Quán Trà Bên Bến ĐòC.9 / 34
Chương 9

Cuộc thử trà ở Tây Lĩnh

Mùi hương trà sao chảo ngào ngạt phả ra từ các lò than rực hồng dưới chân rặng đồi Tây Lĩnh đón bước chân Thanh Hà trong buổi sớm tinh sương.

Gió từ hẻm núi sâu hun hút thổi thốc xuống mặt sông còn vương hơi ẩm giá buốt của những tầng sương bảng lảng, mang theo cái lạnh se sắt đặc thù của miền trung du lúc ngày mới vừa chớm rạng. Thế nhưng, chỉ cần bước chân qua khỏi bến đò trung chuyển tấp nập của phố trà, không gian đã lập tức được sưởi ấm bởi luồng nhiệt lượng hầm hập tỏa ra từ hàng trăm căn xưởng sơ chế mọc san sát, tầng tầng lớp lớp men theo triền đồi đất đỏ. Tiếng củi nỏ lách tách reo vui trong những miệng lò than quả bàng đượm lửa, tiếng những chiếc bàn xẻng kim loại va quẹt giòn giã khi đảo đều từng mẻ lá non trên mặt chảo gang bóng loáng, xen lẫn tiếng quát tháo điều khiển la ngựa thồ hàng và tiếng mặc cả, ngã giá râm ran của thương nhân bốn phương tụ hội... tất cả đan cài vào nhau tạo nên một nhịp sống hối hả, sầm uất và căng tràn sinh khí, tách biệt hoàn toàn với sự êm đềm, lặng lẽ thường ngày nơi doi đất bồi mé đông bến Vọng Giang.

Thanh Hà khẽ đưa tay kéo lại vạt áo chẽn màu lam nhạt đã bạc màu sương gió, cẩn thận chỉnh lại chiếc nón lá đội sụp ngang trán rồi bước xuống khỏi con thuyền buôn gỗ kiền kiền sau chuyến hành trình ngược dòng êm ả suốt từ lúc trời còn tối đất. Hàn Thụy đi ngay bên cạnh nàng. Từng bước chân của anh khoan thai nhưng vững chãi như bàn thạch, một tay xách bọc hành lý mộc mạc gói bằng vải chàm, tay kia khéo léo gạt những cành liễu rủ ven lối lên bến để tránh cho cành lá ướt đẫm sương đêm quẹt vào nón lá và bờ vai gầy của nàng. Suốt chặng đường sông dài mấy mươi dặm, anh luôn giữ một khoảng cách chừng mực, vừa đủ để chở che khi sóng lớn lắc lư mạn thuyền, vừa đủ ý tứ để không làm kinh động đến sự e dè của một người phụ nữ góa bụa đang gồng mình bươn chải giữa dòng đời nghiệt ngã.

Khi hai người vừa đặt chân lên bậc đá thứ nhất phủ đầy rêu xanh dẫn từ mép nước lên bến Tây Lĩnh, một người đàn ông trung niên coi bến với chiếc thẻ đồng khắc chữ nha môn lủng lẳng bên hông liền tiến lại gần. Ông ta khoác manh áo tơi ngắn, tay cầm chiếc gậy tre gõ nhẹ xuống mặt đá tạo thành những tiếng cộp cộp khô khốc, cất giọng khàn đục đòi thu lệ phí bến thuyền theo lệ định của tuần ty sở tại.

Hàn Thụy theo thói quen đưa tay vào túi gấm thêu chỉ bạc bên sườn, toan rút ra một xâu tiền đồng sáng loáng xỏ dây gai để trả gộp cho cả hai người cùng chuyến hàng trên thuyền, như cái cách các nam nhân vẫn thường làm khi đi cùng nữ quyến.

"Hàn gia, xin dừng bước. Để ta tự lo phần của mình."

Thanh Hà nhẹ nhàng cất tiếng, bước nhanh lên nửa bước chắn ngang trước tầm tay của anh. Nàng mỉm cười mực thước, ánh mắt điềm đạm nhưng chứa đựng một sự kiên định không thể lay chuyển. Từ tốn tháo từ thắt lưng ra chiếc túi vải thô nhuộm củ nâu đã sờn rách mép và chắp vá mấy đường chỉ vụng về, nàng mở miệng túi ra. Bên trong chiếc túi ấy không có bạc nén lấp lánh hay những xâu tiền đồng mới tinh thơm mùi xưởng đúc, mà chỉ toàn là những đồng tiền kẽm méo mó và tiền đồng lẻ lem luốc, nặng trịch — những đồng tiền tích lũy từ từng bát nước chè tươi giá hai văn, từng chiếc bánh hoa hòe nhân đậu ba văn mà nàng đã chắt chiu gom góp từ những giọt mồ hôi của đám phu than, lái đò lam lũ trong suốt những ngày vừa qua nơi bến sông lộng gió.

Nàng cẩn thận đếm đủ năm văn tiền kẽm theo đúng bảng niêm yết gỗ đã phai màu sơn treo cạnh điếm canh tuần ty, rồi đặt ngay ngắn từng đồng vào lòng bàn tay chai sạn của người coi bến. Động tác của nàng thong thả, rõ ràng, không một chút ngượng ngùng hay tự ti trước những ánh mắt tò mò của khách buôn xung quanh.

Hàn Thụy hơi sững lại trong chớp mắt. Bàn tay đang cầm túi gấm của anh khựng lại giữa không trung, những ngón tay thon dài khẽ buông lỏng mép vải gấm mềm mại. Ánh mắt anh thoáng qua một tia ngạc nhiên xen lẫn bối rối, nhưng rất nhanh sau đó, nét bối rối ấy liền chuyển thành vẻ thấu hiểu và tôn trọng sâu sắc. Anh không hề nài ép hay gượng gạo tranh phần trả tiền, chỉ lặng lẽ thu tay về, lùi lại nửa bước rồi khẽ gật đầu:

"Là ta sơ suất, chưa nghĩ thấu đáo. Liễu cô nương hôm nay lên phố trà Tây Lĩnh này với tư cách là chủ của một quán trà đích thân đi tìm bạn hàng kết mối làm ăn, tự mình trang trải chi phí lộ trình bến bãi là điều quang minh chính đại, danh chính ngôn thuận."

Thanh Hà siết chặt miệng dây túi vải, cẩn thận giấu lại vào sâu trong nếp vạt áo chẽn, nghe rõ từng tiếng va chạm lanh lảnh, khô giòn của những đồng tiền kẽm còn lại chạm vào xương hông mình. Cảm giác kim loại lành lạnh và thô ráp ấy, kỳ lạ thay, lại mang đến cho nàng một điểm tựa tinh thần vững chãi hơn bất kỳ lời hứa hẹn êm tai nào. Nàng biết ơn tấm lòng trượng nghĩa và sự chu đáo đến từng chân tơ kẽ tóc của Hàn Thụy, nhưng trong lòng nàng hiểu rõ hơn ai hết rằng, bản thân tuyệt đối không được phép trượt chân vào thói quen dựa dẫm. Mười lượng bạc trắng ròng cần kiếm đủ trước kỳ hạn mùa thu để chuộc đứa em trai Thanh Du khỏi cảnh đọa đày nơi lò gạch Nam Kiều là một ngọn núi cao sừng sững chắn ngang số phận, và ngọn núi ấy chỉ có thể vượt qua bằng chính đôi chân trần rướm máu và đôi bàn tay lao động của chính nàng. Từng giao dịch làm ăn, từ việc nhỏ nhoi như một bát trà xanh, một chén nước sôi hay mấy đồng lệ đò bến bãi, nàng đều phải giữ cho mình một tư thế độc lập, sòng phẳng, phân minh rạch ròi, tuyệt đối không để bản thân vướng vào những món nợ ân tình sâu nặng khó lòng đền đáp.

"Tạ ơn Hàn gia đã thấu hiểu cho nỗi lòng và nguyên tắc vụn vặt của ta," Thanh Hà khẽ đáp, ánh mắt nàng trong veo như mặt nước giếng khơi, hướng thẳng về phía rặng núi mờ sương đang dần hé lộ dưới ánh bình minh. "Ta đi buôn bán nhỏ, vốn liếng chắt bóp chẳng có bao nhiêu, nhưng từng đồng tiền bỏ ra khỏi túi đều phải có nguồn cơn rõ ràng trong sổ sách, do mồ hôi nước mắt mình làm ra. Có như vậy lòng mới được thanh thản, bước chân đi trên đường đất sỏi đá mới thực sự vững vàng."

Hàn Thụy mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi làm mềm đi những đường nét góc cạnh, phong trần trên gương mặt vốn luôn trầm mặc, nghiêm nghị:

"Cô nương nói rất phải. Đạo buôn bán cốt ở chữ thành và chữ tự chủ, ỷ lại vào người khác ắt có ngày chuốc lấy hụt hẫng. Đi thôi, người mà ta muốn đưa cô nương tới diện kiến sáng nay vốn tính tình cổ quái, ghét cay ghét đắng những kẻ buôn bán vòng vo tam quốc hay thích dựa dẫm vào danh thế của gia tộc."

Dứt lời, anh cất bước dẫn đường, đưa nàng rẽ khỏi trục đường đá chính náo nhiệt của phố trà — nơi tập trung các nha môn kiểm dịch trà quan, những tửu điếm xa hoa và các thương xá bề thế, rực rỡ cờ hiệu của các hội buôn lớn đến từ kinh kỳ — để men theo một con đường mòn lát đá dăm dốc đứng, quanh co dẫn thẳng lên lưng chừng ngọn núi phía tây.

Càng lên cao, khói bụi mịt mù và âm thanh ồn ã xô bồ của bến thuyền cùng chợ búa dưới chân núi càng lùi xa dần, nhường chỗ cho bạt ngàn những luống trà xanh mướt uốn lượn theo từng tầng bậc thang trên sườn dốc như những dải lụa ngọc bích mềm mại trải dài vô tận. Gió núi thanh sạch thổi qua kẽ lá, mang theo mùi nhựa cây non tươi mới, ngai ngái nhưng ngọt lành đến tận đáy phổi. Giữa lưng chừng đồi núi thanh vắng, một khuôn viên nhà ngói ba gian lợp thứ ngói vảy cá cổ kính đã ngả màu rêu phong hiện ra sau rặng trúc đực thẳng tắp, thân cây xanh bóng vươn cao đón nắng.

Trước khoảng sân phơi rộng thênh thang được nện đất sét phẳng lì, hàng chục chiếc nong tre khổng lồ đan bằng cật nứa đang đón những tia nắng sớm đầu ngày. Bên trên mặt nong rải đều tăm tắp những búp trà tôm nõn vừa được hái trước lúc vầng thái dương ló dạng, sắc xanh biếc mơn mởn còn đọng nguyên những hạt sương mai lấp lánh tựa hạt ngọc.

Đứng sừng sững giữa sân phơi là một người phụ nữ chừng ngoài ba mươi tuổi. Dáng người bà dong dỏng cao, thon thả nhưng toát lên vẻ dẻo dai phi thường, khoác chiếc áo vải thô màu nâu sồng cộc tay để lộ đôi cánh tay rám nắng rắn rỏi, bắp thịt săn chắc. Mái tóc đen nhánh của bà được búi cao gọn gàng sau gáy bằng một chiếc trâm tre mộc mạc không chạm trổ. Gương mặt người phụ nữ mang những đường nét cương nghị với làn da bánh mật khỏe khoắn, đôi lông mày lưỡi mác rậm và đôi mắt phượng sắc lẹm như lưỡi dao cạo đang chăm chú rà soát từng ly từng tí trên các nong trà. Chung quanh sân, bốn năm người làm công đang cặm cụi cúi đầu đảo lá, động tác nhẹ nhàng nâng niu từng búp non, tuyệt nhiên không một ai dám cất tiếng cười đùa hay xì xào to nhỏ dưới ánh nhìn nghiêm cẩn của bà.

"Trần nhị tỷ," Hàn Thụy dừng bước ngay trước ngõ trúc dẫn vào sân, hai tay chắp lại vòng trước ngực cất tiếng chào bằng một giọng điệu khiêm nhường, cung kính, hoàn toàn rũ bỏ vẻ uy nghi hay tư thái bề trên của một vị thương nhân chưởng quản thuyền buôn lớn.

Người phụ nữ quay phắt người lại. Đôi mắt sắc sảo đảo qua gương mặt Hàn Thụy rồi dừng lại thật lâu trên người Thanh Hà. Ánh nhìn của bà quét chậm rãi từ trên xuống dưới, đánh giá bộ y phục vải thô giặt sạch sẽ không vấy bẩn, đôi bàn tay thon dài nhưng có những vết chai sần nơi lòng bàn tay vì bưng bê củi lửa, chiếc nón lá mộc mạc cài quai vải vụn, cho đến chiếc túi tiền nhỏ đeo lệch bên hông áo.

"Hàn chưởng quỹ," Trần Mộc Lan cất giọng khàn khàn nhưng sang sảng, âm vang mang theo cái chất cứng cỏi, ngang tàng của người đàn bà quanh năm một mình đối mặt với sương gió núi cao và sự khắc nghiệt của thời tiết. "Gió độc nào sớm nay lại đưa ngài nhàn nhã leo bộ lên tận ngọn đồi đá heo hút này thế? Chẳng phải mẻ trà búp vụ hè của toàn hạt Tây Lĩnh này đã được các đại thương đoàn của các ngài chốt sổ, ép giá và đóng dấu niêm phong từ tận tháng trước rồi sao? Lão thân nhớ cái vườn trà cỏn con này của ta đâu còn đủ sản lượng búp nõn để lọt vào mắt xanh kiêu kỳ của Hàn gia các ngài nữa."

Lời lẽ của Mộc Lan tuôn ra không hề che giấu sự cảnh giác cao độ và chút mỉa mai cay độc giấu kín sau nụ cười nhạt. Bà là chủ nhân của một vườn trà độc lập nức tiếng về chất lượng búp trà thượng hạng, nhưng quy mô diện tích lại không đủ lớn để cạnh tranh về số lượng. Suốt bao năm qua, một người phụ nữ đơn độc như bà luôn phải gồng mình, trầy trật chống chọi lại những mưu ma chước quỷ, những đòn liên kết ép giá đến nghẹt thở của các hội buôn lớn và lũ con buôn trung gian chuyên nghề đầu cơ trục lợi.

Hàn Thụy không hề tỏ vẻ phật ý trước thái độ gai góc ấy. Anh điềm đạm bước thêm hai bước vào trong sân, nghiêng mình giới thiệu một cách nghiêm túc:

"Trần nhị tỷ chớ vội hiểu lầm. Hôm nay tại hạ đến đây tuyệt đối không mang danh nghĩa của thương đoàn bến sông, cũng không đại diện cho bất kỳ phường buôn nào đến bàn chuyện thu mua áp đặt. Tại hạ chỉ đơn thuần là người dẫn lối chỉ đường theo lời thỉnh cầu. Vị này là Liễu Thanh Hà cô nương, chủ nhân của quán trà nhỏ bên bến Vọng Giang. Liễu cô nương muốn đích thân lên tận đồi tìm nguồn trà búp vụ hè chân chính từ tận tay chủ vườn, mua bán độc lập, tiền trao cháo múc sòng phẳng, phân minh."

Trần Mộc Lan nhướng mày, ánh mắt sắc như dao cau lập tức chuyển dời từ Hàn Thụy sang đóng đinh lên người Thanh Hà. Khóe môi bà khẽ nhếch lên thành một nụ cười nửa miệng đầy vẻ hoài nghi, lạnh lùng buông lời giễu cợt:

"Chủ quán trà ven sông? Một góa phụ trẻ tuổi mở cái quán cóc lụp xụp bán nước chè tươi cho đám phu thuyền cửu vạn mà cũng lặn lội trèo đèo lội suối lên tận Tây Lĩnh này để tìm trà tận gốc sao? Liễu cô nương, đất Tây Lĩnh này trông thanh bình vậy thôi chứ cạm bẫy khôn lường, không thiếu những kẻ khoác danh nghĩa tự lập mưu sinh nhưng thực chất chỉ là tai mắt, là con cờ bình phong do các thương đoàn lớn cài cắm vào hòng dò la sản lượng, ép giá những chủ vườn nhỏ bé neo đơn như ta đến đường cùng. Vườn trà nhà họ Trần ba đời cắm rễ trên đất đá cằn cỗi này chỉ bán trà cho người thực lòng biết quý trọng từng giọt sương trên lá trà, tuyệt đối không bao giờ bán rẻ công sức tổ tiên cho những kẻ dựa hơi danh tiếng kẻ khác để kiếm chênh lệch vài đồng bạc cắc."

Những lời nói thẳng thừng, đanh thép tựa như gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt giữa buổi sáng mùa đông buốt giá không hề làm cho Thanh Hà nao núng hay chùn bước. Nàng đã từng nếm trải đủ sự cay nghiệt, chì chiết từ gia đình chồng cũ họ Phạm, đã từng trơ trọi một mình đối mặt với những ngọn đoản côn hung hãn của đám lâu la Lại Tam bên bến đò đêm khuya, nên sự sắc sảo đầy phòng bị và cay đắng của một người phụ nữ tự mình gầy dựng, bảo vệ cơ nghiệp như Mộc Lan chỉ khiến nàng nảy sinh lòng đồng cảm và khâm phục sâu sắc chứ không hề có lấy nửa phần oán giận.

Thanh Hà bước khoan thai về phía trước, dừng lại cách Mộc Lan chừng ba bước chân rồi cúi mình hành lễ theo đúng quy củ khiêm nhường nhưng đĩnh đạc của người làm nghề ẩm thực truyền thống:

"Trần gia chủ nói rất đúng, sự cảnh giác và cẩn trọng của người đối với cơ nghiệp tổ tiên là điều vô cùng đáng kính. Ta quả thực chỉ là một góa phụ số phận hẩm hiu, dựng một túp lều tranh xiêu vẹo bán bát nước chè hai văn cho đám phu bến Vọng Giang lam lũ kiếm miếng cơm qua ngày, vốn liếng gom góp từng đồng tiền kẽm sứt sẹo. Nhưng chính vì quán nước của ta phục vụ những con người cùng khổ, ngày ngày phải đổ từng giọt mồ hôi mặn chát để kiếm manh áo chén cơm, ta lại càng không cho phép lương tâm mình dùng thứ trà tạp nham trộn lá khô, thứ trà tẩm ướp hương liệu giả tạo của phường buôn gian dối để lừa gạt tiền bạc và sức khỏe của họ. Nước giếng đá tổ ong trên gò Thanh Khê của ta quanh năm trong vắt, ngọt lành; thứ nước quý ấy nếu không được hòa quyện cùng búp trà thật tâm của người trồng trà bằng cả tấm lòng, thì bát nước chè bưng ra cho khách chẳng khác nào một sự dối trá bẩn thỉu. Ta đến Tây Lĩnh bằng chính đôi chân và tiền túi của mình, muốn mua trà bằng giá trị thực tế của vụ mùa và thẩm định bằng tay nghề thực tế của bản thân, tuyệt đối không cầu xin sự che chở, bao bọc hay bảo lãnh danh dự của bất kỳ ai."

Trần Mộc Lan lặng người nhìn sâu vào đôi mắt đen láy của Thanh Hà. Đứng trước sự chất vấn gay gắt, người đàn bà trải đời ấy nhận thấy trong đồng tử trong trẻo của cô gái trẻ đối diện không hề có lấy một tia chột dạ, dao động hay nét luồn cúi thường thấy ở phường con buôn cầu lợi. Vẻ nghiêm nghị, căng thẳng tựa dây cung trên gương mặt rám nắng của nữ chủ vườn trà thoáng giãn ra đôi phần, nhưng nơi khóe mắt vẫn giữ nguyên nét khắt khe cố hữu của một bậc thầy nghề trà:

"Lời hay ý đẹp trên cõi đời này thì ai có miệng cũng thốt ra được. Lũ người buôn nước bọt ba hoa chích chòe nơi bến đò ta đã gặp đến nhẵn mặt rồi. Muốn bước chân vào vườn và mua được trà búp vụ hè đích thực của Trần Mộc Lan này, trước hết cô phải chứng minh được cái lưỡi, cái mũi và đôi mắt của cô có xứng đáng với lá trà của ta hay không đã. Nếu cô cũng chỉ là hạng người phàm phu tục tử, chỉ biết đun một nồi nước sôi sùng sục rồi quẳng đại nắm lá vào đun cho ra thứ nước đỏ quạch chát xít, thì xin mời cô nương mau mau quay gót trở về bến sông cho sớm sủa, kẻo lại uổng phí mấy đồng bạc lẻ lận lưng."

Dứt lời, Mộc Lan không buồn đợi Thanh Hà lên tiếng đáp lại, dứt khoát xoay người rảo bước đi thẳng vào gian chái bên của ngôi nhà cổ — nơi vốn được dùng làm phòng thử trà chuyên dụng của dòng họ Trần qua nhiều thế hệ.

Thanh Hà không một chút do dự, khẽ vén gấu áo bước theo sau. Hàn Thụy cũng lặng lẽ cất bước đi cùng, giữ vẻ mặt bình thản không can dự.

Gian phòng thử trà mộc mạc và tĩnh mịch, thoang thoảng mùi khói củi thông cháy đượm quyện chặt với hương thơm trầm lắng của những nong trà sấy khô tích tụ qua năm tháng trên những bức vách đất dày. Giữa phòng kê một chiếc bàn dài thô mộc làm từ gỗ nghiến xẻ nguyên tấm, mặt bàn nhẵn thín không sơn phết cầu kỳ mà bóng loáng chất gỗ già dặn nhờ sự cọ xát của vô số lượt ấm chén. Trên mặt bàn đã được bày biện sẵn ba chiếc bát sứ hoa lam thô mộc có cùng kích cỡ, bên cạnh là ba đĩa gốm mộc nhỏ đựng ba nhúm trà khô, và một chiếc siêu đất nung màu da chuối đang reo réo sôi ùng ục trên chiếc bếp than củi đượm lửa đặt ở góc phòng.

Trần Mộc Lan bước lại mép bàn, đôi bàn tay gầy nhưng thoăn thoắt dùng một chiếc muỗng tre già xúc ba phần trà khô từ ba đĩa gốm đổ vào ba chiếc bát sứ hoa lam. Nhìn lướt qua bằng mắt thường dưới ánh sáng mờ ảo le lói từ khung cửa sổ mắt cáo, ba nhúm trà khô ấy đều có cánh xoăn chặt tít, màu xanh đen điểm những đốm tuyết bạc xam xám mịn màng, kích thước búp lá đồng đều đến chín phần mười, rõ ràng đều được thu hái từ cùng một giống trà trung du lá nhỏ bản địa trên triền đồi này.

Nữ chủ vườn nhấc chiếc siêu đất nung sôi sục, nghiêng cổ tay rót nước sôi một cách dứt khoát vào từng chiếc bát theo thứ tự nghiêm ngặt từ trái qua phải. Dòng nước sôi sủi tăm mạnh mẽ dội thẳng vào tâm bát, lập tức đánh thức những búp trà đang cuộn mình say ngủ, khiến chúng từ từ bung nở, cuộn trào trong làn nước nóng. Khói trắng nghi ngút bốc lên, mang theo những luồng hương thơm nồng đượm lập tức lan tỏa, phủ kín không gian tĩnh mịch của gian phòng. Mộc Lan nhanh tay lấy ba chiếc nắp sứ úp kín miệng từng bát, khẽ nghiêng đầu lắng nghe tiếng nước reo bên trong, chờ đợi đúng nửa tuần hương — ước chừng khoảng hai mươi nhịp thở sâu và đều đặn — rồi dứt khoát đưa tay mở tung cả ba chiếc nắp sứ ra, dùng sống muỗng gạt nhẹ cho lớp bọt trà li ti tan biến hết.

"Liễu cô nương, mời bước lại đây," Mộc Lan khoanh hai tay trước ngực, lùi lại nửa bước đứng tựa vào góc phản, ánh mắt găm thẳng vào từng cử động của Thanh Hà. "Ba bát trà này đều là trà búp non vụ hè, hái cùng một vạt đồi hướng đông trước lúc mặt trời mọc, nhìn bề ngoài cánh trà khô chẳng khác biệt nhau là bao. Nhưng trong số đó, duy chỉ có một bát là trà thượng phẩm đạt chuẩn xuất vườn của nhà họ Trần ta. Hai bát còn lại, một bát là thứ phế phẩm do người làm trong vườn sơ suất tay nghề, còn một bát là tai họa do người ngoài rắp tâm mang lại hòng phá hoại. Cô hãy dùng đôi mắt để nhìn, dùng chiếc mũi để ngửi, dùng cái miệng để nếm, rồi chỉ đích danh cho ta xem từng bát mang tật chứng gì, nguyên do từ đâu mà ra. Nếu cô đoán sai dù chỉ nửa phần, ta sẽ không bán cho cô nửa lạng trà vụn, và xin mời hai người lập tức rời khỏi ngọn đồi Tây Lĩnh này ngay trong buổi sáng."

Hàn Thụy đứng tựa lưng vào khung cửa gỗ lim dày dặn, khoanh tay im lặng quan sát từ đầu đến cuối. Anh không hề có bất kỳ cử chỉ can thiệp nào, cũng không đưa mắt ra hiệu hay gợi ý, ánh nhìn trầm tĩnh chỉ chăm chú dõi theo từng biểu cảm nhỏ nhất trên gương mặt Thanh Hà, vừa như chờ đợi một màn trình diễn thực thụ, vừa ngầm chứa đựng một niềm tin tưởng tuyệt đối vào bản lĩnh và sự nhạy bén phi thường của người phụ nữ mà anh thầm cảm phục bấy lâu.

Thanh Hà hít một hơi thật sâu để lồng ngực căng tràn khí lạnh, điều hòa lại nhịp tim đang đập rộn ràng. Gian phòng bỗng chốc rơi vào một khoảng không tĩnh lặng đến nghẹt thở, chỉ còn nghe thấy tiếng than hoa nổ lách tách từng hồi bên trong lò đất. Nàng bước chậm rãi lại mép chiếc bàn gỗ nghiến, khẽ khàng vén hai ống tay áo chẽn lên qua khỏi cổ tay, để lộ đôi cổ tay trắng ngần nhưng gân guốc, rắn rỏi của người quen lao động chân tay.

Nàng không hề hấp tấp cúi xuống nếm thử nước trà ngay như những kẻ háo hức tầm thường. Nhớ lại những năm tháng ấu thơ ngồi nép bên bậu cửa nhìn mẹ cẩn thận nhặt từng ngọn rau dại, nhớ lại từng lời chỉ dạy tỉ mỉ của mẹ khi phân biệt từng vị thuốc nam nơi triền núi và những búp trà rừng cổ thụ mọc hoang nơi bờ rào, Thanh Hà hơi khom người xuống, đưa mắt chăm chú quan sát sắc nước của từng bát sứ.

Bát thứ nhất bên tay trái: Nước trà trong vắt, mang một sắc xanh ánh vàng óng ả tựa như màu mật ong rừng pha loãng, không hề có lấy một gợn cặn li ti nào trôi nổi. Dưới ánh sáng ban mai lọt qua khe liếp, trên mặt nước nổi lên một lớp váng dầu mỏng tang lấp lánh bảy sắc tựa ánh xà cừ — dấu hiệu đặc trưng của búp trà chứa hàm lượng tinh dầu cực cao.

Bát thứ hai ở giữa: Sắc nước trà lại ngả sang màu vàng sẫm hơi ánh nâu đỏ của nước gỗ ngâm, độ trong suốt kém hơn hẳn bát thứ nhất một bậc. Bọt trà tan đi rất nhanh sau khi khuấy, nhưng chung quanh mép thành bát lại đọng lại một quầng lắng đục mờ mờ màu tro xám.

Bát thứ ba bên tay phải: Sắc nước thoạt nhìn lại xanh biếc vô cùng bắt mắt, tươi sáng rực rỡ hơn cả bát thứ nhất. Thế nhưng, nếu nheo mắt nhìn kỹ dưới ánh sáng nghiêng hắt vào từ cửa sổ, làn nước lại mang một vẻ nhờ nhờ, lờ lờ đục đục tựa như có một bức màn sương vô hình giăng kín nơi đáy bát, làm mất đi cái thần thái thanh khiết tự nhiên của chất trà.

Sau khi đã thu trọn sắc nước vào tâm trí, Thanh Hà đưa tay nhấc chiếc muỗng tre nhỏ, nhẹ nhàng vớt từng nhúm bã trà đã ngậm đẫm nước sôi từ đáy ba chiếc bát, cẩn thận đặt riêng rẽ lên ba chiếc đĩa men trắng đã chuẩn bị sẵn bên cạnh. Nàng cúi thấp đầu, đưa đĩa bã trà của bát thứ hai lên sát cánh mũi, khẽ nhắm nghiền hai mắt lại và hít một hơi thật sâu bằng mũi.

Hơi nóng bốc lên ngùn ngụt ban đầu mang theo hương cốm nồng nàn đặc trưng của trà sao, nhưng ẩn sâu bên dưới tầng hương ngọt ngào ấy, lẩn khuất nơi chóp mũi nàng lại là một mùi khét lẹt rất mỏng manh, ngai ngái khó chịu tựa như mùi rơm rạ ẩm ướt bị om cháy dở dưới đáy nồi. Nàng đưa hai ngón tay cái và trỏ nhặt lấy một cọng bã trà lên miết nhẹ; phần thịt lá trà tuy đã mềm nhũn do ngấm nước sôi nhưng phần gân chính ở giữa búp lại giòn gãy một cách bất thường, viền mép lá lấm tấm những vệt cháy xém li ti màu than chì đen đúa.

Kế đó, nàng đặt chiếc đĩa thứ hai xuống và chuyển sang ngửi đĩa bã trà của bát thứ ba. Mùi hương bốc lên từ chiếc đĩa này ban đầu xộc thẳng vào khứu giác một mùi hăng nồng gay gắt, át cả vị trà mộc. Thế nhưng, chỉ chờ khi hơi nóng vừa dịu đi trong chốc lát, một mùi ẩm mốc âm ẩm, chua nồng của hơi nước tù đọng nơi góc tối lập tức bộc lộ trần trụi, tựa như mùi vách tường đất bị ngấm nước mưa dầm dề lâu ngày trong bóng râm không được hong nắng. Nàng dùng đầu ngón tay khẽ tẽ từng cọng trà ra xem xét: cánh trà bung nở không đều đặn, có những đoạn lá mềm nhũn nhớp nháp như rau luộc quá lửa, nhưng lại có những đoạn búp trà dính bết chặt vào nhau thành từng mảng nhỏ vo tròn, chứng tỏ quá trình thoát ẩm đã bị cản trở nghiêm trọng.

Cuối cùng, Thanh Hà mới buông đĩa bã trà xuống, cầm chiếc thìa tre múc một lượng nước trà vừa đủ từ từng bát rót vào chiếc chén con chuyên dụng bằng gốm mỏng để bắt đầu nếm vị.

Nàng nhấp một ngụm nhỏ từ bát thứ nhất: Nước trà trượt qua đầu lưỡi êm mượt, vị chát thanh nhẹ lập tức bung tỏa khắp khoang miệng, rồi

đọng lại ở cuống họng một vị ngọt hậu sâu lắng, thanh khiết như giọt sương mai đọng trên lá sen. Vị ngọt ấy kéo dài, kích thích tuyến nước bọt tứa ra ngọt lịm. Chất nước trơn tru, không một gợn cặn, hơi ấm lan dần từ thực quản xuống bụng, để lại một khoảng thanh thoát, nhẹ bẫng cả tâm can.

Nàng khẽ thở ra một làn hơi nhẹ, rồi cầm chiếc thìa tre tráng qua bát nước sôi bên cạnh, múc tiếp một ngụm từ bát ở giữa. Nước vừa chạm môi, một luồng hăng gắt đã lập tức xộc lên mũi. Nàng nhấp vào: Vị trà đậm gắt, chát xốc thẳng lên vòm họng như có gai nhọn cào nhẹ vào niêm mạc. Khi nuốt xuống, chất nước dường như bám riết lấy cuống họng, khiến đáy lưỡi nàng cảm thấy khô khốc, đắng nghét và vương lại một dư vị ngai ngái khó chịu của khói than. Hơi thở hắt ra đượm mùi rơm ướt ngún lửa, tuyệt nhiên không tìm thấy chút phong vị tao nhã vốn có của lá trà mùa hạ.

Đến ngụm thứ ba từ bát bên phải, Thanh Hà thận trọng hơn, chỉ để một lượng nước rất nhỏ lướt qua đầu lưỡi. Nước trà vào miệng mềm nhũn, vô lực, gần như không có độ nảy của chất trà non vụ hè. Vị chát nông choẹt, hời hợt nơi đầu môi rồi tan biến vụt chốc, nhưng sau khi nuốt qua cổ họng không hề có vị ngọt hậu, ngược lại đáy lưỡi tê rần và đọng lại một vị chua lét lờ lợ, tựa như thứ nước ngâm vỏ cây mục lâu ngày dưới đáy ao tù. Cảm giác nhớp nháp, lợn cợn bám chặt nơi kẽ răng khiến người ta chỉ muốn súc miệng nhổ đi ngay tức khắc để gột rửa thứ tạp vị ô uế ấy.

Thanh Hà đặt chiếc chén con xuống mặt bàn gỗ nghiến, phát ra một tiếng *cạch* thật khẽ nhưng dứt khoát. Tiếng động nhỏ vang lên trong gian phòng chái tĩnh mịch, cắt đứt sự ngưng trệ của không khí. Nàng rút chiếc khăn vải thô sạch giắt nơi thắt lưng, từ tốn chấm nhẹ khóe môi, rồi ngẩng đầu nhìn thẳng vào đôi mắt đang nheo lại đầy dò xét của Trần Mộc Lan.

"Trần gia chủ, ba bát trà này đã rõ ràng."

Thanh Hà cất giọng điềm tĩnh, rành rọt từng câu từng chữ. Thanh âm của nàng không cao, không hề mang vẻ tự đắc của kẻ muốn phô trương tài nghệ, mà trầm tĩnh, chắc nịch như từng thớ gỗ nghiến dưới chân bàn:

"Bát thứ nhất bên tay trái chính là trà búp vụ hè thượng phẩm của bản vườn. Búp trà hái đúng độ non một tôm hai lá, sao trên chảo gang đều lửa, vò vừa tầm nên giữ trọn vẹn chất diệp lục và hương cốm tự nhiên. Sắc nước vàng óng, ánh lên sắc biếc như mật ong đầu mùa hòa với sương sớm. Tiền vị chát dịu, hậu vị ngọt sâu lưu lại rất lâu nơi cuống họng. Đây là mẻ trà được làm bởi bàn tay nghệ nhân có tâm và nắm vững nhiệt độ của lửa. Người sao mẻ trà này hẳn phải thức trắng đêm, tay đảo không ngơi nghỉ, lắng nghe từng tiếng nổ lách tách của cánh trà để biết lúc nào cần nâng lửa, lúc nào cần hãm nhiệt. Không thừa một tấc củi, không thiếu một khắc canh."

Trần Mộc Lan không nói gì. Đôi mày rậm của bà hơi nhướng lên, khóe miệng giật nhẹ, khẽ gật đầu một cái thật ngắn như ngầm bảo nàng cứ tiếp tục phán xét.

Thanh Hà đưa tay, ngón trỏ mảnh khảnh chỉ thẳng vào bát thứ hai ở giữa:

"Bát trà này là phế phẩm bị ám khói do sao vội. Người thợ sao mẻ này hoặc là lúng túng khi củi chưa bén đều, hoặc do dùng phải than còn ẩm, khói than bốc lên quyện chặt vào lúc lá trà đang mở lỗ thở thoát ẩm. Hơn nữa, vì sốt ruột sợ hỏng mẻ trà, người thợ đã thúc lửa quá to khiến mép lá bị cháy sém, cọng trà khô giòn bên ngoài nhưng chất nước bên trong chưa kịp chuyển hóa hết. Bởi vậy sắc nước ngả màu sẫm đục, uống vào đắng chát nơi đáy lưỡi và bốc mùi ngái khét của khói rơm. Mẻ trà này đã hỏng từ trong cốt tủy, dẫu có đem ướp hoa thơm hay pha chung với thứ trà đắt tiền khác cũng không thể che giấu được vị đắng chát xốc xếch và cái khô khốc nơi cổ họng người uống."

Ánh mắt Mộc Lan lóe lên một tia kinh ngạc sâu sắc. Bàn tay đang khoanh trước ngực của bà buông thõng xuống, bà vô thức bước dồn một bước lại gần mép bàn hơn, chăm chú nhìn người góa phụ trẻ tuổi với ánh mắt đã bớt đi vài phần trịch thượng, thêm vào vài phần kinh ngạc.

Thanh Hà không dừng lại ở đó. Nàng khẽ xoay người, chuyển hướng ngón tay sang bát thứ ba bên tay phải. Giọng nói nàng đanh lại, từng thanh âm gằn xuống, mang theo sự sắc sảo của một người từng nếm trải bao nhọc nhằn dãi dầu mưa nắng, từng nâng niu từng cọng rau cọng cỏ nên hiểu thấu giá trị sống còn của việc thu hái và bảo quản:

"Còn bát trà thứ ba này... thoạt nhìn sắc nước xanh biếc rất dễ đánh lừa người mới vào nghề. Ai nhìn qua cũng ngỡ là búp non hái sớm đầu ngày, sao sấy khéo léo giữ nguyên màu tươi tắn. Nhưng đây hoàn toàn không phải lỗi của khâu hái hay sao trà tại vườn! Lá trà này đã bị nhiễm ẩm mốc nghiêm trọng trong quá trình lưu kho trung chuyển! Khí ẩm sông nước hoặc hơi đất ẩm thấp nơi nhà kho kín gió đã ngấm dần vào từng thớ trà sau khi đóng gói. Để che giấu mùi ẩm mốc chua nồng ấy, người ta đã đem trà đi sấy lại bằng lửa già một lần nữa, khiến cánh trà nhìn thì khô nhưng bên trong đã lên men thối rữa ngầm. Uống vào vị chua lét, đáy lưỡi tê dại, hoàn toàn mất đi sinh khí của trà. Thứ trà này nếu đem bán cho khách, nhẹ thì đau bụng cồn cào, nặng thì sinh bệnh tật! Đây là thứ trà thất đức của phường buôn gian bán lận!"

Gian phòng chái rơi vào một khoảng lặng sững sờ. Gió từ rặng trúc sau nhà thổi qua khe liếp, làm lay động tàn khói của chiếc bếp lò con bên góc phòng. Mùi thơm thanh sạch của bát trà thứ nhất dường như tương phản gay gắt với vẻ u ám của hai bát trà còn lại trên bàn.

Hàn Thụy vẫn đứng tựa lưng nơi khung cửa gỗ mộc. Nắng trưa rọi xiên qua vai anh, hắt bóng dài trên nền đất. Khóe môi anh khẽ cong lên một nụ cười kín đáo, ánh mắt nhìn Thanh Hà ngập tràn niềm kiêu hãnh khôn nguôi. Anh biết nàng có bản lĩnh, nhưng không ngờ khứu giác và vị giác của nàng lại sắc sảo, bén ngót đến độ này. Từng lời nàng nói ra không chỉ là nếm trà, mà là đọc thấu cả quá trình sinh thành, hư hoại của từng lá trà một cách tường tận, chuẩn xác đến kinh ngạc.

Còn Trần Mộc Lan, vẻ mặt nghiêm nghị, sắc lạnh như đá tảng thường ngày bỗng chốc vỡ tan từng mảng. Đôi đồng tử co rút lại, lồng ngực phập phồng sau lớp áo chẽn màu chàm sẫm. Bà nhìn chằm chằm vào ba bát trà, rồi nhìn sang Thanh Hà, bỗng nhiên ngửa mặt lên trần nhà bật ra một tràng cười sảng khoái. Tiếng cười vang dội, giòn giã, rung cả những thanh nan tre trên mái hiên.

"Hay! Quá hay!"

Mộc Lan vỗ mạnh một cái xuống mặt bàn gỗ nghiến, làm ba chiếc bát men khẽ nảy lên. Ánh mắt bà nhìn Thanh Hà đã hoàn toàn rũ sạch mọi sự nghi ngại ban đầu, thay vào đó là sự thán phục tột cùng và niềm trân trọng nồng nhiệt giữa những người thực sự thấu hiểu cái nghiệp trà:

"Liễu cô nương, mắt cô tinh như chim ưng, lưỡi cô nhạy như cân tiểu ly! Không sai một ly một hào nào cả! Ngay cả mấy lão già chấm trà lão luyện dưới phố huyện chưa chắc đã dám chỉ thẳng ra cái trò ma quỷ sấy lại trà mốc của lũ lái buôn như cô đâu!"

Mộc Lan thở dài một hơi thật dài, nụ cười trên môi chùng xuống, chỉ tay vào bát trà thứ ba. Trong giọng nói sang sảng của nữ chủ vườn bỗng pha lẫn sự tức giận tột cùng và nỗi cay đắng dồn nén bấy lâu:

"Cô nương nói trúng tim đen của ta rồi đó. Bát thứ hai đúng là mẻ trà do đứa học việc nhà ta mới vào nghề chụm than ướt làm hỏng ban sáng, ta giữ lại để răn dạy bọn trẻ con trong xưởng. Nhưng bát thứ ba này... chính là vết nhơ, là mối hận mà ta vừa phải nếm trải tháng trước! Trà lâu Nghênh Xuân bên kia sông các người, cấu kết với bọn chủ kho trung chuyển ở bến hạ lưu, cố tình dìm hàng ép giá một lô trà lớn ba mươi sọt của vườn ta. Bọn chúng nhận hàng xong không chịu chuyển đi, cố tình để trà nằm dãi dề trong kho ẩm thấp ven sông suốt nửa tháng trời, đợi cho trà ngậm hơi nước bốc mùi chua, rồi mới quay lại đổ vạ cho xưởng nhà họ Trần ta sao trà non tay, không biết giữ phẩm cấp! Bọn chúng ép ta phải bán tháo toàn bộ ba mươi sọt ấy với giá rẻ như cho không, chỉ bằng ba phần mười giá gốc!"

Trần Mộc Lan nghiến răng, hai mắt hằn lên những tia máu đỏ:

"Bọn chó má ấy nghĩ đàn bà góa buôn bán một mình như ta dễ bị bắt nạt! Chúng tưởng ta sợ phá sản mà phải quỳ gối van xin! Ta uất ức thà đem cả ba mươi sọt trà ấy đổ thẳng xuống sông làm phân bón ruộng, thà chịu lỗ cụt cả vốn liếng, chứ dứt khoát không chịu nhục ký giấy nhận lỗi với bọn gian thương Nghênh Xuân ấy! Bát trà này là chút bã cặn ta vớt lại từ đống trà hỏng để ngày ngày tự nhắc nhở cái hận này!"

Thanh Hà lắng nghe từng lời của Mộc Lan, trong lòng dâng lên một nỗi chấn động khôn xiết.

Trà lâu Nghênh Xuân — cái tên quán trà bề thế hai tầng lộng lẫy ngự trị nơi ngã ba sông sầm uất nhất bến đò Vọng Giang. Nàng nhớ những buổi chiều nhìn sang bên kia sông, thấy lồng đèn đỏ của Nghênh Xuân treo cao rực rỡ, khách buôn áo gấm ra vào nườm nượp, tiếng đàn sáo ca kỹ vọng sang tận bờ tây. Hóa ra, đằng sau vẻ hoa lệ, hào nhoáng ấy lại là những thủ đoạn thâm độc, bẩn thỉu đến cùng cực nhằm bóp nghẹt các chủ vườn độc lập, bức tử những người làm ăn chân chính.

Nhìn dáng vẻ quật cường, đôi mắt rực lửa không chịu khuất phục của Trần Mộc Lan, Thanh Hà tìm thấy ở người đàn bà này một sự đồng điệu sâu sắc đến nhói lòng. Nàng cũng là nữ nhân đơn độc chống chọi giữa dòng đời. Nàng từng bị nhà họ Phạm bức ép đến đường cùng, từng bị tên vô lại Lại Tam dùng đủ ngón đòn bẩn thỉu đe dọa bên mép sông, nàng hiểu sâu sắc hơn ai hết cái giá của việc giữ vững chữ tín, giữ tròn cốt cách và nhân phẩm giữa chốn thương trường đầy cạm bẫy tanh tưởi này. Người thà chịu nghèo, thà chịu mất tiền chứ không chịu mất đi khí tiết buôn bán như Mộc Lan, chính là người mà Thanh Hà có thể đem cả tính mạng và sản nghiệp nhỏ bé của mình ra để tin tưởng.

Mộc Lan nhìn Thanh Hà, ánh mắt sắc sảo lúc này chỉ còn lại sự chân thành, ấm áp và một niềm cảm thông ruột thịt:

"Liễu cô nương, người hiểu được nỗi oan của búp trà ẩm mốc như cô, người nếm được giọt mồ hôi của người thức đêm sao trà như cô, tuyệt đối không bao giờ là kẻ buôn bán tầm thường. Trần Mộc Lan ta hôm nay chịu phục cô nương rồi! Ta phục cái tâm và cái tài của cô! Nào, cô nương muốn mua bao nhiêu trà? Dù quán của cô chỉ mua một cân, nửa cân, ta cũng sẵn lòng mở kho, đích thân chọn cho cô mẻ trà ngon nhất vụ này!"

Thanh Hà khẽ thở phào một hơi nhẹ nhõm, tảng đá đè nặng trong lòng suốt từ sáng đến giờ cuối cùng cũng rơi xuống. Một niềm vui sướng râm ran, ấm áp lan tỏa khắp lồng ngực nàng. Nàng lùi lại nửa bước, chắp hai tay trước ngực, cung kính cúi đầu hành lễ theo đúng phép tắc:

"Tạ ơn Trần gia chủ đã lượng thứ và tin tưởng. Quán của ta hiện tại quy mô còn rất nhỏ, chỉ là một gian lều tranh đơn sơ dựng bên mép nước bến Vọng Giang, vốn mỏng sức mọn, chưa thể ôm đồm nhiều. Lần này lên phố trà Tây Lĩnh, ta chỉ dám xin mua thử một lô trà búp nhỏ, chừng hai mươi cân trà búp hè nõn hảo hạng loại một để dùng dần trong một tháng. Nhưng ta xin phép được mua sòng phẳng theo đúng giá sàn xuất vườn của Trần gia, tiền trao cháo múc, không qua bất kỳ thương đoàn hay trung gian nào, và cũng không dám đòi hỏi điều khoản bao tiêu độc quyền."

Nghe Thanh Hà nói dứt khoát, rành mạch mà khiêm nhường, Mộc Lan bật cười thích thú, gật đầu dứt khoát:

"Được! Rất sòng phẳng! Ta thích cái tính ngay thẳng ấy của cô nương! Nói thật cho cô biết, giá bán buôn cho các thương lái lớn lấy hàng trăm sọt thường là một trăm tám mươi văn một cân. Qua tay bọn trung gian, bè mảng kéo về đến bến sông các người thì bị đội lên thành hai trăm bốn mươi, thậm chí ba trăm văn một cân trà búp nõn. Hôm nay, ta không coi cô nương là khách buôn vãng lai, ta bán thẳng cho cô nương với giá gốc tận vườn: đúng một trăm năm mươi văn một cân! Hai mươi cân là tròn ba quan tiền, tức ba lượng bạc lẻ hoặc ba nghìn văn tiền kẽm. Không ràng buộc, không giấy tờ độc quyền của thương đoàn, cô nương ưng ý thì lần sau cứ sai người đưa thuyền lên lấy, ta luôn dành phần trà ngon nhất cho cô!"

Thanh Hà không một chút chần chừ. Nàng lập tức bước lại chiếc bàn tre bên cạnh, cởi dải buộc của chiếc túi vải thô đeo bên hông ra. Động tác của nàng thuần thục, cẩn trọng. Nàng lấy ra số bạc vụn đã được cân đo kỹ lưỡng từ trước, bọc trong một mảnh giấy dầu sạch sẽ, cùng với những xâu tiền đồng gom góp chắt chiu từ từng bát nước chè tươi, từng chiếc bánh khoai chiên suốt những ngày mưa gió vừa qua.

Đôi bàn tay gầy gò với những vết chai mỏng nơi ngón trỏ thoăn thoắt đếm từng xâu tiền. Nàng đối chiếu từng phân bạc vụn trên chiếc cân tiểu ly bằng đồng mang theo, kiểm tra từng mép bạc một cách tỉ mỉ, công khai dưới sự chứng kiến tỏ tường của cả Mộc Lan và Hàn Thụy. Từng tiếng *lách cách* của tiền đồng chạm vào nhau nghe thật vui tai, giòn giã.

Khi đống tiền đồng và bạc lẻ ngay ngắn được xếp thành từng cọc chỉnh tề trên bàn gỗ, Thanh Hà lấy nghiên mực đá nhỏ và chiếc bút lông thỏ mang theo trong tay nải, khẽ hướng về phía Mộc Lan xin một tờ giấy bổi thô ráp. Trải phẳng tờ giấy lên mặt bàn nghiến, Thanh Hà mài mực, đặt bút viết thoăn thoắt.

Từng hàng chữ Nôm chân phương, thanh thoát hiện lên trên mặt giấy nâu nhạt. Nàng tự tay thảo một bản giao kèo mua bán giản dị nhưng vô cùng chặt chẽ, ghi rõ số lượng hai mươi cân, phẩm cấp trà búp hè nõn loại một, ngày giờ giao dịch, số tiền thanh toán đủ ba quan tiền mặt, cùng điều khoản cam kết về việc trà không bị pha tạp, không ủ hương liệu hóa chất và được bảo quản đúng quy cách xuất vườn.

Mộc Lan đứng nhìn từng nét chữ đều đặn, sắc sảo của Thanh Hà, rồi nhìn đống tiền lẻ lem luốc nhưng sạch sẽ, thơm mùi mồ hôi và công sức lao động chân chính, trong mắt càng thêm phần vị nể. Một người phụ nữ ở bến sông, phong trần sương gió mà chữ nghĩa rành rọt, tính toán minh bạch, làm việc lớp lang quy củ như một vị chưởng quỹ đại tài.

Không một lời do dự, Mộc Lan mở chiếc hộp gỗ sơn son trên kệ, lấy ra một miếng sáp chu sa đỏ thắm, nhúng đầu ngón tay cái vào rồi ấn một dấu điểm chỉ đỏ chót, tròn trịa ngay bên cạnh chữ ký ngay ngắn của Thanh Hà.

"Bản khế ước này rất rõ ràng. Cứ thế mà làm!"

Trong suốt quá trình ấy, Hàn Thụy đứng tựa nơi cửa, im lặng quan sát. Anh không hề can thiệp vào việc định giá hay mặc cả của hai người đàn bà, nhưng thỉnh thoảng, anh cất giọng trầm ấm, nhắc nhở vài điểm nhỏ về điều khoản niêm phong chống ẩm khi vận chuyển đường thủy — những kiến thức thương luật vô cùng sâu rộng, chuẩn xác đến từng chi tiết nhỏ nhất mà chỉ những bậc đại thương gia từng trải qua hàng trăm chuyến tàu lớn vượt sông, vượt biển mới có thể nắm rõ. Anh lưu ý việc dùng sáp ong miết kín các mối đan của sọt tre, cách chèn lớp lá dong khô để hút hơi ẩm đáy thuyền, và cả việc quy định trách nhiệm nếu chẳng may gặp mưa dầm trên mặt sông.

Mộc Lan nghe Hàn Thụy nói thì chỉ cười thầm, liếc nhìn anh với ánh mắt đầy hàm ý sâu xa, nhưng tuyệt nhiên bà không hề cất tiếng vạch trần hay gọi tên thân phận của anh. Bà hiểu người đàn ông này đang dùng cách kín đáo nhất để bảo bọc cho người con gái trước mặt, tôn trọng sự độc lập tuyệt đối của nàng mà vẫn không để nàng chịu bất kỳ sơ hở nào.

Giao dịch hoàn tất một cách êm đẹp. Hai mươi cân trà búp hè nõn hảo hạng lập tức được những người thợ lành nghề nhất của xưởng họ Trần cẩn thận đóng vào hai chiếc sọt tre nhỏ đan bằng cật nứa già chắc nịch. Đáy sọt và bốn xung quanh được lót kỹ ba lớp lá dong khô dày dặn đã qua xử lý nhiệt để chống ẩm, bên ngoài lại bọc kín thêm một lớp vải gai dày tráng sáp ong chống thấm nước tuyệt đối. Từng đường dây mây buộc quanh miệng sọt đều được thắt nút kép chắc chắn, đảm bảo dẫu có mưa phùn hay sóng nước hắt vào cũng không thể làm tổn hại một sợi trà bên trong.

Đích thân Mộc Lan tiễn hai người ra tận rặng trúc đầu ngõ xóm. Trước khi chia tay, bà kéo Thanh Hà lại gần, nhanh tay nhét vào tay nải của nàng một bọc giấy dầu nhỏ buộc lạt giang cẩn thận:

"Liễu muội muội, đây là nửa cân trà cổ thụ phơi sương ta hái từ trên đỉnh dốc đá non cao sau nhà, mỗi năm chỉ gom được vài cân để nhà dùng thết khách quý. Muội giữ lấy gói này mà uống thử, đừng đem bán. Nhìn muội làm việc, ta rất ưng bụng. Ta đợi ngày quán trà nhỏ bên bến đò của muội trở thành trà lâu nức tiếng đôi bờ Vọng Giang!"

Thanh Hà xúc động, hai tay đón lấy gói trà ấm áp tình nghĩa, khẽ cúi đầu tạ ơn người nữ chủ hào sảng rồi mới cất bước.

***

Rời khỏi vườn trà họ Trần khi bóng nắng đã đứng bóng trưa, Thanh Hà cùng Hàn Thụy men theo con đường lát đá dăm quay trở lại khu phố trung tâm Tây Lĩnh. Hai sọt trà thơm nức, phẳng phiu được một người phu khuân vác khỏe mạnh gánh đi nhịp nhàng phía sau lưng họ.

Nắng trưa vàng rực rót xuống những rặng ngô xanh mướt bên đường và những mái ngói rêu phong của các trang trại trù phú. Lòng Thanh Hà lúc này nhẹ nhõm và hân hoan khôn xiết. Giao dịch độc lập đầu tiên trong đời nàng đã thành công trọn vẹn ngoài mong đợi. Nàng đã tự mình tìm ra nguồn hàng vững chắc, chất lượng tuyệt hảo với mức giá công bằng, mở ra một con đường làm ăn lâu dài mà không cần phải cúi đầu van lơn hay chịu sự áp đặt, ban ơn của bất kỳ ai. Từng bước chân nàng bước trên con đường đá dăm dường như thanh thoát, nhẹ nhàng hơn bao giờ hết.

Tuy nhiên, khi bước chân của hai người vừa chạm vào con phố buôn sầm uất ngập tràn những dải cờ hiệu lụa xanh thêu hình chim ưng vàng của Thương đoàn Tây Lĩnh, Thanh Hà bỗng nhận thấy bầu không khí xung quanh có sự biến chuyển kỳ lạ đến ngột ngạt.

Đây là trục đường huyết mạch tập trung những thương điếm, tiền trang và kho hàng lớn nhất của toàn vùng. Dọc hai bên đường, những toán phu xe cơ bắp cuồn cuộn đang hò hét bốc dỡ những kiện hàng nặng trịch từ trên xe thồ xuống đất, tiếng bánh xe sắt nghiến trên mặt đường ầm ĩ, tiếng người gọi nhau í ới tạo nên một cảnh tượng hỗn loạn, xô bồ.

Thế nhưng, ngay khoảnh khắc bóng dáng cao ráo, đĩnh đạc của Hàn Thụy bước qua cổng chào bằng đá xanh, mọi tiếng ồn ào dường như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt.

Một người cai phu xe vừa quay đầu lại, nhìn thấy Hàn Thụy, sắc mặt gã lập tức biến đổi. Gã vội vã buông thõng chiếc đòn gánh trên vai xuống, giơ tay ra hiệu cho cả toán phu xe im bặt. Đám người lực lưỡng ấy vội vàng dạt nhanh sang hai bên mép đường, đứng thẳng người rồi đồng loạt cúi rạp lưng xuống, hai tay chắp trước bụng, cung kính cất tiếng đồng thanh:

"Hàn nhị gia! Nhị gia mới đi thị sát về ạ!"

Không chỉ có phu xe hay những người làm công lam lũ, mà sự kính sợ ấy còn lan sang cả tầng lớp trên của con phố buôn này.

Cửa chính của một thương điếm gấm vóc bề thế mở rộng, một vị chưởng quỹ trung niên mặc áo lụa là màu cánh gián sang trọng, cổ tay đeo vòng ngọc cẩm thạch sáng loáng, tay đang cầm bàn tính gỗ mun bước ra. Khi vừa bắt gặp ánh mắt thâm trầm của Hàn Thụy đang lướt qua, nụ cười đon đả trên mặt vị chưởng quỹ lập tức đông cứng lại, thay vào đó là vẻ kính cẩn khác thường. Ông ta vội vã giắt chiếc bàn tính vào dải lưng, chỉnh đốn lại khăn xếp ngay ngắn trên đầu, bước nhanh xuống ba bậc thềm đá, vòng hai tay cúi đầu thật sâu chào hỏi:

"Hàn nhị gia vạn an! Chuyến hàng tơ lụa đợt này của thương đoàn từ thượng lưu chuyển về đã được kiểm kê đủ số lượng nhập kho, tất cả giấy tờ đang để sẵn trên án thư, chỉ đợi ngài rảnh rỗi ghé qua phê duyệt khế ước cuối cùng..."

Đi thêm vài chục bước nữa, trước cửa một tiền trang lớn, hai vị chấp sự đầu đội mũ lông, tay cầm sổ sách dày cộp, vừa thoáng thấy anh cũng lập tức dừng chân bên vệ đường, nghiêng mình nép sang một bên để nhường lối đi, miệng lẩm bẩm những lời chào kính cẩn. Ánh mắt họ nhìn anh tràn đầy sự nể sợ, dè chừng, như thể chỉ một cái cau mày của người đàn ông này cũng đủ khiến một chuyến buôn hay một thương vụ bạc vạn bị đình chỉ ngay tức khắc.

Hàn Thụy vẫn giữ vẻ mặt điềm đạm, trầm tĩnh như mặt hồ không gợn sóng. Trước những cái cúi đầu rạp mình và những lời chào hỏi đầy kính cẩn của giới quyền thế, anh chỉ khẽ gật đầu đáp lễ một cách chừng mực, bước chân không hề chậm lại dù chỉ nửa nhịp. Thái độ của anh vừa uy nghiêm, vừa có một khoảng cách xa xăm vời vợi của kẻ đứng trên đỉnh quyền lực, hoàn toàn khác hẳn vẻ bình dị, kiên nhẫn khi anh ngồi bên chiếc ghế tre mộc, ung dung nhấp bát nước chè hai văn nơi quán cóc ven sông của nàng.

Thanh Hà đi bên cạnh, hơi tụt lại phía sau nửa bước. Ánh mắt nàng lặng lẽ quan sát từng cử chỉ, từng biểu cảm, từng cái cúi đầu đầy kính sợ của những người giàu có, quyền lực nhất vùng Tây Lĩnh dành cho người đàn ông đang đồng hành cùng mình.

Trong lòng nàng, một đợt sóng ngầm chấn động dữ dội dâng lên, cuộn trào không dứt.

*Hàn nhị gia...*

Cái tên ấy vang lên bên tai nàng, rõ ràng và đanh thép, như một chiếc chìa khóa mở toang tất cả những nghi vấn bấy lâu nay.

Nó giải đáp cho phong thái ung dung, đĩnh đạc không chút vội vã của anh; giải đáp cho ánh mắt sắc lạnh có thể nhìn thấu tâm can người khác chỉ qua một cái liếc nhìn; giải đáp cho sự am hiểu tường tận đến mức kinh ngạc về thương luật, về các tuyến đường thủy, về cách thức niêm phong hàng hóa mà ngay cả một chủ vườn lâu năm như Mộc Lan cũng phải im lặng lắng nghe.

Anh chưa bao giờ chỉ là một "người thu mua bình thường" của Thương đoàn Tây Lĩnh như lời anh từng khiêm tốn nhận xưng bên bờ sông Vọng Giang!

Quyền lực ngầm và địa vị thực sự của anh trong tổ chức thương nghiệp khổng lồ thâu tóm kinh tế cả một vùng sông nước này lớn hơn gấp trăm, gấp ngàn lần so với những gì trí tưởng tượng của một góa phụ nghèo như nàng có thể mường tượng được. Anh là nhân vật cốt cán, là người nắm giữ cán cân quyền lực, là kẻ có thể định đoạt sự hưng suy, sống còn của cả những thương nhân quyền thế nhất nơi đây.

Hàn Thụy dường như cảm nhận được sự im lặng khác thường và bước chân có phần chùng lại của người đi bên cạnh. Anh dừng bước, quay người lại, bắt gặp ánh mắt thảng thốt pha lẫn vẻ trầm tư xa vắng của Thanh Hà. Nhìn thấy nét bối rối và sự cảnh giác vừa mới nhen nhóm trong đáy mắt nàng, ánh mắt thâm trầm của anh khẽ dao động một thoáng. Đôi môi anh mấp máy, như muốn mở lời phân trần, giải thích điều gì đó để xóa đi khoảng cách vô hình vừa dựng lên giữa hai người:

"Liễu cô nương... ta..."

"Hàn gia,"

Thanh Hà khẽ mỉm cười. Nụ cười của nàng rất dịu dàng, nhưng lại giữ đúng ranh giới của sự lễ độ và khoảng cách mực thước, nhẹ nhàng cắt ngang lời giải thích chưa kịp thành câu của anh:

"Trời đã quá trưa rồi, thuyền buôn xuôi dòng về bến Vọng Giang chắc cũng sắp nhổ neo. Ta phải nhanh chân kẻo trễ chuyến đò chiều, trời tối sóng to qua sông sẽ rất vất vả."

Nói đoạn, nàng hơi cúi đầu chào anh theo đúng phép tắc thông thường giữa chủ quán và khách hàng, rồi rảo bước nhanh hơn nửa nhịp, tự mình đi trước dẫn đường xuống bến thuyền, không để anh kịp nói thêm lời nào.

Sự thật về thân phận cao quý và quyền lực ngút trời của anh không làm nàng tự ti, cũng không khiến nàng sợ hãi. Nàng là người từng trải qua cảnh nhà tan cửa nát, từng đứng bên bờ vực của cái chết và sự ô nhục, tâm tính nàng đã được tôi luyện qua ngọn lửa thử thách gian truân nhất. Nhưng thân phận ấy như một hồi chuông cảnh tỉnh gõ vang dội trong tâm trí nàng.

Giữa một góa phụ nghèo khó, mang trên mình vết nhơ của người đàn bà bị đuổi khỏi nhà chồng, đang phải chắt chiu từng đồng tiền kẽm lem luốc bên mái lều hoang... và một vị Hàn nhị gia quyền uy tột bậc, thét ra lửa mửa ra khói của Thương đoàn Tây Lĩnh, là một khoảng cách mênh mông, thăm thẳm như trời với vực sâu.

Nàng không muốn và tuyệt đối không bao giờ cho phép mình trượt chân vào sự ảo tưởng. Nàng càng phải giữ vững sự độc lập sắt đá của mình, càng phải minh bạch từng phân bạc, sòng phẳng từng chữ ký khế ước. Nàng trân trọng sự giúp đỡ và tấm lòng của anh, nhưng nàng muốn mối quan hệ tri kỷ này phải được xây dựng trên sự tôn trọng bình đẳng, chứ không bao giờ bị vấy bẩn hay méo mó bởi sự ban ơn của kẻ bề trên dành cho kẻ dưới, hay sự lệ thuộc hèn mọn của một kẻ bám víu tìm kiếm chỗ dựa dẫm.

Chuyến thuyền buôn xuôi dòng đưa họ trở về bến đò Vọng Giang khi ráng chiều đỏ ối đã bắt đầu nhuộm thẫm cả một khoảng trời mênh mông. Ánh hoàng hôn rực rỡ dát vàng lên những con sóng gợn lăn tăn, hắt lên mạn thuyền những vệt sáng lấp lánh như vảy cá.

Suốt dọc đường sông nước, gió thổi lồng lộng qua khoang thuyền, hai người ngồi cách nhau một khoảng chiếu mộc, duy trì sự im lặng ý nhị. Hàn Thụy không gặng hỏi thêm, chỉ thỉnh thoảng rót cho nàng một chén nước mát, còn Thanh Hà lặng lẽ ngắm nhìn dòng nước cuộn chảy, lòng dạ miên man trôi theo những suy tính cho tương lai của gian quán nhỏ.

Thuyền cập bến hạ lưu khi sương chiều bắt đầu bảng lảng buông xuống mặt sông.

Tạm biệt Hàn Thụy tại chân cầu đá với những lời cảm tạ chân thành, mực thước và đúng mực của một người nhận ơn dẫn đường, Thanh Hà tự mình đón lấy hai sọt trà từ tay người phu bến. Nàng dứt khoát rút tiền túi trả đủ tiền công khuân vác cho người phu, kiên quyết từ chối nhã ý muốn sai gia nhân gánh trà về tận quán của anh.

Hai sọt trà đè nặng lên đôi vai gầy gò, nhưng bước chân Thanh Hà lại thoăn thoắt, nhẹ bẫng lạ kỳ. Nàng sải bước trên con đường mòn quen thuộc gập ghềnh sỏi đá, hướng thẳng về túp lều tranh mé đông bến đò.

Mùi phù sa sông nước nồng nàn ngai ngái hòa cùng khói bếp chiều quen thuộc từ những mái nhà tranh ven bờ bay là đà trong không khí, làm dịu đi tất cả những trăn trở, nặng nề nơi phố thị xa hoa và thương trường đầy mưu mô hiểm ác. Về đến đây, nàng mới thực sự là chính mình.

Nàng nóng lòng muốn khoe với Tiểu Mãn mẻ trà búp thơm ngát này, muốn cùng cô bé mở lớp lá dong tráng sáp ra để hít hà hương cốm non ngọt ngào, rồi nhóm một ngọn lửa hồng, đun sôi ấm nước ngọt gò Thanh Khê để thưởng thức thành quả đầu tiên của chuỗi ngày tự lập đầy gian lao.

Thế nhưng, khi vừa bước chân qua khỏi giàn hoa leo đầu hiên quán, nụ cười rạng rỡ vừa hé nở trên môi Thanh Hà bỗng chốc đông cứng lại.

Trong gian lều tranh nhập nhoạng ánh hoàng hôn đang tàn lụi dần, không có tiếng cười giòn giã hay tiếng reo vui đón chào ríu rít như mọi bận. Không có làn khói ấm áp bốc lên từ chiếc bếp lò đất quen thuộc. Toàn bộ gian quán vắng lặng như tờ, chỉ có tiếng gió lùa qua vách nứa nghe rin rít, lạnh lẽo.

Vừa về tới quán, Thanh Hà sững sờ thấy Tiểu Mãn đang ngồi thụp bên chân bếp lò, vội vã giấu một bọc vải nhỏ xuống khe gạch vỡ.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn