Quán Trà Bên Bến ĐòC.6 / 34
Chương 6

Bánh hoa hòe thất bại

Hơi nước bốc lên từ chõ hấp tre nồng nặc mùi hăng đắng, làm cay xè mắt Thanh Hà khi nàng mở vung trong buổi sớm ẩm ướt ven bến sông.

Gió từ mặt sông Vọng Giang thổi thốc vào chái bếp tạm bợ, cuốn theo làn hơi nước mờ đục tạt thẳng vào mặt nàng. Mép liếp nứa rung lên bần bật dưới từng cơn gió ràn rạt, rải xuống nền đất nện những giọt sương đọng từ đêm trước. Thanh Hà chớp mắt liên hồi để xua đi cơn rát buốt nơi khóe mi, hai bàn tay thô ráp cẩn thận nhấc chiếc nắp vung đan bằng cật nứa già sang một bên. Trên chiếc chõ hấp lót lớp lá chuối tươi đã ngả sang màu vàng ủng vì nhiệt khét, mười hai chiếc bánh hoa hòe không hề giữ được hình hài tròn trịa, e ấp như lúc nàng nắn nót đặt vào. Khối bột nếp bên ngoài đã nở toét ra, rách toạc từng mảng lớn như những vết nứt nẻ chân chim, để lộ phần nhân bên trong nhão nhoẹt, trào ra ngoài mép bánh rồi chảy tràn xuống các mắt nan tre chẳng khác nào lớp bùn phù sa sau cơn lũ sớm.

Thanh Hà nén một tiếng thở dài nghẹn ứ nơi lồng ngực. Nàng cầm đôi đũa cả bằng tre đực đã mòn vẹt đầu, cẩn thận gắp một mẩu bánh nở bung ra chiếc đĩa sành sứt mẻ đặt trên chạn. Đưa đĩa bánh lên gần mũi, nàng khẽ nhắm mắt ngửi thử. Tuyệt nhiên không hề có mùi thơm ngọt mát, thanh tao phảng phất hương mật ong của hoa hòe cuối xuân như trong ký ức của nàng năm nào; thay vào đó là một thứ mùi ngai ngái nồng nặc xộc thẳng vào cuống họng, đắng đót, ngột ngạt và nặng trĩu hơi nước ẩm mốc của lòng đất bãi bồi.

Nàng dùng đầu đũa tách lấy một miếng nhỏ, ngập ngừng đặt lên đầu lưỡi. Vừa chạm vào, vị đắng chát gay gắt lập tức bùng lên buốt óc, khiến hai bên quai hàm nàng se thắt lại, nước bọt ứa ra đầy cay đắng. Lớp bột nếp bên ngoài không kết thành khối dẻo dai, mềm mại mà bở rục, dính nhớp nháp vào kẽ răng như cháo đặc nguội ngắt, trong khi những cánh hoa hòe bên trong vẫn còn sống sượng, mủ cây chưa thôi tiết ra hòa lẫn vào vũng nước đọng quánh dưới đáy nồi, biến chiếc bánh thành một thứ đồ ăn nhớp nhúa, nặng nề.

Nàng buông đũa, khẽ cúi người đưa tay sờ vào thành ngoài của chiếc bếp lò bằng đất sét trộn rơm mục mà nàng đã tỉ mẩn nhào đắp suốt mấy hôm vừa qua. Lớp đất sét bên trên tưởng chừng đã khô cong, xám xịt lại dưới sức nóng của than củi, nhưng khi ngón tay nàng lần sâu xuống phần chân lò giáp với mặt đất, nàng liền cảm nhận rõ mồn một một lớp đất ẩm ướt, lạnh buốt thấu xương. Doi đất bồi nơi nàng dựng lều quán nằm ngay sát mép nước dềnh lên xuống theo con nước lớn ròng; phù sa từ lòng sông theo mao dẫn ngấm ngược lên chân lò suốt đêm, làm cho nhiệt lượng trong lò hấp không tài nào bốc đều lên miệng chõ. Ngọn lửa rơm dù có lúc bốc đỏ rực bên dưới thì hơi nóng phả lên cũng lập tức bị cái lạnh ẩm của sông nước níu ghì lại, biến thành thứ nhiệt hầm hập, bức bách nửa sống nửa chín. Đã vậy, mớ hoa hòe tươi hái vội ven đê chiều hôm qua còn ngậm quá nhiều mủ cây, nàng vì nôn nóng mở hàng sớm nên chỉ mới rửa qua loa đôi ba lượt nước lạnh mà chưa vắt kiệt, khiến lượng nước thừa tự do ấy ứ đọng lại trong lòng bột, phá tan toàn bộ cấu trúc kết dính mong manh của nếp mới.

Vị đắng chát vẫn còn bám riết nơi cuống họng bỗng chốc làm sống dậy một ký ức cay đắng mà nàng đã cố chôn chặt nơi đáy sâu tâm can suốt năm năm trời đằng đẵng.

Năm ấy, cũng vào những ngày cuối xuân ẩm ướt đầy gió lạnh như thế này, trong gian nhà dột nát xơ xác ở ngoại thành, mẹ nàng nằm thoi thóp trên chiếc chõng tre ọp ẹp. Căn bệnh ho lao quái ác đã rút cạn kiệt chút sinh lực cuối cùng của bà, biến da thịt bà thành một lớp màng bọc lấy bộ xương khô khốc, hơi thở phập phồng đứt quãng chỉ còn như một sợi tơ mỏng mảnh trước cơn gió dữ. Trong cơn mê sảng chập chờn trước lúc lâm chung, bà run rẩy nắm chặt lấy bàn tay lạnh ngắt của Thanh Hà, đôi môi khô nứt nẻ thều thào từng tiếng yếu ớt. Bà nói rằng bà thèm một miếng bánh hoa hòe dẻo thơm do chính tay con gái làm, thèm cái vị ngọt thanh mát lành của loài hoa quê hương để làm dịu đi vị đắng ngắt của những chén thuốc bắc triền miên năm này qua tháng khác.

Thanh Hà khi ấy mới tròn mười lăm tuổi, hoảng loạn, sợ hãi và rối bời đến mức hai bờ vai run lên bần bật. Trong gian bếp mù mịt khói trấu ẩm cay xè mắt, nàng vừa gạt nước mắt lã chã vừa nhào bột, đầu óc bấn loạn chẳng còn nhớ nổi đâu là tỷ lệ nước, đâu là độ đượm của than củi. Mẻ bánh đầu tiên nàng làm trong nỗi kinh hoàng vội vã ấy đã bị sượng ngắt, đắng đót và khét lẹt dưới đáy nồi. Đến khi nàng bưng được chiếc bát sành đựng mẩu bánh hỏng khóc lóc chạy đến bên mép giường, thì bàn tay gầy guộc của mẹ đã buông thõng xuống đất từ lúc nào. Đôi mắt mẹ khép lại vĩnh viễn giữa cõi đời lạnh lẽo, chưa kịp nếm một chút vị ngọt thanh tao mà người con gái duy nhất cố công làm cho bà.

Nỗi ân hận tột cùng và mặc cảm tội lỗi ấy đã hóa thành một vết sẹo sâu hoắm, nhức nhối trong tim nàng. Suốt những năm tháng làm dâu chịu bao nỗi đọa đày, ghẻ lạnh và tủi nhục ở nhà họ Phạm, nàng chưa từng một lần dám chạm tay vào những chùm hoa hòe vàng nhạt, chưa từng dám mở lại trang sổ tay ố vàng có những dòng chữ nắn nót của mẹ ghi lại công thức làm bánh bí truyền. Cứ mỗi độ cuối xuân, ngửi thấy mùi hoa hòe thoảng đưa trong gió ven sông, ngực nàng lại thắt lại, nhói buốt như có ai đem nắm muối xát vào vết thương chưa lành miệng.

