Quán Trà Bên Bến ĐòC.8 / 34
Chương 8

Lá thư từ Nam Kiều

Vết mực lem nhem trên phong thư bổi thô ráp như cứa vào lòng Thanh Hà khi nàng run rẩy mở từng nếp gấp dưới ngọn đèn dầu heo hắt.

Ngọn bấc cháy lập lòe phả ra một làn khói mảnh, mùi dầu lạc khen khét quyện vào hơi ẩm nồng nặc bốc lên từ lòng sông Vọng Giang lúc nửa đêm. Gió sông luồn qua những khe liếp nứa của túp lều rách, thổi lay lắt bóng ngọn đèn in trên vách đất nham nhở. Bên góc bếp, Tiểu Mãn đã cuộn tròn trong chiếc chiếu manh cũ rách mép, ngủ say sưa sau một ngày dài phụ bưng bê, thỉnh thoảng hai bờ môi khô nẻ của con bé lại khẽ mấp máy, chép chép như còn vương vấn chút dư vị ngọt thanh của chiếc bánh hoa hòe sót lại nơi kẽ răng.

Thanh Hà ngồi đơn độc bên chiếc bàn gỗ mộc thô nhám. Ngón tay nàng miết nhẹ lên mép giấy bổi xơ cứng viền đầy bụi đất sét đỏ nung—thứ bụi đỏ quạch, khô khốc đặc trưng chỉ có ở những lò gạch thủ công ven triền đê thôn Nam Kiều bên kia sông.

Từng dòng chữ hiện ra dưới ánh sáng vàng đục. Nét bút xiêu vẹo, gầy guộc, vụng về như cành củi khô cào trên mặt cát, nhưng từng nét sổ, nét móc đều ráng sức ghì thật sâu vào thớ giấy thô, hằn lên cả mặt sau. Đó là sự gồng mình của một đứa trẻ mười ba tuổi đang cắn răng giữ lấy chút phẩm giá và hy vọng cuối cùng giữa những cơ cực đọa đày:

*“Chị hai,*

*Em viết vội mấy dòng này trên tấm ván mộc sau chái bếp, kê trên đầu gối trong bóng tối, nhờ bác lái đò chuyến muộn giấu đưa sang cho chị. Tháng trước, bác họ Đức Thuận bảo vụ chiêm năm nay thất bát, tiền thóc nộp thuế huyện tăng thêm hai phần mười, nhà bác không còn dư gạo để nuôi kẻ ăn không ngồi rồi. Bác sang tận trường làng thôn Đoài xin cho em thôi học, rút lại hai quan tiền nộp thầy đồ từ đầu năm để mua thêm phân gio và trả nợ rượu.*

*Giờ mỗi ngày từ lúc canh năm mờ sương, khi gà bến sông chưa gáy, bác bắt em dắt đôi trâu mộng của nhà phú hộ Trương đi cày thuê ở bãi cát bồi mé thượng. Chiều về, chân tay rã rời lại phải ra lò gạch gánh đất sét ướt đắp khuôn bù vào tiền cơm áo hai bữa. Đất ướt dính chặt vào đòn gánh nặng như đá tảng, vai em trợt da rớm máu rát buốt từng cơn.*

*Cơm nhà bác chỉ có cơm nguội độn sắn khô mốc meo với bát canh rau muống già luộc suông toàn cặn đất đọng dưới đáy. Hôm nào em làm chậm một chút hoặc trâu mộng lỡ giẫm vào bờ ruộng đậu phộng nhà người ta, bác gái lại đứng giữa sân chửi bóng chửi gió rằng giống nhà họ Liễu chỉ rặt một lũ xui xẻo, ăn tàn phá hại, gả chồng thì bị đuổi, ở nhờ thì bám váy người dưng. Tối qua con trâu mộng đứt chão ăn lấn vạt ngô non bên rào, bác họ cầm roi dâu vụt em tím bầm cả hai bắp chân, bắt nhịn đói suốt đêm ngoài lán củi đầy muỗi mắt...*

*Chị ơi, em không sợ khổ, cũng không sợ đòn roi dắt trâu gánh gạch, nhưng em nhớ chị lắm. Em thèm được nghe tiếng chị nhóm bếp ban mai, thèm được ngồi bên bến nước đọc mấy trang sách chữ Nho chị dạy ngày xưa. Em chỉ ước sao gom đủ tiền chữ nghĩa để quay về bờ bên này phụ chị gánh nước, rửa chén, sớm tối có chị có em…”*

Đến cuối trang giấy, nét mực nhòe nhoẹt loang lổ thành từng quầng tròn xoe đã khô cứng lại từ bao giờ. Đó là nước mắt của Thanh Du. Những giọt nước mắt mặn chát của một đứa trẻ mồ côi rơi xuống tấm giấy bổi giữa đêm lạnh nơi lán củi hoang tàn.

Thanh Hà siết chặt bức thư vào ngực. Lồng ngực nàng nhói lên một cơn đau nghẹn đắng, tựa như có bàn tay sắt vô hình bóp nghẹt lấy cuống họng khiến nàng không sao thở nổi.

Hình ảnh cậu em trai nhỏ nhắn với đôi mắt sáng ngời, vầng trán cao thông minh, ngày chia tay ở đầu làng thôn Đoài cứ hiện lên mồn một trước mắt, rõ rệt đến từng hơi thở. Ngày nàng bị nhà chồng họ Phạm bạc bẽo ruồng rẫy, tống khứ ra khỏi cổng lớn trong đêm mưa phùn gió bấc, hai bàn tay trắng không nơi nương tựa, nàng đành nuốt nước mắt nuốt hận, dắt díu đứa em thơ đến gõ cửa nhà người bác họ Liễu Đức Thuận. Nàng đã quỳ xuống nền đất ẩm, dập đầu ba lạy, gom góp từng đồng bạc vụn từ việc bán chiếc trâm cài tóc kỷ vật của mẹ để trả trước nửa năm tiền gạo cho gia đình ông ta.

Khi ấy, Đức Thuận vỗ ngực bôm bốp, giọng điệu chan chứa tình nghĩa tộc họ, đoan chắc rằng cùng chung một khúc ruột họ Liễu, ông ta dẫu có phải nhịn ăn nhịn mặc, ăn cháo rau qua ngày cũng tuyệt đối không để cháu ruột phải chịu đói rách cơ hàn. Lão còn hứa chắc nịch sẽ cho thằng bé tiếp tục theo học lớp chữ của thầy đồ làng thôn Đoài, mai sau thi lấy mảnh bằng tú tài để làm rạng danh tiên tổ.

Thế nhưng, lời hứa của kẻ lòng lang dạ thú trước miệng ăn miệng đói chỉ mỏng manh như cánh bèo trôi giữa dòng nước xiết mùa lũ. Nàng vừa rời đi chưa đầy nửa năm, họ đã biến một đứa trẻ hiếu học thành một kẻ tôi đòi cày thuê cuốc mướn, bóc lột từng chút sức lao động non nớt của nó để làm giàu cho bản thân, lại còn dùng roi vọt và những lời sỉ nhục cay độc để chà đạp lên lòng tự trọng của một đứa trẻ mồ côi.

Thanh Hà cẩn thận gập bức thư lại theo nếp cũ, bàn tay nàng khẽ run rẩy. Nàng nhét phong thư vào vạt áo trong, áp sát vào lồng ngực ấm áp, nơi nhịp tim nàng đang đập từng hồi dồn dập, buốt nhức. Nàng ngẩng đầu nhìn qua khung cửa sổ bằng liếp nứa mở hé nhìn xuống dòng Vọng Giang.

Đêm đã về khuya lắm. Tiếng nước vỗ bì bọp vào mạn những con thuyền rỗng đậu ven bờ đá, tiếng côn trùng rả rích trong những bụi sậy dại nghe sao mà thê lương, buốt giá. Hơi sương lạnh buốt phả vào má nàng, nhưng trong đáy mắt hạnh của Thanh Hà, màn sương mờ đục của sự yếu mềm và cam chịu đã hoàn toàn tan biến. Nàng không khóc. Nước mắt của một kẻ bơ vơ giữa dòng đời chẳng thể đổi lấy sự rủ lòng thương của lòng người trắc trở.

Nàng tự nhủ với chính mình, rạng sáng mai nàng nhất định phải sang bến Nam Kiều. Dù có phải quỳ gối van xin hay vét sạch từng đồng bạc kẽm chắt bóp bấy lâu trong hũ sành, nàng cũng phải đem bằng được em trai mình về lại bến sông này, dưới mái lều che chở của chính nàng.

***

Sáng hôm sau, khi vầng dương đỏ ối vừa nhô lên khỏi rặng tre đằng đông, dát một dải lụa vàng cam rực rỡ lên mặt nước mênh mông của sông Vọng Giang, bến đò đã bắt đầu rậm rịch tiếng người qua lại. Tiếng đòn gánh kĩu kịt của những người đàn bà gánh cá tươi từ thuyền chài lên chợ, tiếng búa gõ lanh canh sửa lại cọc tiêu nơi bờ đá hòa lẫn trong làn sương sớm đang từ từ tan biến. Khí trời cuối xuân bắt đầu chuyển dần sang cái oi nồng ngột ngạt của những ngày đầu hạ, báo hiệu mùa hoa sen sắp trổ bông nơi các đầm lầy và những vạt nắng chói chang sắp đổ lửa xuống triền sông cát bỏng.

Thanh Hà đã thức dậy từ canh tư, khi trăng tàn còn lơ lửng trên rặng thị già. Nàng lẳng lặng nhóm lò than, đun sôi một vò nước lớn gánh từ giếng đá Thanh Khê về đêm qua, cẩn thận dùng nước sôi tráng qua toàn bộ ấm sành, bát đất nung đặt trên kệ tre. Khi lão lái đò Từ Bá khua mái chèo gỗ nghiến bì bõm, cập mũi thuyền vào bờ đá để uống bát nước chè xanh đầu ngày, nàng đã bước ra tận mé nước đón chào, trên tay bưng sẵn chiếc bát sành men da lươn bốc khói nghi ngút.

“Từ Bá,” Thanh Hà khẽ cất tiếng, giọng điềm tĩnh nhưng ánh mắt nàng không giấu nổi vẻ bồn chồn lo lắng, “sáng nay cháu có việc khẩn phải sang thôn Nam Kiều bên kia sông một chuyến. Cháu muốn gửi lại gian quán nhỏ này cho bác và con bé Tiểu Mãn trông nom chừng nửa ngày, liệu có phiền bác quá không ạ?”

Từ Bá ngửa cổ uống một ngụm trà lớn, tiếng chép miệng giòn tan vang lên giữa sớm mai tĩnh lặng. Lão đặt bát trà xuống phiến đá ven bờ, đưa bàn tay thô ráp quệt ngang chòm râu bạc lấm tấm bụi nước, nheo mắt nhìn sắc mặt có phần xanh xao cùng quầng thâm nhàn nhạt dưới mi mắt của Thanh Hà, rồi liếc nhanh sang chiếc túi vải thô nàng đang buộc chặt bên hông:

“Có chuyện gì bên lò gạch Nam Kiều à? Là chuyện của thằng bé Thanh Du phải không?”

Thanh Hà hơi giật mình, rồi cúi đầu thừa nhận, giọng trĩu nặng âu lo:

“Vâng ạ, bác đoán không sai. Đêm qua cháu nhận được thư em. Bác họ bắt nó nghỉ học ở trường làng thôn Đoài, đưa đi dắt trâu cày thuê cho nhà phú hộ, chiều lại bắt gánh đất sét ở lò gạch bù tiền cơm áo. Họ còn đánh mắng, đày ải nó ngoài lán củi rách. Cháu xót ruột quá, không đành lòng để nó bên ấy chịu đòn roi thêm một ngày nào nữa. Cháu muốn sang xin bác họ cho đón nó về bến này ở cùng cháu.”

Từ Bá thở dài một tiếng sườn sượt, đặt chiếc bát sành xuống bàn tre kêu cộp một cái, chòm râu hoa râm khẽ rung rinh:

“Lão Đức Thuận ấy à... Ta chèo đò ngang dọc bến Vọng Giang này đã hơn ba mươi năm, gốc tích tính nết cái ngữ người như lão ta thì ta lạ gì. Lão không phải phường lưu manh cầm dao vác búa xông xáo đâm chém như đám Lại Tam ngoài chợ huyện, nhưng tâm tính lão bủn xỉn, so đo từng hạt thóc cọng hành, lại có thói hay kể công kể nợ để vòi vĩnh người khác. Cô một thân một mình góa phụ, không chồng không con, mang danh phận bị nhà chồng trả về, sang bên ấy nói lý lẽ với lão e là khó như trèo non đấy.”

“Dẫu khó như trèo non lội suối cháu cũng phải đi,” Thanh Hà kiên quyết, ánh mắt thẳng thắn không chút nao núng, ngập tràn vẻ quật cường. “Thanh Du là giọt máu duy nhất của cha mẹ để lại cho cháu trên cõi đời này. Cháu có thể nhịn đói nhịn khát, chịu khổ gánh nước nhóm lò ven sông này suốt đời cũng được, nhưng cháu không thể trơ mắt nhìn tương lai của em cháu bị chôn vùi nơi bãi cát bồi lò gạch. Nó ham học, nó có chí, cháu phải cứu nó ra.”

Thấy vẻ cương nghị hiếm có toát ra từ vóc dáng mảnh khảnh của nàng, Từ Bá khẽ gật đầu, ánh mắt ánh lên vẻ vị nể:

“Được! Đã là máu mủ ruột rà thì phải biết đùm bọc lấy nhau, cô nghĩ được như thế là người có nghĩa khí, không hổ danh con nhà gia giáo sa cơ. Cứ yên tâm mà đi. Sáng nay ta không nhận chở hàng cồng kềnh, chỉ chở dăm ba khách bộ hành qua sông, rảnh tay lúc nào ta sẽ ngồi ngay chõng tre hiên quán này trông chừng cho. Lũ ruồi muỗi thảo khấu của thằng Lại Tam tối qua vừa bạt vía kinh hồn vì vụ cháy đuốc hụt, ban ngày ban mặt chưa dám bén mảng lại quấy nhiễu đâu.”

Lúc này, từ trong chái bếp, Tiểu Mãn cũng vừa rửa mặt bằng gàu nước lạnh chạy ùa ra, hai bàn tay nhỏ bé còn ươn ướt vội vã chùi vào gấu áo ngắn bằng vải thô màu nâu sồng. Nghe trọn câu chuyện giữa hai người, đôi mắt con bé tròn xoe, thoáng vẻ lo lắng tột cùng. Nó chạy tới nắm chặt lấy tay áo Thanh Hà, giọng nài nỉ:

“Chị Hà, chị để em đi cùng với! Em biết đường tắt băng qua rặng chuối sang thôn Nam Kiều, em lại chạy nhanh như sóc. Ngộ nhỡ có chuyện gì trắc trở, em còn biết đường chạy vắt chân lên cổ về đây kêu người cứu viện!”

Thanh Hà mỉm cười dịu dàng, đưa bàn tay ấm áp vuốt lại mái tóc rối bù còn vương chút tro bếp của đứa trẻ mồ côi:

“Tiểu Mãn ngoan, em ở lại bến phụ giúp Từ Bá một tay. Quán xá buổi sáng đông khách qua lại, Từ Bá một mình trông chèo sao xuể. Em nhớ những điều hôm qua chị dặn chứ? Canh chừng than củi trong lò đất cho đượm lửa, nước giếng sôi già mới được châm vào ấm hãm trà. Khách vào thì múc nước mời đon đả, hai văn tiền một bát, ai ăn bánh hoa hòe thì lấy ba văn, tuyệt đối không được để lửa bốc to làm khét ấm đồng của chúng ta. Trưa trật chị sẽ về.”

Tiểu Mãn gật đầu lia lịa, ngực ưỡn ra vẻ đầy trách nhiệm và tự hào:

“Chị cứ tin ở em! Em sẽ lau bàn tre sạch bóng, canh củi lửa cẩn thận, tuyệt đối không để hao một giọt nước giếng Thanh Khê nào đâu chị!”

Dặn dò đâu vào đấy, lòng Thanh Hà bớt đi vài phần trăn trở về quán xá, nhưng gánh nặng phía trước lại càng đè nặng lên vai. Nàng bước xuống con đò nan của Từ Bá, đứng nép mình bên khoang lái. Lão lái đò vung mạnh mái chèo gỗ, con thuyền lướt êm ả rẽ sóng nước đục ngầu phù sa, hướng thẳng sang bờ nam. Làn gió sông buổi sớm phả vào mặt mang theo hơi nước mát rượi, nhưng ruột gan nàng lúc này lại bồn chồn nóng rực như có than hồng thiêu đốt. Bỏ lại sau lưng mái lều tranh đơn sơ nép mình mé đông bến nước, ánh mắt Thanh Hà đăm đăm nhìn về phía những cột khói xám xịt đang cuồn cuộn bốc lên ở chân trời xa xa.

***

Thôn Nam Kiều nằm nép mình bên triền đê bồi phù sa cổ, nơi có hàng chục chiếc lò gạch thủ công hình vòm cuốn ngày đêm đỏ lửa, nhả ra những cột khói xám nồng nặc mùi than tổ ong và đất sét khét lẹt. Đất ở vùng này pha nhiều sét đỏ, dẻo quánh khi ướt và rắn như đá khi khô. Những con đường mòn ngoằn ngoèo dẫn vào xóm lồi lõm, chằng chịt vết móng trâu sâu hoắm và vệt bánh xe bò chở đất cày nát mặt đường thành từng rãnh sâu hoắm đầy bụi đỏ.

Thanh Hà rảo bước thật nhanh, tà áo chàm phần phật bay theo từng cơn gió cát. Đôi hài vải mỏng manh của nàng chẳng mấy chốc đã bám đầy một lớp bụi đất đỏ khô khốc, mồ hôi rịn ra nơi trán làm bết dính những sợi tóc mai. Nàng băng qua những đống gạch mộc xếp cao ngất ngưởng như những bức tường thành dang dở, rẽ vào một con ngõ nhỏ có rào giâm bụt bao quanh.

Nàng dừng chân trước một ngôi nhà ba gian lợp ngói âm dương rêu phong, xung quanh rào bằng những cọc tre cắm xiêu vẹo đan mắt cáo. Dưới bóng râm của cây thị già trước sân, một người đàn ông trạc ngoài năm mươi tuổi, vóc người gầy gò khẳng khiu, da dẻ sạm đen bóng nhẫy vì dãi dầu nắng gió đang ngồi vắt vẻo trên chiếc chõng tre ngả màu cánh gián, chậm rãi vê từng vê thuốc lào to bằng đầu ngón tay út. Đó chính là Liễu Đức Thuận.

Thấy bóng người bước qua cổng mắt tre, Liễu Đức Thuận hơi ngước mắt lên. Chiếc điếu cày bằng tre bóng loáng trên tay lão khựng lại giữa không trung. Đôi mắt ti hí một mí đảo quanh một lượt, quét từ đầu đến chân người cháu gái, từ mái tóc vấn gọn gàng bằng dải khăn vải thô đến đôi bàn tay gầy gò đang nắm chặt quai chiếc túi vải bên hông. Lão nhếch mép, cất giọng khàn đặc, khè khè như tiếng cối đá nghiền ngô, nửa ngạc nhiên nửa gượng gạo:

“Ủa? Thanh Hà đấy à? Ngọn gió độc nào đưa cháu gái sang tận bến Nam Kiều sớm sủa thế này? Nghe người ta đồn cháu vừa thuê cái lều nứa rách ở mé đông bến Vọng Giang mở quán bán nước chè tươi kia mà? Sao không ở đấy mà lo chèo kéo khách đò kiếm chén cơm manh áo, lại rảnh rỗi chạy sang đây làm gì?”

Thanh Hà hít sâu một hơi để giữ cho lồng ngực bớt run rẩy, cố nén sự ghê tởm đang dâng lên trong cổ họng. Nàng bước từng bước vững chãi đến bên chõng tre, vòng hai tay trước ngực, cúi đầu làm lễ theo đúng tôn ti trật tự của kẻ dưới đối với bậc trưởng bối trong họ tộc:

“Cháu chào bác họ. Cháu sang đây sớm thế này là có việc hệ trọng của gia đình muốn thưa chuyện cùng bác.”

Đức Thuận châm đóm vào chiếc đĩa đèn dầu lạc đặt trên chõng, ghé lửa rít một hơi thuốc lào kêu sòng sọc, đinh tai nhức óc. Lão ngửa cổ nhả ra làn khói trắng đùng đục che khuất nửa khuôn mặt xương xẩu, hóp má nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống nền đất sân rồi mới càu nhàu:

“Việc hệ trọng gì? Lại chuyện tiền nong vay mượn chứ gì? Bác nói trước cho cháu biết nhé, nhà này năm nay hạn hán kéo dài, hai mẫu ruộng chiêm bên bãi bồi coi như mất trắng nửa vụ, tiền thuế huyện thúc giục sau lưng từng ngày từng giờ. Bác không có lấy nửa đồng kẽm cho cháu mượn để sửa sang cái chòi hoang ấy đâu! Khôn hồn thì liệu mà liệu lấy thân mình!”

“Cháu sang đây không phải để vay tiền bác,” Thanh Hà nhìn thẳng vào đôi mắt đảo lơ của người bác họ, giọng nàng rõ ràng, dứt khoát và đanh gọn từng lời. “Cháu sang đây là để xin phép bác họ cho cháu được đón em Thanh Du về bên bến Vọng Giang để tự tay cháu nuôi dưỡng, chăm sóc.”

Bàn tay đang cầm đóm của Đức Thuận khẽ run lên một cái, tàn lửa đỏ rực rơi tạt xuống mặt chõng tre làm cháy sém một góc chiếu. Lão trừng mắt nhìn nàng, mặt bỗng chốc đanh lại, giọng gắt gỏng the the:

“Cái gì? Đón thằng Du về? Cháu vừa mở miệng ăn nói hàm hồ cái nỗi gì thế hả? Thằng Du đang ở đây ăn học tử tế, là cháu đích tôn họ Liễu do đích thân bác trông nom dạy dỗ từ tấm bé! Cháu là cái thứ gì? Một góa phụ trẻ tuổi bị nhà chồng họ Phạm tống khứ ra đường không một mảnh chiếu rách che thân, tá túc ở cái chòi hoang đầu sóng ngọn gió, sớm đói tối no còn chưa biết, lấy tư cách gì mà đòi nuôi nấng một đứa trẻ đang tuổi ăn tuổi lớn?”

“Ăn học tử tế ư?” Thanh Hà nghe từng lời sỉ nhục ấy mà tim gan quặn thắt, nhưng nàng không hề lùi bước. Nàng rút bức thư bổi giấu trong ngực áo ra, giơ lên ngang tầm mắt Đức Thuận, giọng nghẹn ngào pha lẫn chua xót tột cùng: “Bác bảo cháu nó ở đây ăn học tử tế, vậy sao bác lại sang trường làng thôn Đoài xin rút tiền nộp thầy đồ từ đầu năm? Sao bác bắt một đứa bé mười ba tuổi phải dắt đôi trâu mộng cày thuê cho nhà phú hộ Trương từ lúc canh năm mờ đất, chiều về lại bắt nó gánh hàng chục gánh đất sét nặng trịch ở lò gạch? Bác cho nó ăn cơm nguội độn sắn mốc, tối bắt nhịn đói ngủ ngoài lán củi, lại còn dùng roi dâu đánh bầm tím hai chân nó... Đó là cách bác họ chăm sóc, dạy dỗ cháu ruột cùng một dòng máu hay sao ạ?”

Khuôn mặt sạm đen gầy guộc của Liễu Đức Thuận thoáng chốc biến sắc. Từ ngỡ ngàng, lão chuyển sang tái nhợt rồi bầm tím lại vì xấu hổ và tức giận khi những hành vi khuất tất của mình bị vạch trần rành rọt. Nhưng rất nhanh sau đó, thói khôn lỏi, ngang ngược và sự chai sạn của một kẻ quen thói đè đầu cưỡi cổ kẻ yếu lại trỗi dậy. Lão đập mạnh chiếc điếu cày xuống mặt chõng tre phát “chát” một tiếng chói tai, chồm người về phía trước, râu ria rung bần bật:

“À! Hóa ra là thằng ranh con ấy lén lút viết thư mách lẻo với cháu! Đúng là nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà mà! Cháu có biết tình cảnh nhà này hai năm qua thế nào không? Một bát cơm thời buổi này đắt hơn hạt ngọc! Bác không bắt nó ra đồng làm đỡ chân đỡ tay thì lấy cái gì nhét vào cái mồm rỗng của nó suốt hai năm qua hả? Cháu đem vài đồng bạc vụn ngày trước ra mà kể công à? Cháu đừng có đứng đấy mà lên giọng đạo đức nhân nghĩa, dạy đời người lớn!”

Nói rồi, Đức Thuận đứng phắt dậy, đôi guốc mộc khua lẹp kẹp trên sân gạch, hầm hầm bước vào gian nhà trong tăm tối. Một lát sau, lão quay trở ra, trên tay cầm theo một cuốn sổ bìa bằng giấy bổi đã sờn rách, ố vàng các góc, mép giấy quăn queo và bám đầy những vệt mồ hôi cáu bẩn.

Lão dằn mạnh cuốn sổ xuống mặt chõng, lật phành phạch từng trang chi chít những vết mực lem nhem, chữ nghĩa ngoằn ngoèo như giun dế bò. Lão chỉ thẳng ngón tay đen đúa vào mặt Thanh Hà, gằn từng tiếng đầy ác ý:

“Được thôi! Cháu đã cạn tàu ráo máng, muốn đón nó đi chứ gì? Tình nghĩa họ hàng bao năm qua coi như đổ xuống sông Vọng Giang cho cá rỉa! Nhưng muốn dắt người ra khỏi cái cổng này thì phải sòng phẳng! Ở đời này không có bữa cơm nào từ trên trời rơi xuống cả!”

Đức Thuận nuốt nước bọt ực một cái, hắng giọng rồi bắt đầu dí ngón tay vào từng dòng sổ, đọc to bằng cái giọng the the như dùi đục gõ vào mâm đồng:

“Này nhé, cháu giương mắt ra mà nhìn cho rõ từng khoản bác ghi chép cẩn thận đây! Hai năm qua, tiền gạo mỗi tháng hai mươi đấu, tính rẻ giá làng cũng hết mười sáu quan tiền đồng. Tiền mua áo tơi che mưa, may hai bộ quần áo vải thô mặc mùa đông rét mướt hết một quan hai. Tiền thuốc thang thầy lang bốc lá lúc nó ốm sốt phát ban năm ngoái hết tám trăm văn kẽm. Lại còn tiền cúng bái hương hỏa gia tiên những ngày rằm mùng một, tiền bù vào cái cày gỗ nó làm gãy bắp cày của bác mùa trước... Tính chi li từ đầu chí cuối, trừ đi mấy đồng bạc vụn cháu đưa hồi đầu năm, cháu phải hoàn trả cho bác đúng mười lượng bạc trắng!”

“Mười lượng bạc?!” Thanh Hà bàng hoàng thốt lên, hai mắt mở to nhìn trân trối vào người đàn ông trước mặt.

Mười lượng bạc trắng! Đó là một con số khổng lồ, một gia tài ngoài sức tưởng tượng đối với những người dân lao động nghèo khó chốn thôn quê. Một người phu khuân vác ở bến sông làm lụng cật lực cả năm trời chưa chắc đã tích cóp nổi hai lượng. Một bát nước chè xanh nàng bán ở bến đò giá hai văn, một chiếc bánh hoa hòe ba văn, nàng phải thức khuya dậy sớm, gánh bao nhiêu gánh nước Thanh Khê, bán ròng rã bao nhiêu năm tháng mới gom nổi mười lượng bạc trắng?

Huống chi, số bạc nàng gửi lại trước khi rời nhà họ Phạm đã thừa đủ tiền gạo muối thanh đạm cho Thanh Du trong cả năm nay. Còn thằng bé thì làm quần quật từ tờ mờ sáng đến tối mịt, tiền công cày thuê gánh đất lão đều thu trọn vào túi. Đức Thuận rõ ràng đang cố tình kê khống, cộng dồn những khoản nợ hoang đường vô căn cứ nhằm làm khó nàng, ép nàng phải chùn bước để tiếp tục giữ Thanh Du lại làm đứa ở không công cho nhà lão.

Chưa dừng lại ở đó, Đức Thuận hất cằm lên trời, nheo mắt cười khẩy, bồi thêm một đòn hiểm độc nhằm triệt hạ hoàn toàn ý định của nàng:

“Chưa hết đâu cháu gái ạ! Bác nói cho cháu biết, quan trên nha môn huyện Thanh Lâm có luật lệ rõ ràng, việc nuôi nấng con trẻ trong họ tộc phải có gia cảnh vững vàng, có nơi chốn cư ngụ đàng hoàng. Cháu muốn đón thằng Du đi? Được thôi! Ngoài mười lượng bạc bồi hoàn công lao dưỡng dục hai năm trời, cháu phải chứng minh được trước mặt lý trưởng và tộc biểu rằng cháu có một gian nhà ngói kiên cố, có khế đất hợp pháp mang tên cháu, có nghề ngỗng sinh kế ổn định không bấp bênh!”

Đức Thuận tiến lại gần một bước, phả mùi thuốc lào nồng nặc vào không khí, giọng mỉa mai cay độc:

“Chứ cái lều rách mái cỏ xiêu vẹo cắm cọc tạm bợ ngoài bãi bồi ven sông của cháu, một cơn gió lốc mùa hạ thổi qua là bay nóc, một mùa lũ tháng Bảy nước dâng là ngập trắng băng, cháu định đem đứa cháu đích tôn hương hỏa của nhà họ Liễu ra đấy làm mồi cho tôm cá hay sao? Nếu không gom đủ mười lượng bạc, không có nhà ngói khế đất đàng hoàng, thì bước chân ra khỏi cái ngõ này, đừng hòng bác giao thằng Du cho cháu! Dù cháu có đi kiện lên tận quan tri huyện, quan cũng chẳng đời nào xử cho một đứa đàn bà góa trôi sông dạt bến như cháu thắng kiện đâu!”

Từng lời, từng chữ của Đức Thuận như những tảng đá tảng ngàn cân ném thẳng vào lồng ngực Thanh Hà, làm nàng lảo đảo. Hai bàn tay nàng siết chặt lấy vạt áo, móng tay găm sâu vào da thịt trong lòng bàn tay đau điếng đến ứa máu. Một cơn phẫn nộ dữ dội cuộn trào từ đáy lòng khiến máu trong người nàng dồn hết lên mặt, hai tai ù đi. Nàng muốn hét thẳng vào mặt con người bội bạc trơ tráo ấy, muốn giằng lấy cuốn sổ nợ gian dối kia mà xé toạc ra thành trăm mảnh, vứt xuống đống phân trâu ngoài ngõ để đối chất từng đồng từng cắc trước mặt dân làng.

Thế nhưng, giữa cơn cuồng nộ tột cùng, một tia lý trí sắc lạnh đã kịp kéo nàng giật lùi về với thực tại nghiệt ngã.

Nàng hiểu rất rõ vị thế của mình lúc này. Nàng chỉ là một góa phụ trẻ tuổi, một người đàn bà bị nhà chồng hắt hủi đuổi đi, không chỗ dựa, không quyền thế. Trong khi đó, Liễu Đức Thuận lại là bậc bề trên, là tộc trưởng chi thứ của nhánh họ Liễu ở cái làng Nam Kiều này. Lề thói phong kiến và luật tục họ tộc xưa nay vốn nghiêng về kẻ có vai vế. Nếu nàng mất bình tĩnh mà làm ầm ĩ lên, cãi cọ làm nhục lão trước mặt xóm giềng, lão hoàn toàn có thể vin vào tội bất kính gia tộc để từ chối tuyệt đối, thậm chí dùng quyền tộc trưởng mà đem bán đứt Thanh Du đi làm con nuôi hoặc đày ải thằng bé đến những lò gạch xa xôi hẻo lánh ngoài huyện dưới danh nghĩa họ hàng gả bán. Khi ấy, nàng sẽ vĩnh viễn mất đi đứa em trai ruột thịt.

Nàng phải nhẫn. Nhẫn nhục không phải là hèn nhát buông xuôi, mà là nhẫn để chờ thời cơ, nhẫn để dùng sự thật, danh phận và năng lực thực tế mà đường đường chính chính đón em về.

Ngay lúc không khí trong sân nhà đang ngột ngạt, căng thẳng như sợi dây cung sắp đứt, từ phía rặng chuối rậm rạp sau hồi nhà bỗng vang lên tiếng bước chân chạy vội vã, kèm theo tiếng thở dốc đứt quãng:

“Chị... Chị Hà ơi!”

Một giọng nói đang ở độ vỡ tiếng của tuổi dậy thì vang lên, run rẩy, nghẹn ngào và hoảng hốt.

Thanh Hà giật mình quay phắt người lại. Toàn thân nàng chết lặng, tim như bị ai bóp nghẹt thành từng khúc vụn vỡ khi nhìn thấy hình bóng vừa xuất hiện nơi góc rào tre.

Thanh Du đứng đó, trơ trọi giữa nắng sớm. Cậu bé mặc một chiếc áo chàm cũ kỹ rách bươm ở hai bên vai, từng mảng vải tơi tả để lộ ra bờ vai gầy nhom trơ cả xương quai xanh, da thịt chằng chịt những vết trầy xước rớm máu khô do cọ xát với đòn gánh nặng. Đôi bàn tay nhỏ bé gầy guộc vẫn còn nắm chặt sợi dây chão dắt mũi trâu bết đầy bùn đất nhão nhoét. Cậu bé gầy rộc đi quá nhiều so với nửa năm trước, hai gò má nhô cao khiến đôi mắt trũng sâu, làn da cháy nắng sạm đen loang lổ bụi đất sét đỏ nung. Dưới ống quần cộc xơ xác, đôi bắp chân khẳng khiu chằng chịt những lằn roi dâu đã đóng vảy thâm tím, cổ chân bám đầy bùn đất từ bãi cát bồi chưa kịp rửa.

“Du!” Thanh Hà nghẹn ngào thốt lên một tiếng xé lòng. Đôi chân nàng như không còn nghe theo sự điều khiển của lý trí nữa, nàng lao vội tới, ôm chầm lấy thân hình gầy còm của đứa em trai vào lòng.

Thanh Du buông rơi sợi dây chão xuống đất. Cậu bé vùi đầu vào hõm vai chị, hai bả vai run lên bần bật theo từng cơn nấc nghẹn. Mùi mồ hôi chua nồng, mùi nắng gió khét lẹt và mùi bùn đất trên người thằng bé xộc vào mũi Thanh Hà, làm sống mũi nàng cay xè. Cậu bé muốn òa lên khóc thật to cho thỏa bao nỗi uất ức, tủi nhục, đòn roi dồn nén suốt bao tháng ngày đày ải, nhưng khi chạm vào đôi bàn tay thô ráp đầy vết sẹo bỏng lò và khuôn mặt gầy guộc, xanh xao của chị, cậu lại cắn chặt môi đến bật máu, cố nén tiếng khóc vào tận đáy lòng:

“Chị... Em xin lỗi chị... Là em vô dụng, em lại làm liên lụy đến chị rồi... Bác họ... bác họ lại đòi nhiều tiền lắm phải không chị?”

Thanh Hà đưa bàn tay run rẩy nhẹ nhàng vuốt ve mái tóc xơ xác khét mùi nắng của em, rồi cẩn thận sờ lên những vết lằn roi sưng tấy trên cánh tay khẳng khiu. Nước mắt nàng rốt cuộc không thể kìm nén được nữa, lăn dài trên má rồi rơi tí tách xuống lớp áo rách tả tơi của Thanh Du:

“Không... Em không có lỗi gì cả, Du ơi. Đừng sợ, chị ở đây rồi... Chị đến với em rồi...”

Đức Thuận đứng trơ khấc bên chiếc chõng tre, khoanh hai tay trước ngực, hất hàm lên trời bằng giọng điệu lạnh tanh, vô tình cắt ngang giây phút hội ngộ của hai chị em:

“Đấy! Chị em gặp nhau, nước mắt ngắn nước mắt dài thế là đủ rồi đấy nhé! Muốn tâm sự tỉ tê thì cứ việc, nhưng cái lệ của cái nhà này và luật lệ họ tộc thì không ai thay đổi được đâu! Thằng Du, còn đứng đấy mà sụt sùi à? Mau dắt trâu vào chuồng, xúc rơm cho nó ăn rồi ra vựa xúc cám! Trưa nay mà không đóng xong hai sọt đất sét cho lò gạch thì liệu hồn, đừng hòng có nửa củ sắn mà bỏ vào mồm!”

Thanh Du khẽ rùng mình một cái, toàn thân run rẩy trước giọng quát nạt quen thuộc của người bác họ. Nhưng ngay trong khoảnh khắc Thanh Hà đang siết chặt lấy bờ vai em, cậu bé bỗng nhanh như cắt cúi rạp đầu xuống, luồn ngón tay gầy guộc, đầy vết chai sạn vào sâu trong tay áo rộng của chị mình.

Một mẩu giấy bổi gấp nhỏ xíu, đã ẩm ướt vì mồ hôi tay của đứa trẻ, được nhét gọn ghẽ, kín đáo vào lòng bàn tay Thanh Hà. Thanh Du ghé sát tai nàng, cất giọng thì thào thật nhanh, hơi thở gấp gáp chỉ đủ cho hai người nghe thấy giữa tiếng gió rít qua rào tre:

*“Chị giữ lấy... giấu kỹ đi... Đây là những khoản chi phí mập mờ, gian lận mà mấy tháng qua bác họ tự ý kê khống thêm vào sổ nợ... Ban đêm lúc bác ngủ say, em đã lén xem sổ và ghi chép lại ngày giờ, số lượng thực tế cả đấy... Chị đừng để bác ấy lừa...”*

Trái tim Thanh Hà chấn động dữ dội. Nàng khẽ siết chặt các ngón tay lại, giấu kín mẩu giấy bổi vào sâu trong lòng bàn tay, cảm nhận rõ rệt từng nếp gấp thô ráp và độ ẩm ướt của mồ hôi pha lẫn sự dũng cảm của đứa em trai. Nàng từ từ buông Thanh Du ra, lùi lại nửa bước để nhìn thẳng vào khuôn mặt non nớt của em.

Trong đôi mắt trũng sâu vì đói khát và lao dịch của Thanh Du, Thanh Hà không chỉ nhìn thấy nỗi đau đớn, tủi hờn, mà nàng còn nhìn thấy một ngọn lửa quật cường, một ý chí kiên định và sự nhẫn nại phi thường. Đứa em trai bé bỏng ngày nào bám đuôi nàng học từng nét chữ Nho, nay đã thực sự trưởng thành và tôi luyện giữa giông bão cuộc đời. Cậu bé không chỉ biết cắn răng chịu đựng đòn roi, mà còn biết dùng chính cái đầu sắc sảo và chữ nghĩa học được để tự bảo vệ mình, âm thầm chuẩn bị vũ khí cho ngày mai.

Thanh Hà đưa tay quẹt nhanh giọt nước mắt vương trên má, nàng đặt hai bàn tay vững chãi lên đôi vai gầy guộc của Thanh Du. Ánh mắt nàng nhìn thẳng vào mắt em, giọng nói của nàng bấy giờ trầm ấm, điềm tĩnh nhưng đanh thép và chắc nịch như từng nhát búa nện vào đá:

“Du, nghe kỹ lời chị dặn đây. Bác họ nói đúng một điều: bây giờ chị đón em về bến sông chỉ với một mái lều tranh rách nát thì chưa thể cho em một chỗ ở đàng hoàng, cũng chưa đủ chứng lý trước pháp luật và họ tộc để bảo vệ em trọn vẹn. Em hãy gắng gượng chịu đựng ở đây thêm một thời gian ngắn nữa. Hãy giữ gìn sức khỏe, ăn uống cho ấm bụng, ai sai gì làm nấy, chớ có cãi cọ chống đối làm gì để chuốc lấy đòn roi thiệt thân, nghe chưa?”

Nàng dừng lại một nhịp, hít sâu một hơi gió sông mang theo mùi bùn đất nồng nàn, rồi cất cao giọng:

“Chị hứa danh dự với em, bằng tất cả xương máu và lòng tự trọng của chị: chị nhất định sẽ làm lụng, tích cóp đủ mười lượng bạc trắng để bồi hoàn công lao dưỡng dục cho bác họ. Và chị sẽ tự tay dựng nên một gian nhà kiên cố, vững chãi ngay bên bến Vọng Giang này! Đến ngày ấy, đích thân chị sẽ sang thôn Nam Kiều này, bước qua chiếc cổng này để đón em về danh chính ngôn thuận! Sẽ không một ai trên cõi đời này, dù là tộc trưởng hay quan nha, có thể dùng miệng lưỡi thế gian để ngăn cản hai chị em mình đoàn tụ!”

Thanh Du nhìn chị, ánh mắt ngập tràn niềm tin son sắt và sự xúc động nghẹn ngào. Cậu bé mím chặt môi, gật đầu thật mạnh một cái, hai giọt nước mắt ấm nóng lăn dài trên đôi gò má sạm đen:

“Vâng! Em tin chị! Em sẽ ráng đợi chị sang đón em về!”

Thanh Hà đứng thẳng người dậy, nàng chỉnh lại nếp áo chàm ngay ngắn. Nàng quay người lại, đối diện với Liễu Đức Thuận đang đứng khoanh tay với vẻ mặt đầy hoài nghi bên chiếc chõng tre. Nàng không buông một lời oán thán, không mạt sát hay tranh cãi hơn thua. Nàng cúi đầu chào theo đúng phép tắc một lần nữa, giọng nàng vang lên rành rọt, điềm nhiên giữa khoảng sân vắng:

“Những lời bác họ căn dặn hôm nay, cháu xin khắc sâu vào tâm khảm. Mười lượng bạc trắng và một gian nhà kiên cố có khế ước hợp pháp. Xin bác hãy giữ gìn cuốn sổ nợ ấy cho cẩn thận. Ngày cháu quay lại thôn Nam Kiều này, cháu sẽ hoàn tất mọi giao ước với bác để đón em cháu về.”

Nói đoạn, Thanh Hà dứt khoát xoay gót bước đi. Từng bước chân của nàng nện đều trên con đường đất đỏ lồi lõm, lưng thẳng tắp, đầu ngẩng cao, tà áo chàm bay bay trong gió sớm, không một lần quay đầu nhìn lại. Phía sau lưng nàng, Liễu Đức Thuận đứng trơ trọi bên gốc thị già, chiếc điếu cày trên tay buông thõng, ánh mắt lão hiện lên vẻ ngơ ngác, bất an và bối rối trước sự điềm tĩnh lạ thường của một người đàn bà tưởng chừng như đã rơi xuống tận cùng đáy xã hội.

***

Khi Thanh Hà bước chân lên mũi con đò nan của Từ Bá để quay về bờ đông, mặt trời đã lên tới đỉnh ngọn sào. Nắng đầu hạ bắt đầu đổ lửa xuống dòng sông Vọng Giang mênh mông, mặt nước lấp lánh như dát hàng vạn mảnh gương vỡ chói chang. Khí trời oi nồng, ngột ngạt bốc lên từ lòng sông cát bỏng, nhưng phảng phất đâu đó trong ngọn gió nam non nớt là mùi hương ngai ngái, thanh tao của những búp sen đầu mùa vừa nhú lên từ các bãi đầm lầy ven sông.

Ngồi trên khoang thuyền dập dềnh sóng nước, Thanh Hà hé mở lòng bàn tay. Mẩu giấy bổi của Thanh Du đã bị mồ hôi của hai chị em làm ẩm mềm, xơ xác các góc. Nàng cẩn thận mở từng nếp gấp nhỏ: bên trong là những dòng chữ li ti, mực nước mài vội vàng nhưng nét chữ vô cùng cẩn trọng, tỉ mỉ.

Thanh Du đã ghi rõ từng ngày: ngày mười sáu tháng Giêng, bác họ bắt nhịn cơm trưa vì gánh đất chậm; ngày hai mươi tháng Hai, số thóc thu hoạch thực tế ở bãi bồi là mười hai bao chứ không phải mất trắng như lời bác nói; ngày mùng một tháng Ba, bác tự ý ghi thêm năm trăm văn tiền mua sắm lễ vật cúng sóc vọng nhưng thực tế chỉ mua một nải chuối tiêu ba mươi văn...

Đọc từng dòng chữ của đứa em trai, Thanh Hà khẽ mỉm cười, một nụ cười cay đắng xót xa nhưng ngập tràn niềm kiêu hãnh. Đứa em của nàng không hề bị đòn roi khuất phục. Và mười lượng bạc kia—con số thoạt nghe như một ngọn núi sừng sững không thể vượt qua, một bức tường đá ngăn cách tình máu mủ—nhưng giờ đây, khi đã có mục tiêu rõ ràng và bằng chứng trong tay, nàng hiểu rằng từng đồng tiền kẽm kiếm được từ mồ hôi, nước mắt của chính nàng sẽ là từng viên đá lót đường, đắp nên cây cầu vững chãi nhất để đưa em trai trở về bờ bến tự do.

Khi mũi đò chạm vào bờ đá bến đông, tiếng cười nói rộn rã nơi quán trà nhỏ đã kéo Thanh Hà trở về với nhịp sống thực tại ồn ã.

Mái lều tranh đơn sơ nép mình dưới bóng cây râm mát, khói bếp vẫn bốc lên nhè nhẹ từ chiếc lò đất nung. Từ Bá đang ngồi phe phẩy chiếc quạt nan trên chõng tre, vừa trông chừng ấm đồng reo vui vừa rôm rả chỉ đường cho hai người khách buôn chuyến đò chiều. Tiểu Mãn thì thoăn thoắt đôi chân, hai tay bưng hai bát nước chè xanh sóng sánh khói thơm đưa ra cho khách, cái miệng nhỏ nhắn đon đả chào mời: “Nước chè giếng Thanh Khê mới nấu đấy các bác ạ, ngọt giọng mát ruột lắm!”

Nhìn thấy Thanh Hà bước lên bờ đá, Tiểu Mãn reo to một tiếng đầy phấn khởi:

“A! Chị Hà đã về rồi! Chị ơi, sáng nay em bán đắt hàng lắm nhé! Em bán được hai mươi bát nước chè và sáu chiếc bánh hoa hòe đấy chị! Khách bộ hành ai nấy đều tấm tắc khen bánh của chị thơm ngọt vừa miệng, không còn chút vị đắng nào của hoa hòe sót lại cả!”

Từ Bá đặt chiếc quạt nan xuống, nheo mắt nhìn sắc mặt trầm tĩnh, đôi mắt sáng trong nhưng sâu thẳm của nàng, khẽ cất giọng hỏi:

“Sao rồi cô em? Lão Đức Thuận làm khó dễ lắm phải không?”

Thanh Hà mỉm cười nhẹ nhõm, một nụ cười không còn vướng bận những muộn phiền vô vọng. Nàng bước vào quán, múc một gáo nước giếng Thanh Khê trong vắt, mát lạnh từ vò đất ra bát sành, uống một hơi cạn đáy để xua tan cơn khát cháy bỏng nơi cổ họng sau chặng đường dài nắng gió:

“Dạ, đúng như bác dự liệu. Bác họ đòi mười lượng bạc trắng bồi hoàn công lao dưỡng dục suốt hai năm qua. Lão còn bảo, cháu phải có nhà ngói kiên cố, có khế đất hợp pháp mang tên mình thì mới cho đón Thanh Du về.”

Từ Bá nghe xong, trừng mắt vỗ mạnh xuống mặt bàn tre cái đét, miệng chửi đổng:

“Mười lượng bạc trắng ư?! Lão Đức Thuận này điên thật rồi, hay là lão muốn ăn cướp cạn giữa ban ngày ban mặt? Thằng bé Thanh Du bên ấy làm lụng quật quật suốt ngày đêm, dắt trâu cày thuê, gánh đất lò gạch đến rách cả vai, tiền công lão đút túi hết, bù trừ vào tiền gạo tiền rau của lão thì lão còn phải nợ ngược lại thằng bé ấy chứ! Đúng là cái đồ lòng lang dạ thú, tham lam bủn xỉn ăn cả xương tủy cháu ruột!”

“Bác bớt giận ạ,” Thanh Hà điềm đạm khuyên nhủ, ánh mắt nàng ánh lên vẻ tự tin và chín chắn lạ thường. “Bác họ đòi hỏi dựa trên sổ sách ghi chép, cháu cũng đã có cách của cháu. Thằng Du bên ấy rất kiên cường, nó đã lén ghi lại toàn bộ những khoản kê khống của bác họ đưa cho cháu rồi. Nhưng trước hết, cháu phải chứng minh được rằng cháu có đủ năng lực tài chính và một mái nhà vững chãi thực sự để cưu mang, bảo bọc cho em cháu. Có như thế, người ta mới không thể vin vào luật lệ làng xã hay miệng lưỡi thế gian cay nghiệt mà dèm pha, ép uổng chị em cháu được. Cháu muốn đón em về trong tư thế ngẩng cao đầu.”

Từ Bá nghe nàng nói năng rành rọt, thấu tình đạt lý, trong lòng không khỏi thầm thán phục bản lĩnh của người đàn bà trẻ tuổi này. Lão vuốt râu khẽ thở dài:

“Cô nói phải. Ở đời này, muốn người ta nể sợ và không chèn ép được mình thì mình phải đứng vững trên đôi chân của mình trước đã. Thôi được, lão già này chèo đò ven sông, có chút sức mọn, khi nào cô cần dựng lều đóng cọc, cứ ới lão một tiếng!”

“Cháu cảm ơn Từ Bá nhiều lắm ạ.”

Thanh Hà bước nhanh vào gian bếp nhỏ phía sau tấm liếp nứa. Nàng lục tìm trong góc chạn bát, lấy ra một chiếc hũ sành nhỏ tráng men da lươn bóng loáng. Chiếc hũ này vốn là vật dụng nàng dùng để đựng muối hạt trước kia, nay đã được dùng hết. Nàng múc nước giếng Thanh Khê, cẩn thận dùng xơ mướp cọ rửa sạch bong từng vết cáu bẩn từ trong ra ngoài, rồi dùng khăn vải sạch lau khô ráo, đem ra đặt ngay ngắn trên chiếc bàn tre nhỏ cạnh góc quầy—ngay sát cạnh chiếc rương gỗ nhỏ đựng sổ nợ và bản khế ước thuê đất bến đò.

Tiếp đó, Thanh Hà ngồi xuống bàn, nàng mài thỏi mực tàu trên nghiên đá nhẵn thín. Khi mực đã đen nhánh và sánh mịn, nàng cầm ngọn bút lông thỏ, nắn nót chấm mực, viết lên một mảnh giấy hồng điều đã cắt vuông vức bốn chữ Hán chân phương, trang nghiêm:

*迎 清 攸* — *Đón Thanh Du.*

Thanh Hà lấy một chút hồ nếp phết đều lên mặt sau của mảnh giấy hồng điều, rồi cẩn trọng dán nó thật ngay ngắn, phẳng phiu lên chính giữa thân chiếc hũ sành da lươn. Màu đỏ thắm của giấy hồng điều nổi bật trên nền men nâu sẫm, bốn chữ đen nhánh như khắc sâu lời thề son sắt của nàng vào đất đá.

Tiểu Mãn và Từ Bá đứng lặng yên bên cạnh, chăm chú dõi theo từng cử chỉ trân quý, thiêng liêng của nàng. Không khí trong gian quán bỗng chốc trở nên trang trọng lạ thường.

Tiểu Mãn chớp chớp đôi mắt tròn xoe ngập tràn xúc động. Đứa trẻ đứng ngập ngừng một lát, rồi bỗng thò bàn tay nhỏ nhắn vào sâu trong túi áo nâu sồng, lục lọi hồi lâu. Nó rụt rè rút ra ba đồng tiền kẽm bóng loáng, mới tinh—đó là ba đồng tiền kẽm mà hai người khách buôn qua đò lúc sáng đã thưởng riêng cho con bé vì sự nhanh nhẹn, khéo léo và nụ cười tươi tắn khi bưng nước. Con bé bước lại gần, chìa hai bàn tay nhỏ bé dâng những đồng tiền kẽm ra trước mặt Thanh Hà, giọng nói non nớt run run:

“Chị Hà... em... em góp với chị ba đồng này nhé? Em cũng muốn góp tiền để chị mau mau sang chuộc anh Thanh Du về bến sông này với chúng mình! Có anh Du về, quán mình sẽ vui hơn, em sẽ nhường nửa chiếc chiếu manh cho anh ấy ngủ!”

Cổ họng Thanh Hà bỗng nghẹn ứ lại, khóe mắt nàng cay xè vì một niềm xúc động ấm áp lan tỏa khắp tâm can. Nàng cúi xuống, ôm lấy bờ vai gầy guộc của đứa trẻ mồ côi vào lòng, nhẹ nhàng gạt những lọn tóc mai lòa xòa trước trán nó, rồi khẽ lắc đầu mỉm cười dịu dàng:

“Tiểu Mãn ngoan lắm, tấm lòng của em chị xin nhận. Nhưng ba đồng tiền này là khách thưởng riêng cho công sức lao động của em sáng nay, em phải cất giữ cẩn thận vào túi để phòng thân khi ốm đau, hoặc để dành mai sau mua manh áo mới. Ở gian quán này, chị là người lớn, chị là người gánh vác trách nhiệm. Chị sẽ tự tay trích từng đồng tiền lời buôn bán mỗi ngày để bỏ vào chiếc hũ này.”

Nói đoạn, Thanh Hà mở chiếc túi vải thô đeo bên hông ra. Nàng đổ toàn bộ số tiền kẽm và tiền đồng kiếm được từ sáng đến giờ lên mặt bàn gỗ. Nàng thoăn thoắt đếm từng đồng tiền kẽm: tiền bán hai mươi bát nước chè tươi được bốn mươi văn, tiền bán sáu chiếc bánh hoa hòe được mười tám văn, tổng cộng được năm mươi tám văn tiền. Nàng cẩn thận trừ đi chi phí tiền mua bột nếp, tiền đường phèn, tiền lá trà rừng mua của phường buôn, tính toán rành rọt từng cọng hành hạt muối. Số tiền lời ròng còn lại sau buổi sáng là đúng ba mươi văn kẽm.

Thanh Hà gom ba mươi đồng tiền kẽm ấy lại trong lòng bàn tay. Nàng bước đến bên chiếc hũ sành da lươn mang dòng chữ *Đón Thanh Du*, từ từ thả từng đồng tiền qua miệng hũ hẹp.

*Keng... keng... keng... keng...*

Tiếng những đồng tiền đồng, tiền kẽm va chạm vào đáy sành vang lên giòn giã, lanh lảnh và trong trẻo lạ thường. Âm thanh ấy ngân vang giữa gian lều quán ven sông, tựa như một khúc nhạc báo hiệu sự hồi sinh, xua tan đi tất cả những u ám, đắng cay và nhọc nhằn của buổi sớm mai.

Ba mươi văn tiền hôm nay thoạt nhìn có thể chỉ là một giọt nước bé nhỏ giữa biển bạc mười lượng bao la, nhưng giọt nước ấy được chắt chiu từ mồ hôi, từ sự tần tảo thức khuya dậy sớm, từ lòng tự trọng kiên cường và tình yêu thương ruột thịt vô bờ bến của một người chị. Từng ngày, từng ngày một, chiếc hũ sành này sẽ đầy lên theo năm tháng, biến những nhọc nhằn thành sức mạnh, hiện thực hóa ước mơ đoàn tụ gia đình dưới một mái nhà bình yên.

Tiểu Mãn đứng nhìn chiếc hũ sành, hai mắt sáng ngời lấp lánh niềm hy vọng. Từ Bá cũng mỉm cười, khẽ gật đầu gù gù, ánh mắt lộ rõ vẻ thán phục người phụ nữ kiên cường trước mặt.

***

Buổi chiều buông xuống bến đò Vọng Giang thật êm ả và thanh bình. Mặt trời lặn dần sau rặng núi xa xôi phía tây, nhuộm đỏ rực cả một khúc sông rộng bằng những dải mây màu huyết dụ và vàng cam rực rỡ. Gió nam thổi lồng lộng từ phía hạ lưu ngược lên, xua tan đi cái oi bức ngột ngạt của buổi trưa hè, làm xao động những rặng lau sậy trắng xóa đang trổ cờ dọc theo mép nước.

Mùi bùn non ngai ngái quen thuộc của dòng sông hòa quyện vào hương thơm thanh khiết, ngào ngạt của những búp sen đầu mùa từ đầm lầy bay tới, tạo nên một bầu không khí trong lành, sảng khoái đến lạ kỳ. Trong gian quán nhỏ, chiếc ấm đồng trên bếp than vẫn sôi reo thì thào, phả ra làn khói thơm dịu của mẻ trà xanh hái muộn.

Bỗng nhiên, từ khúc quanh mé sông phía thượng nguồn, một chiếc thuyền buôn mũi nhọn bằng gỗ kiền kiền đen nhánh từ từ rẽ sóng lướt tới. Thuyền không giương buồm lớn mà chỉ dùng hai tay chèo dài khua nước nhịp nhàng, êm ả lướt qua những làn sóng bạc đầu, hướng thẳng mũi về phía cây cầu tàu bằng đá hộc của bến đông.

Trên sàn mui thuyền rộng rãi, những chồng sọt tre đan mắt cáo dày dặn được xếp đặt ngay ngắn thành từng hàng ngay ngắn, phủ bên ngoài bằng những tấm bạt gai màu nâu sẫm để che chắn nắng gió. Từ những chồng sọt tre ấy, một mùi hương chát dịu, thanh tao và nồng đượm đặc trưng của lá trà rừng vừa qua đợt lửa sao đầu tiên tỏa ra ngào ngạt, át cả mùi tanh nồng của bùn sông.

Một bóng người cao ráo, vững chãi trong bộ áo vạt dài bằng vải thô màu xanh sẫm quen thuộc đứng sừng sững nơi đầu mũi thuyền. Tay người ấy cầm một chiếc sào tre dài bịt sắt, động tác vô cùng thuần thục và khéo léo ghìm mũi thuyền tì nhẹ vào bờ đá phủ đầy rêu xanh.

Đó chính là Hàn Thụy.

Anh trao sợi dây thừng buộc thuyền cho người phu chèo đò, rồi bước những bước chân dài, vững chãi lên các bậc đá của cầu tàu. Tà áo xanh của anh bay phần phật theo từng cơn gió sông lồng lộng. Nhìn thấy gian lều quán quen thuộc nghi ngút khói thơm và bóng dáng mảnh mai của người phụ nữ đang cặm cụi lau dọn quầy tre, đôi mắt sắc sảo thường ngày của chàng thương nhân bỗng chốc mềm lại, ánh lên một nét cười ấm áp, điềm đạm.

Hàn Thụy rảo bước đi thẳng về phía quầy trà nơi Thanh Hà đang đứng. Anh dừng lại cách quầy ba bước chân, vòng tay khẽ nghiêng mình chào theo đúng lễ nghi của người phương xa ghé quán, rồi ngước nhìn nàng, cất giọng trầm ấm, vang vọng giữa hoàng hôn bến nước:

“Liễu cô nương, ngày mai thuyền buôn của ta có chuyến ngược sông lên phố trà Tây Lĩnh để xem mẻ trà hè đầu tiên vừa hái trên đỉnh núi đá. Cô nương có muốn cùng đi một chuyến để tận mắt nhìn thấy quy trình sao trà và nếm thử phẩm cấp mới không?”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn