Đứa trẻ dưới gầm bàn
Đêm khuya bên bến Vọng Giang tĩnh mịch chỉ còn tiếng sóng vỗ bì bọp, Thanh Hà cầm ngọn đèn dầu đi kiểm tra chum nước thì nghe thấy hơi thở đứt quãng phát ra từ góc tối.
Gió sông tràn qua những khe nứa của vách lều, mang theo mùi tanh nồng của rong rêu rữa nát và hơi sương buốt lạnh của những ngày cuối xuân ẩm ướt. Ngọn bấc đèn bằng sợi bông thô chao đảo, tỏa ra mùi dầu lạc khen khét, hắt lên vách đất những mảng bóng chập chờn như những cánh tay đen ngòm chực vồ lấy gian lều nhỏ. Từng đợt gió rít luồn qua mái rạ ken dày, làm những mảnh lá dừa nước khô trên chái hiên va vào nhau xào xạc, nghe tựa hồ như có bước chân người rón rén rình mò bên ngoài mé nước. Thanh Hà nín thở, ngón tay bất giác siết chặt lấy chuôi con dao bài bằng sắt rèn giắt bên thắt lưng vải. Sau vụ Lại Tam kéo đàn em đến đe nẹt hồi trưa, đòi thu đủ thứ tiền thuế bến bãi vô lý, từng thanh âm bất thường dội lên trong đêm vắng đều khiến sống lưng nàng căng cứng như dây đàn.
Nàng đứng sững lại bên chiếc chum sành hứng nước mưa mé chái hiên. Nắp chum bằng nan tre đan khép hờ, nước bên trong phẳng lặng như một tấm gương đen nhánh, phản chiếu le lói đốm lửa vàng vọt của ngọn đèn con. Nhưng tiếng động lạ lùng kia vẫn không dứt. Nó không phải là tiếng rầm rập của một gã đàn ông to xác say khướt ngả nghiêng bước thấp bước cao từ quán rượu ngoài đê về, cũng chẳng phải tiếng chân lạo xạo của một tên trộm bến bãi hung hãn đang rình mò bẻ then cạy cửa.
Tiếng thở ấy nông cạn, dồn dập, rít qua kẽ răng một cách khó nhọc, nghe hệt như hơi tàn của một con thú nhỏ bị trúng tên độc, đang cuộn tròn chờ chết trong bụi gai rậm rạp giữa đồng không mông quạnh.
Ánh sáng vàng vọt từ ngọn đèn rọi dần qua chiếc bàn tre thô mộc, trườn xuống lớp đất nện lồi lõm rồi dừng lại sát chân tường đất mé sau chái bếp. Chỗ ấy kê một chiếc chõng tre cũ kỹ đã mọt rỗng vài thanh nan mà Thanh Hà lượm lặt được từ đống rác ven bờ hôm mới dọn quán, tạm dùng làm nơi đặt mấy bó củi gáo và chiếc kiềng sắt han rỉ.
Thanh Hà cúi người soi đèn dưới gầm chiếc chõng tre, bắt quả tang một cô bé ăn xin gầy gò, mặt lem luốc bùn đất đang run rẩy ôm chặt một mẩu bánh nếp khô vụn nhặt được dưới đất.
Đứa trẻ co rúm lại thành một nhúm bé thó, nép sát vào góc kẹt giữa hai chân chõng mục và vách đất ẩm ướt đầy mạng nhện. Quần áo trên người em chỉ là những mảnh bao tải gai chắp vá bằng chỉ xơ chuối, rách bươm từng mảng lớn để lộ hai bả vai nhô cao như hai nhánh củi khô gãy dở. Đôi mắt em mở to trừng trừng, tròng mắt đùng đục ánh lên sự kinh hoàng tột độ khi bị luồng ánh sáng vàng rực đột ngột chiếu thẳng vào mặt. Hai bàn tay nhỏ thó, cáu ghét đầy bùn đất và móng tay đen đúa, đang bấu chặt lấy một mẩu bánh nếp mốc meo—mẩu bánh khô cứng quắt queo mà có lẽ ban chiều Thanh Hà quét dọn đã vô tình để sót lại nơi góc tối khuất lấp. Dù toàn thân run rẩy như chiếc lá rách trước cơn gió chướng, em vẫn không chịu buông mẩu bánh, thậm chí còn hấp tấp đưa lên miệng định nuốt chửng như sợ chỉ chớp mắt sau miếng ăn bẩn thỉu ấy sẽ bị người ta giật phắt mất.
“Đừng nuốt! Bánh rơi dưới đất bẩn thỉu, mốc hỏng cả rồi, ăn vào đau bụng đấy!”
Thanh Hà khẽ thốt lên, giọng nàng không hề có vẻ đay nghiến hay giận dữ, chỉ có sự xót xa tự đáy lòng. Nàng đặt cây đèn dầu lên chiếc ghế đẩu cạnh đó, rồi từ từ quỳ một gối xuống nền đất nện ẩm ướt, vươn cánh tay gầy guộc nhưng ấm áp về phía gầm chõng.
Thấy nàng tiến lại gần, đứa trẻ hốt hoảng co giật toàn thân, đầu va mạnh vào nan tre kêu một tiếng cộp khô khốc. Em nhe hàm răng nhỏ hoen ố khè khè như một con mèo hoang bị dồn vào chân tường đá, lưng ép chặt hơn vào vách đất lạnh lẽo, mắt láo liên tìm kiếm một khe hở để tháo chạy ra bóng đêm. Nhưng gian lều đã cài then kín, bốn bề chỉ có hơi lạnh từ lòng đất bốc lên và mùi khói dầu lạc bao bọc.
“Đừng sợ, ta không đánh đòn em đâu. Ngoan nào, ra đây với ta.”
Nàng không quát mắng hay đánh đòn mà kéo đứa trẻ ra, múc một bát nước ấm và lấy một chiếc bánh mới nướng đưa cho em ăn cho đỡ đói lả.
Bàn tay Thanh Hà luồn vào dưới gầm chõng, nắm lấy cổ tay khẳng khiu của đứa bé. Cổ tay em bé đến mức nàng chỉ cần khép nhẹ ngón cái và ngón trỏ là đã ôm trọn, da thịt khô ráp, lạnh ngắt như da một loài rắn nước mùa đông. Khi bị Thanh Hà lôi ra khỏi góc tối, đứa trẻ giãy giụa yếu ớt, móng tay cào cấu trong vô vọng vào ống tay áo chàm của nàng, nhưng sức lực kiệt quệ vì chuỗi ngày đói khát khiến em nhanh chóng khuỵu xuống mặt đất nện.
Mẩu bánh nếp mốc meo tuột khỏi tay em, lăn lóc trên nền đất bẩn phủ đầy tro bụi. Đứa trẻ nhìn mẩu bánh bằng ánh mắt tiếc nuối tột cùng, hai hàng nước mắt bỗng chốc trào ra từ khóe mi sâu hoắm, rửa trôi lớp ghét bùn trên gò má hốc hác, để lại hai vệt da trắng bệch thảm hại.
Thanh Hà thở dài một tiếng thật khẽ, nhẹ nhàng nâng đứa bé ngồi dựa vào chân cột lều bằng gỗ xoan. Nàng bước vội lại góc bếp lò, nơi tàn than của nồi nước hãm trà trưa nay vẫn còn được ủ kỹ trong lớp tro trấu ấm nồng. Nàng mở nắp chiếc niêu đất nung, múc một bát nước đun sôi đã nguội bớt, châm thêm chút nước nóng hổi từ chiếc ấm đồng đang reo ri rỉ bên cạnh cho vừa độ ấm miệng, rồi bưng lại gần, cẩn thận ngồi xuống bên cạnh em.
“Uống ngụm nước ấm này cho giãn ruột đã. Đừng uống vội, nhấp từng hớp nhỏ thôi kẻo sặc.”
Đứa trẻ nhìn bát nước men da lươn bốc hơi nhè nhẹ, ngập ngừng một thoáng rồi chộp lấy bằng cả hai bàn tay khẳng khiu. Em uống ừng ực như kẻ chết khát giữa bãi cát trưa hè, nước ấm tràn qua khóe miệng lem luốc chảy ròng ròng xuống cổ áo rách tả tơi, làm em sặc sụa ho khan một tràng dài ngắt quãng. Thanh Hà ngồi xổm bên cạnh, đưa bàn tay ấm áp vỗ nhịp nhàng sau lưng đứa trẻ, từng đốt xương sườn của em gồ lên nhọn hoắt dưới lớp vải bao gai mỏng manh như một chiếc lồng tre xiêu vẹo.
Sau khi cơn ho dịu dần, đứa trẻ ngước mắt nhìn nàng. Đôi mắt đen láy lộ ra sau mớ tóc rối bù xù vẫn đầy vẻ nghi hoặc và đề phòng, thân mình vẫn không ngừng run rẩy trước từng luồng gió lọt qua vách nứa. Thanh Hà đứng dậy, bước lại chiếc chạn tre nhỏ treo lơ lửng trên cao bằng dây mây—nơi nàng cất mẻ bánh nướng làm từ bột kê và đậu xanh vụn để chuẩn bị cho buổi chợ sớm mai. Nàng nhấc chiếc vung đậy bằng rơm bện, lấy ra một chiếc bánh tròn trịa còn vương mùi khói rơm. Vỏ bánh nướng vàng ruộm, lấm tấm vài hạt vừng đen, vẫn còn giữ được độ ấm và tỏa ra mùi thơm bùi của hạt kê rang quyện với vị ngọt thanh thoang thoảng của mật mía non.
Nàng bẻ đôi chiếc bánh, đưa nửa chiếc còn ấm nóng vào tận tay đứa trẻ:
“Cầm lấy mà ăn. Bánh sạch đấy, vừa nướng lúc chiều tối, không phải đồ thiu thối đâu.”
Hương bánh mới nướng như một ngọn lửa đánh thức bản năng sinh tồn mãnh liệt nhất trong cơ thể kiệt quệ của đứa trẻ. Mọi nỗi sợ hãi, e dè hay sự cảnh giác loài vật bỗng chốc tan biến sạch trơn. Em chộp lấy nửa chiếc bánh kê, nhét vội vào miệng cắn ngập chân răng. Em nhai ngấu nghiến, nhai như thể trần đời này chưa từng có thứ gì ngọt ngào và thơm lành đến thế. Vụn bánh rơi vãi xuống vạt áo hay mặt đất nện, em liền đưa những ngón tay gầy guộc nhặt nhạnh sạch trơn, không bỏ sót dù chỉ là một hạt kê vụn. Nuốt trọn nửa chiếc thứ nhất, cổ họng nghẹn ứ lại, em đón lấy nửa chiếc còn lại từ tay Thanh Hà, tiếp tục ăn như nuốt lấy sinh mệnh của chính mình.
Cho đến khi nuốt trôi miếng bánh cuối cùng và uống cạn bát nước ấm thứ hai do Thanh Hà rót thêm, đứa trẻ mới thở hắt ra một hơi dài rười rượi. Bờ vai căng cứng như khúc gỗ dần dần thả lỏng, em ngửa đầu nhìn lên mái rạ của túp lều, rồi nhìn xuống đôi bàn tay trơ xương của mình, tựa hồ như vừa bước qua một cơn ác mộng dài dằng dặc để chạm vào một giấc mộng lành kỳ lạ.
Thanh Hà kéo chiếc ghế tre lại gần, ngồi xuống đối diện với đứa bé. Nàng kéo lại vạt áo chàm cho ngay ngắn, ánh mắt trong trẻo nhìn thẳng vào gương mặt nhơ nhớp của đứa trẻ. Giọng nói của nàng trầm xuống, dịu dàng nhưng không giấu được vẻ dứt khoát của một người đàn bà đã sớm nếm trải đủ đắng cay đầu đời:
“Em tên là gì? Nhà ở đâu? Cha mẹ đâu mà lại đi chui rúc dưới gầm chõng nhà người khác trong đêm hôm khuya khoắt thế này?”
Đứa trẻ cúi gầm mặt, những ngón chân trần tím tái vì lạnh bấm chặt vào lớp đất nện ẩm ướt, hai bàn tay luồn vào vạt bao tải rách, lí nhí đáp:
“Em... người ta gọi em là Tiểu Mãn.”
“Tiểu Mãn?” Thanh Hà hơi nhướng mày, ánh mắt soi kỹ vào vầng trán lấm lem của em. “Đó là tên do cha mẹ đặt cho em à?”
Đứa bé lắc đầu, giọng nói run rẩy đứt quãng như tiếng gió thổi qua ống nứa nứt:
“Em không có cha mẹ. Từ lúc biết nhớ đến giờ, em đã lang thang ở mấy cái bến sông này rồi. Năm ngoái, vào đúng ngày tiết Tiểu Mãn, có một bà gánh bánh rán qua chợ Đông Tân thấy em ngất xỉu bên vệ đường bèn cho em ăn một bữa no nê. Bà ấy bảo hôm đó là ngày Tiểu Mãn, trời đất bắt đầu ấm lên, lúa ngoài đồng bắt đầu đơm hạt chắc, nên gọi em là Tiểu Mãn cho dễ nuôi. Từ đó ai hỏi tên thì em tự xưng mình là Tiểu Mãn.”
Thanh Hà nghe mà ngực nhói lên một cơn đau xót xa. Trong thoáng chốc, bóng hình đứa trẻ trước mắt như mờ đi, thay vào đó là gương mặt của người em trai Liễu Thanh Du của nàng. Thanh Du năm nay mười ba tuổi, trạc tuổi con bé này, hiện giờ vẫn đang phải làm lụng quần quật từ tờ mờ sáng đến đêm mịt ở lò gạch nhà bác họ Liễu Đức Thuận bên bến Nam Kiều để đổi lấy từng bát cơm hẩm qua ngày. Ít ra Thanh Du còn có nàng là chị ruột ruột thịt, dẫu xa cách nhưng tháng nào nàng cũng chắt bóp từng đồng kẽm sang thăm non, tiếp tế. Còn đứa trẻ này đến gốc gác cội nguồn cũng chẳng có, chỉ trôi dạt như một cọng bèo dâu giữa dòng Vọng Giang cuộn sóng, sống thác mặc cho con nước bến sông định đoạt.
Thế nhưng, xót thương là một chuyện, còn sinh tồn giữa chốn bến đò xô bồ phức tạp này lại là chuyện hoàn toàn khác. Bản thân nàng cũng chỉ vừa mới gượng dậy sau cơn bão táp của số phận khi dứt áo rời khỏi nhà họ Phạm với hai bàn tay trắng. Trong túi nàng lúc này chỉ còn vỏn vẹn vài đồng bạc vụn và mấy chuỗi tiền kẽm han rỉ, tờ khế ước thuê đất dựng lều mới ký với lý trưởng bến đò được nửa năm, phía trước còn bao nhiêu gánh nặng đè trĩu vai: tiền thuế đinh, tiền môn bài, tiền bảo kê bến bãi mà bọn Lại Tam rình rập hạch sách mỗi tuần, rồi món nợ phải tích cóp để chuộc em trai về khỏi nhà họ Liễu. Nàng không thể biến túp lều rách nát này thành nơi cứu tế của lòng trắc ẩn mù quáng để rồi cả hai cùng chết chìm.
Đứa trẻ tự xưng là Tiểu Mãn; Thanh Hà dứt khoát đưa ra nguyên tắc: không bố thí thức ăn miễn phí lâu dài, nếu muốn ở lại em phải quét dọn sân bến, rửa sạch ấm chén mỗi ngày để đổi lấy hai bữa cơm và một chỗ ngả lưng bên góc bếp.
Thanh Hà nhìn thẳng vào đôi mắt đen láy đang lấm lét nhìn mình của đứa trẻ, giọng nàng đanh lại, từng lời thốt ra rõ ràng như tiếng búa gõ trên đe sắt:
“Tiểu Mãn, em nghe cho kỹ đây. Tối nay em đói lả, ta cho em nửa chiếc bánh kê và một bát nước ấm, đó là vì cái tình giữa con người với con người khi hoạn nạn. Nhưng quán trà này của ta không phải là am miếu nhà chùa, cũng chẳng phải nhà phát chẩn của quan huyện. Ta chỉ là một người đàn bà đơn độc mở quán buôn bán kiếm từng đồng bạc lẻ mưu sinh, không có tiền của dư thừa để nuôi không một miệng ăn ngày này qua tháng khác.”
Tiểu Mãn nghe vậy thì toàn thân run bắn lên, tưởng chừng như người phụ nữ trước mặt sắp sửa vớ lấy chiếc chổi đót mà quét nàng ra ngoài trời đêm lạnh buốt ven sông. Em vội vàng quỳ sụp xuống đất, trán dập chan chát xuống nền đất nện ẩm ướt:
“Chị ơi... bà chủ ơi! Đừng đuổi em đi mà! Ngoài kia đêm hôm lạnh lắm, gió sông thổi buốt thấu xương, mấy đứa trẻ lớn ở bến kho than hay đánh em tranh chỗ ngủ. Chúng nó cướp hết bao tải rách của em rồi! Em không dám ăn trộm nữa đâu, em van chị, chị cho em ở nhờ góc đất này thôi!”
“Đứng dậy!” Thanh Hà quát khẽ, giọng nghiêm nghị nhưng bàn tay lại vươn ra đỡ lấy vai em, kéo đứa trẻ đứng thẳng lên. “Ta chưa từng bảo sẽ đuổi em đi ngay trong đêm nay. Nhưng ở lại đây với ta thì phải có khuôn phép, có luật lệ rõ ràng. Nghe rõ chưa?”
Tiểu Mãn sụt sịt, đưa ống tay áo bao tải bẩn thỉu quệt vội nước mũi, gật đầu lia lịa:
“Dạ... dạ nghe! Em nghe lời chị!”
“Luật ở quán này là: không có thứ gì miễn phí cả đời,” Thanh Hà nói chậm rãi, nhấn mạnh từng âm tiết để khắc sâu vào đầu óc non nớt của đứa trẻ lang bạt. “Em muốn có cơm ăn, muốn có một chỗ ngủ kín gió không bị mưa hắt vào người, thì em phải bỏ công sức, mồ hôi của chính mình ra mà đổi lấy. Mỗi ngày, từ lúc trời còn chưa rạng mặt người, em phải dậy quét sạch rác rưởi ngoài sân bến trước cửa lều, gánh nước từ lu sành ra tráng rửa sạch sẽ từng chiếc ấm đất, từng cái bát men. Khi khách vào, em phải bưng bê nhanh nhẹn, lau bàn ghế cho thật khô ráo, sạch bóng cát sông. Ta làm bánh, em phải phụ nhặt củi khô, nhóm bếp lò, giữ cho lửa không tàn. Đổi lại, ta cho em ăn ngày hai bữa cơm no cùng mâm với ta, và em được trải một manh chiếu ngả lưng bên góc bếp lò ấm áp này. Tuyệt đối không được ăn cắp vặt, không được nói dối nửa lời. Nếu ta bắt gặp em táy máy một đồng tiền kẽm của quán, hay lén lút giấu giếm một mẩu than, ta sẽ lập tức đuổi em ra khỏi bến đò ngay tức khắc, không bao giờ cho quay lại bước chân qua bậu cửa này nữa. Em có chịu làm theo giao ước đó không?”
Tiểu Mãn sững sờ. Đôi mắt em mở to tròn xoe, ánh lên sự bàng hoàng ngỡ ngàng tột bậc. Ở cái bến Vọng Giang xô bồ này, những đứa trẻ bụi đời không cha không mẹ như em đã quen với việc sống kiếp sâu bọ: quen với những cái tát nảy lửa của đám chủ quán cơm khi lỡ bước chân vào xin xỏ, quen với những tiếng chửi rủa đồ súc sinh chết tiệt của đám lái buôn, hoặc họa hoằn lắm thì nhận được một mẩu bánh mì thiu mốc méo người ta vứt xuống bãi bùn kèm theo cái nhìn khinh bỉ tột cùng. Chưa từng có một ai nói với em về sự công bằng. Chưa từng có ai bảo em rằng đôi bàn tay gầy gò, dơ bẩn của em có thể tạo ra giá trị, có thể dùng sức lao động chân chính để đổi lấy một chỗ ngồi đàng hoàng bên mâm cơm ấm cúng như một con người thực thụ.
“Em chịu! Em xin thề với trời đất sông Vọng Giang, em chịu làm hết mọi việc!” Tiểu Mãn gật đầu như giã tỏi, hai hốc mắt lại đỏ hoe, nước mắt chảy ròng ròng qua nụ cười méo mó vì xúc động. “Chị bảo em xách nước, quét rác hay lau ấm chén em đều làm được hết. Em khỏe lắm, em không sợ cực nhọc đâu chị ơi!”
“Được rồi. Nhớ lấy lời giao ước đêm nay, đừng để ta phải thất vọng.”
Thanh Hà khẽ gật đầu, tảng đá đè nặng trong lồng ngực nàng như vơi đi đôi phần. Nàng đứng dậy, đi ra góc sàn gỗ mé trong vách, lục lọi tìm một tấm chiếu cói cũ đã sờn rách mép cùng một mảnh chăn chiên vá víu bằng vải bông thô mà nàng mang theo từ lúc rời khỏi nhà họ Phạm. Nàng đem lại góc bếp lò vẫn còn phả hơi ấm âm ỉ, trải cẩn thận lên lớp rơm khô rải sẵn sát vách nứa.
“Đêm nay em nằm ngủ ở đây. Gần bếp lò sẽ không bị hơi đất bốc lên làm lạnh bụng. Ngủ một giấc thật đẫy đi, sáng mai công việc sẽ bắt đầu từ lúc trời còn chưa tỏ mặt người đấy.”
Tiểu Mãn rón rén bước lại manh chiếu cói. Tấm chiếu thô ráp, bạc màu vì năm tháng đối với đứa trẻ lang thang này lại êm ái và sạch sẽ hơn bất cứ góc kho than hay hốc gầm cầu nào em từng vùi mình suốt bao mùa đông giá rét. Em khép nép nằm co ro xuống, kéo mảnh chăn chiên phủ kín đến tận cằm, đôi mắt vẫn không rời khỏi bóng lưng thon thả của Thanh Hà đang cặm cụi gài lại then cửa lều, chỉnh lại chiếc chốt cài bằng gỗ ổi cho thật chắc chắn.
Đêm dần trôi về sáng. Tiếng gió ngoài sông vẫn rít qua khe nứa, tiếng sóng vẫn vỗ đều đặn vào chân cọc gỗ ngoài bến đò, nhưng gian lều nhỏ đã không còn vẻ lạnh lẽo cô quạnh như trước. Khi ngọn đèn dầu trên bàn tre lụi dần rồi tắt ngấm trong làn khói lạc khét nhẹ, trong bóng tối tĩnh mịch chỉ còn lại tiếng ngáy khe khẽ, an tâm lạ lùng của đứa trẻ mồ côi và tiếng thở dài trầm ngâm của Thanh Hà giữa dòng đời dâu bể.
***
Khi giọt sương mai đầu tiên còn đọng trĩu trịt trên những ngọn cỏ gà mọc lan mé bờ sông, và vầng đông mới chỉ hé một vệt rạng mỏng manh màu lòng đỏ trứng gà nơi chân trời xa xôi, Thanh Hà đã cựa mình thức giấc.
Thói quen của một người từng làm dâu nhà quyền quý rồi lại lăn lộn kiếm ăn chốn chợ đời khiến nàng không bao giờ cho phép mình ngủ rốn. Nàng vén tấm rèm vải thô bước xuống sàn gỗ, khẽ khàng xỏ chân vào đôi guốc mộc, định bụng sẽ ra sau chái bếp lấy gáo múc nước châm lửa đun ấm nước sôi đầu tiên trong ngày. Nhưng khi ánh mắt nàng chạm vào góc bếp lò, chân nàng bỗng khựng lại.
Góc bếp sạch sẽ tinh tươm. Manh chiếu cói đã được cuộn tròn lại gọn gàng dựng vào góc cột, chiếc chăn chiên gấp vuông vức đặt ngay ngắn bên trên, không hề xộc xệch. Còn bóng dáng của Tiểu Mãn thì chẳng thấy đâu.
Thanh Hà khẽ nhíu mày, trong lòng thoáng dấy lên một nỗi nghi ngại man mác. Lẽ nào đứa trẻ ấy đã quen thói lang bạt giang hồ, ăn một bữa no nê, ngủ một đêm ấm áp rồi lại lén lút chuồn mất giữa lúc canh tàn để tìm về chốn tự do buông thả? Hay là con bé đã tiện tay dắt đi thứ gì trong quán?
Nàng vội vã kéo chiếc then cài cửa lều bằng gỗ, bước nhanh ra ngoài hiên.
Một làn gió sớm trong lành, mát rượi tạt thẳng vào mặt, mang theo mùi ngai ngái nồng đượm phù sa của dòng Vọng Giang đang mùa nước lớn. Khung cảnh trước mắt khiến Thanh Hà không khỏi ngỡ ngàng, sững sờ đứng chôn chân bên bậu cửa.
Tiểu Mãn nhanh chóng thể hiện sự lanh lợi khác thường, sáng hôm sau em dậy sớm thoăn thoắt lau dọn bàn ghế, ra tận mép cầu tàu đon đả chào mời khách lên bờ ghé quán uống trà.
Mặt đất trước cửa quán—nơi mà chiều qua gió sông và con nước lớn còn xô dạt vào cơ man nào là vỏ ốc bươu, cành củi mục trôi sông và rác rưởi trôi nổi—lúc này đã được quét dọn sạch bong kin kít. Từng luống rác được gom gọn gàng vào chiếc sọt tre đặt khuất sau bụi chuối tiêu. Bốn chiếc bàn tre thô sơ dưới mái hiên đã được lau chùi cẩn thận bằng giẻ ẩm, không còn vương lấy một hạt cát sông hay một vệt nước trà ố vàng của ngày hôm trước. Trên chiếc mẹt tre đặt cạnh lu nước giếng đá Thanh Khê, từng chiếc bát men da lươn đã được cọ rửa sạch bóng, xếp úp ngay ngắn thành từng chồng vững chãi, mép bát ráo hoảnh đón gió sớm.
Còn đứa trẻ gầy gò của đêm qua lúc này đang ở ngoài mép nước. Em đã rửa sạch bùn đất trên mặt mũi, mái tóc bù xù được túm gọn lại phía sau bằng một sợi dây chuối khô. Dưới làn nước trong mát của buổi sớm mai, gương mặt Tiểu Mãn lộ rõ nét thanh tú, sáng sủa lạ thường; đôi lông mày lá liễu đậm nét và vầng trán cao bướng bỉnh làm sáng bừng cả khuôn mặt ngăm đen dãi dầu mưa nắng. Em đang cầm một chiếc chổi đót tự chế bằng những nhánh chổi xể gãy, đứng ngay nơi bậc gỗ nhô ra của mép cầu tàu—nơi chiếc thuyền tam bản đầu tiên chở rau củ, củi khô và than đá từ mạn ngược bắt đầu cập bến bãi.
Vừa thấy chiếc thuyền nan chở nặng rẽ sương sớm lướt tới, Tiểu Mãn đã thoăn thoắt nhảy chồm tới mép gỗ mục, hai bàn tay nhỏ bé nhanh như cắt vồ lấy đầu dây thừng đay mà người lái thuyền vừa quẳng lên, quấn thoăn thoắt hai vòng vào chiếc cọc gỗ chôn chặt bên bờ, miệng đon đả cất tiếng thanh thót như chim sẻ hót sớm:
“Bác phu thuyền ơi! Chèo đò ngược nước suốt một đêm dài chắc buốt sương lạnh ruột lắm rồi phải không ạ? Ghé ngay quán trà chị Thanh Hà uống bát nước chè xanh gò Thanh Khê cho ấm lòng ấm dạ đi bác! Nước chè nấu bằng giếng đá ong ngọt lịm đầu lưỡi, vừa thơm mùi cốm nếp vừa mát giọng, chỉ hai văn một bát đầy ắp thôi ạ! Quán còn có cả bánh kê nướng mật mía nóng hổi giòn tan lót dạ nữa đây bác ơi!”
Bác lái thuyền—một người đàn ông trung niên lực lưỡng quấn khăn đầu rìu, người sặc sụa mùi bùn nước và mồ hôi chua nồng—vừa bước chân nặng trịch lên cầu tàu, nghe tiếng chào mời lanh lảnh, lễ phép và trôi chảy như rót mật vào tai của con bé thì không khỏi bật cười khà khà. Bác đưa bàn tay to bè, ram ráp xoa mạnh lên chỏm tóc buộc túm của em:
“Tổ cha con bé con nhà ai mà khéo mồm khéo miệng thế không biết! Mới sáng sớm ra bến mà cái mồm đã dẻo quẹo như kẹo kéo rồi! Được rồi, nghe mày rao bùi tai quá, dắt bác vào quán xem trà nước của bà chủ mày ngon ngọt ra làm sao nào!”
“Dạ, cháu mời bác đi lối này ạ! Bàn tre sạch sẽ mát rượi hướng thẳng ra dòng sông, bác ngồi ngả lưng một lát là có nước sôi bốc khói tới ngay đây ạ!”
Tiểu Mãn thoăn thoắt thoái bộ dẫn người khách lạ vào dưới mái hiên quán, kéo chiếc ghế tre mời khách ngồi rồi chạy vụt lại bên lò nung, nơi ấm nước đồng đã bắt đầu reo sôi sùng sục reo lên từng tiếng vui tai. Nhìn thấy Thanh Hà đang đứng ngơ ngẩn nhìn mình bên khung cửa nứa, con bé nhoẻn miệng cười thật tươi, để lộ hai chiếc răng sún ngộ nghĩnh, đôi mắt híp lại cong vút như hai vầng trăng non:
“Chị ơi! Khách mở hàng chuyến sớm đây ạ! Bác ấy uống trà xanh nấu bằng nước giếng đá Thanh Khê!”
Thanh Hà mỉm cười, cảm giác ngỡ ngàng cùng mối nghi ngại ban nãy trong lòng nàng nhanh chóng tan biến sạch trơn, thay vào đó là sự thán phục sâu sắc trước sự lanh lợi, tháo vát và biết điều của đứa trẻ. Nàng nhanh tay bắt đầu công việc. Bàn tay khéo léo của nàng tráng ấm đất nung qua một lượt nước sôi già cho ấm phôi gốm, bốc một nhúm búp trà xanh phơi sương giòn rụm bỏ vào lòng ấm, lắc nhẹ một vòng cho dậy lên hương cốm non mộc mạc đặc trưng, rồi châm dòng nước sôi vừa hạ bớt nhiệt từ ấm đồng vào, đậy nắp lại trong đúng nửa tuần trà.
Chỉ một thoáng sau, bát nước trà xanh sánh vàng như mật ong loãng, mặt nước trong veo bốc khói nghi ngút thơm lừng đã được Tiểu Mãn cẩn thận bưng bằng cả hai tay dâng lên trước mặt người phu thuyền.
“Cháu mời bác uống nước ạ. Bát mới rót còn nóng bỏng môi, bác thổi nhẹ rồi hãy nhấp kẻo bỏng đấy bác!”
Người phu thuyền nâng chiếc bát men da lươn lên bằng hai bàn tay thô kệch, khẽ thổi cho làn khói tản bớt rồi nhấp một ngụm dài. Đôi lông mày cau có, rậm rạp vì một đêm nhọc mệt chèo chống chống chọi với sóng gió bỗng chốc giãn ra khoan khoái:
“Chà! Nước ngọt thật! Trà bến này thơm thanh, chát nhẹ nơi đầu lưỡi rồi đọng lại cái vị ngọt lịm ở cổ họng, tuyệt nhiên không có tí mùi tanh nồng của bùn sông hay mùi phèn chua như mấy quán nước mé chợ Tây. Hai đồng kẽm này thực sự đáng đồng tiền bát gạo lắm!”
Người khách vừa dứt lời thì ngoài mé sông lại vang lên tiếng mái chèo khua nước bì bõm quen thuộc. Chiếc thuyền đò ngang thân gỗ sồi của Từ Bá từ từ rẽ màn sương sớm bảng lảng, ghé sát vào mũi cầu tàu gỗ. Chuyến đò chở theo vài bà hàng cá gánh đôi sọt rỗng tanh tưởi và mấy người phu bốc vác từ bên kia sông sang sớm để đón mối hàng củi và ngô non từ mạn ngược đổ về.
Từ Bá ghé quán thấy Tiểu Mãn liền nhận ra đứa trẻ lang thang hay ngủ ở hốc kho bến, ông gật gù khen Thanh Hà biết cách dùng người nhưng nhắc nàng để mắt vì trẻ bụi đời thường quen tay táy máy.
Từ Bá buộc xong sợi dây lèo vào cọc gỗ, vác chiếc dầm gỗ sồi bóng loáng nước lên vai rồi sải từng bước dài vững chãi lên bờ. Lão vừa ngẩng đầu lên, vuốt chòm râu bạc còn đọng sương mai định cất tiếng chào Thanh Hà như thường lệ thì đập vào mắt lão là cảnh tượng Tiểu Mãn đang thoăn thoắt bưng chiếc bát men da lươn của người phu thuyền vừa uống xong mang ra lu nước sau chái bếp để cọ rửa.
Đôi mắt sắc sảo, đục ngầu phù sa nhưng tinh tường lạ thường của lão lái đò già nheo lại. Lão bước vào quán, đặt chiếc dầm gỗ dựa vào thân cột tre, ngồi phịch xuống chiếc bàn quen thuộc ở góc hiên lộng gió.
“Ủa? Con bé chuột lột này... sao hôm nay lại chui vào đây lăng xăng thế này cô bé?” Từ Bá cất giọng khàn đục như tiếng đá mài trên gỗ, đưa ngón tay trỏ gân guốc chỉ thẳng về phía Tiểu Mãn.
Tiểu Mãn đang ngồi xổm bên lu nước cọ bát, nghe tiếng quát khàn khàn đầy uy lực của Từ Bá thì rụt cổ lại như rùa rụt đầu, mắt lấm lét nhìn ra đầy vẻ sợ sệt. Ở cái bến đò này, ai mà chẳng biết uy danh của lão lái đò Từ Bá—người nắm giữ huyết mạch qua lại đôi bờ sông, tính tình thẳng ruột ngựa, ghét nhất phường trộm cắp và từng không ít lần vung mái chèo đánh đuổi đám du thủ du thực dạt vào bến.
Thanh Hà múc một bát nước trà xanh mới hãm mang lại bàn, đặt nhẹ nhàng trước mặt lão lái đò già:
“Bác Từ uống bát trà sớm cho ấm người ạ. Con bé đêm qua đói lả, rét mướt chui vào trốn dưới gầm chõng sau bếp nhà cháu. Thấy tội nghiệp quá nên cháu giữ nó lại, bảo nó phụ lau bàn, rửa ấm chén, quét dọn bến bãi để đổi lấy hai bữa cơm ngày. Nó nhanh nhẹn và tháo vát lắm bác ạ, từ sáng sớm tinh mơ đã ra mé bến dắt được mấy mối khách cập đò mở hàng cho cháu rồi đấy.”
Từ Bá cầm bát trà lên, không vội uống ngay mà đưa lên mũi hít một hơi thật sâu để tận hưởng hương thơm cốm non thanh khiết, rồi phóng tầm mắt sang bóng lưng gầy trơ xương của Tiểu Mãn đang cặm cụi dùng tro bếp đánh bóng từng chiếc bát sành bên lu nước. Lão nhấp một ngụm trà ấm, khẽ khà một tiếng rồi gật gù:
“Lão nhận ra con bé này rồi. Nó là đứa trẻ bụi đời lang thang vất vưởng ở cái bến Vọng Giang này phải đến đôi năm có lẻ. Trước đây lão toàn thấy nó chui rúc ngủ trong mấy cái hốc kho than, kho muối ẩm ướt mé đông bến, ban ngày thì đi mót đầu tôm đuôi cá rơi vãi ở các sạp chợ phiên, thi thoảng bị đám phu phen xua đuổi như đuổi tà ma. Được cái con bé này sáng dạ, lanh lợi khác thường, mắt nó tinh như mắt cú vọ bến sông, sắc mặt ai vui ai buồn, ai giàu ai khó, khách lạ hay khách quen qua đò nó chỉ cần nhìn lướt qua một lượt là nhớ mặt vanh vách không bao giờ nhầm.”
Lão dừng lại một nhịp, hạ giọng xuống thật thấp, đôi mắt già nua nhìn xoáy vào Thanh Hà:
“Cô bé biết thu xếp cho nó công việc đàng hoàng để kiếm miếng ăn, lấy mồ hôi sức lao động đổi lấy chén cơm manh áo chứ không bố thí của thừa của thãi, đó là cái đạo lý rất chuẩn mực của người làm ăn buôn bán chốn sông nước. Lão khen cô bé có mắt nhìn người và biết cách dùng người đấy.”
Nói đoạn, Từ Bá liếc nhìn về phía chái bếp một lần nữa, gương mặt lão nghiêm nghị hẳn lại, những nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại đầy vẻ trầm tư:
“Nhưng mà, nghe lão già này dặn một câu ruột gan: vẫn phải để mắt thật cẩn thận, chớ có tin cậy trọn vẹn ngay từ đầu mà mang vạ vào thân. Đám trẻ bụi đời bến bãi, từ nhỏ không có cha mẹ dạy dỗ uốn nắn, sống giữa chốn lừa lọc tranh giành từng miếng ăn thừa của thiên hạ, cái tính táy máy quen tay nó ngấm sâu vào trong máu thịt từ lâu rồi. Nhiều khi không phải bụng dạ chúng nó hiểm ác muốn hại ai, mà chỉ là cái thói quen nhặt nhạnh, giấu giếm để phòng thân lúc đói khát bơ vơ. Quán trà này của cô bé tiền nong, hàng họ, gạo bột đều phải chắt bóp, tích cóp từng đồng từng hào một, sơ sểnh một tí là mất cả chì lẫn chài, lúc ấy hối không kịp đâu.”
Thanh Hà nghe lời can ngăn chân tình của Từ Bá, trong lòng khẽ chùng xuống. Nàng hiểu người từng trải qua mấy chục năm đầu sóng ngọn gió như lão lái đò già không bao giờ nói những lời thừa thãi. Nàng khẽ gật đầu, thành thật đáp:
“Dạ, cháu hiểu thấu lòng tốt của bác Từ. Cháu đã giao ước rành mạch với nó đêm qua rồi, làm lụng có công thì được cơm no áo ấm, nhưng nếu dối trá hay trộm cắp vặt vãnh thì dẫu một đồng một cắc cháu cũng không dung túng. Cháu sẽ lưu tâm để mắt răn dạy nó từ từ.”
Từ Bá uống cạn bát trà ấm, đặt hai đồng tiền kẽm kêu lách cách xuống mặt bàn tre, cười khà khà:
“Được thế thì tốt. Có thêm một đứa phụ việc lanh mồm lanh miệng, bến đò này sẽ nhộn nhịp hơn nhiều. Thôi, lão sang chuyến đò thứ hai đây, khách bên kia sông đang í ới gọi đò rát cả tai rồi.”
Sau khi Từ Bá vác dầm bước xuống cầu tàu, bến Vọng Giang bắt đầu bước vào những giờ khắc nhộn nhịp nhất của buổi chợ phiên. Mặt trời đã lên cao bằng con sào, xua tan màn sương mù ẩm ướt, dát một dải vàng lấp lánh lên mặt nước cuộn sóng. Thuyền bè tấp nập cập bến mang theo các loại nông sản, củi đuốc và đồ gốm từ các làng nghề lân cận. Tiếng hò dô kéo thuyền của đám phu khuân vác, tiếng bánh xe cút kít chở ngô khoai nghiến ràn rạt trên mặt đất nện, tiếng mặc cả lanh lảnh đanh đá của các bà hàng cá tạo nên một khúc ca mưu sinh đầy náo nhiệt và nhọc nhằn nơi cửa sông.
Quán trà Thanh Hà đón thêm dăm ba lượt khách ghé chân uống nước giải lao. Tiểu Mãn quả thực không phụ sự kỳ vọng của nàng. Con bé dường như sinh ra là để sống giữa chốn bến bãi này. Nó có một biệt tài kỳ lạ mà Thanh Hà cũng phải thầm thán phục: em chỉ cần nhìn cách đi đứng, dáng vẻ mệt mỏi hay túi nải mang trên vai của khách là biết ai đang vội vã muốn uống một bát nước nguội cho nhanh để chạy chợ cho kịp giờ, ai là khách buôn thư thả muốn ngồi lại nhâm nhi bát nước chè nóng kèm chiếc bánh kê nướng giòn rụm để nghe ngóng tin tức thuyền bè.
Khi khách vừa đứng lên, Tiểu Mãn đã nhanh tay thu dọn bát đĩa mang đi, dùng khăn ẩm lau sạch mặt bàn, gom từng đồng tiền kẽm mang lại đặt ngay ngắn trên chiếc khay tre của Thanh Hà, không thiếu một đồng một cắc nào.
Tuy nhiên, giữa những lúc quán vãn khách, khi nhịp sống bến đò tạm lắng xuống theo dòng nước triều, Thanh Hà vẫn kín đáo quan sát từng cử chỉ nhỏ nhặt nhất của đứa trẻ đúng như lời Từ Bá căn dặn.
Và rồi nàng để ý thấy một chuyện kỳ lạ.
Lúc dọn dẹp quanh gầm chõng tre ở mé sau chái bếp, Tiểu Mãn có một hành động lấm lét khác thường. Con bé ngó nghiêng ra ngoài cửa, thấy Thanh Hà đang lúi húi xếp lại mấy chồng bát men bên bàn nước, nó liền vội vàng móc từ trong túi áo bao tải rách ra nửa củ khoai lang luộc khô queo—chắc hẳn là thứ em nhặt nhạnh được ở một sạp hàng rong nào đó ngoài bến từ chiều hôm qua trước khi trốn vào lều. Bàn tay khẳng khiu của em run rẩy, lén lút nhét sâu củ khoai khô khốc ấy vào một góc nứt nẻ dưới lớp chiếu rách trải trên nền đất nện. Ánh mắt em lúc giấu giếm nửa củ khoai chứa chan sự bất an và hoảng hốt, như thể em sợ rằng bữa no ban sáng và sự ấm áp của gian lều này chỉ là một ảo ảnh chốc lát, và bất cứ lúc nào em cũng có thể bị tống cổ ra ngoài đường đói rét như bao ngày trước.
Thanh Hà đứng khuất sau tấm liếp nứa, nhìn thấy trọn vẹn cảnh tượng ấy. Nàng không hề bước ra quát mắng, cũng không tỏ vẻ bắt quả tang để làm nhục đứa trẻ. Lòng nàng chỉ dấy lên một nỗi xót xa tê tái. Nàng hiểu đó không phải là thói tham lam trộm cắp, mà là vết sẹo quá lớn của sự đói khát kinh hoàng đã ăn sâu bám rễ vào xương tủy của một sinh linh côi cút. Khi một đứa trẻ đã từng phải nhịn đói đến mức suýt chết rấp bên vệ đường, việc tích trữ một mẩu thức ăn thiu mốc dưới chỗ nằm chính là chiếc phao cứu sinh duy nhất trong tiềm thức non nớt của nó. Muốn xóa bỏ nỗi sợ hãi bản năng ấy, không thể dùng đòn roi thịnh nộ hay những lời răn đe cay nghiệt, mà phải cần thời gian, sự kiên nhẫn và một ranh giới thật rõ ràng, công bằng.
Gần trưa, con nước sông Vọng Giang bắt đầu đứng lại, báo hiệu thời khắc giao hòa giữa hai con nước triều. Không khí trở nên oi nồng, ngột ngạt. Những ngọn gió mang theo cái nóng hầm hập của đầu mùa hạ từ đồng bãi phả vào bến sông, làm mặt đất nện bốc lên mùi ngai ngái khô khốc.
Từ phía con đường mòn lầy lội dẫn ra chợ Đông Tân, một toán người bước tới bến đò. Đi đầu là hai tên đàn em xăm trổ của Lại Tam—những kẻ hôm qua từng hùng hổ vác đoản côn bọc đồng đến quán trà thị uy, đòi tăng tiền bảo kê bến bãi rồi bị Thanh Hà dùng sự bình tĩnh, sổ sách chi tiêu và cái tên của Vũ thư lại trên huyện dọa cho phải hậm hực lui bước.
Hôm nay chúng không mang hung khí lăm lăm trên tay, nhưng thái độ vẫn ngang tàng, ngổ ngáo. Chúng lảng vảng quanh các sạp hàng mé bến, mắt láo liên nhìn ngó dòm ngó từng chiếc thuyền mới cập bến, như đang tìm kiếm con mồi hoặc dò la tin tức gì đó.
Tiểu Mãn lúc này đang ngồi xổm trước hiên quán nhặt những cành củi khô rơi rụng. Vừa ngẩng đầu lên, bắt gặp ánh mắt của một tên trong số đó—gã có vết sẹo dài ngoằng kéo từ khóe mắt trái xuống tận cằm—thì toàn thân con bé bỗng dưng cứng đờ lại như bị sét đánh.
Đôi mắt con bé mở to trừng trừng, đồng tử co rút lại vì sợ hãi tột cùng xen lẫn một thoáng bối rối phức tạp. Tiểu Mãn nhận ra gã mặt sẹo ấy. Chính gã, vào một đêm đông giá buốt năm ngoái, khi say rượu ở quán thịt chó ngoài chợ Đông Tân, đã từng quẳng một mẩu bánh bao ôi thiu nhân thịt mỡ lợn chết cho em khi em đang ngồi co ro run rẩy ăn xin nơi góc chợ. Nhưng cũng chính gã, chỉ vài ngày sau đó, đã thẳng tay đá văng chiếc bát mẻ của em xuống rãnh nước bẩn chỉ vì em vô tình đi ngang qua chắn lối đi của gã.
Nỗi ám ảnh về những trận đòn vô cớ và sự tàn bạo của đám du côn bến bãi khiến đứa trẻ run rẩy dữ dội. Em vội vã cúi gập mặt xuống sát đất, hai tay ôm chặt lấy bó củi khô, lủi nhanh như một con chuột chũi vào sâu trong góc bếp tối tăm, nấp sau chiếc chum sành lớn, mười đầu ngón tay gầy guộc run rẩy bần bật bấu chặt vào thành chum.
Thanh Hà đứng bên bàn pha trà, đôi mắt nàng sắc sảo thu hết mọi biểu cảm hoảng loạn của Tiểu Mãn vào tầm mắt. Nàng khẽ siết chặt tấm khăn lau bàn bằng vải thô trong tay, khớp ngón tay trắng bệch ra. Nàng nhận thức sâu sắc rằng, những mối dây chằng chịt, phức tạp và đầy cạm bẫy nơi bến sông Vọng Giang này đang bắt đầu bủa vây lấy quán trà nhỏ bé của mình theo những cách mà nàng chưa từng ngờ tới. Ở chốn này, không có bình yên nào là vĩnh viễn, và quá khứ của bất kỳ ai—dù là của nàng hay của một đứa trẻ ăn mày—cũng có thể trở thành mồi lửa châm ngòi cho những sóng gió khôn lường.
Nàng hít một hơi thật sâu, nén lại những âu lo đang cuộn trào trong lồng ngực. Nàng bước lại bên lò nung, dùng chiếc kẹp sắt điều chỉnh lại mấy thanh củi gáo cháy đượm dưới đáy lò.
Nước trong chiếc ấm đất nung bắt đầu reo sôi tăm tắp, phát ra những thanh âm êm ả, dịu dàng giữa buổi trưa oi ả. Từng làn khói trắng mỏng manh, thơm ngát mùi thảo mộc uốn lượn bay lên qua mái tranh rách, quyện vào không gian tĩnh lặng, ngưng trệ của bến đò lúc vắng bóng đò ngang.
Đúng lúc ấy, từ phía cầu tàu bảng lảng hơi nước, một bóng người cao ráo chầm chậm rẽ lối bước vào hiên quán.
Một vị khách mặc áo vải xanh sẫm bước vào, đặt túi hàng xuống bàn rồi im lặng ngắm nhìn làn khói bốc lên từ chiếc ấm đất nung.