Và giờ đây, ngay trong mẻ bánh đầu tiên nàng đặt trọn hy vọng để bắt đầu một con đường mưu sinh mới bên bến đò Vọng Giang trơ trọi này, mùi đắng chát ấy lại một lần nữa trỗi dậy. Nó xộc thẳng vào mũi nàng, trơ trẽn và cay nghiệt như muốn nhắc nhở rằng nàng vẫn chỉ là một kẻ bất tài vô dụng, một đứa con dại dột chẳng giữ nổi lấy một chút tinh hoa mà người mẹ quá cố đã chắt chiu trao gửi.

Thanh Hà đứng chết lặng bên bếp lò, hai bàn tay siết chặt lấy vạt áo nâu thô đã sờn rách mép chỉ. Gió sông sớm mai thổi qua kẽ liếp nứa rách, mang theo cái lạnh ẩm ướt từ ngoài mặt nước mênh mông thốc thẳng vào người, làm sống lưng nàng khẽ run lên một cơn ớn lạnh.

"Chị Thanh Hà ơi..."

Một tiếng gọi nhỏ nhẹ, rụt rè cất lên từ phía góc lều xé tan bầu không khí đặc quánh, nặng nề của gian bếp. Thanh Hà giật mình thảng thốt quay lại, bắt gặp ánh mắt tròn xoe của Tiểu Mãn đang nhìn mình. Con bé đã thức dậy từ lúc nào không hay. Nó mặc chiếc áo vải thô vá chằng vá đụp ngang vai, mái tóc hoe hoe vì cháy nắng búi lộn xộn sau gáy bằng một cọng rơm khô, hai bàn tay khẳng khiu còn lấm lem muội than đen sì vì phải thức dậy cời trấu ủ ấm cho bếp lò suốt nửa đêm qua. Con bé lẹp kẹp đôi dép cói mòn vẹt bước lại gần bếp, nhìn làn khói lờ nhờ đang bốc lên từ chiếc chõ tre rồi lại ngước nhìn gương mặt nhợt nhạt, đôi mắt hãy còn ầng ậc nước của Thanh Hà.

Ánh mắt Tiểu Mãn nhanh chóng dừng lại ở đĩa bánh nhão nhoét, nứt toác thảm hại trên mặt chạn tre. Con bé khẽ nuốt nước bọt một cái ực, bước vội tới níu lấy mép tạp dề vải thô của nàng:

"Chị... chị đừng buồn mà! Em ngửi thấy thơm lắm đấy chứ! Thơm y như mùi hoa ngoài bờ đê lúc ban mai vậy. Hay là... để em ăn hết cho? Em ăn được hết đấy, chị đừng vứt đi mà tội nghiệp! Ngày trước lúc còn lang thang dưới gầm cầu bến than, có những hôm người ta vứt bánh đúc thiu chua lòm ra bãi rác em còn nhặt ăn ngon lành được cơ mà. Bụng dạ em như trâu đầm ấy, khỏe lắm, không bao giờ đau đâu chị. Bỏ đi thế này thì phí của giời quá, bao nhiêu là tiền gạo nếp, bao nhiêu là mật mía của chị..."

Nói đoạn, bàn tay gầy gò khẳng khiu như cành củi khô của con bé đã thoăn thoắt giơ ra, toan bốc lấy miếng bánh vỡ nát trên đĩa bỏ vào miệng.

"Dừng lại ngay, Tiểu Mãn!"

Thanh Hà hốt hoảng nắm chặt lấy cổ tay con bé. Giọng nàng đanh lại một cách nghiêm khắc, nhưng ánh mắt nhìn Tiểu Mãn lại run rẩy vì nỗi xót xa vô bờ. Nàng kéo con bé lại sát bên mình, rút chiếc khăn vải mềm vắt ngang vai, cẩn thận chấm lau đi vệt nhọ than còn vương trên gò má gầy trơ xương của đứa trẻ côi cút.

"Không được ăn thứ này. Bột này bị sống sượng rồi, mủ hoa chưa thôi ra hết, nuốt vào bụng chỉ tổ làm ruột gan cồn cào rồi đau quặn lên mà thôi."

"Nhưng mà... tốn bao nhiêu bột nếp với mật mía..." Tiểu Mãn líu ríu trong cổ họng, ánh mắt thèm thuồng và tiếc rẻ vẫn cứ dán chặt vào mớ bánh nát dưới đáy chõ. "Mấy hôm nay chị chắt chiu từng đồng tiền bán nước chè xanh cho các bác phu than mới gom đủ tiền mua thúng bột ấy..."

"Tiếc của là một chuyện, nhưng giữ lấy cái tâm làm nghề và sự tự trọng của mình lại là chuyện khác, em có hiểu không?" Thanh Hà ngồi xổm xuống trước mặt Tiểu Mãn, hai tay giữ chặt lấy bờ vai nhỏ nhắn của con bé. Giọng nàng trầm xuống, dịu dàng mà chứa đựng một sự kiên quyết lạ thường: "Tiểu Mãn, chị em mình tuy nghèo khó, phải nương náu nơi mép nước bến đò này để kiếm từng bát cơm manh áo qua ngày, nhưng tuyệt đối không bao giờ được phép tự hạ thấp bản thân mình. Đồ ăn bị hỏng, bị sống thì dứt khoát không thể đem ra bán để lừa gạt khách qua đường nhằm kiếm dăm ba đồng bạc thất đức; và càng không bao giờ được phép để người trong nhà mình phải nuốt nghẹn thứ thức ăn phế thải ấy chỉ vì tiếc rẻ. Em ăn đồ ôi thiu quen rồi, dạ dày sẽ hỏng mục đi, và quan trọng hơn cả là cái tâm của mình cũng sẽ dần quen với thói cẩu thả, bần tiện. Một khi đã chấp nhận sống bừa bãi, ta sẽ chẳng bao giờ ngẩng đầu lên được nữa. Em nhớ kỹ lời chị dặn hôm nay chưa?"

Tiểu Mãn ngước đôi mắt trong veo như giọt sương nhìn thẳng vào khuôn mặt cương nghị của Thanh Hà. Ngực con bé khẽ phập phồng sau làn áo mỏng, rồi nó gật đầu thật mạnh một cái:

"Em nhớ rồi ạ... Em nghe lời chị. Nhưng mà... mẻ bánh này phải bỏ đi thì sáng nay quán mình lấy cái gì để bán kèm với nước chè hở chị? Khách đi chuyến đò sớm sắp sửa qua sông rồi..."

"Ta làm lại mẻ khác." Thanh Hà dứt khoát đáp, không một chút ngập ngừng.

Nàng đứng phắt dậy, hai tay bê chiếc chõ tre nặng trĩu ra mé sau chái bếp. Dưới gốc cây sung già xum xuê cành lá mé bờ lạch bồi, nàng dùng chiếc xẻng sắt nhỏ đào một hố đất sâu hoắm. Nàng trút toàn bộ mười hai chiếc bánh hoa hòe nhão nhoét cùng phần bã hoa còn sót lại xuống lòng đất, rồi cẩn thận vun đất mùn lấp lại thật bằng phẳng. Thứ bột bánh hỏng này sẽ phân hủy dưới lòng đất sâu, làm chất dinh dưỡng nuôi cây cối tốt tươi, chứ nhất định không được để rơi vãi bừa bãi ra bãi bến làm mồi cho ruồi muỗi bu bám, hay để người đời đi qua nhìn vào mà buông lời chê cười, mỉa mai.

Làm xong xuôi mọi việc, Thanh Hà rửa sạch hai bàn tay dưới gáo nước mưa trong mát, rồi rảo bước vào góc lều tre. Nàng nhấc chiếc rương gỗ nhỏ giấu kín dưới gầm sàn tre được kê cao cách mặt đất hai gang tay. Mở chiếc nắp gỗ có bản lề sắt rỉ sét, nàng cẩn thận gạt cuốn sổ tay công thức sờn gáy của mẹ sang một bên, thò tay xuống tận đáy rương lôi ra một chiếc túi vải chàm thô đã bạc màu. Mở miệng túi, nàng trút toàn bộ số tiền bên trong ra mặt bàn tre ọp ẹp.

Những đồng tiền kẽm xỉn màu, mép bị mòn vẹt do cọ xát qua bao bàn tay lam lũ lăn lóc trên mặt bàn—đó là tất cả thành quả của những chuỗi ngày nàng thức khuya dậy sớm, chắt chiu từng bát nước chè xanh hai văn cho lão lái đò Từ Bá và cánh phu bến bốc than vất vả. Nàng nín thở, cẩn thận dùng ngón tay trỏ đếm đi đếm lại từng đồng một.

Tổng cộng chỉ vỏn vẹn được ba mươi hai đồng tiền kẽm.

Trừ đi mười đồng bắt buộc phải giữ lại trong túi để mua củi trấu khô dự phòng đốt lò trong mấy ngày mưa gió tới, trong tay nàng lúc này chỉ còn đúng hai mươi hai đồng tiền kẽm để mua nguyên liệu mới. Hai mươi hai đồng—đây là toàn bộ vốn liếng cuối cùng của nàng. Nếu mẻ bánh thứ hai này tiếp tục thất bại, nếu nàng lại làm hỏng bột và mật, thì số tiền dành dụm bấy lâu sẽ tan thành mây khói, và giấc mộng gom đủ năm mươi lượng bạc để chuộc em trai Thanh Du thoát khỏi cảnh nô dịch vắt kiệt sức ở lò gạch Nam Kiều sẽ càng thêm mịt mù tăm tối.

Thanh Hà siết chặt nắm tiền đồng trong lòng bàn tay. Các cạnh kim loại sắc lạnh cấn sâu vào da thịt nàng đau buốt, nhưng chính cái đau nhói rát buốt ấy lại khiến đầu óc nàng bừng tỉnh, sáng suốt lạ thường. Nàng không được phép gục ngã, càng không được phép để nỗi sợ hãi làm chùn bước chân mình.

Nàng ngẩng đầu lên, nhìn Tiểu Mãn dặn dò kỹ lưỡng:

"Tiểu Mãn, em ở lại trông quán giúp chị. Chị đã ủ sẵn hai ấm chè xanh đậm lửa trong thúng trấu ấm rồi đấy. Nếu lát nữa có bác Từ Bá cập đò hay mấy bác phu than ghé vào uống nước, em cứ việc múc nước mưa tráng bát sành cho thật sạch rồi rót chè mời họ. Nhớ thu đúng hai văn một bát, tiền thu được thì bỏ ngay vào ống nứa treo bên cột bếp, tuyệt đối không được mở rương gỗ ra nghe chưa. Chị phải chạy sang chợ Đông Tân tìm mua bột nếp mới và hỏi han thêm cách làm. Chị sẽ đi thật nhanh rồi về ngay, chừng tàn một tuần hương là chị có mặt ở quán."

"Chị cứ yên tâm đi ạ!" Tiểu Mãn vỗ vỗ vào ngực mình, đôi mắt lanh lợi đảo quanh một lượt ngoài hiên quán. "Em sẽ canh chừng quán xá và bếp lò cẩn thận, không để một ai bén mảng lại gần quầy của chị đâu!"

Thanh Hà khẽ mỉm cười gật đầu, khoác chiếc giỏ tre đã cũ lên cánh tay rồi bước thoăn thoắt ra con đường mòn phủ đầy cỏ may dẫn ngược lên mặt đê sông.

***

Chợ Đông Tân nằm cách bến đò Vọng Giang chừng một dặm đường bộ, vắt ngang qua một dải đất cao ráo, là nơi buôn bán sầm uất bậc nhất của vùng ngoại ô huyện Thanh Lâm. Buổi sớm mai, khi những dải sương mù đùng đục từ mặt sông bốc lên còn chưa kịp tan biến trên những ngọn tre thì không khí nơi đây đã bị xua tan bởi âm thanh ồn ào náo nhiệt của hàng trăm con người đổ về họp chợ. Mùi tanh nồng đặc trưng của mớ cá trắm, cá chép sông tươi rói đang quẫy đạp cuống cuồng trong những chậu thau đầy nước, mùi hăng hắc bốc lên từ những sạp lá thuốc nam phơi khô dưới nắng, mùi thơm ngậy béo ngậy của các chõ xôi nếp bốc khói nghi ngút và tiếng đòn gánh kĩu kịt trên đôi vai gầy guộc của những người nông dân tảo tần đã hòa quyện vào nhau, vẽ nên một bức tranh mưu sinh đầy sôi động và khắc nghiệt.

Thanh Hà rảo bước thật nhanh qua những dãy hàng cá trơn trượt, lách qua những sạp rau xanh mướt còn đọng sương, cắm cúi đi thẳng về phía khu bán lương thực và đồ khô nằm san sát ở mé đông của chợ. Nàng cần tìm mua bột nếp cái hoa vàng loại ngon nhất, thứ bột xay nước lắng kỹ không pha tạp, cùng một ít đường mật mía cô đặc để làm lại mẻ bánh. Thế nhưng, sức nặng của số tiền ít ỏi nằm trơ trọi trong túi vải chàm khiến mỗi bước chân của nàng đều mang theo một nỗi ngập ngừng, e dè. Nàng dừng lại trước một sạp bột gạo có quy mô bề thế nhất nhì góc chợ, bên trên căng một tấm bạt dầu lớn màu xám xịt để che mưa nắng. Trên sạp bày la liệt những thúng bột gạo tẻ, bột nếp mùa mới và bột đậu xanh xay mịn màng, trắng tinh khiết như những đụn tuyết đầu mùa.

Chủ sạp là một gã đàn ông trạc tứ tuần, người béo núc ních, khuôn mặt tròn ủng bóng nhẫy mồ hôi dù trời sớm còn se lạnh. Gã có đôi mắt ti hí đảo liên hồi như hai hòn bi ve, chốc chốc lại liếc ngang liếc dọc quan sát túi tiền của khách qua đường; người quanh vùng thường gọi gã bằng cái tên Tiền Béo. Nhìn thấy Thanh Hà bước tới trong bộ áo nâu thô bạc phếch, vạt áo còn vương lại chút tro bếp của buổi sớm lam lũ, khóe miệng gã khẽ nhếch lên thành một nụ cười khinh khỉnh, cất giọng the thé chua chát:

"Mua bán gì đấy hả cô em? Bột nếp cái hoa vàng mùa mới dẻo quánh đây, năm văn một cân không bớt một cắc, mua nhanh kẻo lát nữa là hết sạch phiên đấy!"

Thanh Hà bước lại gần sạp, khẽ cúi đầu chào theo phép tắc của kẻ đi mua hàng:

"Thưa bác, cháu muốn mua ba cân bột nếp cái hoa vàng loại rây kỹ, không lẫn một hạt bột tẻ nào. Nhờ bác cân cẩn thận giúp cháu."

"Được rồi, đứng xích ra một bên cho người khác còn chen vào mua bán!" Gã Tiền Béo làu bàu trong miệng, vơ lấy chiếc muôi gỗ lớn có cán dài, xúc từng muôi bột nếp đầy có ngọn từ một chiếc bao tải lớn đặt ở góc trong đổ ụp vào chiếc thúng nhỏ đặt ngay ngắn trên bàn cân.

Thanh Hà đứng nép bên cạnh, hai mắt không rời từng cử động nhỏ của gã bán hàng. Nàng đã từng có những tháng ngày dài sống trong gia đình quyền thế họ Phạm, từng nhiều lần theo chân các bà quản gia dày dạn kinh nghiệm đi khắp các chợ lớn chợ nhỏ để mua gom lương thực dự trữ, nên nàng chẳng còn lạ lẫm gì với những mánh khóe bẩn thỉu của cánh con buôn gian giảo chốn chợ búa. Nàng nhận thấy chiếc cân mà gã Tiền Béo đang dùng là một chiếc cân tiểu ly bằng đồng đã xỉn màu, quả cân hình quả chuông được buộc bằng một sợi dây gai sờn mép. Lúc đặt thúng bột lên đĩa cân, ngón tay cái hộ pháp của gã khẽ tì nhẹ vào vành đĩa một cách vô cùng kín đáo, trong khi cánh tay đòn bằng gỗ mun lại chúc nghiêng về một bên một cách bất thường trước khi gã kịp gạt quả cân sang vạch số ba.

"Đây, đúng ba cân mười lăm văn tiền, nể tình cô em mở hàng sớm cho ta, ta bớt cho một văn lấy may, đưa mười bốn văn đây!" Gã Tiền Béo thoăn thoắt trút thúng bột vào chiếc túi vải của Thanh Hà, bàn tay mập mạp bóng nhẫy lập tức chìa ra đòi tiền.

Thanh Hà khẽ nhíu mày. Bằng cảm giác nhạy bén của một người đã gắn bó với cối xay, nia sàng từ thuở ấu thơ, khi đôi bàn tay nàng đỡ lấy chiếc túi vải từ tay gã, nàng nhận thấy sức nặng đè lên cổ tay nhẹ hơn hẳn so với sức nặng thực tế của ba cân bột nếp ngậm nước. Nàng ngước mắt nhìn thẳng vào chiếc cân đòn đang treo lủng lẳng trên giá gỗ, rồi nhìn thẳng vào đôi mắt ti hí giảo hoạt của gã bán bột:

"Bác Tiền, túi bột này của cháu dường như chưa đủ ba cân. Cánh đòn cân của bác vừa rồi bị lệch hẳn về một phía, quả cân đồng chưa chạm đúng vào vạch chuẩn mà bác đã vội vàng nhấc xuống. Xin bác làm ơn đặt quả cân lại một lần nữa trước mặt bàn dân thiên hạ cho cháu được rõ ràng có được không ạ?"

Nụ cười giả lả trên khuôn mặt phì nộn của gã Tiền Béo thoắt cái biến mất tăm. Mặt gã đỏ gay lên như gà chọi, gã đập mạnh chiếc muôi gỗ xuống mặt bàn kêu chát một tiếng nảy lửa, lớn tiếng quát tháo om sòm:

"Này con ranh kia, mày vừa mở mồm nói cái giọng ngậm máu phun người gì đấy hả? Sạp hàng của ông mày buôn bán ở cái chợ Đông Tân này hai mươi năm có lẻ, từ quan viên nha môn cho đến cánh phu bến bốc vác ai mà không biết tiếng thơm ngay thẳng của họ Tiền này! Mày mua có mấy đồng bạc bột vụn mà dám to gan lớn mật đứng đây vu vạ cho ta là phường cân điêu đong thiếu à? Đã không có tiền mua thì xéo xắt đi chỗ khác cho người ta nhờ, đừng có đứng đây mà ám quẻ sạp của ta!"

Tiếng quát tháo sặc mùi chợ búa của gã lập tức như một mồi lửa ném vào đám đông. Tiếng bước chân dồn dập kéo tới, mấy bà nội trợ đang chọn rau, vài người gánh hàng rong cùng cánh đàn ông rỗi việc quanh chợ liền dừng chân túm tụm lại xì xào bàn tán chỉ trỏ. Thanh Hà tuy trong lòng run rẩy trước dáng vẻ hung hãn, bặm trợn của gã đàn ông to xác, nhưng nàng hiểu rất rõ rằng nếu lúc này mình nhượng bộ dù chỉ nửa bước, thì số tiền mồ hôi nước mắt chắt chiu từ từng giọt nước chè xanh sẽ bị nuốt chửng một cách oan ức, và mẻ bánh thứ hai của nàng chắc chắn sẽ lại thất bại vì hụt mất lượng bột cần thiết.

"Cháu không hề vu vạ cho bác một lời nào," Thanh Hà cố gắng nén chặt nỗi sợ hãi, giữ cho âm lượng của mình thật bình tĩnh, rành rọt, đôi mắt nàng kiên định nhìn xoáy vào đối phương. "Cháu chỉ xin được đem túi bột này cân lại một cách công khai trước mắt mọi người. Nếu quả thật túi bột này đủ ba cân như lời bác nói, cháu xin tự nguyện trả thêm hai văn tiền nữa để làm lễ tạ lỗi với bác ngay tại chỗ này."

"Mày... con ranh này mày muốn làm loạn đấy phỏng?" Gã Tiền Béo trợn trừng hai mắt, xắn ngược hai ống tay áo để lộ bắp tay cuồn cuộn lông lá, bước xấn tới toan giật phắt lấy túi bột trên tay Thanh Hà để phi tang.

"Này lão Tiền Béo! Lão định giở cái thói bắt nạt gái góa côi cút giữa ban ngày ban mặt ở chốn chợ búa này đấy à?"

Một giọng nói lanh lảnh, sang sảng và đanh thép như tiếng chuông đồng bất thần vang lên từ phía sạp hàng đối diện, cắt ngang hành động hung bạo của gã đàn ông.

Đám đông đang xôn xao bỗng tự động dạt ra hai bên nhường lối. Một người phụ nữ trạc chừng ba mươi tuổi sải những bước chân dứt khoát, vững chãi tiến lại gần. Nàng có thân hình đẫy đà, khỏe khoắn, nước da bánh mật hồng hào tràn đầy sức sống và một đôi mắt phượng sắc sảo, long lanh như hai lưỡi dao cau. Nàng mặc một chiếc áo tứ thân màu xanh chàm được may cắt gọn gàng, vạt áo giắt bên hông chiếc kéo sắt nhỏ sáng loáng cùng một cuốn sổ giấy bản bọc da trâu bóng mỡ. Người phụ nữ ấy không ai khác chính là Đỗ Nguyệt Nương, chủ sạp bán bột đường và mật mía lớn nhất nhì chợ Đông Tân, người nổi tiếng khắp vùng về sự khảng khái và cương trực.

Nguyệt Nương bước thẳng tới trước mặt gã Tiền Béo, chẳng thèm đếm xỉa đến khuôn mặt đang hằm hằm sát khí của gã. Nàng vươn cánh tay rắn chắc nhấc bổng chiếc cân tiểu ly của gã lên ngang tầm mắt trước sự chứng kiến của hàng chục người đi chợ.

"Bà con lối xóm quanh đây nhìn cho thật rõ vào chiếc cân này đi!" Nguyệt Nương cất giọng sang sảng, dùng ngón tay cái có móng sắc cạo mạnh một đường dứt khoát vào phần đáy trũng của quả cân bằng đồng. Một mẩu chì màu xám xịt, dẹt như một đồng tiền xu nhỏ bị cạo bung ra, rơi leng keng xuống mặt bàn gỗ. "Lão nhét thêm miếng chì này vào quả cân để làm nặng đầu cân, còn cái cán cân bên kia thì lão mài mòn rãnh khấc thứ ba! Ba cân bột nếp của con gái nhà người ta mà qua cái trò ma thuật của cái cân này thì chỉ còn chưa đầy hai cân rưỡi! Lão ăn bớt ăn xén trắng trợn nửa cân bột nếp của một đứa con gái thân cô thế cô, lão có còn biết xấu hổ với trời đất, quỷ thần hay không hả lão Tiền Béo?"

Đám đông vây quanh ồ lên một tiếng đầy phẫn nộ. Những tiếng xì xào chỉ trích, chửi rủa lập tức nhắm thẳng vào mặt gã bán hàng:

"Rõ quân buôn gian bán lận! Thảo nào bấy lâu nay tôi mua yến gạo về nhà đong lại bao giờ cũng thấy hao hụt mất vài bát!"

"Đúng là phường thất đức! May mà có chị Nguyệt Nương đứng ra vạch mặt chỉ tên!"

Khuôn mặt bóng nhẫy của gã Tiền Béo lúc này chuyển từ đỏ gay sang tái mét như tàu lá chuối héo. Gã lắp ba lắp bắp, cuống cuồng giật lấy chiếc cân giấu tọt ra sau lưng, cái giọng hung hăng ban nãy thoắt cái đã xìu xuống ỉu xìu:

"Chị... chị Nguyệt Nương... chỗ buôn bán cùng dãy với nhau, ai lại đi vạch áo cho người xem lưng thế bao giờ... Chắc là... chắc là thằng ranh con nhà tôi hôm qua nó nghịch dại, dán bậy cục chì vào đấy thôi chứ tôi có biết đâu..."

"Thằng con trai nhà lão năm nay hai mươi mấy tuổi đầu, vợ con đùm đề sắp sửa cưới thêm vợ lẽ đến nơi rồi mà còn nghịch dại như con nít ba tuổi à?" Nguyệt Nương hừ lạnh một tiếng sắc như dao, hai tay khoanh lại trước ngực, trừng mắt nhìn gã. "Mau trả lại số tiền thừa cho cô em này, rồi xúc thêm cho đủ nửa cân bột nếp cái hoa vàng loại ngon nhất bỏ vào túi cho người ta! Bằng không, chỉ một lát nữa thôi khi bác Đào phường bảo và quan thị lại đi tuần qua đây, chính tay Đỗ Nguyệt Nương này sẽ đem cái cân đúc chì này nộp thẳng lên công đường huyện nha Thanh Lâm cho lão nếm mùi gông cùm!"

Gã Tiền Béo nghe nhắc đến quan huyện nha thì hai đầu gối run lẩy bẩy như cầy sấy. Biết Nguyệt Nương vốn là người có tiếng nói uy tín trong Hội nữ thương Đông Tân, lại quen biết rộng rãi với nhiều chức dịch trong huyện, gã không dám hó hé thêm nửa lời. Gã vội vã vơ lấy chiếc muôi gỗ, run rẩy xúc hai muôi bột nếp đầy ắp trút vào túi vải cho Thanh Hà, rồi lấm lét móc trong ống tay áo ra năm đồng tiền kẽm trả lại cho nàng, miệng lầm bầm:

"Đấy... đủ cả rồi đấy... coi như ta làm phúc làm đức cho cô em một lần..."

"Làm phúc cái mả bố nhà lão ấy!" Nguyệt Nương quắc mắt lườm gã một cái cháy mặt, rồi đưa tay nắm lấy cổ tay Thanh Hà, giọng nói của nàng thoắt cái chuyển sang ấm áp, xởi lởi đến lạ lùng: "Đi theo ta, muội muội! Mua bán với cái ngữ người thất đức này chỉ tổ chuốc lấy bực bội vào thân mà thôi!"

Thanh Hà còn chưa kịp định thần sau cơn chấn động thì đã được Nguyệt Nương dắt tay kéo thẳng sang sạp hàng đối diện. Sạp hàng của Nguyệt Nương rộng rãi, thoáng đãng và sạch sẽ vô cùng. Nơi đây thoang thoảng mùi thơm nức của mật mía cô đặc, mùi bột mạch nha ngọt ngào và những tảng đường phèn trong suốt như hổ phách được xếp ngay ngắn, ngăn nắp trên những thúng tre lót sẵn lá sen khô thơm ngát.

Nguyệt Nương ấn vai Thanh Hà ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng tre con, tự tay rót một bát nước vối nóng hổi thơm mùi lá mới đẩy lại trước mặt nàng:

"Uống một ngụm nước ấm cho định thần lại đi, muội muội. Ta đã để ý quan sát muội từ lúc muội mới bước chân vào chợ rồi. Dáng điệu thì có phần e dè, nhút nhát của người mới ra chốn buôn bán, nhưng ánh mắt lúc nhìn người ta cân đong thóc bột thì lại sắc sảo, có nghề lắm. Muội chính là cô chủ quán nước chè mới mở mé bãi bồi bến đò Vọng Giang mấy hôm nay phải không?"

Thanh Hà hai tay đón lấy bát nước vối ấm nóng, hơi ấm từ lớp gốm mộc lan tỏa vào lòng bàn tay xua đi cái buốt lạnh và nỗi bồn chồn trong lồng ngực. Nàng cúi đầu, cất giọng cảm kích:

"Dạ, em đa tạ tỷ tỷ đã ra tay tương trợ lúc nguy nan. Em chính là Liễu Thanh Hà ở quán nước ven bến đò. Nếu ban nãy không có tỷ tỷ đứng ra vạch trần mưu gian của gã bán bột, thì mấy đồng tiền mồ hôi nước mắt chắt bóp của em đã bị người ta cướp trắng mất rồi."

"Ôi dào, muội khách khí làm gì mấy chuyện cỏn con ấy!" Nguyệt Nương xua tay cười lớn, nụ cười rạng rỡ làm bừng sáng khuôn mặt đẫy đà, phúc hậu. "Đàn bà con gái chúng mình thân cô thế cô bước chân ra chốn chợ đời này kiếm miếng cơm manh áo, nếu không mở to mắt ra mà nhìn, không ghê gớm, cứng cỏi lên một chút thì bị cánh đàn ông và lũ gian thương nó nuốt tươi nuốt sống từ tám kiếp rồi! Ta ghét nhất trên đời cái thói ỷ mạnh hiếp yếu. Mà này, ta thấy muội mua nhiều bột nếp ngon thế kia, lại hỏi mua loại rây kỹ, là để làm bánh bán kèm với nước chè đãi khách qua sông à?"

Ánh mắt Thanh Hà thoáng chùng xuống, một nỗi buồn man mác hiện lên nơi đáy mắt. Nhìn những sọt bột mịn màng trắng muốt và những hũ mật mía óng ánh sắc vàng cánh gián trên sạp của Nguyệt Nương, nỗi day dứt khôn nguôi về mẻ bánh hoa hòe hỏng bét hồi sáng sớm lại trào dâng trong ngực. Nàng ngập ngừng giây lát, rồi quyết định mở lòng giãi bày:

"Thưa tỷ tỷ, quả thật là em đang định làm món bánh hoa hòe để bán cho khách chờ đò qua sông. Thế nhưng... sáng nay em làm thử mẻ đầu tiên thì hỏng không còn hình thù gì cả. Bánh khi hấp chín nở toét ra, nhân bên trong nhão nhoẹt như bùn, lại có một vị đắng chát xộc thẳng lên cuống họng, tuyệt nhiên không có chút vị ngọt thơm nào. Em đang hoang mang quá, không hiểu mình đã làm sai ở công đoạn nào..."

Nguyệt Nương chăm chú lắng nghe, không hề tỏ ra chê cười hay xem thường, trái lại nàng khẽ gật gù đầu, ánh mắt lộ rõ vẻ thấu hiểu của một người thợ làm bánh lâu năm. Nàng với tay vào chiếc thúng nhỏ, nhón lấy một viên đường phèn nhỏ đưa cho Thanh Hà:

"Ngậm chút ngọt này cho tan hết cái đắng nơi cuống họng đi đã nào. Muội ơi, hoa hòe tươi hái ven bờ sông Vọng Giang mùa này đúng là đang nở rộ thật, chùm nào chùm nấy mập mạp béo tốt, nhưng muội có biết vì sao dân bản xứ quanh đây người ta chẳng mấy ai dám hái về ăn sống hay không?"

Thanh Hà ngạc nhiên lắc đầu, chăm chú nhìn Nguyệt Nương chờ đợi lời giải thích.

"Loài hoa hòe mọc ven bãi bồi ngậm phù sa con nước lớn, cánh hoa rất dày nhưng trong cuống hoa lại chứa đầy một lượng mủ cay đắng cực kỳ đậm đặc!" Nguyệt Nương hạ giọng, giảng giải từng lời từng chữ rành rọt như rót mật vào tai nàng: "Muội hái hoa về, nếu chỉ đem rửa qua loa bằng nước lạnh rồi trộn ngay với bột đem đi hấp, thì khi gặp nhiệt độ cao trong chõ, lượng mủ tươi ấy sẽ theo hơi nóng tiết ra toàn bộ, ngấm thẳng vào từng thớ bột nếp làm đắng nghét cả mẻ bánh. Muốn khử sạch cái vị đắng chát ấy, hoa hòe hái về phải nhặt sạch từng chiếc cuống già xơ xác, bắc một nồi nước sôi già trên bếp lửa đượm, rồi thả hoa vào chần thật nhanh—chỉ chừng nửa khắc thôi, đếm nhẩm từ một đến mười là phải lập tức vớt hoa ra ngay, thả chìm vào một chậu nước giếng thật lạnh! Sau đó, muội dùng một mảnh vải màn thô bọc kín hoa lại, dùng sức của hai bàn tay bóp thật ráo kiệt, vắt cho đến khi không còn rỉ ra một giọt nước mủ vàng nào nữa thì mới thôi!"

Thanh Hà tròn xoe đôi mắt, trong lòng như có một luồng ánh sáng rực rỡ bừng lên xua tan bóng tối. Ra là vậy! Năm xưa khi mẹ nàng còn sống, mẹ luôn là người lặng lẽ chuẩn bị, sơ chế hoa hòe từ chiều hôm trước, nàng khi ấy còn thơ dại chỉ việc ngồi cạnh nhào nặn bột nên chưa từng tường tận cái công đoạn chần nước sôi và vắt ráo mủ quan trọng đến dường này.

"Còn về cái chuyện vỏ bánh bị nhão toét rách toạc ra..." Nguyệt Nương đưa mắt nhìn về phía doi đất ven bờ sông xa xăm, giọng nói trầm lắng lại: "Muội dựng lều quán ngay mé bãi bồi, chiếc lò đắp bằng đất sét ấy đêm đêm hút no hơi ẩm của lòng sông bốc lên. Đất ướt thì chân lò lạnh, ngọn lửa dù có đỏ thì nhiệt bốc lên chõ cũng không đều, hơi nước trong nồi không thoát ra được mà ngưng tụ lại trên nắp vung, rồi nhỏ giọt ngược trở lại làm úng nát mặt bánh. Muốn bánh giữ được phom dáng cứng cáp, dẻo dai, trong tỷ lệ bột nếp muội phải pha thêm đúng một phần mười bột gạo tẻ khô xay mịn; đồng thời, lượng mật mía trộn vào bột phải biết gia giảm tùy theo độ ẩm của trời. Ngày nào trời nồm ẩm ướt, gió sông thổi mạnh thì phải bớt nước, dùng thứ mật mía đặc cô già lửa; dưới đáy chõ hấp, thay vì chỉ lót lá chuối tươi, muội phải trải thêm một lớp rơm khô hoặc lá chuối khô đã hong qua khói bếp để nó hút bớt cái hơi nước thừa đọng lại!"

Từng câu, từng lời chỉ dẫn tường tận của Nguyệt Nương như một chiếc chìa khóa vàng mở toang cánh cửa bế tắc bấy lâu trong tâm trí Thanh Hà. Nàng ghi tạc từng lời dặn dò ấy vào tận sâu trong tâm can, hai mắt sáng ngời lên vì niềm xúc động và sự khâm phục:

"Tỷ tỷ thật là bậc thầy tinh thông! Những kinh nghiệm quý báu này, nếu hôm nay không được tỷ tỷ mở lòng chỉ dạy, thì một đứa vụng về như em có mò mẫm cả đời cũng chẳng bao giờ hiểu nổi."

Nguyệt Nương bật cười giòn tan, nụ cười hồn hậu làm rung rinh đôi hoa tai bạc:

"Tinh thông nỗi gì đâu muội! Toàn là những bài học xương máu mà ta phải trả giá bằng hàng chục mẻ bột hỏng, hàng trăm chiếc bánh đổ đi thời còn chập chững mới ra chợ đấy thôi! Phận đàn bà con gái buôn thúng bán mẹt chúng mình, một mình một bóng bươn chải nơi đầu sóng ngọn gió, nếu không biết thương lấy nhau, không biết chỉ vẽ cho nhau từng chén cơm manh áo thì làm sao mà sống sót nổi giữa cái thói đời bon chen này? Ở cái chợ Đông Tân này, chị em chúng ta có lập ra một nhóm gọi là Hội nữ thương, toàn là những người phụ nữ góa bụa, đơn thân, hoặc có chồng đi lính thú phương xa biền biệt. Chúng ta nương tựa vào nhau để bảo vệ nhau khỏi lũ du côn bến bãi, cùng nhau gom tiền mua chung các mối hàng lớn với giá gốc để không bị bọn đầu nậu chèn ép giá cả. Hôm nào rảnh rỗi quán xá, muội cứ việc bước chân sang đây chơi với chị em. Đàn bà mình muốn đứng vững được ở đời, trước hết phải dựa vào sự tự lập của đôi bàn tay mình, và sau đó là dựa vào cái tình nghĩa keo sơn của những người cùng chung cảnh ngộ!"

Những lời nói chân thành, mộc mạc mà tràn đầy khí phách hào sảng của Nguyệt Nương như một ngọn lửa ấm nồng sưởi rọi cõi lòng đang chơ vơ, lạnh lẽo của Thanh Hà. Nàng xúc động cúi đầu thật sâu:

"Dạ, ân tình sâu nặng này của tỷ tỷ, em xin khắc cốt ghi tâm."

Dưới sự hướng dẫn tận tình của Nguyệt Nương, Thanh Hà đã dùng số tiền kẽm vừa lấy lại được mua thêm một tảng mật mía cô đặc thượng hạng màu hổ phách và một túi nhỏ bột gạo tẻ khô xay mịn. Thấy hoàn cảnh nàng khó khăn, Nguyệt Nương còn xởi lởi tặng thêm cho nàng một bó lá chuối khô đã được hong qua giàn bếp thơm mùi bồ hóng để đem về lót chõ hấp.

***

Khi Thanh Hà gánh đôi giỏ tre đựng đầy nguyên liệu mới quay trở về đến bến đò Vọng Giang thì mặt trời buổi sớm đã vượt qua khỏi rặng tre, nhô cao bằng một cây sào, rải những tia nắng ấm áp xua tan màn sương mù ẩm ướt trên mặt sông.

Dưới mái hiên lều tranh, Tiểu Mãn đang thoăn thoắt đôi chân, hai tay bưng hai bát nước chè xanh nghi ngút khói mời hai người phu bốc vác vừa bốc xong chuyến thuyền gỗ cập bến. Nhìn thấy bóng dáng Thanh Hà thoăn thoắt bước xuống triền đê, con bé liền reo to lên một tiếng đầy mừng rỡ:

"Chị Thanh Hà đã về rồi! Chị ơi, ban nãy bác Từ Bá chèo đò qua sông có ghé vào quán uống một bát nước chè, bác khen nước chè ủ trong thúng trấu của chị đậm lửa, ngọt giọng lắm! Bác ấy gửi lại hai văn tiền, em đã cất cẩn thận vào ống nứa rồi đấy chị ạ!"

"Tiểu Mãn của chị giỏi lắm!" Thanh Hà mỉm cười rạng rỡ, đưa bàn tay khẽ vuốt ve mái tóc hoe vàng khét nắng của con bé, lòng nàng bừng lên một nguồn sinh lực dồi dào chưa từng thấy.

Không để lãng phí thêm một khoảnh khắc quý giá nào, nàng xắn cao hai ống tay áo, bắt tay ngay vào việc làm lại mẻ bánh thứ hai. Nàng cầm chiếc rổ xảo bằng tre bước nhanh ra rặng hòe cổ thụ mọc sừng sững ven triền đê. Dưới ánh nắng ban mai rực rỡ, nàng tỉ mẩn lựa chọn, chỉ hái những chùm búp hòe tươi tắn nhất, những nụ hoa ngậm đầy sương sớm vừa hé nở cánh ngọc trắng xanh mịn màng.

Trở về gian bếp nhỏ, nàng ngồi trên chiếc ghế đẩu, kiên nhẫn nhặt bỏ từng chiếc cuống già xơ xác, chỉ giữ lại phần búp hoa non mềm mại. Nàng vơ nắm củi trấu thật khô nhóm vào lò đất, ngọn lửa củi khô bén nhanh bùng lên đỏ rực, tiếng reo lách tách ấm áp xua tan cái ẩm ướt lạnh lẽo nơi chân lò. Chẳng mấy chốc, một nồi nước giếng đá Thanh Khê đầy ắp đã sôi bùng lên sùng sục.

Làm đúng như những lời chỉ dẫn quý như vàng của Nguyệt Nương, Thanh Hà trút toàn bộ rổ hoa hòe tươi vào nồi nước sôi già. Nàng dùng đôi đũa cả khẽ đảo tròn thật đều tay, miệng lẩm nhẩm đếm thầm mười nhịp thở thật sâu. Đúng mười nhịp, nàng lập tức vớt thoăn thoắt toàn bộ hoa ra khỏi nồi, thả chìm ngay vào một thau nước giếng đá lạnh buốt đã múc sẵn bên cạnh.

Kỳ diệu thay! Những cánh hoa hòe sau khi được chần qua nước sôi rồi gặp ngay nước lạnh đột ngột vẫn giữ nguyên được sắc xanh non mướt mát tự nhiên, cánh hoa săn lại giòn rụm chứ không hề bị chín nát; trong khi đó, thứ nước luộc đầu tiên nàng trút ra khỏi nồi lại có màu vàng sẫm đục ngầu và bốc lên một mùi đắng chát nồng nặc—đó chính là toàn bộ phần mủ đắng độc hại đã bị tước bỏ hoàn toàn!

Nàng trút toàn bộ hoa hòe đã nguội vào một mảnh vải màn thô sạch tinh tươm, cuộn tròn bốn góc lại thật chặt. Đứng vững hai chân trên nền đất nện, Thanh Hà dùng hết sức bình sinh của đôi bàn tay lam lũ bóp vắt thật mạnh. Từng dòng nước mủ đắng sót lại rỉ qua kẽ ngón tay nàng, chảy tong tỏng xuống rãnh thoát nước. Nàng vắt đi vắt lại tới ba lần, cho đến khi mở bọc vải ra, những cánh hoa hòe tơi xốp, khô ráo kiệt cùng hiện ra trước mắt, chỉ còn vương lại một mùi thơm thanh khiết, ngan ngát tựa như hương của những búp trà non vừa hái.

Tiếp đó, nàng đổ mười phần bột nếp cái hoa vàng vào chiếc thau đồng sạch, cẩn thận trộn thêm một phần bột gạo tẻ khô xay mịn theo đúng tỷ lệ mà Nguyệt Nương đã dặn. Tảng mật mía cô đặc màu hổ phách được nàng dùng dao con cạo thành từng lát mỏng, hòa tan vào một lượng nước ấm vừa đủ để tạo thành một thứ nước đường sánh quánh như mật ong rừng. Đôi bàn tay khéo léo của Thanh Hà thoăn thoắt miết từng thớ bột, nhào nặn một cách nhịp nhàng, đều đặn. Nàng nhào cho đến khi khối bột trở nên dẻo quánh, mịn màng như làn da của đứa trẻ sơ sinh, không còn dính một chút bột thừa nào vào thành thau đồng. Lúc này, nàng mới trút toàn bộ số hoa hòe đã vắt ráo vào thau, nhào đều thêm một lần nữa để những cánh hoa xanh non phân bố đều khắp trong từng thớ bột trắng ngà.

Nàng dùng hai lòng bàn tay thoa một lớp dầu lạc mỏng, khéo léo ngắt từng phần bột nhỏ, nặn thành mười hai chiếc bánh tròn trịa, xinh xắn, kích thước vừa vặn bằng miệng chiếc chén trà hoa lam.

Dưới đáy chiếc chõ tre, nàng cẩn thận trải một lớp lá chuối khô đã hong khói bếp của Nguyệt Nương để ngăn cản hơi ẩm từ lòng đất và hút sạch những giọt nước đọng; bên trên lớp lá khô, nàng mới rải thêm một lớp lá chuối tươi xanh mướt đã thoa dầu lạc chống dính. Từng chiếc bánh hoa hòe được đặt vào chõ đều tăm tắp, chừa ra những khoảng cách vừa đủ để làn hơi nóng có thể tự do lưu thông quanh thân bánh.

Nàng đậy chặt chiếc vung tre, cời thêm củi khô vào lò, giữ cho ngọn lửa cháy đều đặn, bền bỉ. Tiếng nước sôi dưới đáy nồi đồng reo lên ùng ục, êm ả như một khúc ca lao động bình dị giữa chốn đồng quê tĩnh lặng.

Thời gian chầm chậm trôi qua chừng hai tuần hương.

Một mùi thơm kỳ diệu, ngây ngất bắt đầu len lỏi qua từng mắt nan tre của chiếc chõ hấp, lan tỏa khắp gian bếp nhỏ rồi bay bổng ra tận bãi bồi ven sông. Đó tuyệt nhiên không phải là thứ mùi khét lẹt hay ngai ngái đắng đót của buổi sớm mai; đó là một mùi hương ngọt lịm, đậm đà của mật mía cô già lửa quyện chặt lấy hương thơm thanh nhã, tinh khiết và mát lành của hoa hòe chín tới. Mùi hương ấy ngan ngát, dìu dịu như làn gió xuân mang theo hơi thở của cỏ cây hoa lá sau cơn mưa rào, đánh thức mọi giác quan của con người.

Tiểu Mãn đang ngồi quét sân quán bỗng đứng sững lại, con bé hếch mũi hít hà một hơi thật sâu, hai mắt sáng rực lên như hai vì sao nhỏ:

"Thơm quá chị Thanh Hà ơi! Mùi thơm này ngọt ngào ngào ngạt quá, thơm khắp cả bến sông rồi này!"

Thanh Hà trong lòng hồi hộp đến nghẹt thở. Nàng dùng một mảnh vải dày lót tay, cẩn thận nhấc chiếc nắp vung tre sang một bên.

Làn khói trắng mờ ảo, ấm áp bốc lên nghi ngút rồi từ từ tan biến vào không gian, hiện ra trước mắt nàng là mười hai chiếc bánh hoa hòe nở đều tăm tắp như mười hai đóa hoa đang độ khai nhụy. Bánh không hề bị nứt nẻ hay chảy nhão ra như bùn lầy; trái lại, từng chiếc bánh nở căng tròn, mặt bánh ráo mịn, ánh lên một sắc vàng ươm óng ả của mật mía chín, điểm xuyết trên bề mặt là những cánh hoa hòe xanh biếc như những hạt ngọc bích lấp lánh cài trên nền gấm vàng lộng lẫy.

Thanh Hà run run cầm đôi đũa cả, gắp một chiếc bánh ra chiếc đĩa sành mộc mạc. Nàng dùng tay khẽ bẻ đôi chiếc bánh còn nóng hổi. Thớ bột nếp bên trong dẻo mềm, dai nhẹ, kéo dài ra thành sợi mỏng mà không hề dính nát, khói bốc lên mang theo hương thơm ngào ngạt làm nao lòng người. Nàng đưa một miếng nhỏ vào miệng nếm thử.

Vừa chạm vào đầu lưỡi, vị ngọt thanh tao của mật mía thượng hạng lập tức lan tỏa khắp vòm họng; tiếp theo đó là vị bùi béo, dẻo dai của nếp cái hoa vàng mùa mới; và cuối cùng, đọng lại nơi cuống họng là một vị ngọt mát dịu dàng xen lẫn chút nhằng nhặng đắng nhẹ vô cùng quyến rũ đặc trưng của hoa hòe vừa chín tới. Đó là thứ dư vị thanh tao, thuần khiết đến mức người ta ăn xong một miếng lại muốn ăn tiếp miếng thứ hai, làm dịu hẳn cái cảm giác hanh hao, mệt mỏi của một ngày lao động nặng nhọc.

Hai hàng nước mắt nóng hổi bỗng chốc trào ra khỏi khóe mắt Thanh Hà, lăn dài trên đôi gò má gầy guộc. Nhưng lần này, những giọt nước mắt ấy không còn mang theo vị đắng cay của sự bất lực hay nỗi giày vò tội lỗi; đó là những giọt nước mắt của sự thanh thản, của niềm hạnh phúc vỡ òa khi nàng đã vượt qua được cái bóng đen quá khứ.

Nàng ngước mắt nhìn làn khói mỏng đang lãng đãng bay lên vòm trời xanh biếc qua mái liếp nứa rách. Mẹ ơi, con gái của mẹ cuối cùng đã làm được chiếc bánh hoa hòe trọn vẹn đúng như hương vị của mẹ năm xưa rồi. Vết thương lòng rỉ máu suốt năm năm trời đằng đẵng, giờ đây đã được chữa lành bởi chính sự kiên trì, lòng tự trọng và đôi bàn tay không chịu khuất phục của nàng.

"Tiểu Mãn, mau lại đây nếm thử chiếc bánh đầu tiên này đi em!" Thanh Hà quệt nước mắt, mỉm cười vẫy con bé lại gần.

Tiểu Mãn mừng rỡ chạy ùa tới, hai tay đỡ lấy nửa chiếc bánh hoa hòe còn nóng hổi. Con bé cắn một miếng thật lớn rồi nhai ngấu nghiến. Hai má phúng phính phồng lên, đôi mắt nheo lại thành hai đường chỉ vì ngập tràn sung sướng:

"Ngon quá... ngon tuyệt trần đời chị ơi! Em chưa từng được ăn thứ bánh nào ngon đến thế này bao giờ! Nó dẻo quánh, ngọt lịm mà nuốt vào đến đâu thấy mát lịm cả ruột gan đến đấy chị ạ!"

Mùi thơm ngào ngạt của mẻ bánh chín chẳng mấy chốc đã nương theo làn gió sông bay lan ra tận mép nước bãi bồi, đúng lúc con đò ngang chở đầy khách của lão Từ Bá vừa cập bến.

"Quái lạ, ai đang nấu nướng cái thứ gì mà thơm nức mũi cả một khúc sông Vọng Giang thế này hả cô Hà?"

Tiếng cười nói sang sảng, vang dội của lão lái đò Từ Bá từ ngoài đường mòn vọng vào. Lão bước vào quán cùng bốn, năm người khách buôn chuyến và cánh phu bốc vác vừa bước chân lên bờ. Ai nấy trên người đều vương đầy bụi bặm, vẻ mặt phờ phạc mệt mỏi sau một chuyến đi đò dài dằng dặc, bụng đói cồn cào; vừa ngửi thấy mùi bánh ngọt ngào quyện với hương trà mới bốc lên ấm áp, họ liền ùa cả vào trong quán nhỏ:

"Cô chủ ơi, có cái gì thơm thế? Mau dọn ra đây cho chúng tôi lót dạ với nào!"

"Dạ, cháu vừa mới hấp xong mẻ bánh hoa hòe làm từ nếp mới. Mời Từ Bá và các bác dùng thử một chiếc ăn kèm với nước chè xanh ạ!" Thanh Hà đon đả cúi chào, nụ cười tươi tắn nở trên môi.

"Cho tôi một chiếc bánh với một bát nước chè thật đậm lửa!" Một người phu than cất tiếng ồm ồm, đặt phịch chiếc đòn gánh xuống đất.

"Gói cho ta bốn chiếc vào lá chuối mang đi đường kẻo đói, bánh thơm quá không sao chịu nổi!" Một người buôn vải ăn vận chỉnh tề vội vã móc tiền trong túi ra đếm.

Từng chiếc bánh hoa hòe vàng ươm, nóng hổi được Thanh Hà và Tiểu Mãn thoăn thoắt gắp ra đĩa sành hoặc gói ghém cẩn thận trong những vuông lá chuối xanh biếc thơm mùi đồng nội. Mỗi chiếc bánh bán với giá ba văn tiền, ăn kèm với một bát nước chè xanh hai văn ngọt hậu quả thực là một thức quà tuyệt hảo cho những bước chân lữ khách phong trần. Khách ngồi kín cả ba chiếc bàn tre ọp ẹp, vừa nhai miếng bánh dẻo bùi vừa tấm tắc gật đầu khen ngợi. Tiếng cười nói râm ran, tiếng húp nước chè rột rẹt làm bừng sáng cả một góc lều tranh xơ xác ven sông.

Chẳng mấy chốc, mười hai chiếc bánh của mẻ đầu tiên đã bán hết veo. Thấy khách vẫn còn nán lại hỏi mua, Thanh Hà liền bắt tay nhào bột làm tiếp mẻ thứ hai rồi mẻ thứ ba. Tất cả đều nở đều tăm tắp, thơm ngon ngọt mát và bán sạch bách không còn thừa lấy một mẩu vụn. Chiếc ống nứa đựng tiền treo bên cột bếp của Tiểu Mãn chẳng mấy chốc đã nặng trĩu những đồng tiền kẽm, mỗi lần thả tiền vào lại phát ra những tiếng kêu leng keng giòn giã, vui tai lạ thường.

Bóng chiều tà dần buông xuống trên dòng sông Vọng Giang mênh mông. Mặt trời như một quả cầu lửa đỏ ối lặn dần sau rặng núi biếc phía tây, dát một lớp ánh sáng màu vàng cam lấp lánh lên mặt nước đầy phù sa cuộn sóng. Khói lam chiều từ những xóm chài nghèo ven sông bắt đầu bốc lên lãng đãng, hòa cùng sương chiều tạo nên một khung cảnh thanh bình, tĩnh lặng. Thanh Hà đứng tựa lưng vào quầy tre, phóng tầm mắt nhìn con nước êm đềm trôi xuôi về phía hạ nguồn. Trong lồng ngực nàng, một cảm giác bình yên, vững chãi và tràn đầy hy vọng vào ngày mai đang dâng lên, xua tan đi tất cả những nhọc nhằn, cay đắng của những năm tháng đã qua.

Nàng cầm chiếc khăn vải sạch lau lại mặt bàn tre lần cuối, định bụng dọn dẹp bát đĩa để chuẩn bị đóng cửa quán nghỉ ngơi thì bỗng nhiên, ngoài bãi sỏi ven sông vang lên những tiếng bước chân lảo đảo, nặng nề và dồn dập.

Một người phu bốc vác trạc tuổi trung niên, quần áo rách rưới tả tơi ướt đẫm mồ hôi và phủ đầy bụi than đen sì, bước hụt chân ngã nhào vào bậc cửa quán. Trên vai ông ta không còn gánh hàng nào nữa, chỉ có một nửa chiếc đòn gánh bằng tre đực đã bị gãy đôi, vết gãy còn tưa xơ xác những dằm tre lởm chởm.

Người đàn ông ngẩng khuôn mặt hốc hác, lem luốc đầy vẻ tuyệt vọng lên nhìn Thanh Hà, rồi bất ngờ quỳ thụp hai đầu gối xuống nền đất nện trước quầy trà. Hai bàn tay nứt nẻ, run rẩy của ông ta giơ chiếc đòn gánh gãy ra phía trước, giọng nói nghẹn ngào trong tiếng khóc:

"Cô chủ ơi... cứu tôi với... Chiều nay tôi gánh hàng trượt chân ngã gãy đòn, vỡ mất chum tương của chủ thuyền, bị trừ hết sạch tiền công lại còn phải đền nợ... Ba bát nước chè tôi và hai thằng bạn uống lúc ban trưa... xin cô làm phúc cho tôi khất nợ đến phiên chợ sau..."

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn