rành rọt từng tiếng giữa tiếng sóng biển ì ầm dội từ bến cá cách đó hai dãy nhà. “Vá săm, chỉnh nan hoa lệch nhẹ dưới ba ly, thay má phanh mòn đứt chỉ. Xe dắt vào sân, cậu tự hỏi khách, tự cúi xuống xem bánh, tự kê phụ tùng vào phiếu. Nhưng nhớ cho kỹ: chừng nào cái ô thợ duyệt này chưa có nét mực của tôi, thì một con ốc trên xe khách cậu cũng không được phép vặn lỏng ra nửa vòng. Hiểu chưa?”

“Dạ, con hiểu rồi cô,” Bảo gật đầu thật nhanh, hai bàn tay vô thức siết nhẹ vào mép túi quần bảo hộ bằng vải kaki thô.

“Đừng có vâng dạ theo thói quen của mấy cậu sinh viên ngồi giảng đường,” cô Mai rút một chiếc bút bi nắp xanh cắm vào chiếc ống bơ sữa bò đựng đồ nghề trên bàn, tiếng vỏ thiếc kêu lách cách khô khốc. “Cậu ghi cái gì vào giấy, cậu chịu trách nhiệm một nửa; tôi ký vào góc bên cạnh, tôi chịu trách nhiệm toàn bộ cái tiệm này trước mặt xóm làng. Làm ẩu một nét mực, chẩn đoán sai một cọng chỉ van hay kê khống một ngàn tiền đồ là tôi trừ thẳng vào tiền phụ cấp cuối tháng, không có chuyện viện cớ người mới đang học việc nữa đâu.”

Quy định ấy nhanh chóng đi vào thực tế ngay trong buổi sáng mùng hai của tháng. Khách mang xe đến tiệm đa phần là những người buôn bán nhỏ ở chợ Hải An, thợ cạo nghêu bên bãi triều, hoặc học sinh cấp hai đi học về qua ngả đường liên xã bụi mù.

Một chiếc xe mini Trung Quốc màu sơn đỏ mận đã bạc phếch bị thủng lốp sau do cán phải mảnh vỏ sò sắc nhọn ở bến cá; Bảo dắt chiếc xe nặng trĩu lên bệ xi măng cao hơn mặt đường nửa gang tay. Cậu ngồi xổm xuống, dùng hai ngón tay cái bóp dọc theo hông lốp cao su đã xẹp lép tới sát niềng, ngón trỏ xoay thử chân van xem có bị xé chân cao su hay không, rồi cẩn thận đặt tờ phiếu lên tấm bảng kẹp bằng mica xước. Cậu viết từng dòng nắn nót: *Xe mini đỏ, săm sau dính mảnh sò thủng một lỗ cách chân van ba mươi phân, lốp ngoài mòn gai chưa lộ bố, yêu cầu vá một miếng chín ngàn đồng.*

Cậu mang tờ phiếu đã ghi đủ tên người gửi, giờ nhận và chữ ký của mình ở ô bên trái lại bàn làm việc. Cô Mai không ngẩng đầu lên khỏi chiếc đĩa xích đang ngâm dầu, chỉ liếc mắt qua thân lốp, dùng bàn tay trái nắn nhẹ mép vành kim loại xem có gờ sắc hay rỉ sét cọ xát vào cao su không, rồi mới cầm bút gạch một nét chữ ký ngắn gọn, dứt khoát vào ô bên phải.

Chỉ khi nhận lại tờ giấy có vết mực xanh còn ướt của cô, Bảo mới dám với tay lấy chiếc móc lốp bằng thép tôi bóng loáng ra khỏi khay đồ nghề.

Cảm giác được tự tay tháo rời một chiếc bánh xe mà không có bóng người thợ cả đứng kèm sát bên nách khiến sống lưng Bảo bớt đi cảm giác căng cứng, nhưng áp lực vô hình từ hai chữ ký nằm cạnh nhau trên tờ giấy mỏng lại khiến từng động tác lách mũi thép vào mép lốp của cậu trở nên thận trọng đến mức chậm chạp. Cậu sợ làm dập mép săm, sợ cọ trầy lớp mạ xi đã rỗ hoa khế của vành, sợ một sơ suất nhỏ do vội vàng sẽ biến tờ giấy A5 thành bằng chứng rành rành cho sự non nớt của mình. Cậu vừa làm vừa liếc nhìn đồng hồ treo tường, mồ hôi rịn ra chân tóc, thấm vào chiếc băng đô vải quấn quanh trán.

Khoảng hơn mười giờ trưa, trời bỗng dưng đứng gió. Không khí miền biển oi nồng và quánh đặc lại như một khối thạch lơ lửng, hơi muối mặn chát từ con lạch cạn sau lưng tiệm phả lên nồng nặc mùi bùn tanh phơi nắng gắt. Mặt đường liên xã vắng bóng người, thỉnh thoảng chỉ có tiếng xe thồ chở đá lạnh chạy ngang làm rung rinh mấy tấm tôn fibro xi măng trên mái tiệm.

Một chiếc xe Phượng Hoàng màu xanh lục đã cũ mèm, gắn hai giỏ sắt đan bằng dây thép gai hai bên hông dắt xộc vào hiên tiệm. Người đẩy xe là anh Thuận, thợ mộc chuyên đóng giường tủ và khuôn bao cửa ở xóm Trong, một khách quen của cô Mai từ nhiều năm nay. Chiếc áo sơ mi cộc tay của anh lấm tấm bụi mùn cưa cẩm lai màu đỏ sẫm, hai cánh tay cuồn cuộn những thớ cơ cháy nắng bám đầy mồ hôi và vụn bào gỗ.

“Cô Mai ơi, chỉnh giùm tui cái phanh sau với!” Anh Thuận cất tiếng oang oang, gạt chân chống nghiêng kêu *xoạch* một tiếng chát chúa trên nền xi măng lồi lõm. “Cái má phanh bên phải nó cọ miết vào niềng, đạp nặng như chở đá tảng qua dốc cầu sắt. Thay cặp má mới luôn đi cho chắc cú, lát trưa tui chở bộ vạt giường qua xã bên giao cho nhà người ta ăn tân gia.”

Cô Mai đang ngồi xổm bên trong góc kho tối tháo cụm líp tầng của một chiếc xe chở hàng khác, tiếng búa gõ nhẹ vào đầu tuýp nghe lốc cốc đều đặn. Cô chỉ ngẩng lên nhìn thoáng qua chiếc khung xe thồ đầy vết hàn đắp bằng que sắt rồi cất giọng trầm đục:

“Bảo, ra nhận xe cho anh Thuận.”

Bảo dạ một tiếng, nhanh chóng kéo chiếc khăn lau tay dắt ở thắt lưng ra miết sạch mỡ bò trên mười đầu ngón tay. Cậu rút một tờ phiếu mới từ xấp giấy A5 kẹp trên bảng mica, cầm theo chiếc bút bi bước nhanh ra khoảng sân trước hiên.

Cậu ngồi thụp xuống bên cạnh bánh sau chiếc Phượng Hoàng, dùng ngón tay ấn thử vào cần phanh chữ V bằng thép dập. Má phanh cao su bên phải đã mòn vẹt hẳn một góc chéo, trơ cả cái lõi thép gỉ sét bên trong ra ngoài; phần kim loại trần trụi ấy đã cày sâu vào bề mặt vành xe một vệt dài sáng loáng, hằn lên những đường xước dăm sắc như dao lam. Mỗi lần anh Thuận bóp phanh, chính cái lõi sắt rỉ này nghiến thẳng vào niềng chứ không còn chút cao su giảm chấn nào nữa. Chốt định vị của càng phanh đóng đầy một lớp cáu cặn gồm mùn cưa mịn quyện với dầu nhớt thải đen kịt, biến thành một khối bết dính khiến lò xo hồi vị không thể bung ra nổi.

“Dạ, má phanh sau mòn hết cao su trơ tới lõi sắt rồi anh Thuận,” Bảo ngẩng lên nói, mắt quan sát kỹ từng chi tiết cơ học và độ đảo của vành bánh xe. “Phải thay cả cặp má phanh mới, chứ để vầy nó mòn khuyết luôn cả niềng sắt của anh thì nguy hiểm lắm. Cặp má phanh cao su chịu lực loại thường là hai mươi ngàn, tiền công tháo càng phanh ra cạo sạch rỉ sét, cân lại lò xo hồi vị hai bên và châm dầu dây cáp là mười ngàn. Tổng cộng ba mươi ngàn đồng. Xe anh để đây chừng bốn mươi phút nữa ghé lấy được không anh?”

“Được, ba mươi ngàn làm nhanh giùm anh,” anh Thuận rút bao thuốc lá hình con ngựa trong túi áo ngực ra, bật lửa châm một điếu rồi phà khói mù mịt ra phía rặng phi lao ngoài đường. “Ghi giấy tờ chi cho mất công mày, người cùng một xóm cả, lạ lùng gì cái mặt tao mà phải vẽ vời.”

“Quy định của tiệm con anh ơi, cô Mai bắt buộc phải làm vậy để quản lý phụ tùng,” Bảo cười nhẹ, nét mặt điềm đạm nhưng tay vẫn thoăn thoắt đặt đầu bút xuống mặt giấy trắng. Cậu nắn nót điền từng dòng chữ vào các mục in sẵn: *Xe Phượng Hoàng xanh, thay cặp má phanh sau, vệ sinh cạo rỉ càng phanh, châm dầu cáp sau. Chi phí: 30.000đ. Nhận lúc 10:15, hẹn giao 11:00.*

Cậu chìa chiếc bảng kẹp mica ra trước mặt người thợ mộc:

“Anh ký giùm con vô ô khách hàng này một chữ để con trình cô duyệt đồ nghề nghen anh.”

Anh Thuận tặc lưỡi một cái, cầm lấy cây bút quẹt một đường móc câu ngoằn ngoèo rồi trả lại:

“Được rồi đó, làm kỹ cho tao chở gỗ nặng nghe mày.”

Bảo cầm tờ phiếu có chữ ký của khách bước vào góc kho. Cô Mai đưa mắt lướt nhanh từ tình trạng cơ học đến con số dự toán ba mươi ngàn đồng, không nói một câu nào, chỉ khẽ gật đầu rồi cầm bút gạch một nét chữ ký sắc nhọn vào ô thợ duyệt bên cạnh. Nét mực dứt khoát như một nhát búa đóng đinh xuống mặt đe.

Có chữ ký phê duyệt của cô, Bảo mới thở phào một hơi nhẹ nhõm, quay trở ra sân dắt chiếc xe Phượng Hoàng nặng trịch vào khu vực thao tác. Cậu nhấc bổng khung xe bằng sắt dày treo lên chiếc giá đỡ bằng hai ống nước sắt hàn kiên cố chôn chặt xuống nền nhà. Cậu lấy chiếc cờ lê mười tròng mở đai ốc giữ má phanh cũ. Bụi cao su cháy khét lẹt cùng từng mảng bột gỉ sét màu nâu sẫm rơi lả tả xuống chiếc khay nhựa hứng phế liệu đặt bên dưới.

Trong lúc Bảo đang cặm cụi dùng chiếc giẻ tẩm dầu hôi lau sạch lớp rỉ sét bám quanh trục xoay của càng phanh và chà sạch đường rãnh xước trên vành, anh Thuận không đi ngay mà đứng tựa lưng vào cột hiên hút nốt điếu thuốc. Người thợ mộc đảo mắt nhìn quanh xưởng, ngó nghiêng mấy bộ khung xe đạp đua bãi Nhật đang treo lủng lẳng trên xà nhà rồi lững thững bước lại cạnh chiếc xe của mình. Anh đưa bàn tay chai sần bóp bóp thử vào tay phanh trước bên trái trên ghi đông cong cong bọc cao su rách.

Dây cáp phanh trước rít lên một tiếng *kèn kẹt* khô khốc, nặng trịch. Ngay tại vị trí đầu ốc siết cáp ở càng phanh trước, lớp vỏ bọc nhựa màu đen đã bị nứt toác từ bao giờ, để lộ ra những sợi ruột cáp thép bên trong bị xoắn vặn và bung ra mấy sợi chỉ kim loại xơ xác, nhọn hoắt như gai bồ kết.

“Ê Bảo, tiện đang treo xe trên giá đỡ, mày thay luôn cọng dây phanh trước cho anh đi,” anh Thuận vỗ bồm bộp vào chiếc yên xe bọc da sờn rách, giọng sỗ sàng tự nhiên. “Thấy nó xơ xơ mấy cọng thép rồi nè, lỡ lát chở nặng đổ dốc cầu sắt nó đứt cái phụt một phát thì đổ cả đống vạt giường xuống sông thì mệt. Thay luôn đi, làm liền cho anh, sẵn đồ nghề kìm búa mày đang cầm trên tay đó mà.”

Bảo khựng tay lại. Đầu ngón tay trỏ của cậu còn đang tì vào chiếc lò xo càng phanh sau.

Theo phản xạ tự nhiên của một người làm công mới vào nghề luôn muốn làm hài lòng khách hàng để tránh những va chạm không cần thiết, miệng cậu suýt chút nữa đã buột ra câu: *“Dạ để con làm luôn cho.”* Một sợi ruột cáp phanh trước giá nhập về xưởng chỉ có vài ngàn đồng, chiếc vỏ cáp cắt từ cuộn lớn treo góc tường cũng chẳng đáng bao nhiêu; thời gian luồn sợi cáp mới, châm chút mỡ bò và siết ốc chỉ tốn chừng bảy đến tám phút nếu tay nghề trơn tru. Làm thêm một chút để vừa lòng một người khách quen của xóm Trong dường như là lựa chọn dễ dàng và êm thấm nhất vào lúc này.

Nhưng ngay khoảnh khắc ngón tay cậu định buông giẻ lau để với lấy chiếc kìm cắt cáp trên giá treo, ký ức về buổi chiều hai tuần trước bất thần dội về trong tâm trí cậu như một gáo nước lạnh buốt.

Cái ngày chiếc xe thồ chở chuối của cô Sương ghé vào tiệm, cậu đã tự ý nắn lại cái giỏ sắt bị móp và vặn thêm hai vòng ốc ở trục bàn đạp vì nghĩ đó là việc nhỏ, là lòng tốt miễn phí. Kết quả là việc sửa chữa bị kéo dài, chiếc líp cũ bị kẹt vì lệch độ rơ khiến cô Sương trễ phiên chợ chiều, nổi giận đùng đùng giữa sân; và đêm hôm đó, cô Mai đã bắt cậu đứng khoanh tay suốt một tiếng đồng hồ bên bàn tháo dỡ để nghe một bài học nghiệt ngã về cái giá của sự tùy tiện.

*“Ở cái tiệm này, không có thứ gì gọi là ‘tiện thể’. Không có lòng tốt nào được xây dựng trên sự mập mờ về kỹ thuật và chi phí. Mày tự ý làm thêm một con ốc mà khách không yêu cầu trên giấy, lát nữa xe có mệnh hệ gì, mày lấy tiền túi ra đền hay bắt cái tiệm này gánh cho mày?”*

Tiếng mắng sắc như dao của cô Mai vẫn còn văng vẳng bên tai Bảo.

Bảo hít một hơi thật sâu, nuốt sự ngập ngừng xuống cổ họng. Cậu buông chiếc giẻ lau xuống mặt bàn đồ nghề bằng sắt, quay người lại đối diện với ánh mắt sốt ruột của người thợ mộc:

“Anh Thuận ơi, ruột cáp trước của anh bị tưa hết ba tao thép rồi, vỏ ngoài cũng bị gãy lớp nhựa bảo vệ nên nước mưa ngấm vào làm rỉ nghẹt bên trong, anh thay là hoàn toàn đúng để bảo đảm an toàn đó anh. Nhưng ruột cáp mới bằng thép chống rỉ với đoạn vỏ cáp có lớp lót nhựa là mười lăm ngàn, tiền công tháo rút luồn lại, cắt đầu cáp bóp chì và căn chỉnh lại cữ bóp tay phanh thêm năm ngàn nữa. Tổng cộng phần phát sinh này là hai mươi ngàn đồng chẵn.”

Anh Thuận xua xua bàn tay ám khói thuốc vàng khè, mặt hơi xệ xuống, tặc lưỡi đầy vẻ khó chịu:

“Thì mày cứ thay đại đi, lát lấy xe anh đưa luôn một thể cho, hai chục ngàn chứ hai trăm ngàn đâu mà phải đứng đây kỳ kèo từng đồng bạc lẻ thế cháu? Chú cháu trong xóm với nhau, chiều nào tao chả ngồi uống nước chè đầu ngõ với ba mày, không lẽ anh lại quỵt mày hai chục ngàn bạc?”

“Dạ không phải con sợ anh quỵt tiền hay con tính toán so đo gì với anh đâu,” Bảo bình tĩnh đáp, giọng cậu từ tốn, âm lượng vừa phải nhưng từng âm tiết đều rõ ràng, không có vẻ gì là nhút nhát hay nhượng bộ. “Nhưng cô Mai dặn tụi con kỹ lắm anh à. Xe đã treo lên giá theo phiếu nào thì chỉ được làm đúng các hạng mục đã ghi trong phiếu đó thôi. Bất kỳ phát sinh kỹ thuật hay linh kiện nào ngoài thỏa thuận ban đầu, con đều phải lập phụ lục bổ sung, ghi rõ ràng số tiền và anh ký xác nhận vào thì con mới được phép mở tủ lấy phụ tùng ra ráp vào xe.”

Anh Thuận nhíu mày lại, hai con mắt ti hí dưới đôi lông mày rậm rạp nhìn trừng trừng vào cậu thanh niên trẻ bằng ánh mắt nửa bực bội, nửa ngạc nhiên buồn cười:

“Cái thằng này! Mày học đại học trên thành phố mấy năm về có khác ha, sửa có cái xe đạp thồ rách nát mà mày bày đặt thủ tục, giấy tờ như người ta ký hợp đồng xây nhà tiền tỷ vậy mậy!”

“Làm rõ ràng từ đầu trên giấy trắng mực đen thì lát nữa anh quay lại lấy xe, anh em mình cứ theo giấy mà tính, khỏi cấn cá chuyện tiền nong hay hiểu lầm công xá anh à,” Bảo cười xòa một cách hòa nhã nhưng dứt khoát, tay thoăn thoắt lật mặt sau của tờ phiếu tiếp nhận đang kẹp trên bảng mica.

Ở mặt sau tờ giấy A5, Vy đã cẩn thận thiết kế một khung bảng nhỏ có in dòng chữ hoa đậm nét: *BIÊN BẢN PHỤ LỤC BỔ SUNG*. Bảo đặt bút viết thoăn thoắt, nét chữ ngay ngắn, rành mạch: *Hạng mục phát sinh: Thay ruột và vỏ cáp phanh trước (15.000đ), công thay và cân chỉnh cữ bóp (5.000đ). Chi phí phát sinh: 20.000đ. Tổng thanh toán toàn bộ phiếu: 50.000đ. Giờ giao xe dời lại: 11:15.*

Cậu chìa chiếc bút bi ra trước mặt anh Thuận:

“Anh ký giùm con vô chỗ người yêu cầu bổ sung này một chữ nha anh. Đúng mười một giờ mười lăm anh ghé là xe xong xuôi ngon lành cả hai thắng.”

Anh Thuận nhìn trân trân vào Bảo mấy giây. Thấy ánh mắt kiên định, bình thản của cậu trai trẻ không có vẻ gì là dao động hay đùa cợt, cái vẻ khó chịu trên mặt người thợ mộc dần dần xẹp xuống. Anh phì cười một tiếng, lắc lắc đầu rồi đón lấy cây bút, quẹt một chữ ký tròn vo vào dòng kẻ chấm:

“Được rồi, ông thợ văn phòng! Ký thì ký, gớm, chặt chẽ như mấy ông cán bộ thuế vậy. Làm cho ngon lành cành đào giùm anh là được, tao chở nặng mà đứt thắng là tao tới bắt đền mày đó.”

“Anh cứ yên tâm, con làm đúng đồ tốt cho anh.”

Bảo cầm tờ phiếu có đủ chữ ký của khách, quay gót đi thẳng vào phía góc kho tối. Cô Mai nãy giờ vẫn ngồi im trên chiếc ghế đòn thấp, tay cầm cọ lông ngựa quét từng vệt dầu hôi rửa sạch cặn bẩn bám trên các viên bi líp. Toàn bộ cuộc đối thoại ngoài hiên không lọt qua tai cô một lời nào. Khi Bảo bước tới, chìa tờ giấy có dòng phụ lục bổ sung ra trước mặt, khóe môi cô Mai hơi giật nhẹ một cái—một biểu cảm cực kỳ hiếm hoi tương đương với một sự tán thưởng kín đáo ở người đàn bà khô khan, nghiêm khắc này.

Cô không nói một câu khen ngợi nào, chỉ lau khô hai ngón tay dính dầu nhớt vào một góc giẻ sạch, cầm chiếc bút bi cắm ở túi áo ngực ký một nét chữ sắc nhọn vào ô duyệt phụ lục:

“Mở tủ đồ nghề số ba, lấy cọng cáp inox bọc nhựa trong cái hộp nhựa màu xanh lá cây. Nhớ lấy ngón tay quệt một lớp mỡ bò mỏng vuốt đều dọc ruột cáp trước khi xỏ qua vỏ bọc, gió muối ở cái xứ này nó luồn qua khe vỏ cáp làm mục lõi nhanh gấp ba lần trên phố. Làm cho xong trước mười một giờ mười lăm, trễ một phút là tôi bắt cậu tự bỏ tiền túi ra bù vào cái năm ngàn tiền công phát sinh đó nghe chưa.”

“Dạ, con nhớ rồi cô.”

Bảo quay trở lại giá treo xe, lồng ngực bỗng nhẹ nhõm như vừa bước qua một cái ngưỡng vô hình. Cậu bắt tay vào việc với một tâm thế hoàn toàn khác hẳn những ngày đầu: không còn sự chông chênh tùy tiện, không còn cái cảm giác mơ hồ sợ hãi xem mình làm thế này khách có vừa lòng không, chủ có la mắng không. Từng con ốc định vị má phanh cao su mới được cậu vặn chặt bằng cờ lê tròng, từng đoạn vỏ cáp đen được đo đạc cẩn thận áp sát theo sườn xe rồi cắt ngọt lịm bằng kìm bấm chuyên dụng không để bẹp đầu ống. Cậu dùng một đoạn que sắt nhỏ nong tròn miệng vỏ cáp, vuốt đều một lớp mỡ bò kháng mặn màu vàng óng dọc sợi cáp thép sáng loáng trước khi luồn qua ống dẫn.

Tất cả các thao tác đều nằm gọn gàng trong một phạm vi rành mạch đã được định giá, được dự trù thời gian và được khách hàng xác nhận bằng nét mực trên giấy.

Đúng mười một giờ mười phút, anh Thuận quay lại tiệm, trên vai còn vắt chiếc khăn rằn ướt sũng mồ hôi. Anh đón lấy chiếc xe Phượng Hoàng từ tay Bảo, dắt ra bãi đất trống trước sân rồi nhảy lên đạp thử một vòng. Anh bóp mạnh tay phanh trước, rồi phanh sau; hai bánh xe đều khựng lại chuẩn xác trên nền đất cát, êm ru, không hề có tiếng rít chói tai hay sự cọ quẹt mép vành như lúc sáng.

Anh Thuận gật gù, móc từ túi quần ra một tờ tiền năm mươi ngàn đồng phẳng phiu đưa cho Bảo, nhận lại liên hai của tờ biên lai có đủ ba chữ ký mà không hề thắc mắc hay phàn nàn lấy một lời nào về hai mươi ngàn đồng phát sinh thêm.

***

Cuối tuần thứ tư của tháng, đợt gió mùa đông bắc đầu tiên trong năm bắt đầu thổi từng luồng lạnh buốt qua thị trấn ven biển Hải An. Những rặng phi lao ngoài bãi cát rít lên từng hồi xạc xào trong bóng chiều nhập nhoạng, cuốn theo những đám bụi cát mịn và hơi nước mặn chát phả ngập các con ngõ nhỏ.

Tiệm sửa xe đóng cửa sớm hơn lệ thường ba mươi phút. Sau khi đã quét dọn sạch sẽ từng mảnh cao su vụn, chùi bóng các bề mặt khay đựng cờ lê bằng giẻ khô và xếp gọn xấp phiếu tiếp nhận của cả tháng vào chiếc hộp các-tông lưu trữ dưới gầm bàn, Bảo đứng rửa tay dưới vòi nước sau hè. Xà phòng bột loại rẻ tiền sủi bọt trắng xóa, cọ xát vào những vết chai sần mới hình thành cứng ngắc ở lòng bàn tay và mép các ngón tay, rát buốt nhưng sạch sẽ.

Dưới kẽ móng tay cậu, màu đen kịt của mỡ bò và dầu luyn đã ăn sâu vào biểu bì, không tài nào tẩy sạch hoàn toàn được nữa. Nó không còn là vết nhơ của sự bế tắc hay nỗi hổ thẹn của một kẻ thất bại phải quay về làng biển, mà đã trở thành dấu vết hiển hiện của ba mươi ngày lao động cật lực từ khi mặt trời mọc đến lúc lên đèn.

“Bảo, rửa tay xong thì vào đây.”

Tiếng cô Mai gọi với ra từ gian nhà trước, trầm và vang.

Bảo lau khô hai bàn tay vào chiếc khăn vải thô đã sờn rách móc trên vách tường vôi, bước vào gian nhà chính. Dưới ánh sáng trắng lạnh lẽo của bóng đèn tuýp ba mươi sáu oát, cô Mai đang ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế đẩu cạnh chiếc bàn làm việc bằng gỗ thông. Trên mặt bàn, ngoài chiếc ấm trà gốm đã sứt vòi, có đặt một chiếc phong bì thư màu trắng bằng giấy xi măng tái chế đã được gấp mép cẩn thận. Nằm sát cạnh chiếc phong bì là cuốn sổ nhật ký theo dõi học việc bìa xanh của cậu.

“Ngồi xuống đi,” cô Mai hất cằm về phía chiếc ghế đối diện.

Bảo kéo chiếc ghế gỗ ngồi xuống, hai bàn tay đặt ngay ngắn lên đầu gối, lưng giữ thẳng theo thói quen. Tim cậu khẽ đập dồn một nhịp sau lồng ngực. Hôm nay là ngày tròn ba mươi ngày kể từ buổi sáng đầu tiên cậu bước vào tiệm, đặt bút ký vào bản thỏa thuận học việc ba tháng đầy khắc nghiệt.

Cô Mai lật mở cuốn sổ nhật ký học việc, ngón tay lướt chậm rãi qua từng trang giấy. Những trang đầu của tuần thứ nhất chi chít những dòng nhận xét bằng mực đỏ gai góc của cô: *Chẩn đoán bằng mắt thiếu cơ sở; ghi chép triệu chứng lơ mơ; tự ý hứa hẹn giờ giao xe gây trễ nợ đơn của khách Sương; thao tác cờ lê cầm ngược chiều chịu lực.* Nhưng càng lật dần về những trang của tuần thứ ba và thứ tư, nét chữ của Bảo càng trở nên chặt chẽ, các cột mục vật tư tiêu hao, đơn giá phụ tùng, số tiền công và triệu chứng hư hỏng thực tế được phân định rạch ròi, thẳng tắp bằng thước kẻ.

“Hết tháng thứ nhất,” cô Mai đẩy chiếc phong bì thư bằng giấy xi măng về phía mép bàn trước mặt Bảo. “Một triệu hai trăm ngàn đồng tiền phụ cấp học việc theo đúng cam kết trong hợp đồng. Cậu mở ra đếm lại cho đủ.”

Bảo nhìn chiếc phong bì mỏng manh nằm trên mặt gỗ bóng nhờn dầu máy. Cậu không vội vàng đưa tay cầm lấy, mà ngước mắt nhìn thẳng vào người phụ nữ đứng tuổi đối diện:

“Dạ, tiền thì lát con nhận sau cũng được ạ. Con muốn nghe cô nhận xét thẳng thắn về toàn bộ tháng làm việc vừa rồi của con trước đã.”

Cô Mai ngẩng đầu lên, đôi mắt sâu hoắm đầy nếp nhăn nhìn xoáy vào mặt cậu, khóe môi hơi nhếch lên một nét cười khô khốc:

“Muốn nghe thật lòng không? Tính tôi xưa nay không biết nói lời ngọt nhạt để dỗ dành người trẻ đâu đấy.”

“Dạ, con muốn nghe thật lòng để con biết mình đang ở đâu mà sửa.”

Cô Mai gõ nhẹ đầu ngón trỏ chai cứng xuống mặt bàn gỗ, tiếng gõ đanh gọn như gõ búa:

“Ưu điểm lớn nhất của cậu là có đầu óc trật tự của người từng được học hành bài bản. Cậu biết ghi chép, biết nghe lời nhắc nhở và quan trọng nhất là không bao giờ lặp lại cùng một lỗi ngớ ngẩn đến lần thứ hai. Vụ cái xe Phượng Hoàng của anh Thuận thợ mộc hôm nọ, cậu xử lý cái biên bản phụ lục bổ sung là đúng bài bản của một người biết giữ mình và giữ tiệm. Không tùy tiện làm thêm việc ngoài thỏa thuận, không yếu lòng trước sự nài ép hay cái tình xóm giềng để rồi ôm rủi ro vào người. Giữ được cái đầu lạnh và sự sòng phẳng đó thì sau này ra đời mới mong làm thợ đàng hoàng được, chứ mềm lòng, cả nể là có ngày đền xe sạt nghiệp.”

Bảo khẽ thở phào trong lồng ngực, nhưng nét mặt nghiêm nghị của cô Mai lập tức kéo cậu trở lại với thực tại lạnh lùng.

“Nhưng về mặt tay nghề thực tế của một người thợ sửa xe,” cô Mai gằn giọng, từng lời nói đanh thép không chút nể nang, “cậu vẫn còn quá chậm chạp và vụng về. Tốc độ vặn ốc và thao tác dụng cụ của cậu chẳng khác nào người đi dạo mát. Một người thợ phụ bình thường ở bến xe, người ta móc một cái lốp, rút săm ra tìm lỗ thủng trong chậu nước, đánh nhám rồi ép miếng vá chỉ mất đúng ba phút; cậu mất tới bảy phút rưỡi đến tám phút vì cái tay cậu còn nhát, cầm cây móc lốp mà run như cầm đũa sợ gãy, sợ làm rách mép cao su của khách.”

Cô Mai lật thêm một trang sổ, chỉ tay vào dòng ghi chép của ngày thứ ba tuần trước:

“Cân một cái vành xe đạp đầm bị đảo hai ly mà cậu ngập ngừng chỉnh từng chân nan hoa suốt ba mươi lăm phút đồng hồ. Cậu sợ vặn quá tay đứt chân căm, cậu sợ méo vành, thành ra cậu cứ nhích từng một phần tư vòng ren rồi dừng lại ngắm nghía như họa sĩ vẽ tranh. Ở cái xưởng này, thời gian chết của thợ là tiền bạc của tiệm. Về mặt chẩn đoán bệnh, cậu bắt đầu nhìn ra triệu chứng bằng mắt, nhưng cậu vẫn còn dựa dẫm quá nhiều vào việc hỏi han mồm khách hàng chứ cái tai của cậu chưa ‘nghe’ được tiếng kêu của các chi tiết kim loại khi nó vận hành.”

Cô dừng lại một nhịp dài, ánh mắt dừng lại ở hai bàn tay của Bảo đang đặt ngay ngắn trên gối:

“Một triệu hai trăm ngàn này là tiền tiệm trả cho công sức cậu dọn dẹp xưởng, phụ việc lặt vặt và ghi chép sổ sách cho tôi trong tháng đầu. Nói thẳng ra, nó chưa tương xứng với giá trị của một người thợ phụ thực thụ có thể đứng độc lập một góc xưởng đâu. Muốn trở thành thợ phụ có mức lương đủ sống sau ba tháng thử việc, tốc độ của cậu phải tăng lên ít nhất là gấp đôi hiện tại, và đôi bàn tay phải dứt khoát, tự tin hơn nữa. Cơ khí không có chỗ cho sự do dự nửa vời. Hiểu chưa?”

“Dạ, con hiểu rồi cô,” Bảo cúi đầu, đón nhận từng lời nhận xét nghiệt ngã ấy mà không có lấy một mảy may tự ái.

Cậu biết từng lời cô Mai nói đều trúng phóc vào những điểm yếu chí tử của mình. Những phút giây lúng túng bên giá treo xe trong suốt bốn tuần qua chính là bằng chứng rõ ràng nhất cho khoảng cách mênh mông giữa những lý thuyết logic trên trang giấy và phản xạ cơ bắp thực thụ của một người thợ cơ khí.

Cậu đưa cả hai tay đón lấy chiếc phong bì màu xi măng, cẩn thận mở nắp gấp rút xấp tiền bên trong ra đếm. Những tờ tiền polyme mệnh giá một trăm ngàn, hai trăm ngàn đã qua tay nhiều người, mép tiền hơi quăn queo nhưng đã được cô Mai vuốt phẳng phiu, sạch sẽ, xếp cùng một chiều ngay ngắn. Đủ một triệu hai trăm ngàn đồng.

Cầm xấp tiền mỏng trên tay, các đầu ngón tay Bảo khẽ run lên một thoáng. Đây là những đồng tiền đầu tiên do chính mồ hôi, cơ bắp và những vết trầy xước rỉ máu trên da thịt cậu tạo ra sau chuỗi ngày dài chìm trong mặc cảm của một kẻ thất học, bỏ dở giảng đường quay về bám víu lấy làng biển.

“Con cảm ơn cô Mai nhiều lắm ạ,” Bảo nói, giọng cậu trầm xuống và chắc nịch.

“Cất tiền cẩn thận vào túi trong rồi về đi,” cô Mai đứng dậy, với tay lấy chiếc áo khoác gió đã bạc màu treo trên đinh sắt đóng vào tường. “Thứ hai tuần tới, nhớ có mặt ở tiệm sớm hơn mười lăm phút. Tôi bắt đầu chỉ cho cậu cách rã toàn bộ cụm trục giữa của dòng xe đạp đua bãi đời cũ. Cái trục cốt vuông đó mà cầm cờ lê vặn ngược chiều ren là tiện đứt luôn cả bộ ren sườn xe của người ta, lúc đó có đền cả tháng lương cũng không đủ đâu.”

***

Bảo đạp chiếc Martin 107 về lại xóm Cồn khi trời đã sập tối hẳn. Gió biển mùa đông bắc thổi thốc từ mép sóng vào đất liền, rát rộp qua hai gò má và vạt áo khoác mỏng. Con đường đất đỏ chạy dọc bờ đê lồi lõm những ổ gà đọng nước mưa, nhưng chiếc xe sau khi được cô Mai đích thân tiện lại ren trục giữa và thay toàn bộ vòng bi mới chạy êm ru như lướt trên mặt phẳng; tiếng xích líp quay đều *ro ro* nhịp nhàng hòa vào tiếng sóng vỗ bờ cát. Dưới ánh sáng vàng vọt của những ngọn đèn đường cách quãng, Bảo thấy lồng ngực mình nhẹ nhõm, không còn cảm giác nghẹt thở, đè nặng như cái buổi trưa u uất của một tháng trước khi cậu kéo lê chiếc ba lô rách bước xuống từ chuyến xe khách liên tỉnh.

Căn nhà cấp bốn mái ngói rêu phong của hai cha con hiện ra ở cuối con hẻm đất lầy lội. Ánh đèn tròn màu vàng ấm áp hắt ra từ ô cửa sổ phòng khách bằng gỗ lim đã mọt mép.

Bảo dựng chiếc xe đạp vào góc hiên có mái che, rũ sạch cát biển bám dưới đế giày rồi bước vào nhà qua cánh cửa khép hờ. Mùi cá nục kho tiêu ớt cay nồng quyện với mùi hơi cơm mới sôi phả ra từ gian bếp nhỏ phía sau. Trên chiếc bàn ăn bằng gỗ tạp kê sát vách tường loang lổ vết ố nước mưa, mâm cơm đậy lồng bàn tre đã được dọn sẵn: một đĩa cá nục kho quéo màu cánh gián, một bát tô canh rau muống luộc dầm me chua và một chén nước mắm nhĩ dầm ớt hiểm đỏ tươi.

Ông Lâm đang ngồi trên chiếc ghế tựa bằng mây đã đứt vài cọng nan quen thuộc ở góc phòng. Chiếc áo thun ba lỗ màu cháo lòng của ông bạc phếch, hai bên bả vai lấm tấm những vệt muối trắng xóa khô lại sau một ca bốc vác cá nặng nhọc từ ngoài cầu cảng suốt buổi chiều. Trên tay ông là một tờ báo địa phương đã cũ mèm, mép giấy quăn queo, nhưng đôi mắt sâu thẳm đầy tia máu của ông lập tức dời khỏi trang in khi nghe tiếng bước chân con trai bước qua bậu cửa.

“Rửa tay chân cho sạch rồi vô bới cơm ăn,” ông Lâm cất giọng khàn đặc, trầm đục như tiếng đá cọ vào nhau dưới đáy thuyền, đoạn quay mặt đi chỗ khác.

Bảo không đi thẳng ra sau bể nước mưa như mọi ngày. Cậu bước chầm chậm từng bước lại gần chiếc bàn ăn.

Từ túi quần trước của chiếc quần bảo hộ bằng vải kaki thô ráp, cậu rút ra xấp tiền vừa nhận từ tay cô Mai ban chiều. Đứng bên mép bàn, Bảo cẩn thận dùng những ngón tay dính dầu nhớt tách xấp tiền thành hai phần đều nhau, mỗi phần đúng sáu trăm ngàn đồng.

Cậu nhét một phần vào lại túi quần, phần còn lại—gồm hai tờ hai trăm ngàn và hai tờ một trăm ngàn phẳng phiu—được cậu đặt ngay ngắn xuống mặt bàn gỗ, ngay sát cạnh chiếc bát ăn cơm bằng sành của cha.

Tiếng sột soạt của xấp tiền giấy chạm nhẹ vào mặt gỗ tạp khô khốc vang lên rõ mồn một trong gian nhà vắng.

Ông Lâm khựng tay lại giữa trang báo. Đôi mắt già nua, đầy những vết chân chim sâu hoắm của người cha từ từ dời từ trang giấy in sang xấp tiền mặt nằm im lìm dưới ánh đèn tuýp.

“Cái gì đây?” Ông Lâm hỏi, giọng lạnh tanh, cộc lốc, nhưng trong đáy mắt có một thoáng dao động kín đáo không thể giấu nổi.

“Dạ, tiền phụ cấp tháng đầu tiên học việc của con ở tiệm cô Mai,” Bảo đứng thẳng người trước bàn ăn, hai tay thả lỏng tự nhiên bên hông, ánh mắt nhìn thẳng vào cha mình, giọng cậu bình thản và rành rọt từng từ. “Hôm nay tròn đúng ba mươi ngày như con đã hẹn với ba ngày mới về. Bốn trăm ngàn này là con gửi trả lại số tiền ba cho con mượn dằn túi bữa con từ trên phố về. Còn hai trăm ngàn là con phụ tiền điện nước tháng này, vì con về ở thêm nên hóa đơn điện tháng rồi tăng từ một trăm năm mươi lên ba trăm hai mươi ngàn như ba nói bữa trước.”

Căn nhà nhỏ chìm vào một khoảng lặng nặng trịch kéo dài. Tiếng gió bấc luồn qua các khe hở của cánh cửa gỗ rít lên từng hồi u u buốt lạnh.

Ông Lâm từ từ hạ tờ báo cũ xuống đùi. Bàn tay gân guốc, đen đúa vì nắng gió và chằng chịt những vết sẹo do vây cá biển cứa của ông chầm chậm vươn ra. Đầu ngón tay thô ráp, nứt nẻ chạm vào mép những tờ tiền mới. Ông cầm xấp tiền lên, không hề giở ra đếm, chỉ nắm chặt nó trong lòng bàn tay chai cứng. Đôi mắt đùng đục của ông nhìn xoáy vào khuôn mặt gầy gò của con trai, rồi từ từ dừng lại ở đôi bàn tay lấm tấm những vết trầy xước rướm máu và những vệt dầu luyn đen nhánh chưa thể tẩy sạch ở kẽ móng tay Bảo.

Một tiếng thở dài nặng nhọc, nghẹn ứ từ tận đáy lồng ngực bật ra qua kẽ răng người cha già:

“Một triệu hai... Cả tháng trời còng lưng thức khuya dậy sớm hít bụi bặm, ngửi dầu mỡ...”

Ông Lâm ném xấp tiền trở lại mặt bàn gỗ, tiếng giấy va vào mặt bàn nghe khô khốc:

“Trả nợ với phụ tiền điện nước xong, trong túi mày còn lại được mấy đồng bạc lẻ? Sáu trăm ngàn đồng... Ăn sáng với đổ xăng xe có đủ cho một con người sống một tháng không?”

Ông Lâm chống hai tay lên đầu gối, ngước nhìn con trai bằng ánh mắt trĩu nặng sự chua xót và cay đắng của một đời người thất bại:

“Bây giờ mày còn trẻ, hai mươi hai tuổi đầu, sức dài vai rộng thì nhịn ăn nhịn thèm, chịu khổ chịu cực được. Nhưng rồi mai mốt hai mươi năm nữa, ba mươi năm nữa, mày già như tao bây giờ, cái lưng còng xuống, khớp tay khớp chân rệu rã hết rồi mày lấy cái gì mà sống? Người ta ăn học đàng hoàng, có tấm bằng đại học giắt lưng, ngồi bàn giấy phòng máy lạnh, mưa không tới mặt nắng không tới đầu, lương tháng chục triệu, về già có lương hưu có bảo hiểm xã hội nuôi thân. Còn cái nghề vặn ốc vá săm này, ngày nào ráo mồ hôi là ngày đó đói rã ruột. Liệu nó có nuôi nổi cái thân mày tới lúc về già hay lại đi vào vết xe đổ của tao?”

Không khí trong gian phòng như đông cứng lại thành một tảng băng vô hình.

Câu hỏi của ông Lâm không mang sự gay gắt, đay nghiến độc địa như bữa cơm trưa của một tháng trước khi Bảo xách ba lô về nhà, mà nó trần trụi, lạnh lùng và chứa đầy nỗi âu lo dai dẳng, bế tắc của một đời lao động chân tay cùng cực. Đó là nỗi sợ hãi rất thật, rất đau đớn của một người đàn ông đã dành trọn ba mươi năm thanh xuân bốc vác hàng ngàn tấn cá dưới lòng tàu tanh tưởi, chỉ nuôi một hy vọng duy nhất là đứa con trai duy nhất của mình có thể bước chân ra khỏi vũng lầy bấp bênh đó bằng một tấm bằng cử nhân.

Nếu là Bảo của một tháng trước, hay thậm chí chỉ là hai tuần trước thôi, lòng tự ái của một cựu sinh viên kinh tế sẽ bùng cháy dữ dội. Cậu sẽ cảm thấy bị xúc phạm, sẽ quay lưng bỏ đi, đóng sầm cửa buồng lại, giấu mình sau màn hình chiếc máy tính xách tay cũ kỹ với những bản kế hoạch tài chính xa vời để gặm nhấm nỗi uất ức bất lực.

Nhưng hôm nay, Bảo không hề lùi bước. Cậu nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ ngầu, mệt mỏi của cha, nhìn chiếc áo thun ba lỗ bạc màu lấm lem vảy cá khô và đôi bờ vai gầy guộc đang trĩu xuống vì năm tháng nhọc nhằn.

Bảo kéo chiếc ghế đẩu đối diện, bình thản ngồi xuống bên bàn ăn.

Từ trong ngăn nhỏ của chiếc ba lô cũ đặt dưới chân ghế, Bảo rút ra một cuốn sổ tay bìa bọc nhựa bằng giấy kẻ ô bốn ly đã sờn mép—cuốn sổ ghi chép chi tiêu gia đình mà cha cậu vẫn thường dùng để kẹp biên lai tiền điện nước và ghi tiền chợ mỗi tháng, đặt ở góc tủ bếp. Cậu mở cuốn sổ ra, lật qua những trang giấy chi chít nét chữ thô kệch của cha ghi tiền mua gạo, tiền mắm, tiền thuốc cảm, dừng lại ở trang giấy trắng gần nhất rồi đặt ngay ngắn vào giữa hai người.

“Ba nói đúng, sáu trăm ngàn còn lại trong túi con hoàn toàn không đủ để sống sung sướng hay dư dả,” Bảo cất giọng, trầm tĩnh và rành mạch, không có chút hờn dỗi hay to tiếng. “Và con cũng chưa bao giờ nghĩ cái nghề sửa xe này sẽ làm con giàu nhanh hay nhàn hạ như người ta làm văn phòng trên thành phố. Nhưng con không trốn chạy nữa, ba à.”

Bảo rút chiếc bút bi giắt ở túi áo ngực ra, bấm *tách* một tiếng dứt khoát. Cậu đặt ngòi bút lên mặt giấy kẻ ô bốn ly, bắt đầu vạch một đường thẳng tắp chia đôi trang giấy thành hai cột rõ ràng:

“Đây là cuốn sổ ba ghi tiền sinh hoạt gia đình mấy năm nay. Giờ mình tính sòng phẳng với nhau từng con số một đi ba.”

Ông Lâm sững người nhìn hành động dứt khoát của con trai. Bàn tay đang định với lấy bao thuốc lá rê của ông khựng lại giữa không trung.

“Tháng này, tổng thu nhập học việc của con ở tiệm cô Mai là một triệu hai trăm ngàn,” Bảo vừa nói vừa nắn nót viết con số *1.200.000* vào góc trên cùng của trang giấy. “Con trả nợ dứt điểm cho ba bốn trăm ngàn tiền gốc con mượn hôm mới về: xong một khoản. Tiền điện nước tháng này tăng từ một trăm năm mươi lên ba trăm hai mươi ngàn, tức là phần chênh lệch do con xài thêm là một trăm bảy mươi ngàn; con gửi ba tròn hai trăm ngàn, dư ba mươi ngàn ba bù vào tiền bình gas nấu nước.”

Ngòi bút của Bảo lia đều đặn trên mặt giấy kẻ ô, từng nét chữ nghiêng mực xanh hiện lên rành rọt:

*— Trả nợ ba: 400.000đ* *— Phụ tiền điện nước tháng 1: 200.000đ* *— Số tiền còn lại: 600.000đ*

“Sáu trăm ngàn còn lại trong túi con,” Bảo ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt cha, “con chia đều cho ba mươi ngày của tháng tới. Mỗi ngày con chỉ được phép tiêu đúng hai mươi ngàn đồng, không hơn một cắc. Mười ngàn cho gói xôi buổi sáng đầu ngõ, mười ngàn còn lại con bỏ vào ống bơ phòng khi xe thủng lốp hay con đau ốm cảm sốt. Xe đạp đi làm con tự bảo dưỡng, tự vá lấy nên không tốn tiền xăng hay tiền sửa. Trưa với chiều con ăn cơm nhà với ba, con phụ ba nấu cơm, rửa chén, lau dọn nhà cửa.”

Bảo đẩy nhẹ cuốn sổ về phía trước mặt ông Lâm, đặt chiếc bút bi nằm ngang ngay ngắn trên trang giấy:

“Con biết ba lo cho con, sợ con lông bông không có tương lai rồi lại làm khổ ba lúc về già. Nhưng bản thỏa thuận học việc của con với cô Mai có thời hạn rất rõ ràng: ba tháng thử việc, sau ba tháng nếu con đạt yêu cầu về tốc độ và tay nghề, cô sẽ nhận con làm thợ phụ chính thức có trả lương theo năng lực, khoảng hai triệu rưỡi đến ba triệu một tháng. Sau chín tháng, con sẽ có đủ tay nghề để làm một người thợ độc lập. Con không ngồi một chỗ chờ ai nuôi, và kể từ ngày hôm nay, con cũng không xin ba thêm một đồng bạc nào nữa.”

Gian phòng lại chìm vào sự tĩnh lặng sâu thẳm, chỉ còn tiếng tích tắc khô khốc của chiếc đồng hồ treo tường bằng nhựa cũ kỹ trên vách.

Ông Lâm nhìn chằm chằm vào những dòng số ngay hàng thẳng lối trên trang giấy kẻ ô. Nét chữ mực xanh đều đặn, sắc sảo của một đứa trẻ từng được học hành tử tế, nhưng nội dung bên trong lại là những con số mười ngàn, hai mươi ngàn trần trụi, khắc nghiệt của đời sống lao động bần hàn ven biển. Không có những thuật ngữ kinh tế vĩ mô đao to búa lớn, không có những ảo tưởng viển vông về việc làm giàu nhanh chóng. Chỉ có những phép trừ sòng phẳng, tự chịu trách nhiệm đến cùng về từng bữa ăn, từng số điện và từng ngày tồn tại của chính mình.

Người cha già từ từ hạ bàn tay xuống mặt bàn. Những ngón tay thô ráp, gân guốc của ông vươn ra, ngón tay cái sần sùi khẽ chạm vào dòng chữ *Trả nợ ba: 400.000đ*. Ông không cầm cây bút lên, nhưng những đầu ngón tay đầy sẹo khẽ miết nhẹ trên mặt giấy như muốn kiểm chứng xem nét mực ấy có thật sự tồn tại hay không, hay chỉ là một lời hứa suông trôi nổi.

“Mày... liệu mà giữ lấy cái nếp ghi chép này,” ông Lâm buông một câu cộc lốc sau một hồi im lặng kéo dài, giọng khàn đặc nhưng sự cay đắng châm chọc đã hoàn toàn biến mất. “Tiền chợ tháng tới tao đi, tao mua con cá mớ rau gì tao ghi vô đây. Mày ăn cái gì, xài cái gì thì tự giác điền vô cái cột bên cạnh. Đừng có để thiếu trước hụt sau một cắc rồi lại ngửa tay xin xỏ.”

“Dạ, con nhớ rồi ba.”

Ông Lâm với tay cầm lấy xấp tiền sáu trăm ngàn đồng trên bàn ăn, cẩn thận gấp đôi lại rồi nhét sâu vào chiếc túi áo ngực đã sờn rách đường chỉ may. Ông đứng dậy khỏi ghế tựa, bước chầm chậm ra sau bể nước mưa múc một gáo nước lạnh rửa mặt. Tiếng nước chảy róc rách vào chum sành vang lên đều đặn, xua tan đi bầu không khí ngột ngạt nãy giờ.

Bảo ngồi lại một mình bên bàn ăn, cúi nhìn cuốn sổ kẻ ô đang mở rộng dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn tuýp.

Bên cạnh những dòng chữ run rẩy, nguệch ngoạc bằng bút bi đen của cha ghi tiền mua mắm muối, tiền dầu hỏa suốt mấy năm ròng rã, giờ đây đã xuất hiện những dòng mực xanh thẳng tắp, rành mạch mang tên cậu.

Những dòng số trong sổ chi tiêu gia đình lần đầu tiên có mực viết của cả hai người, dù con số vẫn còn chông chênh.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn