Quán Trà Bên Bến ĐòC.31 / 34
Chương 31

Mùa lũ thứ hai

Tiếng kẻng báo lũ từ điếm canh đê mé bắc bến Vọng Giang gióng lên từng hồi dồn dập, xé toạc màn sương mù xám đục đang trùm kín bến bãi. Ba tiếng một, đanh gọn và gấp gáp: *Cang! Cang! Cang!* Âm vang kim loại lạnh buốt va đập vào vách đá tai mèo ven gò, dội ngược xuống mặt sông đang cuộn trào ngầu bọt đỏ thẫm. Chỉ trong chưa đầy một tuần trà, con nước thượng nguồn từ dãy Tây Lĩnh dội về đã nuốt trọn bãi bồi sỏi xám, vượt qua cọc gỗ thứ nhất cắm ở bờ thấp, rồi băng băng liếm ngập quá ngấn vôi trắng của cọc tiêu thứ hai đóng sát mép thềm đá hoa cương.

Gió bấc rít từng cơn lạnh buốt qua rặng liễu rạp mình, thốc theo hơi tanh nồng của bùn non, xác cây gãy và lá mục từ rừng sâu trôi dạt. Dưới bến, mặt nước phình to như bụng con thủy quái no nê đang cựa mình thức giấc, từng xoáy nước ngầm cuồn cuộn réo gầm quanh các ghềnh đá ngầm, chực chờ kéo phăng mọi vật trôi nổi nhấn chìm vào lòng sông thăm thẳm. Bọt nước đỏ quạch bắn tung tóe lên những bậc đá thấp nhất, bốc lên mùi ngai ngái quen thuộc của những trận đại hồng thủy đầu mùa đông.

Một năm trước, cũng vào đúng cữ nước hung dữ này, Liễu Thanh Hà từng đứng chôn chân bên mép túp lều tranh rách nát xơ xác, hai bàn chân trần ngập trong bùn lầy buốt giá. Khi ấy, hai bàn tay cóng dại của nàng bấu chặt lấy vạt áo nâu chắp vá, trong lồng ngực non nớt ngập tràn nỗi hoang mang đến nghẹt thở. Nàng của một năm trước chỉ là một góa phụ trẻ vừa dứt áo thoát khỏi sự chèn ép, cay nghiệt của gia đình nhà chồng bên bờ nam, một thân một mình dắt díu đứa em nhỏ gom góp từng đồng tiền kẽm rỉ sét. Mỗi khi nghe tiếng kẻng báo lũ dồn dập từ điếm canh, nàng lại hốt hoảng chạy đông chạy tây, lo sợ đến từng bó củi ướt sũng, từng chiếc chum sành mẻ ngấm nước bùn, vừa còng lưng chạy vạy bê vạc gang tránh ngập, vừa tự ôm đồm đủ thứ việc vụn vặt không tên giữa tiếng gầm gào của dòng nước lũ.

Nhưng hôm nay thì khác.

Thanh Hà đứng sừng sững trước khoảng sân lát đá xanh phẳng phiu của Trà lâu Thanh Hà mới dựng. Tà áo chàm sẫm màu cắt may gọn gàng được nàng cột chặt ngang thắt lưng bằng dải đai vải gai bản rộng, tôn lên dáng người mảnh mai nhưng vững chãi. Mái tóc đen nhánh được chải mượt mà, búi gọn gàng sau gáy bằng một chiếc trâm gỗ trắc giản dị, để lộ gương mặt thanh tú toát lên vẻ điềm tĩnh lạ thường. Đôi mắt nàng sáng trong như nước mùa thu, tĩnh lặng dõi nhìn khắp lượt khoảng sân bến đang bắt đầu chao đảo trong mưa gió. Giọng nói của nàng cất lên rành rọt, âm lượng vừa đủ để lấn át tiếng gió hú gầm qua mái hiên mà không hề vương một nét run rẩy:

“Chị Thục, thím Mộc! Hai người lập tức theo Minh Châu vào gian bếp sau. Đóng chặt toàn bộ cửa chớp đón gió mé bờ sông, tháo then chốt thông gió của các họng lò nung để tránh gió thốc tạt ngược tro than vào kho. Đem toàn bộ số bao bột nếp hoa vàng, bột tẻ lọc mịn và các vò mật mía dự trữ ở kệ gỗ tầng một chuyển hết lên sàn gỗ gác xép của gian kho. Nhớ dùng vải dầu quét sáp ong phủ kín từng góc, chèn đá cuội xanh nặng lên bốn góc bạt để chống gió lùa giật rách!”

“Dạ, Liễu nương tử cứ yên tâm, chúng tôi làm ngay đây!” Chị Thục và thím Mộc đồng thanh đáp lời, nhanh nhẹn xắn cao ống tay áo vải thô, cùng Phạm Minh Châu chạy tót vào gian bếp sau.

Minh Châu nay đã hoàn toàn tháo bỏ chiếc trâm bạc kiểu cách cùng những dải lụa thướt tha của một tiểu thư khuê các lá ngọc cành vàng ngày nào. Trên đầu nàng chỉ quấn một chiếc khăn vải thô màu lam sẫm, đôi bàn tay từng chỉ quen cầm kim thêu nay thoăn thoắt kiểm tra từng then cài cửa sổ bằng gỗ lim dày dặn, cùng gia nhân nâng các bao bột nặng trịch chất lên giàn gỗ cao.

Thanh Hà xoay người bước ra mé hiên trước, nhìn về phía mấy người thợ bốc vác đang đứng đợi lệnh dưới chân cầu thang:

“Các bác phu than bến đông! Ván cầu tàu đã dỡ xong chưa?”

“Báo chủ quán, vừa rút xong ba nhịp ván nghiến cuối cùng vác lên gò cao rồi!” Bác phu than A Sinh thở dốc từng cơn, đưa mu bàn tay áo thô quẹt vội vệt mồ hôi hòa lẫn nước mưa trên trán, đáp lớn. “Đá hộc kê chân cầu cũng đã được chêm thêm chêm gỗ, bảo đảm nước rút không bị xô lệch!”

“Tốt lắm. Phiền các bác hỗ trợ chuyển ba mươi sọt củi gộc khô từ chái sau lên kê cao trên sàn gian củi tầng hai. Nước lũ năm nay dâng nhanh hơn năm ngoái nửa khắc mỗi giờ, củi khô là mạng sống của cả bến khi cần dựng bếp lửa chung, tuyệt đối không được để chạm nước bùn một tấc nào.”

Từng mệnh lệnh dứt khoát, lớp lang đâu ra đấy được ban ra rành rọt giữa tiếng gầm rít của thiên nhiên. Không một động tác thừa, không một ánh nhìn hoang mang, không một chút bối rối. Thanh Hà đứng đó như một chiếc mỏ neo sắt vững vàng cắm sâu giữa tâm điểm của sự xáo động, khiến bất kỳ ai qua lại nhìn vào dáng đứng của nàng cũng tự khắc thấy lồng ngực mình chùng xuống, nỗi sợ hãi mơ hồ trước cơn giận dữ của dòng sông bỗng chốc tan biến như làn sương mỏng.

Cách nàng mươi bước chân, nơi góc hiên có mái chìa rộng của trà lâu được che chắn kín kẽ khỏi những hạt mưa xiên khoai buốt giá, một chiếc bàn gỗ nghiến dày dặn đã được kê cao thêm hai tấc bằng những viên gạch nung già lửa vững chãi. Liễu Thanh Du ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế mây con, chiếc áo dài màu cỏ úa được cài khuy cổ cẩn thận. Cậu bé mười ba tuổi với đôi mắt sáng ngời ánh lên nét thông tuệ khác thường, hai tay đang thoăn thoắt mài mực trên nghiên đá đen nhánh nhẵn thín.

Trước mặt Thanh Du là cuốn sổ cái đóng bìa cẩn thận bằng giấy bổi dày, các cột mục được kẻ bằng mực đỏ chu sa đều tăm tắp: *Khoản nhập cứu tế*, *Khoản xuất tương trợ*, *Vật tư hộ trợ*, *Tên người bàn giao*, *Điểm chỉ chứng thực*. Dù gió lộng tứ bề thổi tung vạt áo, ngòi bút lông trong tay cậu vẫn lướt đi nhẹ nhàng, từng nét chữ chân phương hiện lên đen nhánh, vuông vức, không hề vương vãi một giọt mực:

“Bác Trương hàng cá bờ nam: góp nửa bao muối hột, bốn xâu cá lăng phơi khô; đã nhập kho tầng hai, giao một thẻ gỗ số mười hai để sau lũ đối chiếu thu nhận!” Thanh Du cất giọng trong trẻo nhưng đầy vẻ chững chạc. Vừa dứt lời, cậu liền dùng con dấu gỗ thị nhỏ nhắn của quán chấm vào hộp mực đỏ son, ấn một dấu triện vuông vức vào mép góc của biên nhận bằng giấy bổi, xé rời đưa cho người phu chài già đang ướt lướt thướt trước mặt.

“Đa tạ tiểu tiên sinh! Đa tạ Liễu gia!” Lão chài run rẩy nhận lấy thẻ gỗ mài nhẵn, áp chặt vào lòng bàn tay chai sần, cúi đầu cảm kích không ngớt. “Có sổ sách ghi chép rành mạch thế này, bọn thảo dân bờ nam gửi chút đồ ăn vào kho cứu tế của quán thật an tâm như để trong rương khóa nhà mình vậy! Năm ngoái nước lên, nhà lá trôi sạch, cá khô muối xát bị kẻ gian vét mất, nay có trà lâu làm chỗ dựa, cả nhà già này mới dám yên lòng dắt nhau chạy lên gò!”

Thanh Du ngẩng đầu lên, khẽ gật đầu mỉm cười nhã nhặn đáp lễ: “Bác Trương mau theo các phu bến dẫn đường đưa thím và các cháu lên đình Miếu Gò Cao trú tạm đi ạ. Nơi ấy có mái ngói che kín, chốc nữa quán sẽ có cháo nóng chuyển lên ngay.”

Lão chài nắm chặt thẻ gỗ trong tay, lùi lại hai bước rồi vội vã lách người ra nhường chỗ cho một người đàn bà gánh mấy rổ khoai củ tiếp theo. Thanh Du lại tiếp tục chấm mực, tay trái giữ chặt mép giấy tránh bị ngọn gió bấc thốc lật. Cậu bé hiểu rất rõ rằng, từng con chữ, từng con số mà mình cẩn thận viết xuống lúc này không chỉ là những nét mực khô khốc trên trang giấy vô tri, mà chính là sự công bằng, là niềm tin và sự minh bạch giúp giữ yên lòng người dân lam lũ giữa lúc tai ương giáng xuống bến sông.

Phía ngoài bờ mép nước, nơi những con sóng bạc đầu bắt đầu dập dồn xô vào bờ kè sỏi đá, bóng dáng nhỏ nhắn của Liễu Tiểu Mãn thoăn thoắt ẩn hiện giữa màn mưa bụi mịt mù. Cô bé mặc chiếc áo tơi lá cọ dầy cộp phủ kín đến gót chân, đôi bắp chân quấn xà cạp vải thô chặt chẽ để chống gai góc và bùn lầy, tay cầm chiếc thẻ tre bản rộng cùng một mẩu than củi đã vót nhọn đầu. Tiểu Mãn không hề rời mắt khỏi từng bước chân tập tễnh nhưng vững như bàn thạch của lão lái đò Từ Bá.

Từ Bá một tay chống cây gậy tre bọc sắt ngập sâu vào kẽ đá, một tay cầm chiếc thước gỗ dài có khắc sẵn các ngấn vạch theo tấc thước, đứng sát mép bờ kè đá hộc, nơi từng con sóng đục ngầu cuồn cuộn đang chồm lên tung bọt trắng xóa. Lão nheo đôi mắt già nua đầy nếp nhăn nhìn dòng nước xoáy tít nơi khúc quanh lòng sông, gõ mạnh chuôi gậy sắt xuống mặt đá nghe một tiếng *keng* vang dội:

“Tiểu Mãn! Ghi lại cẩn thận: giờ Thìn ba khắc, nước vừa chạm ngấn thứ hai của cọc tiêu bờ đông, dâng thêm ba tấc so với hồi trống canh năm! Dòng chảy chuyển hướng lệch đông bắc, Vực Cá Lăng bắt đầu hình thành xoáy ngầm tầng đáy hung dữ!”

“Dạ, con ghi xong rồi, ông Từ!” Tiếng Tiểu Mãn vang lên lanh lảnh, dứt khoát như tiếng chim hót giữa gió gầm.

Bàn tay nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn của cô bé thoăn thoắt vạch từng nét than sắc nét lên mặt cật tre bóng láng: *Thìn tam khắc – dâng tam thốn – xoáy Cá Lăng dạt đông bắc*. Ghi chép xong xuôi, em liền ngẩng phắt đầu lên, đôi mắt đen láy đảo quanh bến đò, vừa quan sát sắc nước đục ngầu bọt xám vừa ghi nhớ từng chiếc thuyền nan, thuyền tam bản đang tìm chỗ cập vào gờ đá.

Sau một năm ròng rã theo Thanh Hà học việc buôn bán, nhìn người tiếp vật, em không còn là đứa trẻ ăn mày rụt rè, run rẩy nép góc chợ năm nào. Nay em đã trở thành một trợ thủ nhỏ đắc lực, có khả năng nhìn sắc nước sông đoán biết luồng lạch, nhìn nét mặt khách thương qua sông đoán biết trong lòng họ đang lo lắng hay vội vã điều chi.

“Bác Lại Tam! Thuyền tam bản số bốn mé rễ đa dây buộc bị chùng rồi kìa! Sóng đánh giật then lái rồi!” Tiểu Mãn giơ bàn tay nhỏ chỉ thẳng ra mỏm đất phía hạ lưu, cất giọng gọi lớn vượt qua tiếng sóng đập bờ.

Cách bờ chừng vài trượng, Lại Tam mình trần trùng trục, nước da ngăm đen bóng nhẫy dưới lớp nước mưa ròng ròng chảy dài trên những bắp thịt cuồn cuộn, đang cùng bảy tám phu bến lực lưỡng ghì chặt từng bao tải cát nặng trịch. Nghe tiếng Tiểu Mãn gọi giật giọng, Lại Tam lập tức ngoái đầu, quắc mắt quát lớn về phía sau:

“Thằng Cẩu Nhị đâu! Mang thêm hai tao dây thừng bện gai dầu qua ghì chặt then lái thuyền số bốn vào cọc sắt! Nhanh cái chân lên, lơ đễnh để nước giật đứt dây trôi thuyền thì cả tổ bốc vác đền ốm đòn nghe chưa!”

Từ sau phiên xử của nha môn huyện và bản quy ước bốc dỡ minh bạch do Thanh Hà cùng Thanh Du xác lập vào đầu xuân năm nay, Lại Tam cùng đám đàn em đã rũ bỏ hoàn toàn thói du côn trấn lột bến bãi. Giờ đây, bọn họ là đội ngũ phu bốc vác quy củ và uy tín nhất bến Vọng Giang. Dưới sự điều phối chặt chẽ của Lại Tam, từng bao tải cát lớn lấy từ bãi bồi thượng lưu được xếp chèn khít khao vào các kẽ hở chân kè đá. Tốp phu bến chia nhau người đóng cọc sắt sâu xuống nền đá, người dùng dây chão chằng néo hệ thống thuyền tam bản, thuyền chở hàng vào các móc sắt kiên cố chôn chặt trong móng đá của trà lâu.

“Anh Tam, kè đá vững lắm! Sóng dập mạnh thế này mà không suy suyển một viên sỏi đệm!” Cẩu Nhị vừa buộc xong nút chão đôi, ngửa mặt lên lau nước mưa cay xè mắt, hào hứng hét to giữa màn mưa.

Lại Tam đưa mắt nhìn lên bờ móng đá cao sừng sững của Trà lâu Thanh Hà, trong lòng không khỏi dâng lên một niềm cảm phục sâu sắc đối với người đàn bà trẻ tuổi đang làm chủ cơ ngơi này.

Chính lúc này, giá trị kiên cố của công trình trà lâu mới thực sự phô bày trọn vẹn trước mắt toàn thể dân bến đò Vọng Giang.

Hồi đầu mùa hạ, khi Thanh Hà quyết định dỡ bỏ túp lều tranh xiêu vẹo để gom góp toàn bộ số bạc tích lũy tám lượng, vay thương mại mười lăm lượng từ Hàn Thụy và nhận ứng gạch ngói từ Hội nữ thương Đông Tân của Đỗ Nguyệt Nương nhằm cất dựng cơ ngơi này, không ít kẻ đã gièm pha nàng chơi ngông. Bọn họ bảo một góa phụ mở quán trà nước ven sông mà lại bỏ ra tới ba mươi sáu lượng bạc để xây móng đá hộc giật ba cấp, sàn nâng cao hơn mặt bãi bồi tới gần một trượng, lại còn lợp ngói mũi hài hai tầng mái cong vút, chẳng khác nào ném tiền xuống đáy sông sâu. Có kẻ độc mồm còn đoán già đoán non rằng chỉ cần một trận lũ lớn cuối năm quét qua, toàn bộ số gạch đá tiền bạc ấy sẽ theo dòng nước cuốn phăng ra biển lớn.

Thế nhưng giờ đây, khi con nước lũ hung tợn đang lồng lộn gầm thét, nuốt chửng toàn bộ doi đất mé đông, nhấn chìm hàng rào tre của các chòi canh cũ và mấp mé liếm qua bậc tam cấp thấp nhất bằng đá xanh Thanh Khê, thì toàn bộ khối kiến trúc Trà lâu Thanh Hà vẫn đứng vững chãi như một pháo đài bình yên giữa dòng biến động.

Nước lũ cuồn cuộn chỉ có thể tràn qua bãi sỏi, va vào chân móng ghép bằng hàng ngàn viên đá hộc khổng lồ rồi dội ngược ra ngoài thành những luồng bọt trắng xóa vô hại. Sàn nâng của quán cao ráo, thơm nức mùi gỗ mới và ngói nung khô ráo, không hề thấm đượm một chút ẩm ướt nào từ nền đất ẩm thấp phía dưới.

Bên trong gian kho trữ hàng đặc biệt—nơi được Thanh Du thiết kế với hệ thống thông gió rãnh kép chống ẩm ngược từ lòng đất—toàn bộ gia tài của quán đều được bảo bọc an toàn tuyệt đối. Những chiếc chum sành cỡ đại tráng men da lươn đựng trà búp nõn tôm Tây Lĩnh, trà xanh búp hè và đặc biệt là mười cân trà cổ thụ vách đá Mây Rủ quý hiếm đều được bọc ba lớp vải dầu nhúng sáp ong, niêm phong kín kẽ từng miệng chum bằng đất sét tôi kỹ.

Bên cạnh đó, các bao tải bột nếp hoa vàng, bột tẻ lọc mịn, những thùng gỗ đựng đường mía, mật mạch nha và gừng già hong khói đều được kê trên những giàn gỗ nghiến cao khỏi sàn hai thước. Không một giọt nước bùn, không một làn hơi ẩm độc hại nào có thể chạm tới những hạt ngọc mồ hôi mà Thanh Hà đã chắt chiu gây dựng suốt hai năm ròng rã.

Thanh Hà bước vào gian kho, đưa tay sờ nhẹ lên miệng chum sành mát rượi, khô ráo. Nàng khẽ thở phào một hơi nhẹ nhõm, khóe môi thoáng hiện một nụ cười thanh thản. Mồ hôi, nước mắt và cả những đêm thức trắng tính toán từng nét vẽ, từng con số trên khế ước vay nợ sòng phẳng với Hàn Thụy cuối cùng đã được con nước thử thách và trả về một kết quả xứng đáng. Nàng không còn là chiếc lá rụng bồng bềnh mặc cho con nước xô đẩy nữa; nàng đã tự tay cắm sâu chiếc rễ đá của đời mình vào mảnh đất bến sông này.

Đang lúc ấy, ngoài bến sông bỗng vang lên những tiếng tù và bằng sừng trâu gióng giả từng hồi dài, hòa cùng tiếng hò dô chống chèo phá tan tiếng sóng gầm.

“Có thuyền lớn từ bờ tây sang! Thuyền của Trà lâu Nghênh Xuân!” Tiếng phu bến A Sinh la lớn từ đầu cầu đá.

Thanh Hà vội bước nhanh ra sân trước. Giữa dòng nước đỏ ngầu đang chảy xiết như thác đổ, hai chiếc thuyền bầu mũi nhọn ba chục mái chèo mang cờ hiệu cánh sen đỏ của Trà lâu Nghênh Xuân đang dũng mãnh đè sóng, từng nhịp chèo dứt khoát rẽ nước lao thẳng về phía bờ đông. Những mái chèo bằng gỗ nghiến vục sâu vào dòng xoáy, nâng mũi thuyền chồm qua những ngọn sóng dữ tợn.

Ngồi vững vàng nơi khoang lái chiếc thuyền đi đầu, mặc chiếc áo choàng chắn gió màu hạt dẻ, tay giữ chặt tay vịn bằng đồng chính là Tống Kim Phượng. Gương mặt người đàn bà sắc sảo bậc nhất bờ tây bến Vọng Giang lộ rõ vẻ căng thẳng nhưng ánh mắt vẫn ngời lên sự kiên nghị của một chủ trà lâu dày dạn phong ba.

Khi mũi chiếc thuyền bầu áp sát vào gờ đá giảm chấn của bến đông, Lại Tam cùng tốp phu bến lập tức quăng dây neo, đón lấy lòi tói sắt chằng chặt vào cọc bến. Ván cầu dày được hạ xuống mặt đá, Tống Kim Phượng dứt khoát vén vạt áo bước nhanh lên bờ, phía sau là hai viên quản sự đắc lực ôm theo tráp sổ sách bằng gỗ khảm trai ướt sũng nước mưa.

Thanh Hà bước tới đón, khẽ nghiêng mình chắp tay theo đúng lễ nghi bạn hàng:

“Tống tỷ tỷ! Nước xiết thế này mà tỷ đích thân vượt sông sang đây, chắc bên bờ tây tình hình không được yên ổn?”

Tống Kim Phượng thở dài một hơi, gạt đi những giọt nước mưa đọng trên mi mắt, nhìn quanh Trà lâu Thanh Hà rồi nhìn xuống chân móng đá khô ráo, trong mắt không giấu nổi vẻ thán phục:

“Muội muội, ta không vòng vo nữa. Bờ tây địa thế trũng hơn, trận lũ này dâng quá nhanh, nước đã tràn qua kè đất của Nghênh Xuân, ngập đến tận chân lò bếp chính rồi! Toàn bộ kho củi dự trữ ở mé sông của ta bị nước cuốn trôi non nửa, số còn lại ướt sũng mùn cưa, hoàn toàn không nhóm lửa được để nấu cháo hay đun nước nóng cho dân tị nạn bên đó. Đào phường bảo bên ấy vừa phát lệnh sơ tán khẩn cấp, nhưng trẻ nhỏ và người già co ro vì rét mướt, tiếng khóc than vang cả bến.”

Bà dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào mắt Thanh Hà, hạ giọng chân thành:

“Hôm nay ta sang đây, không phải với tư cách đối thủ thương mại, mà là cầu viện. Trà lâu Nghênh Xuân cần củi khô gấp để giữ lửa cho bếp cứu trợ bờ tây.”

Thanh Hà không hề đắn đo dù chỉ trong một cái chớp mắt. Nàng hiểu rõ quy luật của bến Vọng Giang: khi nước lũ tràn về, hai bờ sông tuy hai mà một; nếu bờ tây vỡ trận, dịch bệnh hay đói rét hoành hành, bờ đông cũng khó lòng giữ nổi sự an toàn. Hơn nữa, năm ngoái tại Miếu Gò Cao, chính sự chung tay dựng bếp cứu trợ đã cứu sống biết bao sinh mạng.

“Chuyện chi viện củi lửa, muội nhận lời ngay!” Thanh Hà dứt khoát cất lời. “Gian củi tầng hai của Trà lâu Thanh Hà hiện có sẵn bốn mươi bè củi nhãn già hong khói khô kiệt, đượm lửa và không hề bốc khói cay mắt. Muội sẽ xuất ngay hai mươi bè củi khô chuyển thẳng xuống thuyền cho tỷ tỷ mang về bờ tây nhóm lò.”

Tống Kim Phượng ánh lên nét xúc động, vội nói:

“Ta mua theo giá thị trường, trả sòng phẳng bằng bạc nén...”

“Không, Tống tỷ tỷ!” Thanh Hà giơ tay ngăn lại, ánh mắt sáng ngời vẻ tự chủ. “Lúc hoạn nạn cứu người, ta không bàn chuyện mua bán củi than kiếm lời. Muội xuất hai mươi bè củi nhãn, chỉ muốn đổi lại một điều kiện tương trợ ngang bằng: Nghênh Xuân các người có bốn chiếc thuyền chở khách đáy bằng loại lớn, chịu được sóng dữ. Ta muốn tỷ cử hai chiếc thuyền lớn ấy, phối hợp cùng đội chèo của Từ Bá và A Lực, túc trực hỗ trợ đưa toàn bộ người già, sản phụ và trẻ nhỏ của các xóm chài mé đông sơ tán an toàn lên đỉnh Miếu Gò Cao trước khi nước chạm vạch đỏ thứ ba!”

Tống Kim Phượng ngẩn người trong khoảnh khắc, rồi bật ra một tiếng cười sảng khoái, đáy mắt tràn ngập sự kính trọng tột bực. Bà vỗ mạnh vào vai Thanh Hà:

“Hay cho một Liễu Thanh Hà nhìn xa trông rộng! Được, quyết định như thế! Đổi củi lấy thuyền, đôi bên cùng giữ mạng cho dân hai bờ sông! Ta lập tức hạ lệnh cho hai thuyền lớn ở lại bến đông, toàn quyền nghe theo hiệu lệnh điều phối của Từ lão trượng và muội!”

Giao ước định xong chỉ trong vài câu đối thoại ngắn gọn nhưng chuẩn xác như đinh đóng cột. Tống Kim Phượng lập tức quay sang phân phó cho viên quản sự ghi chép vào sổ, đồng thời đích thân đốc thúc gia nhân Nghênh Xuân phối hợp cùng đội phu bến của Lại Tam bốc dỡ các bè củi nhãn khô ráo chuyển xuống khoang thuyền.

Từng bó củi gỗ nhãn già chắc nịch, nâu bóng, gõ vào nhau kêu vang *cốc cốc* khô giòn được chuyền tay thoăn thoắt giữa hai bờ chiến tuyến cũ, nay đã trở thành nhịp cầu tương thân tương ái bền chặt giữa cuồng phong bão lũ.

Trong khi ấy, ở khu vực dãy kho hàng trung chuyển của bến đò, bầu không khí lại căng thẳng theo một cách khác.

Hàn Thụy khoác chiếc áo choàng dạ sẫm màu chống nước, vạt áo đẫm sương gió, đứng sừng sững trước cổng kho hàng của Thương đoàn Tây Lĩnh. Đằng sau chàng là sáu gã hộ vệ thân tín của thương đoàn, người nào người nấy đeo đai da, tay nắm chặt côn gỗ nghiến, đứng nghiêm như những bức tượng đồng giữa trời mưa gió.

Trên chiếc bàn gỗ kê trước cổng kho, toàn bộ khế ước vận chuyển hàng hóa đường sông của các chủ hàng ký gửi trong mùa thu đã được chàng đích thân kiểm tra, đối chiếu và niêm phong chặt chẽ trong những ống đồng có nắp khóa vặn ren, ngoài trét sáp đỏ in dấu triện của thương đoàn.

Lúc này, một vài gã lái buôn trung gian từ phố chợ Đông Tân và mạn hạ lưu hớt hải chạy tới. Kẻ cầm đầu là một tên buôn ngũ cốc họ Tiền, mặt mày béo tốt, hai tay xoa vào nhau lia lịa, trên ngón tay lấp lánh chiếc nhẫn ngọc bích to bản. Gã nhìn quanh quất rồi tiến sát lại gần Hàn Thụy, hạ giọng vẻ mờ ám:

“Hàn nhị gia! Ngài xem, nước lũ dâng ngập quá cọc thứ hai thế này, đường thủy tắc nghẽn ít nhất cũng phải năm bảy ngày. Dân quanh bến thiếu củi, thiếu trà ấm, giá gạo củi ngoài chợ đen đã vọt lên gấp ba rồi! Tôi biết trong kho Tây Lĩnh của ngài còn tồn tới sáu mươi bao trà cám vụn và năm trăm bó củi bổi... Ngài chia lại cho tôi số hàng ấy đi! Tôi trả ngài giá gấp đôi ngày thường bằng bạc trắng trao tay ngay tại chỗ! Ngài chỉ cần ghi sổ là hàng bị hao hụt do nước ngập khoang, đôi bên cùng có lợi, thần không biết quỷ không hay, ngài thấy thế nào?”

Mấy tên lái buôn đi sau cũng nhao nhao ghé vào:

“Phải đấy Hàn nhị gia! Nước nổi thì bèo nổi, thời buổi đục nước béo cò, tội gì không kiếm một món hời?”

Hàn Thụy đứng yên bất động, ánh mắt lạnh như băng tuyết quét qua từng khuôn mặt tham lam bỉ ổi trước mắt. Ánh nhìn sắc són của chàng như xuyên thấu tâm can bọn gian thương, khiến tên họ Tiền bất giác rụt cổ lại, nụ cười cầu tài đông cứng trên môi.

“Mở to mắt ra mà nhìn cho rõ!” Hàn Thụy cất giọng trầm thấp nhưng uy lực bức người, tay chỉ lên tấm biển gỗ nghiến đóng chặt trên cột cổng kho. “Đây là kho hàng của Thương đoàn Tây Lĩnh tại bến Vọng Giang. Toàn bộ khế ước gửi hàng đã được huyện nha Thanh Lâm và Phường bảo Đào Văn Kính chứng thực. Từng cân trà, từng bó củi trong kho này đều có chủ quyền rõ ràng, gắn liền với chữ tín của thương đoàn.”

Chàng bước lên một bước, vóc dáng cao lớn che khuất ánh sáng nhờ nhạt trước mặt tên lái buôn:

“Triều đình có luật, bến sông có quy ước: kẻ nào dám đầu cơ tích trữ, nâng giá lương thực, củi đun trong lúc thiên tai lũ lụt để bóp nặn bá tánh, đều bị khép vào tội nhiễu loạn thương trường, phạt năm mươi trượng và tịch thu toàn bộ gia sản! Hàn mỗ mười năm làm phu kéo thuyền trên khúc sông này, từng thấy không ít kẻ làm giàu bất chính trên xương máu đồng bào rồi kết cục vùi xác đáy sông. Các người muốn đầu cơ trục lợi? Lập tức cút khỏi khu vực kho bến, nếu còn lảng vảng dụ dỗ gian lận, ta sẽ sai hộ vệ trói gông giải thẳng lên điếm sở nha môn!”

Lời nói đanh thép, quang minh chính đại của Hàn Thụy khiến đám con buôn mặt cắt không còn hạt máu. Bọn chúng run rẩy liếc nhìn sáu gã hộ vệ bắp thịt cuồn cuộn đang trừng mắt nhìn mình, không ai dám ho he một lời, vội vã lủi thủi quay đầu tháo chạy về phía bờ đê.

Thanh Hà từ phía trà lâu bước sang, vừa vặn chứng kiến trọn vẹn cảnh tượng ấy. Nàng đứng lặng bên gốc liễu ven bờ, nhìn bóng lưng vững chãi, kiên định của người đàn ông phong trần. Trong lòng nàng dâng lên một niềm tin cậy và ấm áp vô bờ.

Chàng vẫn luôn như vậy—trầm tĩnh, nguyên tắc, tôn trọng pháp luật và danh dự thương nhân hơn bất kỳ món lợi lộc bẩn thỉu nào. Giữa dòng đời đục ngầu toan tính, sự chính trực kiên định của chàng tựa như tảng đá hoa cương nghìn năm cắm sâu dưới đáy sông, vững vàng bất chấp ba đào bão tố.

Bắt gặp ánh mắt nàng, vẻ lạnh lùng trên gương mặt Hàn Thụy bỗng chốc tan biến, thay vào đó là một nụ cười ấm áp, dịu dàng. Chàng khẽ gật đầu chào nàng, ánh mắt hai người giao nhau giữa không gian bão lũ, không cần một lời hẹn ước hoa mỹ nhưng lại chất chứa sự thấu hiểu sâu sắc đến tận tâm can.

Ba ngày ba đêm sau đó là chuỗi thời gian thử thách căng thẳng tột cùng đối với toàn thể bến đò Vọng Giang.

Mưa như trút nước từ thượng nguồn không ngớt đổ về, nước lũ có thời điểm đã dâng mấp mé vạch đỏ thứ ba trên cọc tiêu. Thế nhưng, nhờ có kế hoạch phòng chống lũ bài bản được chuẩn bị từ trước, cả bến sông vận hành như một cỗ xe mượt mà, trật tự đến kinh ngạc.

Hai chiếc thuyền lớn của Trà lâu Nghênh Xuân dưới sự cầm lái tài tình của Từ Bá và A Lực đã thực hiện hơn ba mươi chuyến đò dọc, đưa toàn bộ sáu mươi tám hộ dân già yếu, trẻ nhỏ từ vùng trũng mé đông lên trú ẩn an toàn tại Miếu Gò Cao.

Tại gò miếu, hai bếp lửa chung của Nghênh Xuân và Thanh Hà rực cháy ngày đêm, cung cấp từng bát cháo hoa nóng hổi nấu cùng gừng già và những bát nước chè tươi ấm sực xua tan cái lạnh cắt da cắt thịt.

Tại bến trà lâu, Thanh Du cùng Tiểu Mãn luân phiên trông nom sổ sách, nhập xuất không thiếu một lạng muối, một xâu cá khô của dân gửi. Đội phu bến của Lại Tam túc trực thay phiên nhau tuần tra dọc bờ kè đá, gia cố từng bao cát, canh chừng từng mối dây neo thuyền, không để xảy ra bất kỳ vụ va quệt hay đứt xích nào.

Đến rạng sáng ngày thứ tư, trời bỗng ngớt mưa.

Gió bấc ngừng rít, từng mảng mây xám xịt từ từ tản ra, để lộ những vạt trời xanh nhạt nơi phương đông. Nước sông Vọng Giang bắt đầu rút nhanh, con nước hung dữ dần hạ mình xuống, để lại trên các gờ đá và bãi bồi một lớp phù sa mịn màng, màu mỡ, ánh lên sắc nâu đỏ trù phú dưới ánh ban mai vừa le lói.

Khi hồi kẻng báo an từ điếm canh vang lên ba tiếng thanh thản, ngân nga khắp mặt sông, người dân từ Miếu Gò Cao bắt đầu lục tục kéo nhau trở về bến.

Cả bến đò Vọng Giang vỡ òa trong niềm vui mừng khôn xiết. Suốt ba ngày lũ dữ hoành hành, không một người nào bị thương vong hay trôi dạt; không một chiếc thuyền nào bị đắm hay hư hại; và điều kỳ diệu nhất giữa cảnh loạn lạc là tuyệt nhiên không xảy ra một vụ trộm cắp, cướp bóc hay xô xát tranh giành nào!

Phường bảo Đào Văn Kính cùng các kỳ lão trong làng dẫn đầu đoàn người bước xuống bến, mắt nhìn trừng trừng vào Trà lâu Thanh Hà đang đứng sừng sững, hiên ngang giữa nắng sớm. Ngói mũi hài đỏ tươi sau trận mưa lũ như được gột rửa sạch bong, bờ tường gạch nung vững chãi không một vết rạn nứt, nền móng đá hộc gò Thanh Khê uy nghi cắm sâu vào lòng đất mẹ.

Bên trong quán, chum vại khô ráo, hương thơm thanh khiết của mẻ trà búp nõn vừa được khơi lò hãm nước sôi ngào ngạt lan tỏa khắp không gian, hòa cùng mùi bánh nếp nướng thơm lừng từ gian bếp của Phạm Minh Châu, chị Thục và thím Mộc.

Đào Văn Kính bước lên bậc tam cấp đá xanh, xúc động nắm lấy tay lão lái đò Từ Bá rồi quay sang cúi đầu thật sâu trước Liễu Thanh Hà:

“Liễu nương tử! Lão già này làm phường bảo bến Vọng Giang đã ba mươi năm, từng chứng kiến biết bao trận lũ cuốn trôi nhà cửa, làm tan hoang bến bãi, khiến lòng người ly tán vì đói rét, trộm cắp... Nhưng chưa bao giờ ta thấy bến đò này giữ vững được trật tự, kỷ cương và sự bình an trọn vẹn như ba ngày qua! Công lao điều phối, tầm nhìn dựng móng xây kho và tấm lòng kết nối hai bờ sông của nương tử, dân bến đò này xin ghi tạc vào lòng!”

Tiếng hoan hô, vỗ tay rầm rộ của đám đông phu bến, tiểu thương và bà con chài lưới vang dậy cả một góc sông. Lại Tam cùng tốp phu bốc vác đứng dựa lưng vào cọc đá, mồ hôi ướt đẫm áo nhưng nụ cười rạng rỡ nở trên gương mặt phong trần. Tiểu Mãn nép bên cạnh Thanh Du, tay nắm chặt vạt áo anh trai nuôi, đôi mắt lấp lánh niềm kiêu hãnh khôn xiết dành cho người mẹ nuôi tài ba, nhân hậu.

Thanh Hà mỉm cười nhã nhặn, chắp tay tạ lễ đáp từ các bậc trưởng bối và bà con chòm xóm. Nàng tự tay bưng chiếc khay đồng lớn, bên trên xếp đầy những bát trà xanh búp tôm nóng hổi nghi ngút khói, trân trọng trao tận tay từng người phu khuân vác, từng lão chài vừa dầm mình qua cơn bão lũ. Bát nước chè xanh hai văn của ngày nào nay vẫn giữ nguyên vẹn vị ngọt hậu đậm đà, vị thanh khiết của nước giếng gò Thanh Khê, thấm đẫm tình người ấm áp bên bờ sông Vọng.

Hàn Thụy đứng nơi góc hiên lộng gió, ánh mắt dịu dàng ngắm nhìn bóng dáng nàng rạng rỡ giữa đám đông. Chàng hiểu rằng, sau thử thách của mùa lũ thứ hai này, Trà lâu Thanh Hà không chỉ đơn thuần là một quán trà buôn bán mưu sinh nữa. Nó đã trở thành linh hồn, thành biểu tượng cho sự kiên cường, tự chủ và uy tín không thể lay chuyển của bến Vọng Giang.

Khi nhịp sống thường nhật của bến sông bắt đầu rộn rã trở lại với những chuyến đò đầu tiên vượt làn nước êm xuôi dòng, thì từ phía cầu tàu đá hoa cương mé đông, một cỗ xe ngựa bốn bánh lộng lẫy chạm khắc hoa văn tinh xảo bất ngờ dừng lại.

Một vị trung niên chấp sự mặc cẩm bào xanh lục viền chỉ bạc, phong thái đĩnh đạc, ung dung bước xuống xe. Tay ông nâng niu một ống gấm thêu kim tuyến trang trọng, cất bước tiến thẳng qua khoảng sân đá xanh, bước vào ngưỡng cửa Trà lâu Thanh Hà.

Trước sự ngỡ ngàng của mọi người trong quán, vị chấp sự mỉm cười cung kính cúi chào Thanh Hà, rồi trịnh trọng mở cuộn giấy hoa tiên viền nhũ vàng rực rỡ đặt lên mặt bàn trà:

“Liễu nương tử, tại hạ là chấp sự phụ trách thương vụ của Đại thương hội Đông Giang. Bản hội đã chứng kiến trọn vẹn năng lực điều phối phi thường và uy tín vững như bàn thạch của Trà lâu Thanh Hà qua trận lũ vừa rồi. Hôm nay, tại hạ vâng lệnh Tổng thương hội mang ngân phiếu đặt cọc và thiệp mời trang trọng này đến đây, tha thiết muốn ủy thác cho Liễu nương tử chủ trì đại tiệc trà mừng ngày mở cửa thông thương lớn nhất từ trước đến nay bên bờ Vọng Giang!”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn