Người khách biết nếm trà
Buổi chiều tà, nắng vàng trải dài trên mặt sông Vọng Giang khi một người đàn ông dong dỏng cao, phong thái trầm tĩnh bước vào quán trà nhỏ mé đông bến.
Ánh hoàng hôn rọi xiên qua mép mái tranh mới được dặm lại bằng mấy ôm rạ nếp còn vương mùi nắng khô, dát một dải sáng màu hổ phách lên nền đất nện đã quét tước tinh tươm. Gió từ mặt nước cuộn lên từng đợt, thổi thốc vào bờ bãi phù sa màu nâu sẫm, mang theo hơi ẩm nồng nồng của rong rêu bám chân cọc và mùi rơm rạ đốt đồng từ các làng bãi phía xa trôi dạt sang. Sau buổi trưa ngột ngạt và căng thẳng tột cùng với sự xuất hiện đầy đe dọa của đám lâu la dưới trướng Lại Tam, bến đò lúc này đã vơi bớt tiếng hò hét bốc dỡ hàng hóa. Không gian chỉ còn lại nhịp gõ mạn thuyền lộc cộc của đám phu chèo gom dầm, tiếng bọt nước vỗ ì oạp vào những thân cọc gỗ đóng chìm mép nước, cùng tiếng xích sắt va vào mạn thuyền buôn nghe rời rạc, buồn bã.
Thanh Hà đang đứng bên chiếc án gỗ thấp đóng bằng những mảnh ván thuyền cũ, tay cầm mảnh khăn vải thô sạch lau miết quanh miệng chiếc vò đất ủ trà. Nghe tiếng bước chân thong thả giẫm trên nền đất pha sỏi nhỏ ngoài hiên, nàng giật mình khẽ ngẩng lên, bàn tay vô thức siết nhẹ mép khăn.
Người đàn ông vừa bước vào trạc độ hăm bảy, hăm tám tuổi. Dáng người anh dong dỏng cao, khoác chiếc áo dài bằng vải thô nhuộm màu chàm sẫm đã qua nhiều lần giặt giũ nhưng vạt áo cài chéo vẫn thẳng thớm, phẳng phiu đến lạ kỳ. Bên hông anh thắt dải đai bằng sợi gai mộc mạc, không hề đeo ngọc bội hay túi thơm cầu kỳ như đám công tử chốn huyện thành. Trên vai anh mang một chiếc túi vải chéo sờn mép, tay cầm một chiếc quạt nan tre xếp gọn, nước nan đã ngả sang màu vàng bóng của thời gian. Tuy ăn vận giản tiện tựa hồ một người lữ khách lỡ bước qua sông, nhưng từng bước đi khoan thai, sống lưng thẳng tắp cùng đôi mắt sáng trầm tĩnh, sâu thẳm lại toát lên khí chất của một người từng trải phong ba, nhìn thấu sự đời mà không hề để lộ vẻ kênh kiệu hay khinh bạc.
Ở góc bếp tối phía sau quán, nép mình bên cạnh chiếc chum sành lớn đựng nước mưa dự phòng, một cái đầu nhỏ khẽ nhô ra. Tiểu Mãn—sau cơn khiếp đảm tột độ khi nhìn thấy tên mặt sẹo hung tợn ban trưa vung đao đập bàn đòi nợ—vẫn chưa dám bước hẳn ra ngoài ánh sáng. Đôi mắt con bé mở to, bồn chồn liếc nhìn vị khách lạ vừa bước vào rồi lại đưa mắt nhìn sang Thanh Hà đầy e sợ. Thấy Thanh Hà khẽ quay đầu lại, mỉm cười và gật đầu trấn an, đứa trẻ mới bớt run rẩy đôi chút. Nhưng hai bàn tay khẳng khiu, đen nhẻm vì tro trấu vẫn nắm chặt lấy mép tạp dề rách, thu mình nấp kín đáo sau bóng tối của chiếc chum, nín thở quan sát từng cử chỉ của người khách.
Khách đưa mắt nhìn quanh mái lều mộc mạc bốn bề trống trải. Ánh mắt anh không hề có vẻ soi mói, chỉ lướt nhẹ qua những chiếc bàn tre được cọ rửa sạch bong, dừng lại một thoáng nơi tấm thẻ tre khắc mấy chữ chân phương “Hai văn một bát nước trà xanh” treo đung đưa dưới thanh mè tre trước hiên, rồi lẳng lặng chọn chiếc ghế băng kê sát mép liếp nhìn thẳng ra bến sông. Anh đặt chiếc túi vải xuống góc bàn, ngồi xuống một cách ngay ngắn, giọng nói trầm ấm và rõ ràng vang lên giữa gian lều:
— Chủ quán, cho một bát trà xanh bình dân.
Thanh Hà khẽ cúi đầu, hai bàn tay đặt gọn trước vạt áo nâu, thanh âm cất lên trong trẻo, mực thước của một thiếu phụ từng sống trong khuôn phép gia giáo nhưng nay đã thấm đượm nét cứng cỏi của gió sương tự lập:
— Xin quý khách đợi một lát, nước vừa tới độ, trà sẽ có ngay.
Nàng xoay người bước lại bên bếp lò nung đắp bằng đất sét phù sa trộn rơm nhuyễn. Ngọn lửa trấu và củi gáo cháy đượm bên dưới đáy chiếc ấm đất nung cổ ngỗng, làm nước trong ấm reo lên những tiếng “re re” êm ả như tiếng ve sầu đầu hạ nép mình trong vòm lá. Nàng không hề vội vàng múc trà hay châm nước ngay như những hàng quán chè tươi xô bồ ngoài bến bãi. Nhớ lời mẹ dạy năm xưa nơi gian chái nhỏ phủ đầy bóng cây hoa hòe về cái đạo của ấm chén, bàn tay nàng thoăn thoắt xếp ba chiếc chén gốm mộc tráng men da lươn thô ráp lên chiếc khay tre đan mắt cáo.
Nàng nhấc chiếc gáo tre nhỏ, múc một muôi nước sôi sùng sục từ chiếc nồi nước tráng đặt bên cạnh bếp, chậm rãi rót đều vào từng lòng chén. Dòng nước sôi tráng qua thành gốm thô ráp làm bốc lên một làn khói mỏng nhẹ, mang theo mùi thanh khiết của đất nung phơi sương, đánh thức chất đất và khử đi mọi hơi ẩm lạnh lẽo của sông nước còn đọng lại trên mặt bàn.
Kế đó, Thanh Hà nhấc chiếc ấm đất pha trà trên bếp xuống, đặt nghiêng trên một đế rơm bện bện chặt bên cạnh để nước hạ bớt nhiệt. Mẹ nàng lúc sinh thời từng răn dạy rất kỹ: “Nước sôi già trăm độ chỉ hợp với trà bánh ép chặt vùng cao hay trà hun khói vùng biên giới; còn trà xanh búp non hay lá trà hè mộc mạc của xứ đồng bằng, hễ đem nước đang sôi sùng sục sủi bọt mắt cá trút thẳng vào thì chẳng khác nào đem lửa thiêu cháy ruột lá. Sắc nước sẽ lập tức úa đỏ như nước rỉ sắt, mà vị chát thanh cũng biến thành chất khét đắng làm rát bỏng cổ họng.”
Nàng nhẩm tính theo từng nhịp thở khoan thai, đợi cho những luồng hơi nước cuồn cuộn dịu dần xuống độ tám chín phần sôi, khi mặt nước trong ấm phẳng lặng trở lại và chỉ còn những làn khói mềm mại lượn lờ quanh vòi ấm.
Từ chiếc vò sành ủ kín đặt trên kệ cao, nàng dùng chiếc thìa tre nhỏ lấy ra một vốc lá trà hè sấy khô. Đó là mẻ lá trà bến sông mà nàng mua gom của những gánh chè quê từ mấy làng bãi ven đê cách đây vài hôm—những phiến lá to, gân dày, được sao thủ công trên chảo gang vụng về nên sắc lá còn hơi ngả màu xám bạc, lẫn lộn cả búp non lẫn lá bánh tẻ. Nàng thả trà vào chiếc ấm đất nhỏ da chuôm, dội một dòng nước ấm đầu tiên tráng thật nhanh qua miệng ấm rồi chắt bỏ ngay ra chiếc âu sành để đánh thức từng thớ lá khô cằn.
Sau đó, nàng mới chậm rãi châm dòng nước giếng đá ong gò Thanh Khê vào xâm xấp lưng ấm. Thứ nước giếng này được múc từ sâu trong lòng đất đá ong, quanh năm mát lạnh thấu xương và ngọt lịm như nước suối đầu nguồn. Nàng đậy nắp ấm lại, với tay rút một nén hương nhỏ cắm nơi góc kệ bếp làm mức canh thời gian. Vừa vặn một tuần hương ngắn—khoảng nửa khắc đồng hồ—khi những cánh trà hè ngậm no nước ngọt bắt đầu nở đều, buông tỏa hết hương vị mà chưa kịp tiết ra chất đắng chát của cuống già, Thanh Hà mới nhẹ nhàng nâng ấm, nghiêng dòng nước biếc róc rách rót ra chiếc bát gốm mộc đã được đổ ráo nước tráng.
Dòng nước trà rót ra xanh trong vắt, mang theo ánh vàng óng ả như mật ong đầu mùa loãng ra dưới nắng chiều tà. Hơi khói nghi ngút bốc lên phảng phất hương vị ngai ngái nồng đượm của cỏ cây đồng nội, xua đi mùi tanh nồng của bùn lầy bến nước. Nàng đặt bát trà lên một chiếc đĩa gỗ mộc mạc đã lau khô, hai tay bưng đến trước mặt vị khách, khẽ nghiêng mình:
— Trà xanh búp hè hãm nước giếng đá Thanh Khê, kính mời quý khách dùng thử khi còn ấm.
Vị khách áo chàm hơi nghiêng đầu cảm tạ, phong thái ung dung tiếp nhận chiếc đĩa gỗ. Anh không vội vàng nâng bát lên uống ngay như những kẻ phàm phu giải khát dọc đường, mà đưa hai tay nâng chiếc bát gốm thô lên ngang ngực. Đôi bàn tay anh thon dài nhưng các khớp ngón to và vững chãi, nơi đầu ngón tay và lòng bàn tay có những vết chai mỏng màu vàng nhạt—dấu vết đặc trưng của những người quanh năm cầm dao bấm búp trà, lật nia phơi lá và đích thân kiểm tra từng kiện hàng mây bọc trên các chuyến thuyền buôn đường dài.
Khách khẽ xoay nhẹ chiếc bát gốm trong lòng bàn tay, đưa mũi lại gần mép bát, hít sâu một hơi thật dài để đón nhận trọn vẹn làn hơi nước ấm áp đang bốc lên. Đôi mắt anh hơi nheo lại, chăm chú ngắm nhìn sắc nước xanh trong veo không hề có lấy một gợn cặn đục hay màng váng dầu trôi nổi. Đoạn, anh khẽ nhấp một ngụm nhỏ, giữ dòng nước trà nơi đầu lưỡi qua vài nhịp thở, chép miệng nhè nhẹ để chất nước lan tỏa đều khắp vòm họng và hai bên má rồi mới chậm rãi nuốt xuống. Khách nhắm hờ đôi mắt lại, tĩnh lặng cảm nhận dư vị đang đọng lại nơi cuống họng chừng nửa tuần hương. Gương mặt anh nghiêm cẩn, toát lên vẻ chuyên chú và sâu lắng lạ thường của một người biết lắng nghe tiếng nói của cỏ cây.
Sau vài khoảnh khắc im ắng đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng gió xào xạc bên rặng lau sậy ngoài bến, người đàn ông mở mắt ra, đặt nhẹ bát trà xuống mặt bàn tre. Nơi khóe môi anh khẽ cong lên một nét cười kín đáo. Anh ngước nhìn Thanh Hà, chậm rãi cất tiếng nhận xét bằng chất giọng trầm tĩnh, rành rọt từng chữ:
— Lá trà này của nàng, nếu ta đoán không lầm, là trà hè hái muộn vùng gò đồi hạ lưu ven sông. Cây trà đón nắng gắt đầu mùa, phiến lá dày, gân cứng, lại hái lẫn nhiều lá bánh tẻ hái vội nên chất nước vốn dĩ rất nặng tính hàn và mang vị chát gắt xộc thẳng nơi đầu lưỡi. Nếu xét về phẩm cấp buôn bán ở các trà phường lớn chốn thị thành, đây chỉ xếp vào loại trung bình thấp, giá bán gom tại vườn không quá vài mươi văn một cân thô.
Trái tim Thanh Hà khẽ thắt lại một nhịp. Nàng đứng thẳng lưng, hai tay đan nhẹ vào nhau trước bụng, chăm chú lắng nghe từng lời của khách mà không hề có ý giận dỗi hay xấu hổ. Nàng biết rõ hoàn cảnh của mình. Số tiền ít ỏi nàng giấu trong vạt áo khi ôm bọc đồ rời khỏi cổng sau nhà họ Phạm không cho phép nàng mơ tưởng đến những mẻ trà búp xuân thượng hạng đắt đỏ. Những gì vị khách này vừa vạch ra đều chuẩn xác đến từng chân tơ kẽ tóc, chuẩn xác đến mức tưởng như anh đã tận mắt nhìn thấy mớ lá trà nàng đem hong trên chiếc nia tre rách sau chái lều vậy.
Thế nhưng, vị khách lại thong thả nói tiếp, ánh mắt nhìn nàng mang theo vài phần tán thưởng thực lòng:
— Tuy nhiên, dẫu phẩm trà chỉ ở mức thường, nhưng bát nước này vào miệng lại thanh mát và nhuận họng bất ngờ. Vị chát gắt lúc đầu tan đi rất nhanh, đọng lại cuống họng là vị ngọt hậu thanh tao kéo dài, nước lại giữ được sắc biếc như ngọc chứ không hề ngả sang màu đỏ gạch hay đục ngầu phù sa. Để làm được điều này, trước hết là nhờ nguồn nước ngọt mềm của giếng đá ong—chất nước trong vắt, nặng khoáng ngọt tự nhiên đã bao bọc lấy cái gai góc, chát gắt của phiến lá thô. Nhưng quan trọng hơn cả chính là công phu của người pha. Nàng đã biết canh nước hạ bớt nhiệt sau khi sôi già, lại tráng chén thật nóng và hãm đúng độ thời gian để lá vừa hé cánh mà không nát nhừ. Dùng sự tỉ mỉ của tay nghề để bù đắp cho khuyết điểm của nguyên liệu bình dân, chủ quán quả thực là người có tâm và hiểu được tính nết của lá trà.
Thanh Hà nghe xong, nỗi e dè ban đầu tan biến như sương khói gặp nắng mai, thay vào đó là một niềm xúc động âm ỉ dâng lên trong đáy mắt. Nàng khẽ cúi đầu tạ lễ, chân thành đáp:
— Quý khách quả là bậc sành sỏi, mắt sáng như đuốc. Quán nhỏ nơi mé bến hoang sơ này vốn chỉ dùng thứ trà mộc của bà con quanh vùng, may nhờ có giếng đá gò Thanh Khê mà nước giữ được chút vị ngọt lành. Mẹ tiện thiếp lúc sinh thời từng dạy, phàm đã mở quán đun nước mời người qua đường thì dẫu là lá trà hái bờ rào bụi rậm cũng phải đối đãi cho vuông tròn phép tắc, không thể vì trà rẻ tiền mà làm ẩu tả, phụ lòng người uống.
Người khách nghe nàng nhắc đến lời mẹ dạy, ánh mắt thoáng lộ vẻ ấm áp, như chạm phải một mối đồng cảm sâu xa. Anh khẽ vuốt chòm râu cằm lấm tấm gốc rạ, tự giới thiệu:
— Ta họ Hàn, tên Thụy, vốn là thương nhân buôn trà của Thương đoàn Tây Lĩnh, chuyên giong thuyền qua lại trên dòng Vọng Giang để đưa trà từ các đồi trà mạn ngược về chợ huyện và các phủ phía đông. Nhiều năm qua lại hai bờ sông, ghé qua không biết bao nhiêu trà lâu sang trọng lẫn quán nước ven đường, hiếm thấy một quán trà lá nghèo nàn ven sông nào lại giữ được sự thuần thục, cẩn trọng và lòng kính trọng đối với chén nước như nàng.
Thanh Hà thoáng kinh ngạc, hai mắt khẽ mở to. Cái tên Thương đoàn Tây Lĩnh nàng đã từng nghe qua trong những câu chuyện thì thầm của đám phu thuyền và lái buôn dừng chân bên bến. Đó là một trong những mạng lưới buôn trà lớn nhất vùng tây bắc giáp ranh Thanh Lâm, nắm giữ những triền đồi bạt ngàn giống trà cổ thụ mọc trên núi cao ngập sương mù, quy tụ những bậc thầy thử nếm, sao tẩm và thẩm định trà khắt khe bậc nhất. Người của thương đoàn này đi đến đâu cũng được các chủ kho hàng lớn và quan lại ty tuần ty dịch đón tiếp trọng thể. Nàng thật không ngờ một thương nhân thuộc tầm cỡ như Hàn Thụy lại một mình tản bộ vào túp lều rách mé đông bến, thản nhiên ngồi xuống chiếc ghế tre ọp ẹp, gọi một bát trà hai văn tiền rồi đưa ra những lời đàm đạo chân tình, cởi mở đến vậy.
Nhận thấy Thanh Hà là người biết lắng nghe, có tâm tính thuần hậu và căn bản hiểu biết về trà, Hàn Thụy bèn với tay lấy que tre nhỏ trên bàn, chấm vào chút nước trà rớt trên đĩa gỗ, khẽ vạch vài đường nét mộc mạc lên mặt bàn, từ tốn chia sẻ:
— Nàng mở quán ngay mé bến đò Vọng Giang này, vị trí rất đắc địa vì là cửa ngõ giao thương đường thủy, nhưng khách ghé chân lại gồm hai tầng lớp hoàn toàn trái ngược nhau về thể trạng lẫn khẩu vị. Nếu nàng chỉ dùng một cách hãm duy nhất cho mọi người, e rằng sẽ khó lòng làm vừa ý tất cả, công việc buôn bán cũng khó lòng bền vững.
Thanh Hà chăm chú nhìn từng vệt nước đang loang dần trên thớ gỗ khô, khẽ nghiêng mình hỏi:
— Xin Hàn gia chỉ điểm thêm, tiện thiếp xin rửa tai lắng nghe lời dạy bảo.
Hàn Thụy mỉm cười, đưa tay chỉ về phía bến sông, nơi những người phu khuân vác đang oằn mình cõng những bao muối ướt sũng, những sọt than đá nặng trĩu từ mạn thuyền trườn lên con dốc đất trơn trượt:
— Thứ nhất là đám phu thuyền, phu bốc vác, những người lao lực cả ngày dưới nắng gắt và gió lạnh sông sâu. Mồ hôi họ vã ra như tắm, ruột gan cồn cào, miệng lưỡi khô khốc và nhạt phếch vì mất muối mất sức. Với hạng người này, bát trà hãm non tay, nước trong thanh tao của nàng uống vào tuy mát ruột nhưng lại không đủ "đã", không thấm vào đâu so với cơn khát cháy họng của họ. Họ cần một bát trà đậm đặc, hãm thật già lửa, lượng lá bỏ vào ấm phải gấp rưỡi ngày thường, để vị chát gắt xộc thẳng vào cuống họng làm tê dại đầu lưỡi. Chính cái vị trà đậm đặc, đắng chát ấy mới giúp họ tráng sạch vị chua lợ của mồ hôi, giã cơn mệt mỏi rã rời trong gân cốt và làm ấm lại cái bụng đang lạnh ngắt sau những giờ dầm mình dưới nước phù sa.
Đoạn, anh lại xoay tay, hướng ánh mắt về phía một vài thương nhân mặc áo gấm sẫm màu và những thư sinh mang tráp sách đang ngồi nghỉ chân bên gốc đa cổ thụ đợi chuyến đò ngang sang huyện thành:
— Còn thứ hai là khách buôn đường dài, tài tử thư sinh hoặc những người đi buôn ngồi xe ngựa, thuyền mui kín. Họ không phải tốn sức chân tay, khí huyết lắng lại, cổ họng rất nhạy cảm với vị đắng chát xẵng. Nếu đưa cho họ bát nước chát ngắt của phu bến, họ sẽ nhăn mặt chê bai là nước chè thô lậu, uống vào cồn cào xót ruột. Họ cần một bát trà thanh, hãm non tay, canh nước vừa hạ nhiệt để hương thơm thoang thoảng của cỏ cây và vị ngọt hậu của nước giếng Thanh Khê lấn át vị gắt của lá hè. Nước trà thanh giúp họ nhuận họng, tỉnh táo đầu óc để tính toán sổ sách, đối chiếu hóa đơn hay đọc sách ngâm thơ lúc đợi thuyền.
Hàn Thụy gõ nhẹ đầu ngón tay lên mặt bàn, đúc kết:
— Nàng nên phân chia rành mạch hai ấm trà trên bếp: một ấm trà đậm cho người lao động cơ bắp, một ấm trà thanh cho người đi đường nhàn nhã. Cùng một thứ lá trà rẻ tiền mua gom nơi bờ bãi, nhưng biết điều chỉnh ngọn lửa lò và tuần hương hãm thì tự khắc quán nhỏ này sẽ có được sự trung thành của cả hai giới khách qua sông. Người lao lực tìm thấy sức mạnh, người thanh nhã tìm thấy sự thư thái. Đó chính là cái gốc của đạo buôn bán vậy.
Những lời phân tích khúc chiết, thấu tình đạt lý của Hàn Thụy như một luồng gió mới thổi bừng lên trong tâm trí Thanh Hà. Nàng mở to đôi mắt, trong lòng thầm bái phục sự sâu sắc và tinh tường của người đàn ông trước mặt. Suốt mấy ngày qua, kể từ khi dựng tạm túp lều này, nàng chỉ mải mê suy nghĩ làm sao để khử hết vị chát gắt của lá trà hè theo đúng những bài học xưa cũ của mẹ, mà chưa từng một lần nghĩ đến việc khẩu vị của người uống lại phụ thuộc mật thiết vào chính công việc, thể trạng và nỗi nhọc nhằn mưu sinh của họ.
— Đa tạ Hàn gia khai tâm điểm nhãn, — Thanh Hà khẽ khàng nói, trong mắt lấp lánh sự cảm kích chân thành từ tận đáy lòng. — Tiện thiếp quanh quẩn nơi góc lều hẹp hòi, thiển cận nhìn đời, quả thực chưa từng nghĩ sâu xa được như vậy. Nếu không có lời chỉ dẫn quý báu của ngài hôm nay, e rằng tiện thiếp vẫn chỉ biết dập khuôn máy móc, không hiểu thấu lòng khách qua đường.
Hàn Thụy khẽ lắc đầu, nâng bát trà uống nốt ngụm nước ấm còn lại nơi đáy bát. Anh đưa mắt nhìn quanh gian lều mái cỏ vách đất đơn sơ, ánh mắt dừng lại ở chiếc sàn gỗ kê cao kiên cố nơi góc quán và những vò sành đựng nguyên liệu được đậy điệm kỹ càng bằng vỉ tre ép chặt. Anh khẽ gật đầu vẻ hài lòng trước sự ngăn nắp, sạch sẽ hiếm thấy ở một quán nước ven bến, nhưng rồi sắc mặt anh bỗng nghiêm lại, cất giọng nhắc nhở:
— Còn một chuyện sinh tử này nữa, nàng tuyệt đối không được xem nhẹ. Khí hậu ven sông Vọng Giang này rất độc và thất thường. Đầu hè thì oi nồng hầm hập, cuối hè sang thu thì mưa dầm dề rả rích, hơi nước từ mặt sông bốc lên cuồn cuộn ngày đêm không dứt. Lá trà hè vốn được hái và sao thủ công trong tiết trời ẩm nóng, bản thân từng thớ lá đã ngậm nhiều thủy khí tiềm ẩn bên trong. Nếu nàng thấy giá trà hè đang rẻ mà gom mua tích trữ cả mấy bao tải lớn để trong lều mé sông ẩm thấp này, chỉ cần qua ba ngày gió nồm nam ẩm ướt là trà sẽ lập tức hút ẩm, bốc mùi mốc meo chua loét. Khi ấy đem hãm nước, sắc trà sẽ biến thành màu vàng đục như nước bùn và mất sạch vị ngọt tự nhiên.
Anh nhìn thẳng vào Thanh Hà, căn dặn bằng giọng điệu đanh thép của một thương nhân dạn dày kinh nghiệm sông nước:
— Làm nghề trà nơi bến nước, nguyên tắc đầu tiên là "nhập từng mẻ nhỏ, dùng hết lại mua". Cứ dăm ba ngày nàng lại mua một lượng vừa đủ dùng, giữ lá trà trong chum sành nung kỹ, có lót một lớp vôi sống bọc trong vải thô dày đặt dưới đáy chum, miệng chum bịt kín bằng nhiều lớp lá chuối khô hơ lửa rồi mới đậy nắp gỗ chèn đá. Làm như vậy, dù gió ẩm bên sông có thổi rát mặt suốt mùa mưa dầm thì lá trà của nàng vẫn giòn rụm và giữ trọn được hương thơm mộc mạc ban đầu.
Thanh Hà lắng tai nghe, từng câu từng chữ của Hàn Thụy như khắc sâu vào từng nếp nghĩ của nàng. Nàng thầm nghĩ đến cuốn sổ ghi chép chi tiêu giấu dưới đáy chiếc rương gỗ nhỏ, tự nhắc nhở bản thân tối nay, sau khi đóng cửa quán, nhất định phải mài mực viết lại toàn bộ những kinh nghiệm xương máu này vào bên cạnh các trang công thức gia truyền của mẹ.
Bấy giờ, từ phía bến đò ngoài kia bỗng vang lên ba hồi chuông đồng giòn giã, ngân dài xé toang không gian tĩnh mịch của buổi hoàng hôn. Tiếng chuông đò chiều của lão lái đò Từ Bá báo hiệu chuyến đò ngang cuối cùng trong ngày chở khách sang bờ tây huyện Thanh Lâm sắp sửa nhổ sào gác chèo.
Hàn Thụy đưa mắt nhìn ra mặt nước dát vàng đang dần chuyển sang màu tím thẫm của bóng chiều buông lơi. Anh đứng dậy, chỉnh lại vạt áo chàm cho ngay ngắn, với tay lấy chiếc túi vải sờn mép đeo lên vai. Đoạn, anh thò tay vào túi áo trong, lấy ra hai đồng tiền kẽm còn mới nguyên mép, đặt ngay ngắn trên mặt bàn tre, phát ra hai tiếng “cạch” thanh thoát, dứt khoát.
— Bát trà của nàng rất ngon. Hai văn tiền này trả đúng theo giá nàng niêm yết trên thẻ tre ngoài hiên.
Thanh Hà vội vàng bước lên một bước, xua tay từ chối:
— Hàn gia đã truyền dạy cho tiện thiếp những lời vàng ngọc quý giá ngần ấy, cứu cho quán nhỏ bao nhiêu nguy cơ thiệt hại sau này, một bát nước thô mộc này làm sao tiện thiếp dám lấy tiền của ngài? Xin ngài thu lại cho, coi như chút lòng thành tiện thiếp cảm tạ sự chỉ bảo của bậc tiền bối.
Hàn Thụy lại mỉm cười, nụ cười hiền hậu, khoáng đạt nhưng ánh mắt lại nghiêm cẩn không cho phép bất kỳ sự chối từ nào:
— Mua bán có quy củ của mua bán, đàm đạo có cái nghĩa của đàm đạo. Nàng mở quán nơi bến sông hoang vắng này mưu sinh bằng mồ hôi nước mắt, ta ghé chân uống trà trả tiền sòng phẳng theo đúng bảng giá thẻ tre treo trước quán, đó là sự tôn trọng và công bằng tối thiểu của người làm nghề với nhau. Nếu hôm nay ta ỷ vào vài lời đàm đạo mà nhận bát nước miễn phí này, chẳng hóa ra ta coi thường công sức nhóm lò gánh nước sớm hôm của nàng sao? Cứ giữ lấy, tiền mồ hôi công sức thì một văn cũng không được thiếu.
Nói đoạn, ánh mắt anh lướt qua góc hiên quán, nơi có một chùm thẻ tre phụ trơn nhẵn chưa khắc chữ mà Thanh Hà đã cẩn thận vót sẵn từ cật nứa già, treo phơi khô để phòng khi cần viết thêm bảng giá bánh trái hay đồ ăn nhẹ sau này. Anh đưa tay chỉ vào một thanh tre nhỏ dài chừng nửa gang tay, đầu có đục lỗ xỏ dây gai, lịch thiệp cất lời:
— Nếu nàng thực lòng muốn đáp lại chút duyên gặp gỡ chiều nay, liệu ta có thể xin giữ lại một chiếc thẻ tre mộc này làm kỷ niệm quan sát được không? Ta đi buôn nhiều nơi trên các tuyến sông dài, rất thích lưu lại một vật nhỏ ghi dấu những chốn mình từng dừng chân thưởng trà.
Thanh Hà thoáng ngỡ ngàng trước yêu cầu kỳ lạ nhưng đầy vẻ tao nhã và mực thước ấy. Nàng nhìn thấy sự tôn trọng tuyệt đối và cái nhìn bình đẳng trong ánh mắt của vị thương nhân buôn trà lớn đối với một người đàn bà goá bụa mở quán nước lá nghèo nàn ven sông. Lòng nàng dâng lên một nỗi ấm áp lạ kỳ, xua tan đi cảm giác thấp thỏm, cô độc bấy lâu. Nàng bèn bước lại hiên, gỡ thanh tre mộc mạc xuống, dùng vạt áo lau sạch chút bụi bám rồi hai tay trân trọng trao cho anh:
— Được Hàn gia để mắt tới, đó là vinh hạnh lớn của quán nhỏ. Xin tặng ngài thanh tre này.
Hàn Thụy đón lấy chiếc thẻ tre mộc, cẩn thận nhét vào ngăn trong của chiếc túi vải bên hông, khẽ gật đầu chào nàng rồi xoay người sải bước dài hướng về phía cầu tàu nơi con đò ngang đang dập dềnh sóng nước.
Bóng lưng cao ráo, vững chãi của anh hòa dần vào ráng chiều đỏ ối đang lụi tàn bên bến nước Vọng Giang.
Tiểu Mãn lúc này mới dám rụt rè thò chân bước ra khỏi chỗ nấp sau chum sành, ngước đôi mắt tròn xoe nhìn theo bóng vị khách áo chàm đã bước xuống thuyền của Từ Bá:
— Chị Thanh Hà... vị quan khách đó ăn nói hay quá, lại hiểu biết nhiều thứ nữa. Chú ấy không giống đám người hung dữ, mặt đầy sẹo của chú Lại Tam ban trưa chút nào. Chú ấy nói chuyện nhẹ nhàng như thầy đồ dạy học ở làng em ngày xưa vậy.
Thanh Hà đưa tay xoa nhẹ mái tóc bù xù, khô xơ vì cháy nắng của con bé, khẽ mỉm cười:
— Đó là một bậc quân tử sành nghề, Tiểu Mãn ạ. Người có bản lĩnh và tài năng thực sự thì bụng dạ họ khoáng đạt như sông dài, không bao giờ dùng lời hung bạo hay nắm đấm để dọa nạt kẻ yếu thế hơn mình đâu. Nào, mau giúp chị nhóm thêm củi gáo vào lò, chúng ta phải thử nghiệm ngay cách pha mới này xem sao.
Tiểu Mãn dạ ran một tiếng thật giòn, nhanh nhẹn chạy lại góc chái bếp ôm một ôm củi gáo khô ném vào cửa lò đang le lói tàn than.
Thanh Hà lập tức bắt tay vào việc thực hành những điều vừa lĩnh hội. Nàng lấy chiếc nồi đồng nhỏ múc thêm nước giếng đá Thanh Khê đổ đầy ấm đất cổ ngỗng, thổi bùng ngọn lửa trấu dưới đáy lò. Lần này, nàng chia số nước sôi ra làm hai chiếc ấm đất riêng biệt kê trên bệ lò.
Ở chiếc ấm đất lớn dành cho phu thuyền, nàng bốc thêm một vốc lá trà hè dày dặn, lượng lá nhiều gấp rưỡi thường ngày, dội nước sôi già hơn một chút rồi đậy kín nắp ủ kỹ, để chất chát nồng đượm của phiến lá và gân lá tiết ra mạnh mẽ nhưng canh lửa khéo léo để không bị khét đáy. Còn ở chiếc ấm đất nhỏ dành cho khách bộ hành, nàng giữ đúng cách thức pha chế ban nãy: để nước hạ bớt nhiệt sau khi sôi, dùng lượng lá vừa phải, canh đúng một tuần hương ngắn rồi chắt ngay dòng nước xanh biếc ra chiếc âu sành giữ nhiệt.
Vừa vặn khi hai ấm trà tỏa hương nghi ngút thì từ phía dốc bến ngoài kia, một tốp năm người phu khuân vác vừa bốc xong chuyến than đá cuối ngày từ chiếc thuyền bầu dưới sông trườn lên bờ. Toàn thân họ đen nhẻm bụi than, từ khuôn mặt, bắp tay cuồn cuộn cho đến những chiếc áo vá rách tơi tả sũng ướt mồ hôi dính bết vào lồng ngực. Bước chân họ xiêu vẹo, nặng nề vì kiệt sức sau một ngày dài oằn lưng dưới hầm thuyền ngột ngạt.
Nhìn thấy ánh lửa bập bùng còn đỏ rực nơi quán trà của Thanh Hà, một người trong số họ chỉ tay vào, cả tốp liền ùa vào dưới mái hiên tranh, kéo ghế ngồi phịch xuống, thở hổn hển như bò kéo cày:
— Chủ quán ơi! Cho mấy bát nước giải khát mau mau với! Cổ họng khô rát như rang rơm rồi, ngực tức nghẹn sắp đứt hơi mất thôi!
Tiểu Mãn thoăn thoắt cầm chiếc khăn vải sạch chạy lại lau nhanh mặt bàn cho khách, còn Thanh Hà không chút chậm trễ, nhanh tay nhấc chiếc gáo tre múc ngay năm bát trà từ chiếc ấm đất hãm già dâng lên trước mặt từng người.
Bát nước trà này màu sắc khác hẳn với bát nước nàng mời Hàn Thụy lúc chiều: nước trà vàng sẫm ánh đồng, sóng sánh đầy đặn, mùi hương chát đậm đặc bốc lên ngùn ngụt cùng làn khói nóng hổi.
Mấy người phu bến đón lấy bát trà thô ráp bằng đôi bàn tay đen đúa, cáu bẩn bụi than. Họ chẳng buồn chờ cho nước nguội bớt, ghé ngay miệng vào vành bát, ngửa cổ ừng ực nuốt từng ngụm lớn một hơi cạn sạch tới đáy bát.
Một bác phu đứng tuổi, râu ria xồm xoàm bết dính bụi than, đưa mu bàn tay quẹt ngang mồ hôi trán, chép miệng đánh “chẹp” một cái thật to vang cả gian lều. Hai mắt bác ta sáng rực lên đầy vẻ kinh ngạc:
— Ối chà chà! Đã quá cô em ơi! Bát nước này sao mà nó đậm đà, nó trôi tuột cái vị khé cổ đắng ngắt của bụi than nhanh thế không biết! Uống vào một ngụm mà như có luồng hơi ấm chạy thẳng xuống ruột, tỉnh cả người ra, mồ hôi túa ra nhẹ bẫng cả sống lưng!
Một người phu trẻ tuổi khác ngồi bên cạnh cũng cười ha hả, lau miệng bằng vạt áo rách rồi chìa chiếc bát không ra mép bàn:
— Đúng đấy cô chủ quán! Nước trà sáng nay uống thì thơm mát thật nhưng trôi qua cổ họng cứ nhàn nhạt, chưa đủ bốc để giã cái mệt của đám phu phen chúng tôi. Còn bát nước chiều nay thì đúng là sinh ra để cho cánh bốc vác này rồi! Vừa chát vừa đậm, uống vào ấm sực cả lồng ngực! Rót thêm cho tôi một bát đầy nữa đi, uống xong bát này mới có sức lội bộ ba dặm đường vác nửa bao gạo về cho bu nó ở nhà!
Tiếng cười nói rôm rả, sảng khoái của những người lao động nghèo lập tức xua tan đi vẻ hoang vắng, lạnh lẽo thường ngày của góc bến đông khi trời trở tối. Nhìn những bàn tay chai sần, nứt nẻ đen nhẻm móc từng đồng tiền kẽm vuốt phẳng phiu đặt lên bàn cùng những nụ cười tươi rói lộ hàm răng trắng bóng sau lớp bụi than, lòng Thanh Hà ngập tràn một niềm vui sướng và cảm kích khôn xiết.
Lời khuyên của Hàn Thụy quả nhiên linh nghiệm như thần. Nàng nhận ra một chân lý mộc mạc mà sâu sắc: ở chốn chợ đời bon chen này, không phải cứ thứ gì thanh tao, đắt đỏ mới là quý giá. Chỉ cần người làm nghề dụng tâm quan sát, biết đặt mình vào hoàn cảnh, nỗi nhọc nhằn của người khác để san sẻ, thì bất kỳ món đồ mộc mạc tầm thường nào cũng có thể tìm được đúng giá trị đích thực của nó giữa dòng đời xuôi ngược.
Tiểu Mãn đứng bên cạnh nàng đon đả bưng nước, châm thêm từng bát trà đậm cho khách, miệng cười toe toét để lộ hai chiếc răng sứt ngộ nghĩnh, hai mắt lấp lánh niềm hãnh diện khôn tả. Đứa trẻ côi cút, bơ vơ dường như đã bắt đầu cảm nhận được hơi ấm của tình người và ý nghĩa thiêng liêng của việc lao động chân chính dưới mái lều nhỏ nương náu này.
Trời sập tối hẳn. Dòng Vọng Giang đen thẫm lại như một dải lụa khổng lồ trải dài dưới ánh trăng non đầu tháng mỏng manh lấp ló sau rặng tre làng bãi. Gió sông thổi lạnh từng cơn làm những dải cờ vải rách ngoài bến nước phần phật bay trong đêm vắng.
Sau khi tiễn tốp khách phu than cuối cùng rời quán, Thanh Hà cùng Tiểu Mãn bắt tay vào dọn dẹp. Hai chị em cọ rửa sạch sẽ từng chiếc bát gốm, úp ngay ngắn lên chạn tre, vần chiếc vò sành vào góc kín rồi cẩn thận cài then cánh cửa liếp nứa ghép bằng những cây tre đực già đanh.
Tiểu Mãn sau một ngày dài mệt nhọc vì chạy việc và trải qua bao phen hoảng sợ đã đói lả. Con bé ăn ngon lành một bát cơm độn khoai nóng hổi với chút cá bống kho tương gừng mà Thanh Hà đã tranh thủ kho liu riu bên rìa bếp lúc chập tối. Ăn xong, con bé ngoan ngoãn leo lên manh chiếu cói trải bên góc bếp lò còn hơi ấm của tàn tro trấu, kéo chiếc chăn vải thô đắp ngang bụng rồi nhanh chóng chìm vào giấc ngủ sâu. Tiếng thở đều đều, bình yên của đứa trẻ làm gian lều hoang tàn, rách nát giữa bến sông trở nên ấm cúng lạ thường.
Dưới ánh sáng vàng vọt, leo lét của ngọn đèn dầu lạc đặt trên chiếc đĩa sành, Thanh Hà ngồi lặng lẽ bên chiếc chõng tre. Nàng với tay kéo chiếc rương gỗ nhỏ—vật duy nhất nàng mang theo khi trốn chạy khỏi phủ nhà họ Phạm—đặt lên đùi, khẽ khàng mở nắp khóa đồng đã rỉ sét.
Bên trong rương, bên cạnh tờ khế ước thuê đất lều có triện đỏ của Đào phường bảo và cuốn sổ ghi món nợ tiền thuê sạp của Lại Tam, là một cuốn sổ tay nhỏ bìa bọc vải thô đã sờn rách, mép giấy ố vàng theo năm tháng. Đó là di vật quý giá nhất mà mẹ nàng để lại trước khi qua đời.
Thanh Hà đưa những ngón tay thon dài, khẽ run rẩy lật từng trang giấy bổi mỏng manh. Nét chữ mềm mại, mực tàu đã phai màu của mẹ nàng ghi lại vô cùng tỉ mỉ từng cách thức chọn gạo nếp cái hoa vàng, cách ngâm đậu xanh lòng, cách căn chỉnh ngọn lửa rơm khi đồ xôi và bí quyết làm các món bánh ngọt, bánh mặn theo bốn mùa trong năm.
Ánh mắt nàng dừng lại thật lâu ở trang giấy ghi công thức “Bánh hoa hòe cuối xuân”.
Đó là món bánh từng gắn liền với một ký ức đau đớn, nhức nhối khôn nguôi trong lòng nàng. Nàng nhớ như in buổi chiều định mệnh của năm năm về trước, vào ngày cuối cùng trước khi mẹ nàng trút hơi thở tàn tạ trên chiếc giường tre ọp ẹp nơi xóm nghèo ngoại thành. Khi ấy, người mẹ kiệt sức vì bạo bệnh đã thều thào nắm lấy tay nàng, nói rằng bà thèm được ngửi lại mùi thơm thanh khiết của hoa hòe, thèm được ăn một miếng bánh hoa hòe dẻo mềm do chính tay đứa con gái duy nhất của bà nhào bột làm cho.
Nhưng ngày ấy, Thanh Hà còn quá trẻ dại và hoảng loạn tột độ trước cơn bệnh trở nặng của mẹ. Trong gian bếp mù mịt khói than ẩm ướt, đôi tay nàng run lẩy bẩy, đầu óc bấn loạn khiến nàng lúng túng canh sai tỷ lệ bột nếp và nước giếng, ngọn lửa củi lại quá non khiến mẻ bánh bị sượng ngắt, đắng đót và hỏng bét dưới đáy xửng tre. Mẹ nàng đã nhắm mắt xuôi tay mà chưa kịp nếm trọn vẹn hương vị chiếc bánh hoa hòe của con gái.
Nỗi ân hận, day dứt và nỗi mặc cảm tội lỗi ấy đã đè nặng lên lồng ngực nàng suốt bao năm tháng làm dâu chịu nhục nhã ở nhà họ Phạm. Suốt chừng ấy năm, nàng chưa từng một lần dám nhóm lửa nhào bột để làm lại món bánh này, sợ chạm vào vết thương lòng chưa bao giờ khép miệng.
Nhưng đêm nay, sau những lời đàm đạo sâu sắc về vị trà và cái tâm của người làm nghề với Hàn Thụy, nhìn thấy bến đò Vọng Giang tấp nập khách buôn qua lại mỗi ngày và nghĩ đến món nợ ngập đầu cùng số tiền cần tích lũy để chuộc đứa em trai Thanh Du đang phải chịu cảnh đày ải ở lò gạch Nam Kiều, một tia hy vọng bỗng le lói và thôi thúc mãnh liệt trong tâm can nàng.
Quán trà bến sông này nếu chỉ bán nước hai văn tiền một bát thì thu nhập gom góp mỗi ngày chẳng được bao nhiêu, trừ tiền mua lá trà, tiền trấu củi và tiền nộp địa kê cho phường bảo thì chẳng còn lại là bao. Nếu nàng có thêm món bánh hoa hòe ngọt thanh, dẻo thơm gia truyền bán kèm cho khách ăn lót dạ lúc đợi đò ngang hay cho các thương nhân mua vài phong bánh gói lá chuối mang theo đường dài, công việc buôn bán chắc chắn sẽ khởi sắc hơn rất nhiều. Nàng mới có cơ may cứu được em trai thoát khỏi kiếp trâu ngựa.
Nghĩ đến đó, Thanh Hà khẽ cắn chặt môi, gấp cuốn sổ tay lại, hít một hơi thật sâu để xua đi sự run rẩy đang dâng lên trong huyết quản. Nàng tự nhủ mình không thể hèn nhát mãi được, mẹ ở trên trời linh thiêng nhất định sẽ thấu hiểu cho lòng nàng.
Nàng đứng dậy, nhẹ nhàng bước lại góc chạn tre, lấy chiếc thúng nhỏ đựng hoa hòe khô mà nàng đã cẩn thận gom nhặt, phơi sấy từ cây hoa hòe cổ thụ ven bờ đê mấy hôm trước. Mùi hoa hòe khô ngai ngái, phảng phất hương vị của nắng gió đầu hạ bốc lên dìu dịu. Nàng múc ba bát bột gạo nếp trắng mịn từ trong chiếc hũ sành đậy kín, rây qua chiếc rây mắt nhỏ cho bột thật tơi xốp, rồi thêm vào một chút đường phèn đã giã nhỏ thành hạt cát mịn.
Nàng cẩn thận múc từng muôi nước giếng đá Thanh Khê đổ vào thau bột, bắt đầu nhào nặn theo đúng từng bước mà bàn tay mẹ năm xưa từng chỉ dạy. Đôi bàn tay nàng thoăn thoắt xoa bột, miết từng khối bột nếp dẻo quánh cho đến khi khối bột không còn dính tay, mịn màng và trắng nõn nà như cánh ngọc. Nàng khéo léo trộn những cánh hoa hòe khô đã ngâm mềm vào giữa thớ bột, nặn thành từng chiếc bánh nhỏ xinh xắn, tròn trịa như những búp hoa hòe đang e ấp chờ nở.
Đoạn, nàng nhẹ nhàng xếp từng chiếc bánh hoa lên chiếc xửng tre đan mắt cáo đã lót sẵn một lớp lá chuối tươi thoa dầu lạc mỏng để chống dính. Nàng khẽ khàng đặt chiếc xửng tre lên miệng nồi nước đang sôi ùng ục trên bếp than hồng, đậy chặt chiếc nắp vung tre nặng trĩu lại.
Ngọn lửa than liếm quanh đáy nồi đồng, hơi nước bốc lên cuồn cuộn qua các kẽ nắp vung. Thanh Hà ngồi xổm bên bếp lò, hai bàn tay siết chặt lấy vạt áo nâu thô, tim đập thình thịch từng hồi liên hồi trong lồng ngực. Đôi mắt nàng không rời ngọn lửa, dõi theo từng tấc khói trắng đang bốc lên nghi ngút qua khe nứa của mái lều. Trong làn khói mờ ảo, nàng nhắm mắt lại, thầm khấn nguyện hương hồn người mẹ quá cố phù hộ cho mẻ bánh đầu tiên sau bao năm tháng trắc trở này được vuông tròn trọn vẹn, mở ra một con đường sống mới cho mấy chị em nàng nơi bến sông xa lạ này.
Thời gian chầm chậm trôi qua trong sự tĩnh mịch của đêm khuya. Tiếng côn trùng rỉ rả bên bờ bãi phù sa ngoài kia càng làm cho gian lều thêm phần quạnh quẽ. Chừng hai tuần hương trôi qua, nước trong nồi đáy bắt đầu cạn dần, phát ra những tiếng sùng sục lục bục báo hiệu bánh trong xửng đã chín tới độ.
Thanh Hà hồi hộp đứng dậy, hơi thở nàng dồn dập. Nàng cầm mảnh giẻ sạch lót tay, cẩn thận nâng chiếc nắp vung tre nặng trĩu ra khỏi miệng nồi hấp.
Thế nhưng, không có mùi thơm ngọt ngào thoang thoảng của mật hoa như nàng hằng mong đợi.
Nồi hấp bánh hoa hòe mở ra bốc lên mùi ngai ngái nồng đắng, những chiếc bánh nở bung vỡ nát dưới đáy xửng tre.