Quán Trà Bên Bến ĐòC.7 / 34
Chương 7

Chén trà chịu nợ

Tiếng đòn gánh gãy giòn tan trên bậc đá bến đò kéo theo tiếng thở dài tuyệt vọng của người phu hàng vừa bị chủ buôn quỵt sạch tiền công nhật.

Khúc sông Vọng Giang lúc chập choạng tối cuộn lên từng đợt gió ẩm xốc thẳng vào lều quán, mang theo mùi ngai ngái của bùn non, váng dầu hắc ín bám mạn thuyền và rong rêu mục rỉa dạt vào bờ bãi. Dưới chân bến, con nước ròng bắt đầu dâng ngược, từng con sóng nhỏ đục ngầu phù sa vỗ lách bách vào những thân cọc gỗ bọc hà, nghe buồn bã và rời rạc như tiếng gõ mõ cầm canh giữa đêm vắng nơi xóm nghèo ven đê. Màn sương chiều từ mặt nước bốc lên, bảng lảng quấn lấy mấy rặng sậy khẳng khiu đang run rẩy trước gió bấc muộn, làm cho khung cảnh bến sông càng thêm phần xơ xác, quạnh quẽ.

Người phu hàng nọ trạc ngoài bốn mươi, nhưng tấm lưng đã còng rạp xuống như một thân dâu cằn cỗi sau nhiều mùa bão lũ. Mái tóc hoa râm xơ xác bết chặt vào vầng trán hằn sâu những nếp nhăn nham nhở vì mồ hôi đọng than đen cáu ghét. Thân hình ông gầy trơ xương, hai bờ vai nhô cao thành hai mấu thịt chai sần bóng nhẫy—dấu tích của hơn hai mươi năm ròng rã đặt đòn gánh đè nặng lên da thịt để mưu sinh. Lúc này, ông vẫn quỳ sụp dưới nền đất nện ẩm ướt của quán trà, hai bàn tay thô kệch, nứt nẻ chằng chịt những rãnh sâu như mặt ruộng hạn hán đang run lẩy bẩy, chìa nửa đoạn tre gãy tưa xơ xác về phía quầy hàng, nơi Thanh Hà đang đứng chôn chân. Đôi mắt trũng sâu đỏ hoe vì bụi than và uất ức dường như không còn giữ nổi dòng lệ đục ngầu đang chực trào ra trên khóe mi nhăn nheo.

"Cô chủ ơi... trưa nay tôi với hai chú em bên hội bốc vác mạn bến than có ghé qua quán, uống ba bát nước chè xanh, lại đánh bạo ăn thêm hai chiếc bánh hoa hòe lót dạ để có sức vác chuyến chum tương nặng sang đò tây..." Giọng ông khản đặc, nghẹn ứ nơi cuống họng, ngắt quãng sau mỗi nhịp thở dốc nặng nhọc. "Ai ngờ đâu... lúc thuyền vừa cập bờ bên kia, trời thì nhá nhem mà bậc đá lại đóng rêu trơn trượt. Tôi bước hụt chân, vấp đúng vào cái mấu đá mồ côi nhô lên mép nước. Đòn gánh tre già dùng mấy mùa bỗng gãy 'rắc' một tiếng giòn tan. Hai chum tương nếp vỡ toang hoác dưới lòng thuyền, tương chảy lênh láng đỏ ngầu cả một khoang ván... Lão chủ thuyền họ Tiền nổi trận lôi đình, không những quỵt sạch bảy mươi văn tiền công nhật mồ hôi nước mắt của ba anh em tôi, mà lão còn sai đám gia nhân cầm gậy gộc tống cổ ra khỏi bãi. Lão chỉ mặt tôi dọa rằng, nếu trước giờ Dần ngày mai không gom đủ hai trăm văn tiền đền hai cái chum men da lươn bị vỡ, lão sẽ báo với phường bảo xích cổ tôi giải lên huyện đường..."

Người phu hàng nấc lên một tiếng nghẹn ngào, trán chạm sát xuống nền đất lạnh:

"Trong túi áo tơi của tôi lúc này... thực tình không còn lấy nửa đồng tiền kẽm dính mép. Ba bát nước chè với hai cái bánh ngọt trưa nay... tất thảy sáu văn tiền, xin cô chủ rủ lòng thương xót cho tôi khất lại vài ba hôm... Hay là cô... cô giữ lấy nửa đoạn đòn tre này làm tin. Tre này là tre đực bánh tẻ, dẫu gãy đôi nhưng phần gốc còn chắc lắm, cô có thể dùng làm then cài cửa lều..."

Tiểu Mãn đang ngồi xổm bên bếp lò đất nung ở góc quán vội buông thanh sắt cời than xuống đống tro tàn. Con bé tròn xoe đôi mắt đen láy, lấm lét nhìn người đàn ông đang phủ phục dưới đất rồi rụt rè nép sát sau vạt áo vải thô màu chàm của Thanh Hà. Đôi bàn tay nhỏ nhắn của con bé túm chặt lấy mép áo nàng, run rẩy nhẹ. Tiểu Mãn vốn là đứa trẻ nếm đủ mùi cay đắng, đói khát chốn đầu đường xó chợ trước khi được Thanh Hà cưu mang; hễ cứ thấy cảnh người lớn quỳ khóc van xin hay tiếng đòn roi quát tháo là trong lòng con bé lại dội về những ký ức kinh hoàng về những trận đòn đuổi xua của cánh hàng quán tham lam ngoài chợ phiên Đông Tân.

Thanh Hà đứng lặng sau quầy tre ghép tạm. Làn khói mỏng từ chiếc ấm đồng bọc đất nung đang sôi reo êm ả trên bếp than củi lãng đãng tỏa ra, phảng phất hương hoa hòe ngào ngạt hòa cùng vị cốm thanh nhẹ của những búp chè xanh tươi vừa hái từ gò đồi mé trên sông. Mùi hương mộc mạc ấy đối nghịch hoàn toàn với cái vị mặn chát của mồ hôi và nỗi cùng quẫn đang bao trùm lấy bóng dáng người phu hàng. Ánh mắt nàng dừng lại nơi bàn tay phải của ông ta—một vệt rách dài còn rỉ máu tươi do dằm tre sắc lẹm đâm toạc lòng bàn tay khi chiếc đòn gánh gãy bất ngờ. Máu hòa lẫn với bùn đất và bụi than đóng thành từng mảng đen thẫm quanh kẽ móng tay.

Một hơi thở dài rất khẽ thoát ra từ lồng ngực Thanh Hà. Nàng không vội vã cất lời, chỉ nhẹ nhàng vòng qua mép bàn tre thấp ghép bằng những gióng tre ngà đã mòn nhẵn. Nàng bước chậm rãi tới bên cạnh A Sinh, khom lưng cúi người, đưa hai bàn tay mảnh dẻ nhưng ấm áp đỡ lấy hai khuỷu tay áo rách tơi tả của người phu hàng:

"Bác mau đứng dậy đi đã. Đất bến lúc chiều hôm ngậm hơi nước sông lạnh lắm, người bác đang đẫm mồ hôi thế kia mà quỳ sụp xuống nền ẩm thì hơi hàn xông thẳng vào kinh mạch, trúng gió độc thì khổ cả một đời."

"Cô chủ... cô... cô không bắt trói tôi giải lên phường bảo để đòi tiền chứ?" A Sinh ngước lên, đôi mắt mờ đục run rẩy đầy vẻ ngơ ngác và sợ hãi tột cùng. "Tôi biết phận tôi nghèo hèn mạt rệp, sống nhờ manh chiếu rách dưới gầm cầu tàu, nhưng thề có quỷ thần sông Vọng Giang chứng giám, tôi không có bụng dạ nào muốn quỵt mấy đồng tiền trà bánh của cô..."

"Cháu biết bác mà. Bác là bác A Sinh ở đội khuân than bên bến đò tây, ngày nào chẳng gánh hai ba chục chuyến than từ thuyền gỗ lên bãi bồi, qua lại bến này mấy bận, quỵt làm sao được mà bác phải sợ đến mức ấy." Thanh Hà nở một nụ cười dịu dàng, bàn tay nàng dùng lực vừa đủ, dứt khoát kéo người đàn ông luống tuổi đứng dậy, dìu ông ngồi xuống chiếc ghế tre dài kê sát vách nứa. "Bác ngồi xuống đây cho ráo mồ hôi. Tiểu Mãn, mau múc một gáo nước giếng Thanh Khê trong chiếc chum sành góc chái ra đây cho bác A Sinh rửa sạch bùn than trên tay, rồi rót một bát nước chè thật nóng mang lại đây."

Tiểu Mãn nghe lời dặn dịu dàng của nàng thì nỗi sợ hãi trong lòng cũng dần tan biến. Con bé dạ ran một tiếng thật giòn, đôi chân thoăn thoắt chạy ra góc lều, múc một gáo nước giếng đá trong vắt, mát rượi mang lại chiếc chậu thau đồng cũ, rồi cẩn thận rót một bát nước chè xanh bốc khói nghi ngút bưng bằng cả hai tay dâng lên trước mặt A Sinh.

Người phu hàng đón lấy bát sành bằng hai bàn tay cáu bẩn vừa được gột bớt bùn đen. Hơi ấm từ thành bát truyền qua da thịt làm đôi vai co rút vì gió lạnh của ông khẽ run lên. Ông đưa bát lên miệng, nhấp từng ngụm nhỏ. Vị chát đậm ban đầu đọng lại nơi cuống họng nhanh chóng chuyển thành vị ngọt thanh khiết, giọt nước nóng lan tỏa tới đâu như xua tan cái lạnh lẽo thấu xương đang bủa vây lồng ngực gầy guộc. Nhưng dù thân thể đã ấm lại đôi chút, nét mặt ông vẫn không giấu nổi sự bứt rứt, bàn tay cầm bát nước cứ chực run lên vì mặc cảm ê chề của một kẻ cùng đường mang nợ.

Thanh Hà quay trở lại sau quầy tre. Nàng khẽ kéo chiếc ngăn kéo nhỏ dưới gầm bàn gỗ nghiến, cẩn thận lấy ra cuốn sổ giấy bổi có bìa bọc bằng vải xanh sẫm đã bạc màu góc mép. Đó là cuốn sổ ghi chép hàng quán mà nàng nâng niu như báu vật, bên trong là những trang giấy thô ráp làm từ rơm mục và vỏ dướng, thơm nồng mùi nắng cũ. Nàng với chiếc nghiên đá xám vuông vức, múc một giọt nước chè ấm nhỏ vào lòng nghiên, rồi cầm thanh mực tàu đen bóng mài chầm chậm từng vòng tròn đều đặn cho đến khi lớp mực sánh lại, tỏa ra mùi nhựa thông thoang thoảng. Đoạn, nàng nhấc ngọn bút lông thỏ đã mòn bớt đầu lông tơ, chấm nhẹ vào mực.

Dưới ánh sáng vàng vọt, chập chờn của ngọn đèn dầu lạc vừa được thắp lên xua đi bóng tối chạng vạng đang tràn vào mái hiên, Thanh Hà lật giở từng trang giấy cho đến một trang trắng tinh khôi. Nàng nắn nót đặt ngọn bút, viết từng nét chữ chân phương, rành mạch và ngay ngắn:

"Hôm nay là ngày mùng năm tháng Tư," Thanh Hà vừa viết vừa cất giọng điềm đạm, rõ ràng từng tiếng để người phu hàng đang ngồi co ro bên bàn tre có thể nghe thấy không sót một chữ. "Bác A Sinh, phu gánh hàng ở đội bến than, có ghé quán dùng ba bát nước chè xanh... mỗi bát hai văn, tổng cộng sáu văn. Lại ăn thêm hai chiếc bánh hoa hòe bột nếp, mỗi chiếc ba văn, thành sáu văn nữa. Cả thảy là mười hai văn tiền..."

A Sinh nghe đến con số mười hai văn thì sắc mặt bỗng chốc tái mét đi, chén nước chè trên tay chực nghiêng ngả. Nhưng Thanh Hà đã ngẩng đầu lên nhìn ông, ánh mắt nàng thấu suốt và ôn hòa:

"Nhưng lúc ban trưa, hai người bạn phu hàng đi cùng bác lúc rời quán đã gom góp được sáu đồng tiền kẽm trả dứt điểm phần tiền bánh của họ. Cho nên, phần còn thiếu lại của bác đúng sáu văn tiền nước chè. Cháu xin ghi rõ vào trang này: *A Sinh nợ quán sáu văn tiền kẽm*."

A Sinh bối rối cúi gằm mặt xuống đất, hai ngón chân bấm chặt vào nền đất nện:

"Phải... đúng là như thế... Trưa nay hai chú em nó vét sạch túi mới được sáu đồng trả tiền bánh, còn hẹn chiều nhận công nhật sẽ trả nốt phần nước chè của ba người... Ai ngờ sự thể ra nông nỗi này. Giờ ghi vào sổ mực đen giấy trắng thế này, thân tôi một manh áo rách chẳng đủ che lưng, lại gãy mất chiếc đòn mưu sinh, chủ buôn thì đòi nợ hai trăm văn... biết đến tháng nào năm nào tôi mới có sáu đồng tiền kẽm trả cho cô chủ..."

Thanh Hà đặt ngọn bút lông xuống gác nghiên bằng đất nung hình con cóc. Nàng nhìn thẳng vào đôi mắt đục ngầu, mỏi mệt của người đàn ông đối diện, giọng nói mềm mỏng nhưng lại mang một sức nặng đanh thép kỳ lạ:

"Bác A Sinh này, cháu mở cái quán nước che bằng mái rạ này ở bến Vọng Giang cũng chỉ là để kiếm chén cơm manh áo qua ngày cho hai mẹ con cháu. Vốn liếng li ti chẳng có là bao, từng đồng tiền kẽm thu về đều phải đong đếm để mua củi, mua lá chè, mua từng thúng bột nếp. Sáu văn tiền đối với người giàu sang ngoài phố huyện có thể chỉ bằng một cái phẩy tay, nhưng với cháu và Tiểu Mãn, sáu văn tiền là đong được một bát gạo đầy, mua được mớ rau muống cho bữa cơm chiều. Cho nên, cháu dứt khoát không thể nói một câu dễ dãi rằng 'thôi cháu xóa nợ' hay 'cháu biếu không cho bác' được."

A Sinh giật thót mình, ngước nhìn nàng với vẻ ngơ ngác, hai bàn tay cáu ghét lại siết chặt vào nhau.

"Nếu cháu xua tay nói chữ 'cho không'," Thanh Hà tiếp tục, ánh mắt nàng chan chứa sự thấu hiểu nhưng không hề có nửa phần thương hại bố thí, "ấy là cháu đang coi thường sức lao động của bác, coi bác như kẻ ăn mày ăn xin đến ngửa tay trước cửa quán. Bác là người cả đời đổ mồ hôi gánh than nuôi thân, bác có lòng tự trọng của một người phu bốc vác chân chính. Cháu cũng có quy củ của một người làm ăn buôn bán nơi bến đò. Nếu cháu xóa nợ một cách cẩu thả, bác bước chân ra khỏi mái lều này dẫu có thoát được món nợ sáu văn, nhưng trong lòng bác sẽ vĩnh viễn mang cái mặc cảm của một kẻ đi ăn quỵt, đêm về nằm dưới gầm cầu tàu cũng chẳng thể nào nhắm mắt thanh thản được."

Từng lời, từng chữ của Thanh Hà rơi vào khoảng không gian tĩnh mịch của lều quán như những giọt nước mưa rỏ xuống phiến đá nứt. A Sinh sững sờ. Đôi môi thâm sì vì khói than của ông khẽ run rẩy. Suốt mấy chục năm lê lết khắp các bến bãi sông Hồng, sông Vọng Giang, ông chỉ quen nghe những lời quát tháo, nguyền rủa của đám cai thầu, những tiếng chửi mắng cạn tình của đám chủ thuyền khi hàng hóa sứt mẻ, hoặc họa hoằn lắm là cái nhìn khinh miệt của những kẻ ném cho vài đồng tiền bố thí như ném cho một con chó đói bên đường. Chưa từng có ai—chưa từng có một người chủ quán nào nhìn thẳng vào mắt ông, dùng hai chữ "tự trọng" và "quy củ" để nói chuyện sòng phẳng với một tên phu phen khố rách áo ôm như nàng.

"Vậy... vậy cô chủ muốn tôi phải làm sao đây?" A Sinh nghẹn ngào, cổ họng ứ nghẹn. "Tôi giờ thân tàn ma dại, đòn gánh gãy rồi, mai này chưa biết bấu víu vào đâu để kiếm ra sáu văn tiền trả cho cô..."

"Tiền kẽm thì bác chưa có, nhưng sức lao động thì bác vẫn còn." Thanh Hà đứng dậy, chỉ tay về phía góc lán sau chái bếp, nơi có một đống củi gỗ trôi sông được nàng vớt lên từ đợt lũ tuần trước, phơi khô dưới nắng bến bãi mấy hôm nay. "Đống củi rều gỗ lim, cành ổi trôi sông kia phơi đã se mặt, nhưng cành to cành nhỏ còn lổm ngổm, cháu với Tiểu Mãn sức đàn bà con trẻ không sao dùng rìu bổ nhỏ ra được. Ấm nước chè của quán muốn đượm vị, giữ được sắc nước xanh trong và dậy mùi cốm thì ngọn lửa đáy lò phải đều, củi đun phải chẻ nhỏ vừa bằng ngón chân cái, bó chặt từng bó mười thanh ngay ngắn. Sáu văn tiền nước chè này, cháu tính sòng phẳng bằng công bác chẻ và xếp cho cháu ba bó củi khô ấy. Bác thấy có đặng không?"

Đôi mắt trũng sâu của A Sinh bỗng lóe lên một tia sáng rực rỡ, như người đang chìm dưới đáy nước sâu vớ được một cây sào tre vững chãi. Ông run rẩy đứng bật dậy, chắp hai tay trước ngực, giọng nói vỡ òa ra vì xúc động:

"Được... được quá chứ cô chủ ơi! Việc ấy thì có sá gì với đứa phu phen chai sạn tay chân như tôi! Củi gỗ trôi sông dẫu có dai như gân bò, có ngậm cát phù sa, tôi cầm rìu chẻ quen tay chỉ loáng một canh giờ là đâu vào đấy, xếp gọn gàng cho cô ngay! Đa tạ cô... đội ơn cô chủ đã mở cho tôi một con đường sống, giữ lại cho tôi chút mặt mũi làm người..."

"Bác không cần tạ ơn cháu." Thanh Hà mỉm cười, nụ cười thanh thản như trăng rằm. Nàng đẩy cuốn sổ giấy bổi về mép bàn, với chiếc đĩa sành nhỏ đựng chu sa đỏ thắm để bên cạnh nghiên mực. "Đây là sự đổi chác công bằng giữa sức lao động và món nợ, không ai nợ ân nghĩa của ai. Bác chấm ngón tay trỏ vào đĩa chu sa này, rồi ấn điểm chỉ xuống dưới dòng chữ ghi nợ. Ngày mai, hoặc ngày kia, bất cứ lúc nào bác rảnh rỗi hay tạm ngơi việc bến bãi, bác cứ lại phía sau chái bếp chẻ đủ ba bó củi khô, cháu sẽ đích thân cầm bút gạch tên bác ra khỏi cuốn sổ này."

A Sinh hít một hơi thật sâu, đưa ngón tay trỏ thô ráp, sần sùi đầy những vết chai nứt và vết sẹo cũ ấn mạnh vào lòng đĩa chu sa. Sắc đỏ tươi của bột đá ngấm vào da thịt ông. Ông run rẩy đặt ngón tay xuống trang giấy bổi thơm mùi nắng, ấn thật mạnh, thật dứt khoát bên cạnh dòng chữ mực đen còn chưa khô hẳn. Một dấu vân tay đỏ chót hiện lên rõ ràng, vuông vức như một lời ước hẹn danh dự.

Ngay khoảnh khắc ấy, dường như có một khối đá tảng vô hình ngàn cân đè nặng trên lưng người phu hàng suốt buổi chiều nay vừa được cởi bỏ. Ông nâng bát nước chè bằng hai tay, ngửa cổ uống một hơi cạn sạch đến tận đáy bát, nuốt cả những vụn lá chè nhỏ xíu vào bụng, để cho vị ấm áp thấm sâu vào từng đường gân thớ thịt.

Nhưng đúng lúc sự ấm áp vừa nhen nhóm lên trong lán quán nhỏ nhoi ấy, thì một giọng cười the thé, the thé như tiếng kim loại cọ vào mảnh sành, sặc sùi mùi rượu chua và khói thuốc lá bỗng chốc xé toạc màn đêm tĩnh mịch từ mé đường mòn ven đê:

"Ô hô! Ha ha ha! Khá khen cho cái quán nước bến sông của nàng góa phụ họ Liễu! Hóa ra hào phóng, bồ tát sống giáng trần đến thế cơ đấy! Cứ nghèo khổ rách rưới, vác cái mặt mếu máo đến lạy lục van vái vài ba câu là được mở sổ ghi nợ đàng hoàng, lại còn điểm chỉ chu sa như quan trên xử kiện nữa chứ!"

Một bóng người lảo đảo bước qua tấm liếp cửa. Mùi rượu nếp thối nồng nặc cùng mùi mồ hôi chua lòm xộc thẳng vào bên trong, lấn át cả hương hoa hòe thanh khiết. Đó là gã Bảy 'sứt'—con bạc khét tiếng chuyên lê la khắp các xới xóc đĩa, tài xỉu từ gầm chợ Đông Tân cho đến các lán trại bốc than ven bến sông này.

Chiếc áo cánh vải nâu của gã rách tả tơi hai bên nách, vạt áo trước cáu bẩn những vệt dầu mỡ, tàn thuốc lào cháy xém lủng lổ những lỗ nhỏ bằng đầu ngón tay. Mặt gã xám ngoét, bờ môi trên bị sứt một góc để lộ chiếc răng cửa vàng khè chìa ra ngoài, cặp mắt trũng sâu, đỏ ngầu những tia máu vì đã ba ngày ba đêm thức trắng trên chiếu bạc bãi bồi. Gã vừa bị đám chủ xới lột sạch đến đồng tiền kẽm cuối cùng, bị tống cổ ra ngoài trời lạnh, cổ họng đang khát khô như ngói nung giữa trưa hè thì tình cờ đi ngang qua quán, chứng kiến trọn vẹn màn mở sổ điểm chỉ của Thanh Hà.

Gã Bảy sứt bước khệnh khạng tới trước bàn tre, cái bụng lép kẹp réo lên ùng ục. Gã đập mạnh bàn tay đầy ghét bẩn xuống mặt bàn đánh "rầm" một tiếng, khiến mấy chiếc chén sành da lươn nảy lên tanh tách, chực rơi xuống đất:

"Này cô em góa phụ! Thằng phu than A Sinh này nợ được thì ông đây cũng nợ được! Mau đem ra đây một vò nước chè xanh loại thật đậm lửa, thật chát vào! Lại bưng cả cái đĩa bánh hoa hòe năm chiếc đằng góc quầy kia lại đây cho ông mày nhét vào mồm lót dạ! Mau lên! Ghi tên Bảy 'sứt' này vào cuốn sổ nợ quý hóa của cô em, viết rõ rành rành mười lăm văn tiền! Mai ông gỡ lại được mối bạc bên gò đất bến than, ông đây sang trả cả vốn lẫn lời cho cô em hẳn hai mươi văn, không thiếu nửa cắc! Nghe rõ chưa?"

Tiểu Mãn giật bắn mình, hoảng hốt thét lên một tiếng nhỏ rồi chạy bổ lại, ôm ghì lấy eo Thanh Hà, cả người con bé run lên bần bật như chiếc lá khô trước gió bấc. Cặp mắt con bé mở to, tràn ngập vẻ kinh hãi nhìn chằm chằm vào khuôn mặt bặm trợn, gớm ghiếc của tên nghiện bạc. A Sinh đang ngồi trên ghế tre thấy vậy cũng biến sắc, vội vàng đứng bật dậy, hai bàn tay nắm chặt nửa đoạn đòn gánh gãy, toan bước lên can thiệp:

"Anh Bảy... anh đừng có làm càn... Quán người ta buôn bán nhỏ..."

"Câm mồm mày lại, thằng phu rách!" Bảy sứt trừng mắt quát, nước bọt bắn tung tóe. "Mày nợ được mà ông đây không nợ được à? Mày coi thường túi tiền của ông mày đấy hả?"

Thanh Hà khẽ đưa một bàn tay ra phía sau, vỗ nhẹ lên vai Tiểu Mãn để trấn an con bé, đồng thời đưa ánh mắt ra hiệu bảo A Sinh hãy bình tĩnh lùi lại. Nàng đứng thẳng người sau quầy tre, lưng thẳng như một nhánh trúc ngà mọc bên vách đá. Gió sông thổi thốc qua khe liếp làm vạt áo chàm của nàng bay lật phật, nhưng ánh mắt nàng vẫn phẳng lặng, trong veo như đáy giếng đá Thanh Khê lúc không một gợn sóng. Không hề có lấy một tia hoảng loạn hay e sợ trong đôi đồng tử đen láy ấy. Nàng nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ ngầu vằn vện của gã Bảy sứt, giọng nói cất lên vẫn giữ trọn vẻ điềm đạm, khoan thai, nhưng từng âm tiết phát ra lại cứng cỏi, rành mạch tựa như đá tảng va vào nhau:

"Quán nhỏ này mở ra nơi góc bến, lấy tiền tươi thóc thật để đong gạo nuôi miệng, dứt khoát không phải nơi mở sổ nợ bừa bãi. Bác A Sinh đây là người lao động lương thiện, quanh năm đổ mồ hôi trên bến bãi, nay chẳng may gặp bước ngặt ngã gãy đòn gánh mà tạm thời đổi sức lấy nợ. Món nợ của bác ấy có mồ hôi nước mắt, có sự nhọc nhằn và lòng tự trọng làm bảo chứng. Còn bác, hai tay hai chân lành lặn, sức dài vai rộng không chịu kiếm một công việc bốc vác làm ăn cho ngay thẳng, lại đem hết tiền của ném vào những canh bạc đỏ đen thâu đêm suốt sáng. Món nợ bác muốn ghi vào sổ của tôi không phải là nợ áo cơm lương thiện, mà là món nợ của sự lười nhác, phóng túng và nghiện ngập. Quán này dứt khoát không bán chịu cho bác, dẫu chỉ là một chén trà xanh hay nửa mẩu bánh vụn."

Lời nói của Thanh Hà rành rọt, đanh thép vang vọng khắp gian lều tranh chật hẹp. Từng câu từng chữ như những mũi gai nhọn đâm thẳng vào cái vỏ bọc ngang tàng, trơ trẽn của gã con bạc rách rưới. Gã Bảy sứt tím tái mặt mày vì sượng sùng và giận dữ. Giữa chốn bến đò này, gã quen thói chửi bới, ăn quỵt, người ta vì sợ dây với hủi mà nhẫn nhịn cho qua; chưa từng có người đàn bà nào, lại là một góa phụ đơn chiếc, dám đứng trước mặt gã mà vạch trần thói hư tật xấu một cách không kiêng nể như thế.

Gã nghiến răng ken két, chồm hẳn nửa thân trên qua mép bàn tre, ngón tay cáu ghét dí sát vào mặt Thanh Hà, gầm lên the thé:

"Con đàn bà góa này! Mày... mày dám chê tiền của ông Bảy này à? Mày mở cái quán rách nát ở cái bến Vọng Giang này mà dám phân biệt đối xử, lên mặt dạy đời tao hả? Mày có tin ông mày lật tung cái chõ bánh, đập nát mấy cái vò đất nung của mày ra từng mảnh rồi ném xuống sông không?"

Không khí trong quán bỗng chốc đông cứng lại, nghẹt thở đến rợn người. Gió sông ngoài bến bỗng rít lên từng hồi qua rặng chuối sau lều, nghe xào xạc như tiếng nghiến răng của loài ma đói. Tiểu Mãn sợ đến mức vùi chặt mặt vào vạt áo Thanh Hà, nước mắt rơm rớm, nhưng hai bàn tay bé xíu của con bé vẫn bám chặt lấy chiếc giẻ lau bàn, sẵn sàng lao ra nếu gã kia dám đụng đến Thanh Hà.

Thanh Hà không hề chớp mắt, cũng không lùi lại lấy nửa bước. Ánh mắt nàng nhìn chằm chằm vào ngón tay đang run rẩy vì tức tối của gã con bạc, vẻ uy nghiêm tự nhiên toát ra khiến gã Bảy sứt bất giác cảm thấy sống lưng lành lạnh. Nàng thản nhiên buông vạt áo Tiểu Mãn, với tay cầm lấy chiếc gáo dừa có tra cán tre dài gác bên vò nước. Nàng mở nắp chiếc nồi đất nung cỡ lớn đang đặt trên kiềng sắt ba chân—nơi nước giếng Thanh Khê đang sôi sùng sục, bốc hơi mù mịt, sủi tăm trắng xóa.

Nàng nghiêng cán gáo, múc ra một gáo nước sôi trong vắt, nóng rẫy. Hơi nước bốc lên nghi ngút mang theo hơi ấm nồng nàn. Thanh Hà từ tốn nhấc một chiếc bát sành thô mộc, sâu lòng đặt lên khay tre, rồi nghiêng gáo dừa rót đầy nước sôi vào bát. Từng giọt nước sôi sùng sục rơi xuống bát sành phát ra tiếng "xèo xèo" êm tai. Đoạn, nàng dùng hai tay nâng chiếc khay tre, đẩy nhẹ về phía mép bàn, đặt ngay trước mặt gã Bảy sứt:

"Trời đã tối mịt rồi, gió sông Vọng Giang thổi ngược mùa này rất độc. Bác đi đường xa mỏi mệt, lại vừa dốc cạn sức trên chiếu bạc, cổ họng khát khô, bụng dạ cồn cào. Quán nghèo này xin mời bác bát nước sôi nóng này uống cho ấm ruột, nhuận họng cho đỡ cơn khát cháy. Nước này là nước giếng đá gò cao đun già lửa, quán xin biếu không, không lấy của bác nửa đồng tiền kẽm. Đó là cái tình, cái nghĩa của người mở quán ven sông đối với một người khách lỡ bước sa cơ giữa đêm hôm lạnh lẽo. Nhưng còn bánh hoa hòe thơm ngọt làm từ hạt nếp mồ hôi, chén trà búp xanh hãm bằng công sức chắt chiu, và cuốn sổ nợ ghi nhận sự tự trọng của con người kia... thì dứt khoát một văn tiền cháu cũng không thể mở cho người như bác."

Chiếc bát sành bốc khói ngùn ngụt giữa hai người, soi bóng ngọn đèn dầu lạc chập chờn. Mặt nước sôi trong vắt, thuần khiết và nóng bỏng, không hề có lấy một cọng lá chè hay một hạt đường ngọt bùi, nhưng nó lại vạch ra một lằn ranh giới rành rọt và dứt khoát đến tột cùng: giúp người lúc hoạn nạn là lòng nhân từ, nhưng tiếp tay cho kẻ phóng túng là sự ngu muội; có lòng trắc ẩn cứu vớt kẻ khát nước bên đường, nhưng tuyệt đối không bao giờ hạ thấp nguyên tắc và phẩm giá của bản thân.

Gã Bảy sứt nhìn trân trân vào bát nước sôi đang tỏa khói nghi ngút. Bàn tay gã giơ lên định hất đổ mặt bàn bỗng khựng lại giữa không trung, bất lực và trơ trọi. Những lời nói mềm mỏng mà sắt đá của nàng góa phụ trẻ không hề có nửa phần thóa mạ, nhưng nó lại như một tấm gương sáng vằng vặc soi thấu cái tâm can đen tối, hèn mạt của một kẻ trốn tránh lao động, đắm mình trong men bạc. Cổ họng gã nghẹn ứ, chiếc lưỡi khô khốc cứng đờ lại không thốt nên được một lời cãi vã.

Cùng lúc đó, từ bên ngoài mép đường bến than, mấy người phu khuân vác vừa tan ca, vai còn vắt chiếc khăn lau mồ hôi đen nhẻm, ghé vào quán định uống bát nước tối. Thấy cảnh gã Bảy sứt đang đứng sừng sộ trước quầy tre, họ lập tức dừng bước, đưa những cặp mắt sắc lẹm, giận dữ nhìn gã trừng trừng. Những thân hình vạm vỡ, lấm lem bụi than như những cột đá hoa cương đứng sừng sững sau lưng gã.

Bảy sứt nuốt nước bọt đánh "ực" một cái. Gã nhận ra mình đang đơn độc giữa một bầy những con người lao động chân chính đang sục sôi phẫn nộ. Gã hậm hực, bàn tay run rẩy thò ra bưng lấy chiếc bát sành. Hơi nóng phả thẳng vào mặt làm gã rụt đầu lại, nhưng cơn khát cháy bỏng nơi cổ họng khiến gã không thể kìm được. Gã kề mép bát vào đôi môi sứt sẹo, húp từng ngụm nước sôi nóng rẫy. Nước nóng làm bỏng rát cả đầu lưỡi và vòm họng gã, nhưng dòng nhiệt lượng dữ dội ấy xông thẳng xuống lồng ngực lép kẹp, ép cơn say xỉn và nỗi uất hận nghẹn ngào của một kẻ thua bạc lùi dần xuống đáy lòng.

"Cạch!"

Gã dằn mạnh chiếc bát sành không xuống mặt bàn tre, khóe mắt đỏ hoe vì bị hơi nước xông cay xè. Gã lúng búng chửi đổng vài câu tục tĩu không rõ tiếng trong miệng để che giấu nỗi nhục nhã, rồi cụp mắt, quay ngoắt người bước thụt lùi ra khỏi hiên quán, lủi thủi như một con chó hoang biến mất vào màn đêm đen kịt ngoài bãi bồi ven sông.

A Sinh thở phào một hơi dài, lồng ngực căng thẳng nãy giờ mới chùng xuống. Ông nhìn Thanh Hà bằng ánh mắt tràn đầy sự kính phục và ngạc nhiên:

"Cô chủ tuổi còn trẻ... lại là phận đàn bà góa bụa đơn chiếc nơi bến sông phức tạp này, vậy mà bụng dạ phân minh, can trường hiếm có. Cái ngữ cờ bạc như thằng Bảy sứt ấy, nếu hôm nay cô vì sợ hãi mà cho nó nợ một chiếc bánh, một bát trà, thì chỉ nội nhật ngày mai thôi, nó sẽ kéo cả đám đầu trâu mặt ngựa ngoài sới bạc đến ăn quỵt, biến cái quán này thành cái ổ nợ, làm tan nát cả sinh kế của cô mất thôi..."

Thanh Hà khẽ thở hắt ra một hơi, đôi vai nàng hơi chùng xuống sau phút giây căng thẳng. Nàng cầm chiếc khăn vải sạch lau khô những giọt nước bắn trên mặt bàn:

"Lòng tốt mà không có ranh giới rõ ràng thì chẳng khác nào tiếp tay cho cái ác, biến mình thành miếng mồi ngon cho những kẻ lười biếng bác ạ. Mình thương người nghèo khổ đổ mồ hôi sôi nước mắt, chứ tuyệt đối không thể dung dưỡng cho cái thói bài bạc hại mình hại người được."

Nàng vừa dứt lời, chưa kịp cất chiếc bát sành đi thì từ con đường mòn rải đá dăm dẫn từ bến đò than sang bỗng vang lên tiếng bước chân huỳnh huỵch nện trên nền đất. Tiếng cười cợt nhả, the thé xen lẫn tiếng khạc nhổ bừa bãi vang lên đầy xấc xược:

"Ha ha ha! Khá khen cho câu 'lòng tốt có ranh giới'! Nghe thanh tao, đạo mạo gớm nhỉ! Nàng góa phụ họ Liễu mở miệng ra là toàn lời kinh sách thánh hiền!"

Dưới ánh sáng nhờ nhợ của mảnh trăng lưỡi liềm đầu tháng vừa nhô lên khỏi rặng phi lao ven đê, bóng ba gã đàn ông lực lưỡng bước xộc vào quán. Đi đầu không ai khác chính là Lại Tam—tên đầu sỏ chuyên bảo kê bến bãi, thu các khoản tiền xâu trái lệ quanh khúc sông Vọng Giang này.

Hôm nay hắn mặc chiếc áo cộc chẽn bằng vải thô màu nâu sẫm không cài cúc, để lộ bộ ngực vạm vỡ xăm trổ hình một con rồng nước loang lổ, gớm ghiếc. Bên thắt lưng bằng vải gai của hắn giắt lủng lẳng một đoạn đoản côn bằng đồng thau sáng loáng, đầu côn bị mòn vẹt vì đã nhiều lần dùng để đánh người. Đi sau hắn là hai tên lâu la mặt mũi bặm trợn, một tên có vết sẹo dài ngoằng vắt ngang từ thái dương xuống tận mép miệng—chính là kẻ mấy hôm trước đã đứng ngoài rào liếc mắt dòm ngó, khiến Tiểu Mãn sợ hãi trốn biệt vào góc bếp.

Thấy bóng Lại Tam vừa bước qua bậu cửa, Tiểu Mãn lập tức run rẩy, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập. Con bé nép hẳn ra phía sau lưng Thanh Hà, hai bàn tay nhỏ bé túm chặt lấy vạt áo chàm của nàng đến mức các đầu ngón tay trắng bệch ra. A Sinh ngồi bên bàn tre cũng giật mình biến sắc, vội vàng đứng bật dậy, co ro lùi sát vào góc vách nứa, đầu cúi gằm không dám thở mạnh.

Lại Tam bước những bước dài, khệnh khạng tiến thẳng vào giữa gian lều quán. Đôi mắt ti hí của hắn đảo quanh một lượt, soi mói từ chiếc xửng tre hấp bánh hoa hòe đã trống trơn cho đến chiếc ống nứa đựng tiền kẽm giắt cẩn thận bên vách nứa sau quầy. Hắn khịt mũi một cái thật mạnh, khạc một bãi đờm xuống ngay sát chân bàn tre. Rồi, nhanh như cắt, bàn tay hộ pháp đầy lông lá của hắn thò ra, chộp lấy cuốn sổ giấy bổi đang mở rộng trên mặt bàn của Thanh Hà.

"Lại Tam! Ngươi làm cái gì thế hả?" Thanh Hà đanh giọng, đưa tay định giật lại cuốn sổ.

Nhưng tên lâu la mặt sẹo đi sau Lại Tam đã nhanh chân bước lên nửa bước, khoanh hai cánh tay hộ pháp trước ngực, đứng chắn ngang giữa nàng và Lại Tam với một nụ cười nham nhở, trêu ngươi.

Lại Tam cầm cuốn sổ giấy bổi giơ lên sát ngọn đèn dầu lạc. Hắn dùng mấy ngón tay ngắn tũn, thô kệch lật qua lật lại từng trang giấy ráp. Khi cặp mắt ti hí của hắn dừng lại ở trang giấy còn thơm mùi mực mới, đọc thấy dòng chữ: "*A Sinh nợ sáu văn tiền kẽm*" cùng dấu điểm chỉ chu sa đỏ chót nằm ngay ngắn bên dưới, hắn bỗng ngửa cổ cười sằng sặc, chuỗi cười nghe man rợ như tiếng cú kêu ban đêm:

"Ái chà chà! Chúng mày mở to mắt ra mà nhìn xem này! Một cái túp lều rách mé đông bến Vọng Giang, buôn bán ba chén nước chè xanh mốc méo với mấy cái bánh bột nếp vụn vặt, mà cũng bày đặt sổ với sách, nợ với nần! Lại còn cho đám phu phen khố rách áo ôm, không có nổi manh chiếu chôn thân này ghi nợ nữa chứ! Cô em Thanh Hà ơi là cô em Thanh Hà, cô tưởng cái khúc sông Vọng Giang này là từ đường họ Liễu nhà cô hay sao mà bày trò phát chẩn làm phúc thế này hả?"

"Chát!"

Hắn đập mạnh cuốn sổ giấy bổi xuống mặt bàn tre, ghé sát khuôn mặt bóng nhẫy mồ hôi và bốc mùi rượu nếp chua nồng nặc về phía Thanh Hà. Ánh mắt hắn lóe lên những tia nhìn giảo hoạt và đầy toan tính hiểm độc:

"Cô em mở quán ở đây ngót nghét nửa năm rồi mà vẫn chưa thông cái quy củ bến bãi này à? Đám phu than, phu gạo, phu bốc vác này là cái giống chim trời cá nước, nay đây mai đó. Thuyền nhổ neo chở hàng đi một cái là chúng nó biến mất tăm mất tích theo con nước, có trời mới tìm ra được! Cô mở sổ cho chúng nó nợ thế này, tao dám cá không quá ba ngày nữa, cái quán rách này của cô em sẽ sập tiệm, hai mẹ con cô em dắt díu nhau đi ăn mày cả lũ! Lúc đấy thì lấy cái gì mà nộp năm mươi văn tiền phí giữ yên bến mỗi tuần cho anh Tam này đây?"

Thanh Hà vẫn đứng sừng sững, hai bàn tay nàng đặt phẳng phiu trên mặt bàn gỗ sau quầy. Ánh mắt nàng lạnh lùng nhìn thẳng vào khuôn mặt trơ trẽn của tên đầu gấu, không hề né tránh:

"Quán của tôi buôn bán thế nào, đứng vững hay sập tiệm, đó là việc riêng của mẹ con tôi, không phiền đến Tam ca phải nhọc lòng bận tâm. Cuốn sổ đó là giấy tờ buôn bán riêng tư của quán trà Thanh Hà, xin Tam ca buông tay trả lại cho tôi!"

Lại Tam không những không trả, mà bàn tay hộ pháp của hắn còn miết mạnh lên mép cuốn sổ bổi, khóe môi nhếch lên thành một nụ cười nham hiểm:

"Trả à? Đâu có dễ thế được hả cô em! Anh Tam đây vốn là người ăn ở có đức, thấy cô em phận góa bụa đơn chiếc làm ăn chật vật, anh xót xa trong lòng lắm chứ bộ! Thế này đi, anh em tao có lòng tốt đứng ra 'thu nợ hộ' cho cô em! Phàm là đứa nào ở cái bến này dám nợ quán cô em một văn tiền, tao sẽ cho người đến tận ổ rơm của nó mà lôi cổ ra đòi cho bằng sạch! Thu được mười văn, anh Tam chỉ xin lấy một nửa—năm văn tiền hoa hồng gọi là tiền thuốc nước, tiền giày dép cho anh em lặn lội đêm hôm. Bảo đảm với cô em, đứa nào dám quỵt của cô một đồng kẽm, tao bẻ gãy một ngón tay nó ném xuống sông Vọng Giang cho cá rỉa! Cô em thấy anh Tam đối xử với cô em có tốt bụng quá không?"

Nghe thấy bốn chữ "bẻ gãy ngón tay", A Sinh đứng nép ở góc quán run bắn cả người, sắc mặt xám ngoét như tro tàn, hai đầu gối khuỵu xuống suýt ngã quỵ.

Thanh Hà siết chặt hai bàn tay lại. Lòng dạ nàng sáng như gương, nàng thừa hiểu dã tâm độc địa đằng sau cái trò "thu nợ hộ" của Lại Tam. Hắn muốn mượn cuốn sổ nợ này để vừa kiếm chác tiền hoa hồng bẩn thỉu, vừa danh chính ngôn thuận can thiệp vào các mối làm ăn của quán, biến những thỏa thuận lao động lương thiện thành những món nợ máu để hắn và đồng bọn tha hồ sách nhiễu, bóp nặn, ức hiếp cánh phu phen lao động nghèo hèn. Nếu hôm nay nàng gật đầu nhân nhượng, nhường quyền quản lý cuốn sổ nợ cho hắn, thì cái quán trà nhỏ này sẽ lập tức biến thành công cụ bóc lột của một băng nhóm côn đồ, và chút lòng tin, chút tình nghĩa mà nàng vừa dày công gây dựng với những người lao động bến đò sẽ hoàn toàn tan thành mây khói.

Nàng hít một hơi thật sâu, ngực phập phồng nhưng ánh mắt càng thêm phần kiên định. Giọng nói nàng đanh lại, từng lời vang lên sang sảng giữa lều quán:

"Bến Vọng Giang có luật pháp của triều đình, quán trà Thanh Hà có chữ tín của quán trà Thanh Hà! Món nợ của bác A Sinh là nợ ân nghĩa đổi bằng mồ hôi nước mắt chẻ củi, không phải món nợ máu me để các người dùng đoản côn đi ức hiếp đồng loại nhằm trục lợi kiếm chác! Quán nhỏ này tuyệt đối không cần phường du thủ du thực các người đứng ra 'thu nợ hộ'! Tam ca, đưa trả cuốn sổ lại đây cho tôi, đừng để tôi phải mời Đào phường bảo đến can thiệp, và báo thẳng việc này lên Vũ thư lại của huyện nha!"

Nghe Thanh Hà nhắc đến cái tên Vũ Chính An thư lại, nụ cười nham nhở trên mặt Lại Tam bỗng khựng lại, khóe mắt hắn giật giật hai cái. Hắn biết Vũ thư lại là người nắm giữ sổ sách hình danh của nha môn huyện, có uy quyền rất lớn ở vùng bến bãi này. Nhưng nhìn lại quanh quán, thấy chỉ có một người đàn bà góa trẻ tuổi, một đứa con nít ăn mày gầy gò và một lão phu hàng gãy đòn gánh đang run lẩy bẩy, máu hung hăng, coi trời bằng vung của một tên thảo khấu bến bãi lại bốc lên ngùn ngụt.

Hắn trừng trừng mắt, ngón tay bấu chặt vào mép cuốn sổ giấy bổi giơ bổng lên cao, nghiến răng ken két đe dọa:

"Mày lại đem quan huyện ra dọa tao à? Con góa phụ ranh con này! Để xem hôm nay tao xé nát cái cuốn sổ rách này ra từng mảnh rồi vứt xuống sông thì con đàn bà nhà mày làm gì được tao..."

"Mày thử đụng vào một góc mép cuốn sổ ấy xem, thằng Tam kia!"

Một tiếng quát trầm hùng, vang dội như tiếng sấm rền giữa trời quang từ dưới bến sông xé toạc màn sương đêm ẩm ướt, đập thẳng vào mái lều tranh.

"Uỳnh! Uỳnh!"

Tiếng bước chân nện huỳnh huỵch trên những bậc đá hoa cương bến đò mỗi lúc một dồn dập. Dưới ánh trăng mờ mờ, bóng một người đàn ông lực lưỡng như một cây lim già ngàn năm sừng sững bước lên bờ. Đó là lão lái đò Từ Bá. Trên bờ vai gồ ghề cuộn bắp thịt của lão vác ngang một chiếc mái chèo bản rộng làm bằng gỗ nghiến dài tới tám thước. Lưỡi chèo còn ướt sũng nước sông Vọng Giang, từng giọt nước đục ngầu rỏ tong tòng xuống nền đá kêu "tách, tách". Đôi mắt quắc thước như mắt chim ưng của lão rực lửa, quét thẳng vào mặt Lại Tam.

Và đi ngay sau lưng Từ Bá không phải chỉ có một mình lão!

Bốn người phu than ngực trần đen bóng vừa rời thuyền than mạn ngược, hai người thợ mộc xách cưa dài và đục sắt bén ngót, cùng ba bác phu gánh gạo bên kho đông đồng loạt rầm rập bước vào quán. Ai nấy trên tay đều lăm lăm vũ khí mưu sinh: người cầm đòn gánh tre đực bọc sắt hai đầu, người cầm đòn bẩy bằng gỗ nghiến, người cầm chiếc móc sắt chuyên dùng để bốc dỡ các kiện hàng nặng. Ánh mắt của họ bừng bừng nộ khí, từng thớ thịt cuồn cuộn trên cánh tay họ gồng lên rắn chắc.

A Sinh đứng ở góc quán, thấy Từ Bá và anh em phu bến ùa vào đông đủ, trong lồng ngực cằn cỗi bỗng dâng lên một luồng dũng khí mãnh liệt chưa từng có trong đời. Nỗi sợ hãi hèn hạ tan biến. Ông nghiến chặt hai hàm răng, hai bàn tay vung nửa đoạn đòn gánh gãy lởm chởm dằm nhọn hoắt, bước xốc tới đứng chắn ngay phía trước chiếc bàn tre, kề vai sát cánh cùng những người phu bến.

Trong chớp mắt, gần chục người lao động nghèo khó đã kết thành một bức tường thành bằng da thịt vững chãi, vây kín lấy chiếc bàn tre nhỏ, chắn trọn vẹn Liễu Thanh Hà và bé Tiểu Mãn ở phía sau lưng họ.

"Từ... Từ Bá..." Lại Tam giật mình lùi lại nửa bước, bàn tay đang lăm lăm giơ cuốn sổ giấy bổi bất giác hạ xuống ngang ngực.

Ở cái bến Vọng Giang này, Lại Tam có thể không coi Đào phường bảo vốn tính tình nhu nhược ra gì, nhưng hắn tuyệt đối kiêng nể lão lái đò Từ Bá. Từ Bá là người đã mấy chục năm cầm lái vượt qua bao thác ghềnh hiểm trở trên khúc sông này, uy tín lừng lẫy trong giới đò giang. Hơn thế nữa, trong trận đại hồng thủy năm Canh Thìn mười năm trước, chính con đò của Từ Bá đã lao vào dòng nước xiết vớt được mẹ đẻ của Lại Tam thoát chết khi căn nhà lá của mụ bị lũ cuốn trôi. Món nợ ân tình ấy, dẫu là một tên lưu manh bến bãi, Lại Tam cũng không thể nào xóa bỏ khỏi ký ức.

Từ Bá bước tới một bước dài, chống mạnh chuôi chiếc mái chèo gỗ nghiến xuống nền đất nện phát ra một tiếng "thình" khô khốc, làm rung rinh cả chiếc bàn tre:

"Tam! Mày mở mắt to ra mà nhìn cho rõ! Bến Vọng Giang này từ đời ông đời cha chúng tao sống được là nhờ mồ hôi nước mắt, nhờ đôi vai trần gánh gồng của đám phu phen chèo đò bốc vác, chứ không phải nhờ cái thứ đoản côn chẹn họng hút máu đồng loại của lũ chúng mày!"

Một người phu than vạm vỡ bước lên, chiếc đòn gánh bọc sắt trên tay chĩa thẳng vào ngực tên mặt sẹo, cất giọng ồm ồm giận dữ:

"Đúng đấy! Chúng tao quần quật từ tờ mờ sáng cho đến tối mịt, vai tróc từng mảng da, lưng rớm máu tươi, kiếm được vài đồng tiền kẽm còm cõi đong gạo nuôi con! Cả cái bến sông này, chỉ có quán trà của cô Thanh Hà đây là thương tình mở nước giếng ngọt cho uống, cho ghi sổ nợ lúc gãy đòn sa cơ, lại chỉ lấy công chẻ củi để giữ lại mặt mũi làm người cho anh em tao! Cả cái bến sông này, đám phu phen chúng tao chỉ tin vào chữ tín của quán trà nhỏ này thôi!"

"Chúng mày thử đụng vào một cái cọc tre của quán xem!" Một bác phu gánh gạo tóc hoa râm tiếp lời, tiếng chiếc móc sắt gõ lách cách vào cán đòn gánh vang lên đanh gọn đầy đe dọa. "Đám phu bến chúng tao tuy nghèo mạt rệp, thân tàn ma dại nhưng không phải thứ vong ân bội nghĩa! Thằng nào dám phá quán cô Hà, bọn tao quẳng hết xuống đáy sông Vọng Giang cho trôi về biển cả!"

Làn sóng phẫn nộ của đám đông phu bến bừng bừng bốc lên trong lều quán chật hẹp, ngùn ngụt như một ngọn lửa lò rèn. Từng ánh mắt căm hờn, từng hơi thở dồn dập của những con người quanh năm vật lộn với sóng gió sông nước kết tụ lại thành một bức thành đồng vững chắc, không một thứ bạo lực nào có thể lay chuyển được.

Trán Lại Tam bắt đầu rịn ra những giọt mồ hôi lạnh ngắt. Hai tên lâu la đi sau hắn đã biến sắc từ lâu, hai chân lấm lét thụt lùi dần về phía cửa lán, đoản côn cầm trên tay run lẩy bẩy. Hắn hiểu quá rõ tính nết của đám phu phen này: ngày thường họ nhẫn nhục, cục mịch, cam chịu mọi sự đè nén để kiếm hạt cơm, nhưng một khi họ đã đồng lòng nổi giận vì bị dồn vào chân tường thì đến cả nha môn, quân lính cũng phải kiêng dè ba phần, huống chi là ba gã cò bến lẻ loi giữa đêm tối.

Từ Bá bước thêm một bước, đưa bàn tay hộ pháp đầy những vết sẹo do dây neo cọ sát ra trước mặt Lại Tam:

"Trả cuốn sổ lại cho cô chủ!"

Giọng nói của lão lái đò không hề gắt gỏng, nhưng trầm hùng và nặng tựa ngàn cân, khiến Lại Tam nghẹn ứ nơi cổ họng. Hắn cắn chặt môi dưới đến mức suýt bật máu tươi. Biết rằng hôm nay nếu còn cố tình làm càn thì chỉ có nước bị đám phu bến đánh cho tơi bời rồi ném thẳng xuống dòng nước xiết lạnh ngắt.

"Hừ!"

Lại Tam ném phịch cuốn sổ giấy bổi xuống mặt bàn tre đánh "bộp" một tiếng. Hắn cố nặn ra một nụ cười khẩy méo mó, trơ trẽn để vớt vát chút thể diện rách rưới trước mặt đám đàn em:

"Được... được lắm! Các người giỏi lắm! Cứ việc bao bọc, ôm lấy nhau mà giữ cái quán rách này! Để rồi xem, không có sự bảo bọc của anh Tam này, cái ngữ đàn bà góa bụa buôn chịu bán nợ như mày chống chọi được ở cái bến này bao lâu!"

Hắn quay ngoắt người, gạt phăng hai tên đàn em đang run rẩy chắn đường, sầm sập sải những bước chân nặng nề ra khỏi lều quán. Nhưng vừa bước tới bờ dốc bến đò, nơi con đường mòn rẽ vào rặng sậy, Lại Tam bỗng khựng lại. Hắn quay đầu liếc xéo về phía quán trà.

Dưới ánh trăng thượng tuần nhợt nhạt, đôi mắt ti hí của hắn lóe lên những tia nhìn lấm lét, độc địa và gườm gườm như mắt của loài rắn nước đang rình mồi trong bụi rậm. Ánh mắt ấy mách bảo rằng một kẻ như hắn chưa bao giờ biết từ bỏ; nếu không thể dùng bạo lực công khai để đè bẹp quán trà, thì những ngón đòn ngầm bẩn thỉu—những lời đồn thổi độc địa bôi nhọ phẩm hạnh của một góa phụ trẻ, những trò rẽ khách, chặn mối hàng sau lưng—chắc chắn sẽ còn dồn dập kéo tới bến đò này như những đợt sóng ngầm hiểm ác.

Bóng ba tên côn đồ khuất hẳn sau rặng cây cối ven đê, trả lại cho gian lều quán bầu không khí tĩnh lặng vốn có của đêm sông.

"Hú vía... chúng nó... chúng nó cút thật rồi..." Tiểu Mãn thở phào một hơi dài, buông lỏng vạt áo chàm của Thanh Hà, đôi chân mềm nhũn ra khiến con bé ngồi bệt luôn xuống bậc cửa đất nện.

Thanh Hà vội vàng bước vòng qua quầy tre, nàng khom người cúi đầu thật sâu trước lão lái đò Từ Bá và tất cả anh em phu bến:

"Thanh Hà xin đội ơn Từ Bá, đội ơn các bác, các anh em phu bến đã ra tay che chở cho mẹ con cháu... Nếu không có tấm lòng trượng nghĩa của mọi người tối nay, quán nhỏ này khó lòng giữ được yên ổn trước móng vuốt của chúng nó."

"Cô chủ đừng nói thế mà anh em chúng tôi thêm ngượng!" A Sinh vội xua tay, đưa mu bàn tay áo rách lau giọt nước mắt vừa ứa ra trên khóe mi nhăn nheo. "Chính cô là người đã giữ lại phẩm giá, cho tôi con đường sống trước. Người lao động ở cái bến này ai ngay thẳng, ai tà gian chúng tôi nhìn thấu cả. Sao có thể để phường lưu manh ức hiếp người có lòng thơm thảo như cô được!"

Từ Bá cười lớn, tiếng cười sảng khoái, hào sảng vang vọng làm rung rinh cả những tàu lá dừa trên mái lều, xua tan đi tất cả bầu không khí ảm đạm, căng thẳng nãy giờ:

"Bác A Sinh nói chí phải đấy! Cô Hà à, trên khúc sông Vọng Giang này, nước sâu nước cạn thì người ta dùng sào tre mà dò, nhưng lòng người nông sâu thì phải đo bằng việc làm thực tế. Cô mở lòng đối đãi tử tế, giữ chữ tín minh bạch và trọng thể diện của người nghèo khó thì tự khắc mồ hôi nước mắt của bến đò này sẽ kết thành tấm mộc vững chắc nhất để che chắn cho cô. Cứ yên tâm mà nhóm bếp đun nước pha trà, đừng sợ thứ ruồi muỗi bẩn thỉu ấy!"

Mọi người cùng ồ lên cười vui vẻ. Những khuôn mặt đen nhẻm vì than củi, khắc khổ vì gió sương bỗng chốc rạng rỡ hẳn lên dưới ánh đèn dầu lạc.

Thanh Hà cảm thấy trong lòng dâng lên một dòng nước ấm áp lạ thường. Nàng vội vàng châm thêm những thanh củi khô vào đáy lò đất nung, dùng quạt nan phẩy mạnh cho ngọn lửa bùng lên đỏ rực. Chiếc ấm đồng lại reo lên sùng sục. Nàng thoăn thoắt pha một vò trà xanh thật đậm lửa bằng nước giếng đá Thanh Khê, rồi múc đầy từng bát sành thơm ngát hương hoa hòe, trân trọng bưng mời từng người phu bến cùng uống cho ấm dạ trước khi về lán nghỉ. Tiếng nói cười râm ran, tiếng húp trà rột rẹt, tiếng kể chuyện về những chuyến đò, chuyến hàng lại bừng lên dưới mái lều tranh đơn sơ, ấm áp lạ thường giữa đêm xuân se lạnh.

Gần nửa canh giờ sau, khi trăng đã lên cao qua ngọn sào, đám phu bến mới lục tục chia tay nhau, tản mác về các lán trại ven sông. Trong quán chỉ còn lại lão lái đò Từ Bá nán lại, ngồi chậm rãi nhấp nốt những ngụm trà cuối cùng trong đáy bát.

Thanh Hà ngồi lại bên quầy tre, dưới ánh đèn dầu leo lét. Nàng cẩn thận dùng lòng bàn tay vuốt phẳng lại từng nếp nhăn trên trang giấy bổi của cuốn sổ nợ. Nàng cầm ngọn bút lông thỏ, chấm một chút mực tàu đen bóng, nắn nót viết thêm một dòng chú thích ngay ngắn bên cạnh tên của A Sinh:

*Chờ trả bằng ba bó củi khô.*

Gió sông đêm thổi vào qua liếp cửa mát rượi, xua tan đi hoàn toàn mùi khói than và mùi rượu chua ngột ngạt ban chiều. Dưới chân bến, mặt nước sông Vọng Giang lấp lánh ánh trăng đầu tháng trải dài như dát bạc, từng đợt sóng vỗ bờ nghe êm ả, thanh bình.

Chợt, từ mé cầu tàu bằng gỗ ngoài bến sông, tiếng mái dầm khua nước nhịp nhàng "bõm, bõm" bỗng vang lên gấp gáp, kéo theo tiếng gọi giật giọng của người lái đò chuyến muộn từ mạn ngược bến Nam Kiều vừa cập bờ:

"Có quán của cô Liễu Thanh Hà ở đây không? Có phong thư khẩn gửi từ lò gạch bến Nam Kiều mang sang đây!"

Thanh Hà giật mình thót một cái, tim nàng bỗng đập thình thịch trong lồng ngực. Nàng buông vội ngọn bút lông xuống gác nghiên, chạy ùa ra mé hiên lều.

Một người đưa thư bến sông mặc chiếc áo tơi lá sờn vai bước vội lên bờ đá, tay chìa ra một phong thư bọc bằng giấy rơm đã ố vàng, mép thư nhàu nát và vương đầy bụi đất sét đỏ nung lò, bên ngoài có nét chữ viết nghiêng lệch, vụng về nhưng vô cùng quen thuộc:

*Gửi chị gái Liễu Thanh Hà — Liễu Thanh Du tự tay viết.*

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn