Tiệm Sửa Những Điều Chưa MuộnC.7 / 24
Chương 7

Mười tám chiếc đến sân

Sân xi măng của nhà sinh hoạt khu phố Hai ngập trong cái nắng sớm gắt gao của dải đất duyên hải và tiếng lách cách kim loại khô khốc của những chiếc xe đạp cũ vừa được gom về từ khắp các ngõ xóm.

Gió từ phía cửa biển thổi thốc qua rặng dương liễu mé bờ kênh xáng, cuốn theo hơi mặn chát nồng nặc và những hạt cát mịn li ti, rải đều một lớp bụi mỏng lên mười tám bộ khung sắt hoen rỉ đang nằm ngồi ngổn ngang giữa sân. Đúng bảy giờ ba mươi phút sáng, khoảng sân râm mát dưới bóng hai cây bàng cổ thụ đã chật kín. Mười tám chiếc xe đạp cũ đứng dựa vào nhau thành hai dãy dài xiêu vẹo, tạo nên một bức tranh chắp vá về sự tàn phá của thời gian và khí hậu vùng biển. Có chiếc mini Nhật sơn màu xanh ngọc bích đã bạc phếch trơ cả lớp sơn lót xám xịt, xích chùng võng xuống chạm sát thanh chắn bùn; có chiếc xe sườn ngang Martin 107 xộc xệch mất hẳn một bên bàn đạp, trơ ra cái trục sắt tiện ren méo mó; và có cả những chiếc xe cào cào thời cũ với gắp sau trĩu nặng những vảy rỉ sét dày cộm cộm như vảy cá hanh, chỉ khẽ đụng nhẹ ngón tay vào là từng mảng nâu đỏ rã vụn rơi lả tả xuống nền xi măng.

Ở chiếc bàn tròn bằng đá mài đặt ngay dưới tán bàng lớn, cô Hạnh mặc chiếc áo sơ mi màu lam giản dị, cổ tay áo xắn cao gọn gàng, tay ôm cặp tài liệu dán kín mép bằng băng keo giấy. Cô đang cùng ông trưởng ban dân phố đối chiếu từng tờ giấy viết tay đã ngả màu ố vàng.

“Đây là xe của nhà chú Tám dưới mé xóm Lưới,” ông trưởng ban dân phố đeo cặp kính lão trễ xuống tận sống mũi, ngón tay trỏ thô ráp ấn mạnh vào một chiếc xe sườn đầm màu mận chín, tay kia nâng một tờ giấy kẻ ô ly học trò có nét chữ ký run rẩy bằng mực tím. “Chiếc này con gái chú đi lấy chồng tuốt trên huyện Chợ Lách để lại dưới bếp ba năm nay, bụi đóng dầy cả lóng tay. Giấy xác nhận tặng cho chương trình ghi rất rõ họ tên chủ hộ, số chứng minh nhân dân cũ lẫn căn cước công dân mới, kèm cả chữ ký cam đoan của hai vợ chồng là tự nguyện hiến tặng, tuyệt đối không có chuyện khiếu nại hay đòi lại sau này. Bác đã lật sổ bộ bên khâu quản lý dân cư đối chiếu kỹ càng rồi, đúng người đúng xe, không sai một ly.”

Cô Hạnh cẩn thận so từng dòng họ tên, số seri ghi trên căn cước và đối chiếu với tờ khai tạm trú, dùng chiếc bút bi mực xanh gạch một nét dứt khoát vào danh sách kiểm kê, rồi rút chiếc kẹp giấy kim loại bấm chặt tờ đơn vào góc trên cùng của tập hồ sơ:

“Cảm ơn bác nhiều lắm. Phía nhà trường chúng cháu bắt buộc phải làm chặt chẽ khâu pháp lý này ngay từ đầu. Xe gom về là để phục hồi cho các em học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mượn dùng dài hạn suốt các năm học. Nếu không có giấy tờ xác nhận quyền hiến tặng rõ ràng, lỡ sau này người nhà đi làm ăn xa ngoài vùng biển về, hoặc anh em trong gia đình xảy ra tranh chấp tài sản rồi đến trường đòi lại thì tội nghiệp các cháu lắm. Mười tám chiếc xe tiếp nhận sáng nay, dứt khoát chiếc nào cũng phải có đầy đủ chữ ký của chủ hộ và con dấu giáp lai của ban dân phố thế này mới đủ điều kiện nhập kho kỹ thuật.”

Bảo đứng tựa lưng vào mép bồn hoa gần đó, tay xách chiếc giỏ nhựa màu xám đựng đầy đồ nghề: một cây kìm mỏ bằng, một chiếc búa gõ xỉ hàn nhỏ bằng ngón tay cái, cuộn băng keo trong bản lớn và một tập thẻ số bằng bìa cứng ép nhựa bóng do chính tay cậu cặm cụi cắt dán suốt đêm qua dưới ngọn đèn bàn. Cậu chăm chú lắng nghe từng lời cô Hạnh trao đổi với ông trưởng ban dân phố mà ngấm thầm cái nguyên tắc cẩn trọng đến mức khắc nghiệt của một người làm công tác quản lý giáo dục. Trước đây, khi còn ngồi trên giảng đường đại học, trong những môn kỹ năng mềm hào nhoáng hay các buổi hội thảo khởi nghiệp thanh niên, người ta chỉ thường dạy cách vẽ ra các phong trào thật rầm rộ, cách phát động chiến dịch sao cho thu hút truyền thông và tung hô những con số ấn tượng để báo cáo thành tích. Tuyệt nhiên chẳng có giáo trình nào nhắc đến việc một người phụ trách phải ngồi hàng giờ dưới bóng cây bàng rụng lá, tỉ mẩn soi từng nét mực trên một mảnh giấy học trò nhàu nhĩ để ngăn ngừa những rủi ro tranh chấp tài sản có thể ập xuống đầu những đứa trẻ nghèo như cách cô Hạnh đang làm.

Đang lúc hai người rà soát đến chiếc xe thứ mười bốn thì ngoài ngõ rẽ dẫn vào cổng nhà sinh hoạt rộ lên tiếng động cơ xe máy tay ga lạch cạch xen lẫn tiếng cười nói sang sảng, át cả tiếng gió biển đang rít qua rặng dương liễu.

Một người đàn ông trạc ngoài bốn mươi tuổi, vóc người đậm đà, đẫy đà trong chiếc áo thun cá sấu màu cam chói lọi, sải những bước chân dài đầy tự tin tiến vào sân. Tay phải ông ta giơ cao một cây gậy kim loại gắn chiếc điện thoại thông minh cỡ lớn, màn hình đang sáng rực với những dòng bình luận và biểu tượng trái tim bay lên liên tục. Đó là Hoàng Quốc Đạt — cựu học sinh của trường, hiện là một tiểu thương có tiếng chuyên bỏ mối hàng bách hóa tổng hợp ở khu chợ trung tâm thị trấn Hải An, và cũng chính là người đã năng nổ đứng ra vận động, kêu gọi quyên góp đợt xe đạp cũ này trên mạng xã hội suốt nửa tháng qua.

“Chào cả nhà! Chào toàn thể bà con cô bác và anh chị em đang theo dõi buổi phát trực tiếp sáng hôm nay nhé!” Ông Đạt vừa đi thoăn thoắt vừa hướng ống kính điện thoại quét một vòng từ chiếc cổng sắt han rỉ vào tận góc sân rợp bóng mát, giọng sang sảng, nhấn nhá từng từ đầy vẻ kịch nghệ. “Hiện tại Đạt đang có mặt trực tiếp tại sân nhà sinh hoạt cộng đồng khu phố Hai. Như quý vị đang tận mắt chứng kiến đây, chiến dịch ‘Đôi vành xe nâng bước em tới trường’ do Đạt phối hợp phát động cùng Trường Trung học cơ sở Hải An đã gặt hái được những thành quả vô cùng rực rỡ! Đúng mười tám chiếc xe đạp cũ do bà con hảo tâm khắp các ngõ xóm thị trấn hiến tặng đã tề tựu đông đủ tại đây. Một con số quá tròn trịa, quá tuyệt vời cho sự chung tay của cộng đồng chúng ta!”

Ông Đạt tiến sát lại dãy xe đầu tiên, hạ thấp cây gậy selfie, lia ống kính sát sạt vào từng chiếc khung sắt bám đầy vảy rỉ, rồi lại hất máy quay về phía khuôn mặt rạng rỡ của mình, cất giọng đầy truyền cảm:

“Toàn bộ mười tám chiếc xe này hôm nay sẽ được chính thức bàn giao cho tiệm sửa xe uy tín nhất thị trấn Hải An để tiến hành đại tu, phục hồi toàn diện từ chân tơ kẽ tóc! Đạt xin hứa danh dự với bà con cô bác, chỉ trong một thời gian ngắn nữa thôi, toàn bộ mười tám chiếc xe này sẽ lại bon bon lăn bánh trên các nẻo đường làng, chở đúng mười tám em học sinh nghèo vượt khó của quê hương chúng ta đàng hoàng bước vào ngày khai trường năm học mới! Tuyệt đối không để một đứa trẻ nào phải lội bộ rách gót chân dưới cái nắng bỏng rát của cồn cát ven biển nữa!”

Tiếng ông Đạt nói trên sóng trực tiếp vang vọng khắp khoảng sân tĩnh mịch, khiến mấy người phụ nữ đi chợ sớm ngang qua cổng cũng tò mò dừng xe lại, ngóng cổ nhìn vào xem náo nhiệt.

Bảo đứng chôn chân bên cạnh giỏ đồ nghề, nhìn nụ cười tươi rói cùng phong thái đĩnh đạc, tự tin đến mức hoàn hảo của ông Đạt mà trong lồng ngực bỗng thoáng dâng lên một cảm giác rạo rực khó tả. Mười tám chiếc xe, mười tám số phận học trò nghèo được ngồi lên yên xe mới tinh để đến trường — bức tranh mà người tiểu thương vừa vẽ ra trên màn hình phát sóng trực tiếp quả thực quá đẹp đẽ, quá đỗi ấm áp và ngập tràn niềm tự hào. Cậu bất giác liếc nhìn lại mười tám bộ khung xe sắt vụn đang nằm im lìm trên nền sân xi măng, lòng thầm nghĩ về những chuỗi ngày làm việc sắp tới, về những giọt mồ hôi mình sẽ đổ xuống nơi góc xưởng để biến giấc mơ rực rỡ kia thành hiện thực.

Thế nhưng, luồng không khí hân hoan náo nhiệt ấy đột ngột bị cắt ngang bởi một tiếng cộc khô khốc vang lên từ phía sau lưng.

Cô Mai đã đến tự lúc nào.

Bà dựng chiếc xe đạp cà tàng màu đen của mình vào gốc cây bàng, trên tay cầm theo chiếc búa sắt nhỏ chuyên dùng để gõ kiểm tra độ dày kim loại và một chiếc cờ-lê mười bốn đã mòn vẹt mép nhưng sáng bóng ánh thép nguội. Cổ tay phải của người thợ già vẫn quấn một vòng băng thun co giãn màu cháo lòng quen thuộc, giấu kín dưới mép ống tay áo bảo hộ lao động bạc màu vì nắng gió và dầu mỡ. Không một lời chào hỏi rườm rà, bà bước những bước chân chắc nịch thẳng tới trước mặt ông Đạt. Đôi mắt sâu thẳm, nghiêm nghị của bà nhìn thẳng vào nụ cười còn chưa kịp tắt trên gương mặt người tiểu thương, giọng điềm tĩnh nhưng dứt khoát đến lạnh lùng:

“Anh Đạt tắt cái máy thu hình đó đi một lát. Vào bàn ngồi nói chuyện cho rõ ràng, minh bạch đã.”

Nụ cười trên môi ông Đạt sượng lại. Trước cái nhìn sắc như dao cạo của người đàn bà cả đời gắn bó với sắt thép, ông thoáng chút lúng túng. Nhận thấy vẻ mặt lạnh băng không chút đùa cợt của cô Mai, ông vội vã đưa tay bấm màn hình, nói vội vài câu chào tạm biệt khán giả hẹn gặp lại trong buổi lễ trao xe rồi nhét vội chiếc điện thoại vào túi quần jean, cười xòa để xua tan bầu không khí căng thẳng:

“Kìa chị Mai, em đang tranh thủ làm chút hiệu ứng truyền thông trên mạng để bà con xem thấy phấn khởi, người ta thấy rôm rả thì mới có hứng ủng hộ thêm kinh phí phụ tùng cho nhà trường chứ. Chuyện tốt lành cho tụi nhỏ cả mà, chị làm gì mà mặt mày nghiêm trọng dữ vậy?”

“Hiệu ứng hay tiếng tăm gì đó thì để tính sau. Việc cơ khí dính tới an toàn tính mạng người ta thì phải nói bằng số liệu, bằng tình trạng vật lý và bằng biên bản giấy trắng mực đen trước,” cô Mai không hề lay chuyển dù chỉ nửa bước, quay sang phía cô Hạnh. “Cô Hạnh, giấy tờ xác nhận quyền sở hữu và pháp lý cho mười tám chiếc xe này xong xuôi hết chưa?”

“Dạ, cháu cùng bác trưởng ban rà soát xong toàn bộ mười tám chiếc rồi chị Mai,” cô Hạnh nhanh nhẹn kéo thêm một chiếc ghế nhựa mời cô Mai ngồi xuống đối diện chiếc bàn đá mài. “Biên bản bàn giao của ban dân phố đã ký đóng dấu đủ. Giờ chỉ còn phần ký kết biên bản ghi nhớ tiếp nhận kỹ thuật giữa nhà trường, ban vận động của anh Đạt và bên cơ sở sửa chữa của tiệm mình thôi ạ.”

Cô Mai ngồi xuống ghế, đặt chiếc búa sắt nhỏ lên mặt bàn đá kêu đánh cạch một tiếng dứt khoát. Từ trong túi áo ngực bạc phếch, bà rút ra một tờ giấy khổ A4 đã được kẻ sẵn các cột mục ngăn nắp bằng nét bút mực đen nắn nót. Ánh mắt nghiêm cẩn của bà lướt qua cô Hạnh, rồi dừng lại găm thẳng vào ông Đạt:

“Tôi và thằng Bảo đã ghé qua đây khảo sát sơ bộ từ chiều hôm qua, và sáng nay tôi cũng vừa đi một vòng dùng búa gõ kiểm tra kết cấu khung sườn của cả mười tám chiếc xe đang nằm ngoài sân kia. Tình trạng kim loại ở cái xứ sát mé biển này anh Đạt buôn bán bao năm nay chắc chẳng lạ gì: muối mặn ăn luồn từ trong lòng ống thép ăn ra, nhiều chiếc nhìn nước sơn bên ngoài còn bóng bẩy, gõ nghe leng keng nhưng thực chất bên trong thành ống thép đã rỗng ruột, mủn ra như xơ mướp mục. Vì vậy, tôi nói thẳng một lần để các bên thống nhất ngay từ đầu, tránh phiền hà về sau: Biên bản ghi nhớ sáng nay chỉ đặt mục tiêu phục hồi tối đa mười hai chiếc xe đạt chuẩn an toàn kỹ thuật để đưa vào chương trình cho học sinh mượn sử dụng.”

Ông Đạt giật thót mình như bị chạm nọc, hai mắt trợn tròn, giọng cao vút lên đầy vẻ bất bình:

“Sao lại mười hai chiếc hả chị Mai? Chị nói đùa hay nói chơi vậy? Ban nãy em vừa phát trực tiếp tuyên bố rành rọt với hàng trăm bà con trên mạng là toàn bộ mười tám chiếc! Dân người ta tin tưởng hiến mười tám cái xe, mình tiếp nhận đủ mười tám cái, giờ đùng một cái chị bảo chỉ làm mười hai chiếc thì sáu chiếc còn lại vứt đi đâu? Người ta hiến xe mà thấy xe mình không được sửa đem cho học sinh, người ta nói ban vận động lừa gạt, nói em đứng ra ăn bớt ăn xén tiền phụ tùng của cộng đồng thì em còn mặt mũi nào buôn bán ở cái chợ Hải An này nữa?”

Đối diện với cơn thịnh nộ của người tiểu thương, cô Mai vẫn ngồi bất động như một tảng đá ngầm, giọng bà trầm xuống nhưng đanh thép từng chữ:

“Người ta có nói anh lừa gạt hay không là do cái miệng của anh giải thích có trung thực hay không. Còn tôi, với tư cách người thợ đứng mũi chịu sào về mặt kỹ thuật, người phải đặt bút ký tên bảo đảm an toàn cho các cháu đạp xe trên đường lộ đông đúc, tôi không bao giờ vì thể diện cá nhân của anh hay vì dăm ba cái nút thích, nút khen trên mạng xã hội mà đưa một cái khung xe đã nứt cổ phốt hoặc mục càng sau cho một đứa trẻ mười ba tuổi sử dụng. Chiếc xe đạp chở học sinh nó khác hoàn toàn chiếc xe kéo ba gác chở mấy thùng xốp ngoài chợ cá của anh. Nó chở một mạng người. Nó phải phanh lại được tức thì khi các cháu đổ dốc cầu Hải An trong cơn mưa giông, nó không được phép gãy đôi gióng sườn khi các cháu lỡ sụp phải một cái ổ gà trên đường đất đỏ. Toàn bộ ngân sách mua sắm phụ tùng mà cô Hạnh thông qua đợt này chỉ vỏn vẹn có ba triệu năm trăm ngàn đồng. Với chừng đó tiền, tôi tính toán nát cả óc, ráng lắm cũng chỉ đủ mua xăm lốp mới loại dày, dây phanh ruột bọc thép, xích líp và bi bạc đạn để vực dậy mười hai chiếc có bộ khung còn đủ độ dày chịu lực.”

Bà giơ ngón tay trỏ chai sần chỉ thẳng ra góc sân, nơi có sáu chiếc xe đạp cũ rỉ sét nặng nhất đang nằm tựa vào hàng rào dâm bụt, giọng rành mạch từng phương án:

“Sáu chiếc còn lại kia, tiệm chúng tôi sẽ tiếp nhận để phân loại kỹ thuật theo đúng quy trình: chiếc nào khung mục ruỗng nhưng vành nhôm, giò dĩa hay ghi-đông còn dày dặn thì rã xác ra, đánh bóng tẩy rỉ để lấy phụ tùng bù đắp qua cho mười hai chiếc kia, đỡ phải tốn tiền mua đồ mới ngoài tiệm phụ tùng. Chiếc nào rỉ sét toàn phần, kim loại đã mỏi và biến dạng, không thể tận dụng một cách an toàn thì lập biên bản thanh lý sắt vụn, toàn bộ số tiền bán phế liệu gom lại nộp thẳng vào quỹ mua phụ tùng của nhà trường, có cô Hạnh đứng tên giám sát. Biên bản ghi nhớ hôm nay phải ghi rõ trắng đen: Mục tiêu phục hồi mười hai xe đạt chuẩn. Sáu xe dùng để sàng lọc phụ tùng thay thế hoặc thanh lý phế liệu. Ai đồng ý phương án đó thì đặt bút ký, còn nếu không đồng ý, muốn làm đủ mười tám chiếc bất chấp an toàn thì tiệm sửa xe của tôi xin phép rút lui ngay bây giờ, không nhận làm thứ việc mập mờ, vô trách nhiệm.”

Khoảng không gian dưới tán bàng bỗng chốc chùng hẳn xuống, chỉ còn nghe tiếng gió rít qua kẽ lá và tiếng thở dốc đầy bực dọc của ông Đạt. Bảo đứng ngay phía sau cô Mai, nghe lồng ngực mình đập thình thịch từng hồi. Cậu nhìn sang ông Đạt, thấy gương mặt người tiểu thương chuyển từ đỏ bừng sang xám ngoét, vầng trán lấm tấm những giọt mồ hôi hột. Từng câu từng chữ của cô Mai không hề chứa đựng một chút quanh co, không có lấy một lời nể nang tình làng nghĩa xóm, nó giống như những nhát búa sắt gõ thẳng vào kết cấu kim loại rỗng ruột để vạch trần thứ hào nhoáng bên ngoài.

Cô Hạnh hít một hơi sâu, khẽ đẩy cặp kính cận lên sống mũi rồi gật đầu dứt khoát:

“Chị Mai nói hoàn toàn có lý và đúng với lương tâm của người làm giáo dục, anh Đạt à. Quan điểm nhất quán của Ban giám hiệu nhà trường là đặt tính mạng và sự an toàn tuyệt đối của học sinh lên trên hết. Chúng ta làm chương trình thiện nguyện giúp các em, nhưng tuyệt đối không thể làm ẩu, làm lấy số lượng bề nổi để làm báo cáo hay lấy thành tích phong trào. Em hoàn toàn ủng hộ phương án kỹ thuật của chị Mai: phục hồi mười hai xe đạt chuẩn tuyệt đối, và xử lý sáu xe còn lại theo đúng quy trình sàng lọc phụ tùng minh bạch.”

Cô Hạnh quay sang nhìn ông Đạt bằng ánh mắt mềm mỏng nhưng kiên định:

“Trách nhiệm giải thích với bà con hiến tặng xe, bên ban vận động và nhà trường sẽ cùng gánh vác. Chúng ta sẽ công khai toàn bộ biên bản kiểm định kỹ thuật này lên bảng tin của trường và nhóm dân cư. Bà con lối xóm ai có lòng hảo tâm, khi biết chiếc xe cũ của gia đình mình tuy không thể vận hành an toàn nhưng đã đóng góp được một cặp vành nhôm tốt, một bộ giò dĩa chắc chắn để cứu sống một chiếc xe khác cho con em trong xóm, chắc chắn mọi người sẽ thấu hiểu và ủng hộ thôi anh.”

Bị kẹp giữa lý lẽ đanh thép của người thợ già và lập trường kiên quyết của đại diện nhà trường, ông Đạt thở dài thườn thượt. Ông ta đưa bàn tay đẫy đà vuốt ngược mái tóc ướt mồ hôi, giọng chùng xuống thấy rõ:

“Thôi được rồi, hai người đã nói tới mức đó thì tôi còn biết cãi làm sao. Nhưng chị Mai ráng xem giùm em, trong sáu cái xe bị loại đó, nếu gõ mà thấy cái nào còn ráng vớt vát được thì chị ráng mông má giúp em thêm một hai cái, chứ con số mười hai nhìn nó hụt hẫng quá chừng so với lúc phát động.”

“Cơ khí không có chữ ‘ráng’,” cô Mai đáp gọn lỏn, thanh âm lạnh như băng. “Đạt chuẩn chịu lực thì giữ, nghi ngờ có vết nứt thì loại bỏ. Đưa cây bút đây ký.”

Biên bản ghi nhớ kỹ thuật được ký thành ba bản giống hệt nhau. Nét chữ ký của cô Mai bằng mực đen thẳng thớm, gãy gọn, khóa chặt mục tiêu của toàn bộ chiến dịch ở con số mười hai chiếc xe an toàn, dập tắt hoàn toàn mọi ý đồ cơi nới hay tô vẽ số lượng ngay từ những phút đầu tiên.

Ký xong giấy tờ, cô Mai đứng dậy, phủi nhẹ lớp bụi bám trên vạt áo rồi quay sang phía Bảo:

“Bảo, bắt đầu phần việc của anh đi. Đánh mã số từ X01 đến X18 theo đúng thứ tự trong danh sách cô Hạnh vừa duyệt. Dán thẻ định danh lên gióng nghiêng của sườn xe, ghi nhận hiện trạng chi tiết vào sổ nhật ký kỹ thuật. Kiểm tra kỹ số khung đóng chìm dưới đáy cổ phốt hoặc dưới trục giữa nếu còn đọc được.”

“Dạ, con làm liền đây ạ,” Bảo lên tiếng đáp.

Cậu mở giỏ đồ nghề, cầm tập thẻ số bằng bìa cứng đã được đục lỗ sẵn và cuộn dây rút nhựa bước thoăn thoắt ra giữa bãi xe. Những cơn gió biển thổi phần phật làm bay phần phật những dải thẻ trắng tinh trên tay cậu. Bảo quỳ một chân xuống nền xi măng trước chiếc xe đầu tiên — một chiếc xe đạp mini mang biển số thứ tự 01 trong danh sách. Cậu rút miếng giẻ lau dầu trong túi quần, chà sạch lớp bụi cát và muối biển bám dày trên gióng sườn, cẩn thận luồn sợi dây rút nhựa qua lỗ khuyên của tấm thẻ mang mã hiệu “X01”, siết chặt một tiếng *tách* gọn gàng rồi dùng kìm cắt bén ngót phần đuôi dây thừa. Tiếp theo đó, Bảo kéo một đoạn băng keo trong dán đè một vòng kín mít lên mặt thẻ bìa để nước mưa hay hơi muối không thể làm nhòe nét mực bút lông.

Cứ thế, Bảo tỉ mẩn thao tác từ chiếc X01 cho đến chiếc X05. Đôi bàn tay thư sinh của cậu sau những tuần lễ tôi luyện ở xưởng cơ khí đã bắt đầu quen dần với các góc cạnh sắc nhọn của kim loại, không còn lóng ngóng làm rơi kìm hay trầy da xước thịt như những ngày đầu mới bước chân vào tiệm. Sau khi dán thẻ cho từng chiếc, Bảo lại lật mở cuốn sổ bìa cứng học việc của mình, cẩn thận ghi chép từng chi tiết: chủng loại sườn, tình trạng rỉ sét bên ngoài, độ rơ lắc của trục giữa khi dùng tay lắc mạnh đùi đĩa, tình trạng căm vành và độ mòn của má phanh.

Đang lúc Bảo cặm cụi cúi rạp người kiểm tra phần líp tầng của chiếc xe mang mã số X09 thì một bóng người đậm đà đổ dài xuống che khuất ánh nắng.

Ông Đạt bước lại gần tự lúc nào. Nhìn cậu thanh niên trẻ tuổi đang cặm cụi ghi chép những dòng chữ thẳng tắp trên cuốn sổ tay kẻ ô ngăn nắp, ông Đạt đảo mắt nhìn quanh quất xem cô Mai có để ý không, rồi nhanh như cắt rút từ trong túi áo ngực ra một tờ giấy học trò gấp tư, khẽ ngồi thụp xuống bên cạnh Bảo, cất giọng thì thầm đầy vẻ thân tình:

“Bảo này, chú thấy cháu làm việc nhanh nhẹn, đâu ra đó mà lại có phương pháp bài bản ghê nha. Đúng là người có ăn học đàng hoàng, sinh viên trên thành phố về có khác, nhìn tác phong là chú ưng bụng liền.”

“Dạ, cháu cảm ơn chú Đạt,” Bảo ngẩng đầu lên, khẽ mỉm cười giữ phép lịch sự.

Ông Đạt cúi sát người hơn nữa, đưa tờ giấy gấp tư chìa ra trước mặt Bảo, giọng hạ thấp xuống chỉ đủ hai người nghe:

“Chú đưa riêng cho cháu cái này. Trong tờ giấy này là danh sách chú ghi rõ tên tuổi, hoàn cảnh của ba đứa nhỏ ở xóm Chài mé dưới chân cầu gần nhà chú. Gia cảnh tụi nó ngặt nghèo tội nghiệp lắm cháu ơi: cha đi biển mất tích hai năm trước, mẹ thì đau ốm nằm liệt giường triền miên. Chú có ghi cặn kẽ hoàn cảnh từng đứa trong này rồi. Sẵn cháu đang cầm cuốn sổ kỹ thuật của tiệm, cháu ghi chú luôn tên ba đứa nó vào cạnh ba cái mã xe ngon nhất là X01, X02 với X03 giúp chú với. Đặng lát nữa xe chở về xưởng, cô cháu ưu tiên xúm vô làm ba chiếc này thật đẹp, thay đồ xịn nhất, chỉnh cho nó chạy thật ngon trớn trước để chuẩn bị trao riêng cho tụi nó đợt đầu.”

Bảo nhìn chằm chằm vào tờ giấy viết tay chi chít những dòng kể lể về bệnh tật, về những tai ương và sự cùng cực của ba đứa trẻ xóm Chài, rồi nhìn thẳng vào ánh mắt đầy vẻ khẩn khoản, tha thiết của người tiểu thương.

Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, cái tính cả nể cố hữu bấy lâu nay trong con người Bảo lại chực trỗi dậy mạnh mẽ. Suốt những năm tháng đi học, cậu luôn là một người dĩ hòa vi quý, luôn tìm cách gật đầu để làm vừa lòng tất cả mọi người xung quanh, nhất là khi đối phương đang nhân danh lòng trắc ẩn và những hoàn cảnh đáng thương. Trong suy nghĩ của cậu lúc ấy, một cái gật đầu chẳng mất mát gì, chỉ cần lấy đầu bút chì khẽ ghi thêm vài chữ số và cái tên vào mép sổ, vừa được lòng ông Đạt, vừa có vẻ như mình đang làm một việc tốt cho những đứa trẻ nghèo khổ kia.

Thế nhưng, ngay khi ngón tay cậu vừa chạm vào mép tờ giấy học trò, hình ảnh chiếc xe thồ chở rau của cô Sương bị trễ hẹn giao hàng hai tuần trước đột ngột dội về trong tâm trí cậu. Cậu nhớ như in cái cảm giác lạnh toát sống lưng khi nhìn thấy cô Mai vung cây bút chì đỏ gạch phăng một đường dứt khoát lên tờ phiếu tiếp nhận vì cậu đã tùy tiện hứa hẹn điều mình không thể kiểm soát. Cùng lúc đó, lời dặn dò điềm đạm nhưng nghiêm cẩn của cô Hạnh vào chiều ngày hôm qua cũng vang vọng lại bên tai rõ mồn một: *“Phía nhà trường chịu toàn bộ trách nhiệm thẩm định và xét duyệt danh sách học sinh mượn xe theo đúng tiêu chí công khai, có hội đồng đánh giá và bảo mật thông tin các em. Cơ sở sửa chữa chỉ quản lý và chịu trách nhiệm về mặt kỹ thuật, tuyệt đối không được can thiệp vào việc phân bổ phương tiện cho bất kỳ ai.”*

Bảo hít một hơi thật sâu, hai bàn tay siết chặt lại quanh mép cuốn sổ bìa cứng đặt trên đùi. Cậu ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào mắt ông Đạt, giọng nói giữ được sự từ tốn nhưng từng âm sắc đều dứt khoát lạ thường:

“Chú Đạt ơi, cháu thực sự không thể ghi thông tin này vào sổ của tiệm được đâu chú.”

Ông Đạt thoáng sững sờ, hàng lông mày rậm rạp nhíu chặt lại, vẻ mặt có phần phật ý:

“Ủa, sao lại không được hả cháu? Chú có bảo cháu tự tiện quyết định đem xe đi trao đâu! Chú chỉ nhờ cháu ghi chú một dòng để bên tiệm ưu tiên làm cho nó ngon lành, làm sớm cho mấy đứa có hoàn cảnh ngặt nghèo nhất thôi mà! Chuyện tình nghĩa chứ có phải chuyện gì bậy bạ đâu?”

“Dạ, cô Mai đã quán triệt rất kỹ với cháu ngay từ lúc nhận việc rồi chú,” Bảo chậm rãi giải thích, ánh mắt không hề né tránh. “Cuốn sổ nhật ký này của tiệm cháu lập ra chỉ thuần túy dùng để theo dõi các thông số kỹ thuật: độ mòn bạc đạn, mã phụ tùng cần thay thế và mức độ an toàn chịu lực của từng chiếc khung xe từ X01 đến X18. Tiệm của chúng cháu hoàn toàn không có chức năng, thẩm quyền hay quyền hạn lưu trữ và đánh giá thông tin gia cảnh của các em học sinh. Toàn bộ hồ sơ xét duyệt hoàn cảnh, phân bổ chiếc xe nào cho em nào mượn đều thuộc trách nhiệm của cô Hạnh và hội đồng nhà trường, được quản lý theo đúng quy chế bảo mật thông tin học đường. Nếu chú muốn đề xuất cho ba cháu nhỏ ở xóm Chài, chú vui lòng mang danh sách này sang gửi trực tiếp cho cô Hạnh bên chiếc bàn đá đằng kia ạ. Cháu là thợ học việc, cháu chỉ được phép làm đúng phần việc kỹ thuật của mình thôi, mong chú thông cảm cho cháu.”

Ông Đạt đứng sững sờ, nhìn trừng trừng vào khuôn mặt còn non nớt của người thợ học việc suốt mấy giây dài. Có lẽ trong thâm tâm người đàn ông sành sỏi này chưa từng nghĩ rằng một đứa sinh viên bỏ học nửa chừng, về quê làm chân phụ việc dầu mỡ lại có thể từ chối một lời nhờ vả khéo léo của ông ta một cách sòng phẳng, mạch lạc và có nguyên tắc đến như thế. Không tìm thấy bất kỳ một kẽ hở nào để có thể nài ép thêm, ông Đạt đành hậm hực giật lại tờ giấy, gấp vội nhét sâu vào túi áo, lầm bầm vài câu gì đó không rõ tiếng trong miệng rồi quay ngoắt gót giầy bước thẳng về phía cổng.

Nhìn theo bóng lưng đẫy đà của người tiểu thương khuất sau rặng dương liễu, Bảo thở phào một hơi thật dài, nghe lồng ngực mình nhẹ bẫng như vừa trút bỏ được một khối đá nặng. Cậu cúi xuống, nắn nót viết nốt dòng chữ vào trang sổ: *“X09 — Khung sườn thép carbon, rỉ sét cục bộ gióng đứng, moay-ơ sau rơ lắc nghiêm trọng.”* Cậu bỗng nhận ra một điều sâu sắc mà trường lớp trước đây chưa từng dạy: việc dũng cảm từ chối một yêu cầu vượt quá quyền hạn không hề biến người ta thành kẻ cộc cằn hay nhỏ mọn; ngược lại, nó dựng lên một lằn ranh bảo vệ vững chắc cho chính sự liêm chính của bản thân và uy tín của công việc mà mình đang gánh vác.

Đúng mười giờ trưa, toàn bộ mười tám chiếc xe đạp cũ ngoài sân đã được Bảo hoàn tất việc dán thẻ định danh từ mã số X01 đến X18.

Một chiếc xe ba gác máy chở hàng thuê do cô Hạnh liên hệ từ trước nổ máy xình xịch, phun ra từng làn khói xám nhạt tiến vào đỗ giữa khoảng sân xi măng. Bác tài xế trạc tuổi ngũ tuần cùng Bảo và hai anh thanh niên trong ban dân phố bắt đầu chung tay bốc từng chiếc xe lên thùng xe ba gác. Từng bộ khung sắt được xếp lồng vào nhau một cách cẩn thận, những tấm bao tải rách được chèn kỹ vào các điểm tiếp xúc kim loại để tránh cho các gióng sườn vốn đã mỏi mệt vì thời gian không bị móp méo thêm trong quá trình vận chuyển qua những đoạn đường dằn xóc.

Chiếc xe ba gác chở cồng kềnh cả một đống khung sắt cũ kỹ chầm chậm lăn bánh trên con đường liên thôn rải đá dăm, hướng thẳng về phía Tiệm Sửa Những Điều Chưa Muộn. Bảo đạp chiếc xe đạp cọc cạch của mình bám sát phía sau, mắt không rời khỏi những bộ khung xe đang lắc lư, rung lên bần bật theo từng nhịp xóc nảy của mặt đường.

Khi chiếc xe ba gác về đến cửa tiệm, cô Mai đã mở toang cả hai cánh cửa sắt của gian kho phía sau.

Kho sau của tiệm là một gian nhà cấp bốn lợp tôn xi-măng đã ngả màu rêu phong, nền láng xi măng thô ráp nhưng ráo hoảnh và sạch sẽ. Dưới sự chuẩn bị từ trước của cô Mai, một góc rộng phía tây của gian kho đã được dọn sạch tinh tươm. Trên nền xi măng, một ô vuông lớn được sơn bằng những đường viền sơn vàng nổi bật, phía trên có treo một tấm bảng bằng gỗ dán ghi dòng chữ viết bằng sơn đỏ rành rọt: “KHU VỰC CHỜ PHÂN LOẠI — LOẠI BỎ”.

Mười tám chiếc xe đạp cũ lần lượt được bốn người đàn ông lực lưỡng cẩn thận khiêng từ trên thùng xe ba gác xuống nền kho. Theo đúng bảng danh mục kỹ thuật mà Bảo vừa lập, mười hai chiếc xe có tiềm năng phục hồi được xếp thành một hàng thẳng tắp dọc theo bức tường phía đông, bàn đạp của chiếc này gác nép sát vào nan hoa của chiếc kia một cách ngăn nắp, chừa ra một lối đi rộng rãi ở giữa gian kho.

Riêng sáu chiếc xe rỉ sét nặng nề nhất, có dấu hiệu nứt cổ phốt, cong càng trước hoặc mục thủng ống gióng — bao gồm các mã hiệu X04, X07, X11, X14, X16 và X18 — đích thân cô Mai chỉ tay yêu cầu dắt riêng vào trong ô sơn vàng cách ly.

“Để nguyên sáu chiếc đó nằm yên trong khu vực vạch sơn vàng, tuyệt đối không ai được tự ý tháo dỡ, đụng cờ-lê hay mở một con ốc nào ra khi chưa có biên bản rã xác chính thức,” cô Mai đưa mu bàn tay áo lau vệt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên gò má, nghiêm giọng căn dặn Bảo khi bác tài xế xe ba gác vừa rời đi. “Chiều nay tôi phải lấy xe máy chạy ra chợ trung tâm mua thêm hai can dầu hôi để ngâm tẩy rỉ sét, rồi ghé qua kho của ông Tín ngoài ngã ba lấy bảng báo giá sỉ cho đống xăm lốp và xích líp mới. Anh ở nhà dọn dẹp lại toàn bộ đồ nghề, mở máy tính kiểm tra lại số liệu kỹ thuật cho khớp từng chi tiết với biên bản sáng nay.”

“Dạ, con nhớ rồi, cô cứ yên tâm đi ạ,” Bảo gật đầu đáp.

Sau khi bóng dáng cô Mai cùng tiếng nổ lạch cạch của chiếc xe máy cũ khuất dần sau ngõ, không gian trong gian kho sau bỗng chốc rơi vào một sự tĩnh lặng kỳ lạ.

Chỉ còn lại mùi ngai ngái nồng nặc của bụi bặm lưu cữu lâu ngày, mùi hăng hắc của kim loại bị muối biển ăn mòn và tiếng cánh quạt trần cũ kỹ quay đều đều từng nhịp *phập phù, phập phù* trên trần tôn xi-măng. Những vạt nắng trưa gay gắt lọt qua những khe hở của mái tôn chiếu rọi xuống nền xi măng, làm nổi bật lên những hạt bụi li ti đang lơ lửng nhảy múa trong không khí.

Bảo kéo chiếc ghế gỗ con lại chiếc bàn thợ đặt ở góc kho, cắm dây sạc và mở chiếc máy tính xách tay cũ của mình lên. Màn hình laptop bật sáng, phát ra luồng ánh sáng xanh dịu mắt, mở sẵn tệp bảng tính có tên “DU_AN_XE_DAP_THCS_HAI_AN.xlsx” mà cậu đã thức trắng nửa đêm hôm qua để thiết kế khung mẫu quản lý dự án.

Trên bảng tính Excel, mười tám dòng dữ liệu hiện lên thẳng tắp, ngay ngắn và chi tiết đến từng milimét:

| Mã số | Loại khung | Tình trạng sơ bộ | Phân loại | Linh kiện dự kiến thay thế | Dự toán chi phí (VNĐ) | | :--- | :--- | :--- | :--- | :--- | :--- | | X01 | Mini Nhật | Sườn tốt, rơ trục giữa | Phục hồi | Bi nồi, dây phanh sau, xích | 145.000 | | X02 | Cào cào | Mòn líp, vành đảo nhẹ | Phục hồi | Líp đơn, rút căm vành | 85.000 | | X03 | Martin 107 | Sườn tốt, mất bàn đạp | Phục hồi | Cặp bàn đạp nhựa, xăm lốp | 160.000 | | ... | ... | ... | ... | ... | ... | | X14 | Phượng Hoàng | Mục đáy cổ phốt, nứt gióng | Loại bỏ | Rã lấy ghi-đông, giò dĩa | 0 | | X18 | Xe sườn đầm | Rỉ thủng gióng đứng | Loại bỏ | Rã lấy cặp vành nhôm | 0 |

Bảo nhìn những ô màu xanh lá cây mát mắt gắn cho mười hai chiếc xe thuộc diện phục hồi, rồi đưa mắt nhìn những ô màu vàng cam được đánh dấu cho sáu chiếc xe nằm trong diện cách ly rã phụ tùng. Các cột số liệu cơ khí, các dòng phân loại phụ tùng và các hàm tính tổng tự động chạy ra con số dự toán khớp đến từng đồng lẻ với số tiền ba triệu năm trăm ngàn đồng mà cô Hạnh đã thông báo từ nguồn ngân sách hạn hẹp của trường. Mọi thứ hiển thị trên màn hình tinh thể lỏng trông thật hoàn hảo, khoa học, trật tự và mỹ miều — một thứ trật tự êm ái, trơn tru của những thuật toán và kiến thức quản trị dự án hiện đại mà cậu đã mang theo về từ những giảng đường đại học xa xôi.

Bảo ngả lưng ra sau thành ghế gỗ, đưa mắt nhìn đăm đắm ra hàng xe đang đứng im lìm trong ánh sáng nhạt nhòa của gian kho sau.

Trong tâm trí non trẻ của chàng trai hai mươi hai tuổi, một làn sóng nhiệt huyết bỗng nhiên trào dâng mãnh liệt, cuồn cuộn như những con sóng ngầm ngoài cửa biển Hải An. Cậu phóng tầm mắt nhìn chiếc xe mang mã số X04 đang nằm lẻ loi trong vạch sơn vàng cách ly, rồi nhìn sang chiếc X14 với những vệt rỉ sét loang lổ bám dọc theo thân gióng đứng. Một ý nghĩ táo bạo, đầy vẻ kiêu hãnh bất chợt lóe lên và bùng cháy trong đầu Bảo: *Có khi nào cô Mai vì quá kỹ tính, quá khắt khe theo lối mòn của thợ già nên mới gạt phăng sáu chiếc xe này ra không? Nếu như mình chịu khó thức đêm làm thêm giờ, nếu mình áp dụng phương pháp tẩy rỉ sét bằng dung dịch axít loãng kết hợp bọc màng bảo vệ mà mình từng đọc trên các diễn đàn cơ khí nước ngoài, rồi dùng keo chuyên dụng cường lực đắp vào những chỗ nứt tế vi, hoặc chạy sang xưởng cơ khí của chú Phúc xin vài đoạn thép ống phế liệu về hàn gia cố lồng bên trong... biết đâu, chỉ biết đâu thôi, mình có thể hồi sinh được toàn bộ cả sáu chiếc xe đã bị kết án tử này?*

Bảo bắt đầu mường tượng ra cái ngày khai giảng năm học mới mùng năm tháng chín sắp tới.

Hôm ấy, trên khoảng sân trường rực rỡ cờ hoa và rộn rã tiếng trống hội của Trường Trung học cơ sở Hải An, trước toàn thể thầy cô giáo, các bậc phụ huynh và hàng trăm học sinh, sẽ không phải chỉ có mười hai chiếc xe được trao đi một cách dè xẻn như bản thỏa thuận khô khốc của biên bản ghi nhớ kỹ thuật. Thay vào đó, sẽ là một kỳ tích trọn vẹn ngoài sức tưởng tượng: cả mười tám chiếc xe đạp cũ nát ngày nào đều sẽ lấp lánh màu sơn mới, thẳng hàng ngay lối bon bon lăn bánh qua cổng trường trong những tràng pháo tay vang dội không ngớt của bà con thị trấn, dưới ánh mắt sững sờ đầy thán phục của ông Đạt, của thầy cô, và quan trọng nhất là của cha cậu — người vẫn luôn đau đáu nỗi thất vọng về đứa con trai bỏ dở con đường học hành. Đó sẽ là câu trả lời đanh thép nhất, là lời khẳng định kiêu hãnh nhất cho quyết định rời bỏ giảng đường thành phố để trở về quê hương của cậu — một minh chứng hùng hồn rằng Trần Gia Bảo này không phải là một kẻ thất bại nhu nhược, mà là một người có đủ năng lực để làm nên những điều kỳ diệu từ chính những đống sắt vụn bị người đời vứt bỏ.

Ngón tay trỏ của Bảo khẽ chạm vào bàn phím máy tính. Con trỏ chuột trên màn hình nhấp nháy liên tục ngay trên dòng mã số X04. Ngón tay cậu ngập ngừng lướt trên phím bấm, chực chờ muốn đổi cái ô màu vàng cam cảnh báo loại bỏ thành một ô màu xanh lá cây rực rỡ của niềm hy vọng.

Mười tám dòng mã xe trên màn hình trông gọn gàng, nhưng Bảo chưa hề nghe thấy tiếng rỉ sét kêu rắc dưới khung sườn.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn