Quán Trà Bên Bến ĐòC.30 / 34
Chương 30

Lời đồn tái giá

Tiếng gỗ lim nện chát chúa lên phiến đá bậc tam cấp vừa lát xong, làm xáo động cả một góc bến đò đang tấp nập thuyền bè cập bến buổi sớm mai.

Âm thanh khô khốc, sắc lạnh ấy dội thẳng vào gian lều dựng tạm mé sau công trường, nơi mẻ bánh nướng hoa hòe vừa ra lò còn tỏa ngút ngát mùi thơm thanh khiết của bột nếp mới quện với mật hoa ngậm sương. Đám thợ nề đang thoăn thoắt chuyền tay nhau từng vợi vữa dẻo trên giàn giáo bất giác khựng lại, chiếc bay sắt gõ lách cách vào mép gạch rồi ngưng bặt. Tiếng đục đẽo ken két trên những khối đá hộc gò Thanh Khê vốn rộn rã từ lúc mặt trời chưa rạng bỗng chốc im lìm. Dưới chân bến, từng đoàn phu khuân vác mình trần bóng nhẫy mồ hôi và khách bộ hành đang hối hả chen chân qua những nhịp cầu ván chông chênh đều giật mình ngoái đầu lại. Mọi ánh mắt ngơ ngác, tò mò dồn cả về khoảng sân rộng phía trước móng Trà lâu Thanh Hà đang từng ngày thành hình giữa đôi bờ gió lộng.

Hai gã gia đinh vạm vỡ trong bộ áo chẽn cộc tay bằng vải chàm sẫm thẳng tay xô dạt tấm phên nứa che bụi sang một bên. Đốt nứa vỡ toác kêu răng rắc dưới gót giày thô bạo. Đi ngay phía sau bọn chúng là Phạm lão phu nhân trong bộ áo lụa xanh thẫm viền chỉ bạc lấp lánh, vạt áo buông dài phủ kín đôi hài nhung thêu hoa kín đáo, nhưng gương mặt già nua thì sắt lại vì phẫn nộ tột cùng. Đôi gò má hóp sâu giần giật từng chập, cặp mắt sắc như dao cau lướt qua khắp lượt công trường ngổn ngang gạch vôi. Nâng đỡ hai bên sườn bà ta là hai người đàn ông trung niên béo tốt, vận áo the dài quá gối, đầu đội khăn xếp ngay ngắn không một nếp nhăn—đó chính là Phạm Nhị thúc và Phạm Tam thúc, hai bậc trưởng bối có tiếng cay nghiệt, bảo thủ và sùng bái gia pháp bậc nhất trong tộc họ Phạm ở thôn Đoài.

Phía sau ba bóng người quyền thế ấy là hơn chục tên tráng đinh tay lăm lăm gậy nẹp sắt sáng loáng. Khuôn mặt tên nào tên nấy đằng đằng sát khí, dàn thành hàng ngang chắn kín lối ra vào độc đạo nối từ đường thiên lý xuống mép nước, hách dịch đẩy lùi cả những người phu bến đang oằn lưng vác sọt than củi đi ngang qua.

“Tránh hết ra! Việc nội bộ tộc họ Phạm dạy dỗ nghịch phụ, lũ hèn mọn chớ có xía vào mà rước vạ vào thân!” Gã gia đinh dẫn đầu quát lớn, vung chiếc roi mây bện gân bò quất mạnh vào một đống sỏi dăm bên vệ đường, khiến đá vụn bắn tung tóe lên vạt áo người qua lại.

Phạm lão phu nhân nện đầu gậy bịt đồng thau xuống phiến đá thêm một tiếng vang rền, ngực bà ta phập phồng dữ dội sau chặng đường dài ngồi kiệu đòn từ huyện thành đổ về bến sông. Cơn giận tích tụ bao ngày như ngọn lửa ngún trong tro trấu, nay gặp gió bến đò liền bùng phát dữ dội. Ánh mắt độc địa của bà ta dừng lại trừng trừng nơi bóng người mảnh dẻ của Thanh Hà đang đứng cạnh chiếc bàn gỗ nặn bánh.

“Liễu thị! Đồ góa phụ trắc nết, tiện tì vô sỉ!” Giọng lão phu nhân the the, the thé xé toạc bầu không khí mát mẻ, trong lành của bến sông buổi sớm. “Họ Phạm ta ba đời danh giá, thư hương lễ giáo rạng ngời, cửa cao nhà rộng rạng rỡ tổ tông, thế mà rủi ro rước phải thứ sao chổi tang môn như ngươi về làm dâu! Chồng chết chưa xanh cỏ mồ, xương thịt chưa tan nơi chín suối, ngươi đã cuốn gói trốn chui trốn lủi ra chốn đầu đường xó chợ này. Ngươi bêu đầu báng bổ gia phong, buôn hương bán phấn giữa đám phu phen hạ tiện dơ dáy! Ngươi tưởng dựa vào ba cái chén trà bẩn thỉu, cấu kết với bọn con buôn đàng điếm nơi bờ sông bến bãi mà có thể rửa sạch thân phận dâu con họ Phạm sao?”

Từng lời thóa mạ cay độc rít qua kẽ răng run rẩy của bà lão, dội vào vách núi đá bên kia sông rồi vọng lại, khiến ai nấy nghe qua cũng phải rợn người trước lòng dạ hiểm độc.

Phạm Nhị thúc đứng bên cạnh vuốt chòm râu dê lưa thưa, đảo mắt nhìn quanh một lượt rồi hắng giọng thật lớn, cố ý vận sức để giọng nói trịch thượng của kẻ đứng đầu dòng tộc vang xa khắp bến bãi:

“Liễu thị! Tội bất trinh, bất thuận, bất mục của ngươi theo gia quy tộc Phạm đáng phải gọt tóc bôi vôi, dong khắp làng trên xóm dưới để làm gương cho thiên hạ! Nhưng hôm nay tộc ta cất công đến tận chốn bến bùn nước đục này không chỉ để thanh trừng nếp nhà, mà còn đòi lại tôn nghiêm bị ngươi chà đạp dưới bùn nhơ. Ngươi dám mê hoặc, xúi giục Minh Châu trốn khỏi khuê môn, bỏ trốn khỏi mối hôn sự môn đăng hộ đối mà mẫu thân nó nhọc lòng thu xếp với Tôn gia! Quân bay đâu, xông vào bắt con nghịch nữ Minh Châu trói nghiến lại cho ta! Áp giải nó về từ đường giam lỏng, đợi ngày thượng kiệu hoa sang nhà họ Tôn bái đường!”

Đám tráng đinh nghe lệnh liền rống lên một tiếng đáp lời, đồng loạt sấn sổ bước lên, gậy nẹp sắt khua loảng xoảng. Cặp mắt ti hí của bọn chúng đảo liên hồi quanh các góc chái bếp tạm, soi mói từng kẽ phên nứa hòng tìm kiếm bóng dáng cô tiểu thư vừa trốn khỏi phủ đệ đêm qua.

Mặt sông Vọng Giang buổi sáng vốn luôn ồn ã tiếng gọi đò í ới, tiếng va đập lách cách của sào tre vào mạn thuyền và tiếng ngã giá xôn xao của cánh lái buôn cá tôm. Thế nhưng chỉ trong chớp mắt, dường như mọi âm thanh thường nhật đều bị lu mờ trước biến cố bất ngờ. Đám đông phu bến với đôi vai chai sần vì đòn gánh, những bạn hàng gạo từ miền xuôi lên, cánh phụ nữ quẩy gánh hàng rong của Hội nữ thương Đông Tân cùng hàng chục hành khách đợi đò đã ùa tới vây kín quanh khu đất móng của trà lâu.

Những chiếc đòn gánh kĩu kịt vội vã hạ xuống bờ cỏ. Những sọt than củi, sọt cá khô được đặt phịch bên vệ đường. Dân bến sông suốt bao tháng ngày qua đã quá quen thuộc với hình ảnh người nữ chủ quán trà đoan trang, nhẫn nại, thức khuya dậy sớm. Họ từng uống từng bát nước chè xanh ấm lòng giữa đêm mưa gió, từng nhận những mẩu bánh thơm thảo sẻ chia khi hoạn nạn đói lòng, từng thấy nàng gượng dậy sau bão lũ ra sao. Thấy người họ Phạm hùng hổ kéo đến với khí thế hung hãn, coi mạng người như cỏ rác, đám đông không khỏi xôn xao, những tiếng xì xào bất bình nổi lên râm ran như ong vỡ tổ.

“Người ta mở quán buôn bán đàng hoàng, có hại ai đâu mà bảo là đàng điếm?”

“Mấy ông bà nhà giàu ở phố huyện về đây cậy đông hiếp yếu đấy à? Lại còn đòi bắt trói người giữa thanh thiên bạch nhật!”

Thanh Hà đứng đó, giữa muôn vàn cặp mắt đổ dồn về phía mình. Chiếc tạp dề bằng vải thô màu chàm nàng đeo trước ngực còn dính vài vệt bột nếp trắng phau, mái tóc búi gọn gàng sau gáy chỉ cài một chiếc trâm gỗ đào mộc mạc. Nàng không lùi lấy nửa bước, đôi bàn chân bám chặt trên nền đất nện, lưng thẳng tắp như thân trúc đón gió ngàn. Đôi mắt nàng phẳng lặng như mặt nước giếng khơi, không một tia hoảng loạn, nhưng sâu thẳm trong đáy mắt đen láy ấy là sự kiên định đã được tôi luyện qua bao ghềnh thác hiểm nguy, qua những tháng ngày cận kề cái chết giữa dòng nước xiết.

Nàng gạt nhẹ lớp bột mỏng trên đầu ngón tay, nhìn thẳng vào gương mặt đang méo mó vì giận dữ của mẹ chồng cũ:

“Phạm lão phu nhân, Phạm Nhị thúc,” giọng Thanh Hà cất lên, trong trẻo, rành rọt từng chữ, âm vang vượt qua cả tiếng sóng vỗ ì oạp dưới chân bến. Không hề có lấy một tia run rẩy hay e dè. “Nơi này là bến đò Vọng Giang thuộc huyện hạt Thanh Lâm. Đất có quan huyện quản lý bằng điển lệ, bến có phường bảo coi sóc theo hương ước. Mảnh đất cắm móng dựng quán này ta ký khế ước thuê mướn hợp pháp, tiền nộp đủ vào kho thuế, từng viên gạch tảng đá đặt xuống đây đều đổi bằng mồ hôi nước mắt lao động lương thiện của ta và anh em phu thợ. Liễu Thanh Hà ta từ ngày bị đuổi khỏi cửa họ Phạm trong đêm mưa tuyết hai năm trước, thân tàn ma dại, không mang theo của quý tộc một xu dính túi, chưa từng ngửa tay xin họ Phạm một hạt cơm thừa bát nước cặn!”

Nàng tiến lên nửa bước, mắt nhìn thẳng vào hàng gậy nẹp sắt đang chực lấn tới:

“Hai năm qua, ta mở quán mưu sinh, nuôi nấng người thân, lấy công sức đổi chén cơm, trên thuận theo luật pháp triều đình, dưới hợp với đạo lý làm người. Cớ sao hôm nay các người dám đem gia đinh hung hãn xông vào đất tư gia, dùng lời lẽ ô uế nơi miệng lưỡi mà bôi nhọ danh tiết của một phụ nữ tự lập mưu sinh? Các người coi thường luật pháp Thanh Lâm, hay tự cho rằng quyền uy họ Phạm vượt lên trên cả phép nước?”

“Ngươi… ngươi còn dám dùng luật pháp ra để giảo biện với ta sao?” Phạm lão phu nhân giận đến toàn thân run rẩy, cây gậy trong tay run lên bần bật, đầu bịt đồng chỉ thẳng vào chóp mũi nàng. “Ngươi đã bước chân qua bậc cửa nhà họ Phạm, ăn hạt gạo họ Phạm, thì sống là người họ Phạm, chết làm ma họ Phạm! Dù có hóa thành tro bụi cũng là thứ ma đói mang họ Phạm! Ngươi mang danh phận dâu họ Phạm mà bêu mặt giữa chợ búa bến thuyền, dập dìu kẻ đón người đưa, lại còn to gan lớn mật giấu giếm con gái ruột thịt của ta! Bắt nó ra đây! Quân bay đâu, lôi con ranh Minh Châu ra đây cho ta!”

Đám gia đinh nghe lệnh bà chủ thúc giục, lại thấy Thanh Hà chỉ là phận nữ nhi đơn độc, liền nhe nanh múa vuốt xông tới. Tên đi đầu giơ cây gậy sắt toan gạt phăng chiếc chõng tre trước lều bếp.

Nhưng gã chưa kịp chạm tay vào phên nứa thì một bóng người thanh mảnh từ phía sau đống củi khô kiên quyết bước ra.

“Dừng tay lại hết cho tôi!”

Tiếng thét trong trẻo, đanh thép nhưng chứa chan nỗi uất nghẹn dồn nén bấy lâu khiến mấy tên tráng đinh bất giác khựng chân lại.

Phạm Minh Châu bước nhanh lên phía trước, hai cánh tay nàng giang rộng, đứng chắn ngang ngay trước mặt Liễu Thanh Hà. Nàng không còn khoác lên mình bộ xiêm y gấm vóc đắt tiền, cũng chẳng còn mang những dải lụa thướt tha của một tiểu thư khuê các sống trong nhung lụa phủ đệ họ Phạm. Trên mình nàng lúc này là chiếc áo vải mộc giản dị đã ngả màu sương gió, vạt áo vén cao gọn gàng, đôi bàn tay thanh tú còn vương đầy bột hoa hòe và những vệt tro ấm lem luốc của miệng lò than vừa dỡ bánh.

Đôi mắt nàng đỏ hoe, ngân ngấn nước mắt vì uất ức và xúc động, nhưng ánh nhìn rọi thẳng vào người mẹ đẻ lại ngập tràn sự can trường hiếm thấy ở một cô gái mười sáu tuổi.

“Minh Châu! Con tiện tì mất nết kia!” Phạm Tam thúc đứng bên cạnh lập tức trợn trừng hai mắt, mặt đỏ gay như gà chọi, giơ ngón tay mập mạp run rẩy chỉ vào mặt nàng mà mắng xối xả. “Mày ăn phải gan hùm mật gấu rồi hay sao mà dám ăn mặc như lũ cùng đinh mạt hạng, đứng chắn cho thứ góa phụ đê tiện ấy? Mày có còn biết đến liêm sỉ, còn nhớ mình mang họ gì không? Mau quỳ xuống cút về phủ chịu tội với mẫu thân, bằng không gia pháp dòng họ sẽ đánh gãy chân mày!”

“Con không về!” Minh Châu cất cao giọng, từng lời từng chữ như ném thẳng vào gương mặt lạnh lùng, vô cảm của mẹ ruột và các thúc bá. “Con không bao giờ quay về cái nơi dối trá, ngột ngạt và tàn nhẫn ấy nữa! Người mà các người mở miệng ra là gọi tiện tì, là nghịch phụ, chính là người ngày đêm thức trắng bên giường bệnh anh trai con! Khi anh ấy sốt mê man, ho ra từng búng máu đen thẫm, ai là người lau rửa từng vết lở loét, bón từng thìa thuốc đắng cho anh? Lúc đó các người ở đâu? Các người sợ lây bệnh tật xui xẻo mà trốn biệt ở đông viện, khóa chặt cửa cấm không cho ai lai vãng!”

Nàng nấc lên một tiếng, nhưng ánh mắt không hề chớp lả:

“Người mà các người chửi rủa bêu rếu suốt hai năm qua, xua đuổi như tà ma ngoại đạo, lại chính là người dạy con hiểu thế nào là tự trọng! Chị ấy dạy con rằng phụ nữ không phải là món hàng để dòng họ đem ra mua danh chuộc lợi, mà phải biết sống bằng chính đôi bàn tay lao động của mình!”

Đám đông người xem xung quanh bắt đầu ồ lên kinh ngạc. Những lời trần tình gan ruột của cô tiểu thư khuê các khiến lòng người lay động dữ dội. Lão phu nhân run rẩy vì giận dữ, môi mỏng mím chặt đến trắng bệch, giọng bà ta nghẹn lại rồi vỡ ra the thé:

“Mày… mày điên thật rồi! Mày dám vì một con đàn bà xa lạ ngoài họ mà công khai chống lại mẹ đẻ, phản bội dòng tộc hay sao? Nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà! Bọn bay đâu, xông vào trói gô nó lại! Tát gãy răng con nghịch tử này cho ta!”

“Mẹ muốn đánh chết con thì cứ đánh ngay tại bến đò này đi!” Minh Châu không hề lùi bước lấy nửa tấc. Nàng ưỡn ngực, ngẩng cao đầu, nước mắt lã chã tuôn rơi trên đôi má dính tro than, nhưng thanh âm phát ra lại đanh thép lạ thường. “Mẹ cứ sai người đánh chết con trước mắt hàng trăm bá tánh bờ sông Vọng Giang này đi! Để xem máu của con gái mẹ có nhuộm đỏ được cái danh gia vọng tộc giả tạo ấy không! Nhưng trước khi mẹ ra tay đập chết con, con phải cho toàn thể thiên hạ ở đây biết rõ bộ mặt thật của dòng họ Phạm danh giá! Con phải vạch trần tội lỗi tày trời mà mẹ đã nhẫn tâm giấu giếm suốt hai năm dài đằng đẵng qua!”

Cả bến sông bỗng chốc chìm vào một khoảng lặng nghẹt thở đến rợn người.

Tiếng rì rào của sóng nước dường như cũng lùi xa, tiếng gió sông thổi qua rặng lau sậy mé bờ dường như cũng ngừng xào xạc. Hàng trăm con người nín thở, đưa mắt nhìn nhau rồi dồn cả vào gương mặt biến sắc của Phạm lão phu nhân. Sắc mặt bà ta từ đỏ gay vì tức giận thoắt cái chuyển sang trắng bệch như xác chết trôi sông, đôi con ngươi co rút lại đầy sợ hãi.

Minh Châu đưa cánh tay còn vương bột bánh chỉ thẳng vào ngực mẹ mình, dõng dạc nói lớn giữa thanh thiên bạch nhật:

“Hai năm trước, vào cái đêm định mệnh khi anh trai con trút hơi thở cuối cùng trên giường bệnh, anh ấy biết rõ lòng dạ mẹ cay nghiệt nhường nào! Anh ấy biết sau khi mình nhắm mắt xuôi tay, dòng tộc họ Phạm tuyệt đối sẽ không dung thứ cho người chị dâu tận tụy nhưng nghèo khó này! Trong cơn hấp hối cùng cực, anh ấy đã cắn nát đầu ngón tay mình, dùng máu tươi viết nên bức thư trăn trối cuối cùng! Trong thư, anh thiết tha cầu xin mẹ hãy mở lòng từ bi để chị dâu được tự do, trao trả lại toàn bộ tư trang hồi môn ít ỏi của chị, cho phép chị được tái giá tìm kiếm hạnh phúc mới khi tuổi còn xuân thì!”

Giọng Minh Châu run rẩy vì xúc động, nhưng từng tiếng thốt ra lại rành rọt như chuông đồng:

“Thế nhưng mẹ đã làm gì? Khi anh con vừa nhắm mắt, hơi ấm trên thi thể chưa kịp nguội, mẹ đã sai gia đinh giật phăng lấy bức thư niêm phong sáp đỏ ấy từ tay anh! Mẹ sai người khóa chặt nó vào ba lớp tráp sắt kiên cố, cất giấu kỹ lưỡng sau bài vị tổ tiên nơi góc tối từ đường! Mẹ lột sạch từng chiếc trâm cài, tấc vải của chị dâu, đuổi chị ra khỏi cửa giữa đêm đông mưa tuyết giá rét căm căm chỉ với hai bàn tay trắng! Mẹ tung tin bôi nhọ chị khắp hang cùng ngõ hẻm là thứ sao chổi sát phu, ép chị phải chịu cảnh góa bụa cô quạnh cả đời trong ô nhục chỉ để giữ lấy cái hư danh tiết phụ hão huyền cho từ đường họ Phạm!”

“Ồ…!”

Một làn sóng phẫn nộ kinh hoàng bùng nổ dữ dội trong đám đông nghìn nghịt quanh bến đò.

“Trời đất quỷ thần ơi! Có người mẹ nào tàn nhẫn đến mức giấu cả thư tuyệt mệnh viết bằng máu của con trai mình không?”

“Ác độc quá! Bức ép con dâu ra đường tay trắng giữa đêm đông, giờ thấy người ta làm ăn khấm khá lại kéo bè kéo lũ đến bóp nghẹt đường sống!”

“Đúng là quân đạo đức giả! Bề ngoài nói chuyện thư hương lễ giáo, bên trong lòng lang dạ thú!”

Tiếng phu bến đập đòn gánh xuống nền đất chan chát để bày tỏ sự bất bình. Những người phụ nữ Hội nữ thương Đông Tân đứng sát lại bên nhau, mắt bừng bừng ánh lửa giận dữ nhìn chằm chằm vào đám người họ Phạm. Những bí mật nhơ nhớp, tàn độc nhất được che đậy dưới lớp vỏ danh gia vọng tộc suốt hai năm qua nay bị chính đứa con gái ruột thịt bóc trần trần trụi giữa bàn dân thiên hạ.

Phạm lão phu nhân thẹn quá hóa giận. Cơn cuồng nộ và nỗi nhục nhã ê chề làm mờ mịt lý trí bà ta. Cặp mắt già nua long lên sòng sọc, những đường gân xanh nổi ngoằn ngoèo trên thái dương. Bất chấp tất cả, bà ta vung cây gậy gỗ lim bịt đồng thau nặng trịch trong tay lên cao, dồn hết sức tàn nhắm thẳng vào đầu Minh Châu mà giáng xuống:

“Con ranh nghiệt súc! Hôm nay ta phải dùng gia pháp đập chết tươi mày tại đây để tạ tội với linh hồn tổ tông họ Phạm!”

Ngọn gậy xé gió vun vút lao xuống với một lực hung bạo. Minh Châu thấy bóng gậy ập đến thì cắn chặt môi, không hề né tránh, nàng nhắm nghiền mắt lại chờ đợi đòn roi trừng phạt tàn khốc của người mẹ đẻ.

Thế nhưng, ngọn gậy lim ấy đã vĩnh viễn không thể chạm tới một sợi tóc của nàng.

“Keng!”

Một tiếng va chạm kim loại khô khốc và chói tai vang lên giữa không trung. Một chiếc gậy tre bọc sắt xỉn màu đã vươn ra với tốc độ kinh hồn, chuẩn xác gạt phăng ngọn gậy lim của lão phu nhân sang một bên. Lực đỡ mạnh mẽ, vững như bàn thạch khiến cả cánh tay gầy guộc của bà ta chấn động dữ dội, khớp xương kêu lên đau đớn, suýt chút nữa chiếc gậy gia pháp đã tuột khỏi tay rơi xuống đất.

Từ Bá chống gậy bước lên một bước. Vóc dáng còng còng của lão lái đò già sừng sững chắn ngang mép thềm đá như một tảng đá ngầm nghìn năm trơ gan cùng tuế nguyệt giữa dòng nước xiết. Đôi mắt lão đùng đục vì dãi dầu sương gió bỗng quắc lên tia nhìn sắc bén lạ thường—cái nhìn của người đã từng một tay cầm lái vượt qua hàng trăm mùa lũ dữ, từng chứng kiến bao kiếp nhân sinh chìm nổi trên khúc sông này.

“Phạm lão phu nhân!” Giọng Từ Bá trầm hùng, khàn đục nhưng vang vọng khắp bến đò, át cả tiếng gió rít. “Bến Vọng Giang này là nơi giao thương của trăm họ, không phải cái từ đường riêng để họ Phạm các người muốn làm càn thì làm càn! Ở đây có quy củ của bến bãi, có lề luật của giang hà, và trên hết là có phép nước nghiêm minh của triều đình! Già này cắm sào chèo đò trên khúc sông này ngót nghét năm mươi năm có lẻ, chưa từng thấy kẻ nào dám vung gậy giết người giữa chốn công cộng đông đúc mà mở miệng rao giảng chuyện nhân nghĩa gia phong!”

Cùng lúc đó, một bóng người cao lớn bước ra từ phía sau giàn giáo đá hộc.

Hàn Thụy vận chiếc áo chẽn màu chàm mộc mạc, vạt áo còn vương bụi đá trắng, nhưng từng bước chân chàng bước đi lại mang theo khí độ uy nghiêm, trầm tĩnh lạ thường. Bờ vai rộng vững chãi của chàng tiến tới đứng sóng vai bên cạnh Từ Bá, tạo thành một bức tường kiên cố che chở trọn vẹn Thanh Hà và Minh Châu ở phía sau lưng mình. Ánh mắt chàng lạnh lẽo như băng tuyết ngàn năm trên đỉnh Tây Lĩnh, quét thẳng qua đám tráng đinh tay lăm lăm gậy sắt. Cái nhìn sắc như kiếm quang ấy khiến hơn chục tên tay sai hung hãn bất giác lạnh sống lưng, chùn chân lùi lại nửa trượng, không tên nào dám manh động.

“Họ Phạm các vị định đem vũ lực ra để giải quyết phân tranh tại chốn này sao?” Hàn Thụy cất giọng điềm tĩnh, âm vực không cao nhưng từng thanh âm nặng tựa ngàn cân gỉ sét rơi xuống nền đá. “Đây là bến cảng thông thương huyết mạch lớn nhất của huyện Thanh Lâm. Mọi hành vi xô xát, gây rối trật tự công cộng hay tự tiện áp dụng tư hình man rợ đều bị quy vào tội nhiễu loạn trị an bến bãi, chiếu theo luật hình triều đình mà nghiêm trị không tha. Nếu các người muốn nói chuyện, hãy dùng công lý và luật pháp mà phân xử, đừng đem mớ gia pháp hủ lậu, tàn nhẫn ra đây để dọa nạt dân lành!”

Phạm Nhị thúc thấy đám phu bến xung quanh bắt đầu siết chặt vòng vây, từng chiếc đòn gánh, xẻng thợ nề lăm lăm trong tay họ, lại nhìn thấy khí thế bức người của người thanh niên lạ mặt và lão lái đò già, trong lòng không khỏi run sợ. Nhưng cậy mình là kẻ có chân trong hội đồng hương lão ở làng, lão bèn gượng gạo vuốt râu, cất giọng the thé lên tiếng chữa thẹn:

“Các người… các người là cái thớ gì mà dám can thiệp thô bạo vào việc nội bộ của tộc họ Phạm chúng ta? Con gái ta sinh ra thì ta dạy dỗ, dâu nhà ta rước về thì ta quản thúc! Luật pháp triều đình nào cấm mẹ dạy bảo con gái, cấm dòng họ giữ gìn gia quy?”

“Luật pháp triều đình cấm kẻ ỷ thế hiếp đáp lương dân, cấm ngậm máu phun người và tuyệt đối cấm xâm phạm quyền tự do thân thể của con người!”

Một giọng nói đanh thép, vang dội và chuẩn mực vang lên từ phía cầu tàu lát ván gỗ.

Đám đông đang vây kín lập tức tự động dạt sang hai bên, cung kính nhường lối. Vũ Chính An trong bộ quan phục thư lại màu lam chỉnh tề, ngực thêu hoa văn nhã nhặn, tay cầm cuốn sổ ghi chép công vụ bìa xanh sải bước tiến vào. Đi ngay bên cạnh ông là Phường bảo Đào Văn Kính đầu đội khăn đen, nét mặt nghiêm nghị, cùng hai dịch sai huyện nha đeo đao dài bên hông, bước chân dứt khoát rầm rập. Theo sát phía sau còn có viên thư ký lập khế ước của phường bến mang theo nghiên mực đá và chiếc tráp đựng giấy tờ công vụ.

Sự xuất hiện đường đường chính chính của quan chức phụ trách tư pháp và thương chính huyện nha như một gáo nước lạnh buốt dội thẳng vào ngọn lửa hung hăng của đám người họ Phạm. Phạm lão phu nhân khựng lại, ngọn gậy lim buông thõng xuống đất, sắc mặt xám ngoét như tro tàn. Cả Phạm Nhị thúc và Tam thúc đều giật thót mình, đưa mắt nhìn nhau đầy hoang mang lo lắng.

Vũ Chính An dừng bước trước mặt lão phu nhân, chắp tay chào theo đúng nghi thức công vụ nhưng ánh mắt thì sắc lạnh như dao:

“Phạm lão phu nhân, Phạm Nhị gia. Bản thư lại nhận được công văn thỉnh cầu giám sát và làm chứng việc giải quyết tranh chấp quyền nhân thân từ Quán trà Thanh Hà gửi lên huyện nha từ sáng sớm hôm nay. Bản chức cùng phường bảo đã đích thân có mặt tại bến đò này từ trước khi các vị lớn tiếng thóa mạ. Ta cũng đã nghe rõ từng lời trần tình công khai của lệnh ái Phạm Minh Châu vừa rồi. Việc giấu giếm thư trăn trối của người đã khuất, tước đoạt tài sản riêng, cưỡng ép hôn nhân trái ý nguyện và mưu toan dùng nhục hình nơi công cộng... những việc này nếu đưa lên công đường huyện nha trước mặt Huyện lệnh đại nhân để đối chất, e rằng thanh danh ba đời khoa bảng, nếp nhà danh giá của tộc họ Phạm sẽ khó lòng bảo toàn nguyên vẹn!”

Phạm Nhị thúc mồ hôi hột túa ra như tắm, ướt đẫm cả mép khăn xếp trên trán. Lão lắp bắp, hai bàn tay giấu trong tay áo the dài run lên bần bật. Bọn họ vốn chỉ toan tính cậy thế dòng họ lớn ở chốn thôn quê, thừa lúc sáng sớm kéo người ra bến sông hẻo lánh này dùng vũ lực bắt sống Minh Châu về, đồng thời đập phá quán xá để dằn mặt một người góa phụ đơn côi. Nào ngờ Liễu Thanh Hà lại cơ trí và cẩn trọng đến nhường này! Nàng đã sớm đoán biết dã tâm của họ Phạm, âm thầm chuẩn bị đầy đủ chứng lý, mời cả thư lại huyện nha và phường bến đến túc trực làm chứng công khai giữa thanh thiên bạch nhật.

“Vũ… Vũ thư lại đại nhân… ngài… ngài đừng nghe lời con trẻ dại dột xúi bậy…” Phạm lão phu nhân cố nén nỗi kinh hoàng trong lòng, run rẩy cất giọng vớt vát thể diện tàn tạ. “Nội bộ gia đình có chút hiểu lầm, mẹ con bất hòa đôi chút… chuyện đàn bà con gái trong nhà, đâu dám phiền nhiễu đến công đường đại nhân…”

“Có hiểu lầm hay không, chứng cứ rành rành sẽ nói lên tất cả,” Vũ Chính An lạnh lùng ngắt lời, từng lời từng chữ đanh thép như búa gõ vào đe. “Lão phu nhân, bức thư trăn trối của cố thiếu gia Phạm Trọng Văn mà Minh Châu vừa vạch trần trước toàn thể dân bến, hiện đang nằm trong tay áo của bà, đúng chứ?”

Phạm lão phu nhân giật bắn người như bị ong chích. Theo phản xạ tự nhiên, bà ta vội vã đưa tay ôm chặt lấy vạt áo bên ngực trái. Đôi mắt già nua lộ rõ sự kinh hãi và hoảng loạn tột cùng.

Hóa ra, từ đêm qua khi phát hiện Minh Châu trốn khỏi phủ đệ, bà ta linh tính chuyện chẳng lành, lo sợ đứa con gái cứng đầu sẽ đem chuyện bức thư tuyệt mệnh ra nói với người ngoài, nên đã vội vã sai người mở tráp sắt sau bàn thờ lấy bức thư mang theo bên mình, định bụng nếu sự việc bại lộ sẽ lập tức ném vào bếp lò thiêu hủy để phi tang chứng cứ. Nhưng bà ta có nằm mơ cũng không ngờ rằng, từng cử chỉ, từng sự biến đổi trên nét mặt của mình đều không qua mắt được ánh nhìn tinh tường của viên thư lại lão luyện và những con người sắc sảo nơi bến đò này.

“Giao ra đây, thưa lão phu nhân,” Vũ Chính An nghiêm giọng, bước lên một bước, chìa bàn tay cứng rắn ra phía trước. “Trước mặt toàn thể bá tánh bến Vọng Giang, trước mặt thư lại phụ trách thương vụ và tư pháp cơ sở của huyện Thanh Lâm, hãy để sự thật được phơi bày dưới ánh mặt trời. Nếu bà kiên quyết chối bỏ, bản thư lại buộc phải mời bà cùng toàn bộ thân tộc họ Phạm có mặt tại đây về nha môn huyện để mở phiên công đường đối chất!”

Tiếng phu bến, thợ nề và tiểu thương xung quanh lại rộ lên như sóng trào:

“Đúng rồi! Giao thư ra đây!”

“Có tật giật mình kìa! Dám làm mà không dám nhận à?”

“Quân bất nhân bất nghĩa, giao thư máu của người chết ra đây mau!”

Bị hàng trăm ánh mắt soi mói khinh miệt dồn ép đến tận chân tường, lại thêm uy quyền đao kiếm của dịch sai huyện nha đang đứng sừng sững bên cạnh, toàn bộ phòng tuyến kiêu ngạo, trịch thượng cuối cùng của Phạm lão phu nhân hoàn toàn sụp đổ tan tành. Hai đầu gối bà ta run lẩy bẩy, nếu không có tên gia đinh bên cạnh gượng sức đỡ lấy thì bà ta đã quỵ ngã xuống nền đá dăm lởm chởm.

Bằng đôi bàn tay già nua, gầy guộc run rẩy đến mức không kìm lại được, lão phu nhân đành phải thò tay vào sâu trong lớp áo lụa dày. Bà ta chần chừ, ngập ngừng hồi lâu trong sự im lặng ngột ngạt của đám đông, rồi cay đắng rút ra một phong thư đã ngả sang màu vàng ố vì thời gian. Trên mép phong bì bằng giấy bản dày dặn, vết sáp niêm phong màu đỏ sẫm vẫn còn nguyên vẹn, góc trên dập nổi dấu triện riêng bằng đá hoa mai của người con trai quá cố Phạm Trọng Văn.

Vũ Chính An đón lấy phong thư từ bàn tay run rẩy của bà lão. Ông cẩn thận soi dấu sáp đỏ dưới ánh nắng sớm, kiểm tra từng đường vân nét khắc rồi quay người lại, nhìn về phía Thanh Hà. Ánh mắt viên thư lại nghiêm nghị thoáng nét dịu dàng và trân trọng:

“Liễu nương tử, bức thư tuyệt mệnh này gửi đích danh cho nàng. Nàng có toàn quyền mở ra đọc trước sự chứng kiến công minh của chính quyền và bá tánh địa phương.”

Thanh Hà hít một hơi thật sâu. Lồng ngực nàng phập phồng sau làn áo vải chàm. Trong khoảnh khắc ấy, cả một trời ký ức đau buồn, đắng cay của những ngày tháng làm dâu họ Phạm bỗng chốc dội về như thác lũ. Nàng nhớ những đêm đông lạnh thấu xương phải quỳ gối nơi hiên nhà chịu trận mắng nhiếc, nhớ những lời đay nghiến cay độc của mẹ chồng, nhớ những buổi chiều mưa tầm tã đội nón rách chạy vạy khắp xóm làng vay mượn từng đồng tiền mua thuốc thang cho người chồng bạc mệnh ốm đau dầm dề... Tất cả những tủi nhục, đắng cay tưởng chừng đã chôn chặt nơi đáy mồ nay bỗng sống dậy.

Nhưng nàng không khóc. Nàng không để cho những giọt nước mắt yếu mềm rơi xuống trước mặt những kẻ đã từng nhẫn tâm chà đạp cuộc đời mình.

Nàng bước từng bước vững chãi, kiêu hãnh qua phiến đá móng trà lâu đang thơm mùi vôi mới, tiến đến nhận lấy phong thư từ tay Vũ Chính An.

Đầu ngón tay thon thả của nàng khẽ lướt qua vết sáp đỏ đã khô giòn theo năm tháng. Nàng dùng móng tay bẩy nhẹ. Vết sáp vỡ ra với một tiếng “tách” giòn tan, thanh thoát—tiếng vỡ ấy như đập tan xiềng xích vô hình, giải thoát cho nỗi oan ức nghẹn ngào bị giam cầm trong bóng tối suốt hai năm dài đằng đẵng.

Thanh Hà rút tờ giấy tuyên thành bên trong ra. Tờ giấy đã ngả màu vàng nhạt, mép giấy hơi sờn rách vì thời gian. Nét chữ quen thuộc của người xưa hiện lên rõ mồn một trước mắt nàng. Đó là những dòng chữ xiêu vẹo, run rẩy của một người đang nằm trên giường bệnh trong những hơi thở tàn cuối cùng, nhưng từng nét bút lại cứng cỏi, dứt khoát lạ lùng. Xen lẫn giữa những dòng mực đen là những vệt máu đỏ thẫm đã khô xỉn nơi góc giấy—nơi người chồng quá cố đã cắn nát đầu ngón tay mình để điểm chỉ làm chứng trước lúc trút hơi thở cuối cùng sang thế giới bên kia.

Giữa sự im lặng tuyệt đối, trang nghiêm của hàng trăm con người đang nín thở dõi theo bên bờ sông Vọng Giang, Thanh Hà cất cao giọng đọc to từng chữ. Tiếng đọc của nàng trong trẻo, ngân vang, từng thanh âm bay qua những giàn giáo ngổn ngang gạch đá, bay qua những mái chèo gác mũi bên bờ sông, vượt qua ngọn sóng lăn tăn hòa vào tiếng gió sông lồng lộng thổi từ ngàn khơi:

“Thư này gửi hiền thê Liễu thị Thanh Hà.

Ta mang thân tàn tật nhiều bệnh, mệnh bạc như mây nổi giữa trời giông bão, may mắn có nàng chẳng quản nhọc nhằn, tận tâm chăm sóc thuốc thang từng miếng ăn giấc ngủ suốt những năm tháng cuối đời tăm tối. Ơn sâu nghĩa nặng ấy, kiếp này ta chưa kịp đền đáp một phần vạn thì đã phải buông tay về nơi chín suối.

Ta biết rõ nếp nhà họ Phạm hà khắc, mẹ ta tính tình bảo thủ câu nệ, các bậc thúc bá nặng lòng với những lễ giáo cổ hủ trói buộc con người. Nay ta trút hơi thở tàn, xin có đôi lời trăn trối gan ruột để lại trước bài vị tổ tông và bàn dân thiên hạ chứng giám:

Thứ nhất, chiếc trâm vàng hoa đào ròng ba chỉ hai phân có khắc chữ ‘Liễu’ mà nàng mang theo bên mình chính là của hồi môn hợp pháp do nhạc mẫu trao cho nàng ngày xuất giá bước qua cửa nhà ta. Vật ấy thuộc về huyết thống họ Liễu, tuyệt đối không thuộc về sản nghiệp hay tài sản chung của tộc họ Phạm. Nàng có toàn quyền giữ lại bên mình, đem bán hay trao tặng tùy ý để mưu sinh độ nhật, dòng tộc họ Phạm tuyệt đối không ai được phép đòi hỏi, tranh chấp hay vu khống nàng trộm cắp.

Thứ hai, nàng bước chân vào cửa họ Phạm khi tuổi đời còn xuân thì phơi phới, nay ta mệnh yểu ra đi sớm, tuyệt đối không muốn nàng vì cái danh phận góa phụ hư ảo, vì tấm biển tiết phụ hão huyền mà chôn vùi cả tuổi thanh xuân và cuộc đời còn lại trong cô quạnh, đắng cay nơi xó nhà tăm tối. Ta tha thiết cầu chúc nàng tìm được hạnh phúc mới, tự do tái giá nếu gặp được người xứng đáng, biết yêu thương, trân trọng và chở che cho nàng suốt quãng đời còn lại. Dù nàng đi bước nữa hay lập nghiệp phương nào, dâu con nghĩa đoạn, ân tình giải thoát, họ Phạm vĩnh viễn không có quyền can thiệp, phán xét hay dùng gia pháp làm nhục nàng.

Kẻ bất hạnh Phạm Trọng Văn, cắn máu điểm chỉ lưu lại ngàn thu.”

Lời thư vừa dứt, khắp bến đò Vọng Giang như nổ tung trong những tiếng thở phào nhẹ nhõm và những tràng vỗ tay rầm rộ, vang dội cả một khúc sông.

“Hay lắm! Trời cao có mắt thật rồi!”

“Người chết nằm dưới đất còn có lương tâm, có tình nghĩa hơn vạn lần lũ người sống tham lam, tàn nhẫn!”

“Nghe rõ từng chữ chưa đám người họ Phạm kia? Chiếc trâm vàng là của hồi môn chính đáng của người ta! Người ta được chính người chồng đầu gối tay ấp chúc phúc cho tái giá đàng hoàng, tự do lập nghiệp!”

Tiếng la ó, chỉ trích, lên án của đám đông phu bến, thợ nề và các bà các chị tiểu thương dội thẳng vào mặt ba người họ Phạm như những cái tát trời giáng. Phạm Nhị thúc và Tam thúc mặt đỏ bừng như gấc chín, đầu cúi gầm xuống đất, lúng túng lùi dần từng bước ra phía sau đám tráng đinh, chỉ hận không thể có một kẽ nứt dưới mặt đất để chui xuống trốn tránh sự sỉ nhục nhãn tiền này.

Phạm lão phu nhân lảo đảo như người say sóng, toàn bộ những lời nhục mạ về “góa phụ trắc nết”, về “sao chổi sát phu”, về “nhơ nhuốc gia phong” mà bà ta dày công thêu dệt, dựng đứng lên suốt hai năm qua nay đã bị chính những dòng chữ máu gan ruột của đứa con trai ruột xé nát thành từng mảnh vụn trôi theo dòng nước. Sự giả dối, độc ác bị bóc trần hoàn toàn trước mặt quan chức huyện nha và dân chúng, không còn một kẽ hở nào để ngụy biện.

Vũ Chính An quay sang người lập khế của phường bến, khẽ gật đầu ra hiệu.

Một chiếc bàn gỗ con lập tức được kê ra ngay trên phiến đá móng của quán trà. Nghiên mực đen nhánh được mài sẵn tỏa mùi thơm trầm mặc, cùng một tờ giấy tuyên bản dày dặn, phẳng phiu được trải rộng dưới ánh nắng ban mai rực rỡ.

“Phạm lão phu nhân,” Vũ Chính An cất giọng đanh thép, lạnh lùng, không để cho đối phương có bất kỳ cơ hội thoái thác hay dùng dằng nào nữa. “Lời trăn trối của người đã khuất đã rõ ràng rành mạch, có dấu chỉ máu làm chứng thư. Chiếc trâm vàng hoa đào là tài sản riêng hợp pháp của Liễu thị; việc Liễu thị rời khỏi họ Phạm và tự do lập nghiệp, tái giá là hoàn toàn hợp pháp, hợp tình, thuận theo luân thường đạo lý và luật pháp triều đình. Hôm nay, trước sự chứng kiến của chính quyền huyện nha, phường bảo bến đò và toàn thể dân chúng bờ sông, bà đại diện cho thân tộc họ Phạm phải điểm chỉ xác nhận vào biên bản phân xử này!”

Vũ thư lại cầm chiếc bút lông thỏ, chấm mực viết thoăn thoắt lên trang giấy trắng. Ngọn bút đưa lướt như rồng bay phượng múa, từng nét chữ chân phương, sắc sảo hiện lên rõ ràng: Nhà họ Phạm chính thức xác nhận chiếc trâm vàng ba chỉ hai phân thuộc sở hữu tuyệt đối của Liễu Thanh Hà; tuyên bố chấm dứt vĩnh viễn mọi quan hệ nghĩa vụ dâu con giữa Liễu thị và tộc họ Phạm; họ Phạm từ bỏ mọi quyền can thiệp vào tài sản, thân phận, danh dự cũng như quyền tái giá tự do của nàng từ nay về sau; nếu sau này họ Phạm còn có bất kỳ hành vi quấy rối, đe dọa hay bôi nhọ nào, huyện nha sẽ chiếu theo luật hình trị tội nhiễu hại lương dân, phạt trượng và bãi truất tư cách khoa cử của con cháu trong tộc.

“Lão phu nhân, mời bà điểm chỉ!” Vũ Chính An đặt nghiêng chiếc khay đựng chu sa đỏ chót trước mặt bà ta.

Phạm lão phu nhân nhìn tờ biên bản rành rành từng chữ, rồi nhìn sang đám đông đang trừng trừng vây kín với những ánh mắt khinh bỉ, môi bà ta run lên bần bật. Bà ta hiểu quá rõ, nếu hôm nay bà ta cố chấp không chịu điểm chỉ, chuyện này sẽ lập tức bị Vũ thư lại tâu trình lên Huyện lệnh. Tiếng xấu cưỡng đoạt tài sản, bức tử con dâu sẽ truyền khắp huyện Thanh Lâm, tiền đồ khoa cử, đường công danh của đám con cháu họ Phạm sẽ vĩnh viễn tan thành mây khói, và gia tộc họ Phạm sẽ không bao giờ có thể ngẩng đầu lên được giữa chốn hương thôn.

Bằng đôi bàn tay run rẩy đến mức không cầm nổi ngón tay mình, lão phu nhân đành phải chậm chạp ấn ngón tay cái vào khay chu sa đỏ rực. Bàn tay nhuốm màu mực đỏ run rẩy hạ xuống, ấn mạnh dấu điểm chỉ tròn trịa xuống góc dưới tờ biên bản. Vết mực đỏ tươi in hằn sâu sắc lên nền giấy trắng tinh khôi, như một dấu ấn thép khép lại vĩnh viễn cánh cửa ngục tù tăm tối của quá khứ khổ đau.

“Còn… còn chuyện của Minh Châu…” Lão phu nhân thều thào, giọng khàn đặc như sắp đứt hơi, ánh mắt đầy cay đắng và bất lực nhìn sang đứa con gái ruột.

Minh Châu bước tới một bước. Nàng cung kính quỳ sụp xuống nền đá dăm lởm chởm, cúi đầu lạy mẹ ba lạy thật sâu theo đúng đạo hiếu sinh thành. Nhưng khi ngẩng đầu lên, ánh mắt nàng lại trong veo, kiên định và sáng rực như ngọc:

“Mẹ, ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, con xin ghi tạc vào tận đáy lòng, kiếp này không dám quên. Nhưng con tuyệt đối sẽ không bán rẻ cuộc đời, thân xác mình làm kế thất cho kẻ tàn bạo, buôn thịt bán người để đổi lấy hư danh cho dòng tộc! Con đã ký văn tự học việc sáu tháng tại Quán trà Thanh Hà, có sự bảo chứng và chứng thực rõ ràng của phường bến Vọng Giang. Con sẽ ở lại bến đò này, tự lao động nuôi sống bản thân, học lấy một cái nghề chân chính bằng chính mồ hôi nước mắt của mình. Xin mẹ và các thúc bá hãy quay về đi!”

Phạm lão phu nhân nhìn trừng trừng vào đứa con gái dứt ruột đẻ ra, rồi lại nhìn sang Thanh Hà đang đứng bình thản đón ánh nắng sớm ban mai. Bà ta cay đắng nhận ra rằng, mọi quyền uy phong kiến, mọi xiềng xích gia pháp mà dòng họ Phạm tôn thờ bao đời nay đã hoàn toàn bất lực trước những con người đã dám tự đứng vững trên đôi chân của chính mình, dám dùng lao động lương thiện để tìm kiếm phẩm giá.

Bà ta không thể thốt thêm được một lời nào nữa. Thân hình già nua run rẩy quay gót, gạt phăng bàn tay gia đinh đang toan đỡ lấy mình, rồi lảo đảo bước thật nhanh xuống mạn thuyền rồng đang cắm sào đợi sẵn. Theo sau bà ta là hai người chú bác với khuôn mặt xám xịt như tro tàn cùng đám tráng đinh cụp mắt, lủi thủi thu dọn gậy sắt như những kẻ bại trận nhục nhã.

Đoàn thuyền của nhà họ Phạm vội vã nhổ neo, mái chèo khua nước hối hả rẽ sóng trốn chạy khỏi bến Vọng Giang trong tiếng reo hò, huýt sáo rộn rã, vang dội của đám đông phu bến.

Vũ Chính An cẩn thận đóng dấu triện đỏ tươi của huyện nha lên tờ biên bản, rồi trao một bản sao nguyên vẹn tận tay Thanh Hà. Ông mỉm cười hiền từ, ánh mắt lộ rõ sự khâm phục:

“Liễu nương tử, từ giây phút này trở đi, trước pháp luật nghiêm minh của triều đình và trước công lý của trời đất, nàng là một nữ nhân hoàn toàn tự do. Nàng có toàn quyền định đoạt cuộc đời, tài sản và tương lai của chính mình. Xin chúc mừng nàng đã vượt qua giông bão.”

“Đa tạ Vũ thư lại đại nhân, đa tạ Đào phường bảo và các vị quan sai đã vì lẽ phải, vì công lý mà phân xử công minh, bảo vệ kẻ yếu đuối,” Thanh Hà trân trọng đón lấy tờ biên bản, khẽ cúi mình hành lễ tạ ơn theo đúng phép tắc, giọng nói nàng nghẹn ngào vì xúc động khôn xiết.

Đám đông người xem thấy việc phân xử đã ngã ngũ tốt đẹp bèn dần dần tản ra, ai nấy quay trở lại với nhịp sống mưu sinh bận rộn thường nhật của bến sông. Nhưng trên môi mỗi người phu khuân vác, mỗi bà bán cá đều rạng rỡ nụ cười tươi tắn và ánh mắt khâm phục khôn cùng.

Bác phu than A Sinh cùng mấy anh em thợ nề lại hào hứng vung búa sắt gõ lách cách lên những tảng đá hộc gò Thanh Khê. Tiếng hát hò, tiếng đùa vui lao động lại vang lên rộn rã khắp công trường móng trà lâu. Minh Châu đưa tay lau vội giọt nước mắt còn đọng lại trên má, nàng mỉm cười thật tươi, nắm chặt lấy bàn tay nhỏ bé của Tiểu Mãn và kéo Thanh Du cùng nhau quay trở lại chái bếp tạm để tiếp tục nhóm lửa, chuẩn bị cho mẻ bánh hoa hòe tiếp theo đang chờ vào lò.

Bên bậc thềm đá vừa lát xong phẳng phiu, lúc này chỉ còn lại Thanh Hà và Hàn Thụy đứng bên nhau.

Gió sông buổi sáng thổi lồng lộng qua vạt áo chàm thô, làm tung bay những lọn tóc mai mềm mại lòa xòa bên gò má ửng hồng của nàng. Thanh Hà nâng tờ thư trăn trối viết bằng máu của người chồng quá cố lên ngang ngực. Nàng cẩn trọng, tỉ mỉ gấp lại từng nếp giấy thật ngay ngắn, phẳng phiu rồi cất sâu vào trong bọc áo trước ngực.

Kỳ lạ thay, vào khoảnh khắc này, trong lòng nàng không còn cảm thấy nỗi đau đớn, uất nghẹn hay dằn vặt của chuỗi ngày tăm tối trong quá khứ nữa. Bức thư ấy giờ đây không còn là gánh nặng trói buộc số phận nàng, mà đã trở thành một bằng chứng kiêu hãnh cho sự kiên cường, lòng tự trọng và phẩm giá trong sạch mà nàng đã gìn giữ trọn vẹn bằng chính mồ hôi, nước mắt và ý chí sắt đá của bản thân.

Hàn Thụy đứng cách nàng chỉ nửa bước chân. Chàng nhìn nàng thật lâu, ánh mắt người đàn ông từng dãi dầu bao sóng gió thương trường, từng nếm trải hiểm nguy nơi biên ải bấy giờ phẳng lặng như mặt hồ mùa thu. Trong đôi mắt trầm tĩnh, sâu thẳm ấy tuyệt nhiên không hề có sự thương hại bề trên, cũng chẳng có vẻ trịch thượng, kể cả của một người che chở.

Nơi đáy mắt chàng lúc này chỉ đong đầy sự kính trọng vô bờ bến—đó là sự trân trọng tột cùng dành cho một tâm hồn kiên định, bất khuất, một người phụ nữ đã tự mình đạp bằng mọi định kiến khắt khe, đường hoàng bước ra ánh sáng rực rỡ bằng chính tài năng, nghị lực và phẩm giá cao quý của mình.

“Liễu nương tử,” Hàn Thụy khẽ cất lời, thanh âm trầm ấm, vang vọng hòa vào tiếng sóng vỗ thì thầm vào mạn thuyền dưới chân bến. “Hôm nay, trước thanh thiên bạch nhật và bàn dân thiên hạ, nàng đã tự tay đòi lại được sự tự do và tôn nghiêm vốn dĩ thuộc về mình. Từ nay về sau, con đường thênh thang phía trước hoàn toàn do nàng tự mình định đoạt.”

Thanh Hà khẽ ngẩng đầu lên. Bắt gặp ánh nhìn ấm áp, chứa chan niềm tin cậy tuyệt đối của người đàn ông bên cạnh, lòng nàng dâng lên một cảm xúc bồi hồi khó tả. Nàng khẽ mỉm cười—đó là một nụ cười rạng rỡ, nhẹ nhõm và thanh thản nhất kể từ cái đêm giông bão tuyết rơi nàng đặt chân đến mảnh đất bến đò Vọng Giang này.

“Hàn nhị gia,” giọng nàng nhỏ nhẹ nhưng kiên định như đá tảng. “Con đường phía trước dẫu biết rằng còn nhiều ghềnh thác, bão dông chực chờ, nhưng một khi đã có được sự tự do và tôn nghiêm này, Liễu Thanh Hà ta sẽ không bao giờ phải cúi đầu trước bất kỳ sự bất công hay cường quyền nào nữa.”

Chàng khẽ gật đầu, khóe môi thoáng hiện một nụ cười ấm áp, ánh mắt ánh lên niềm thấu hiểu sâu sắc đến tận tâm can. Chàng hiểu nàng hơn bất kỳ ai trên cõi đời này, hiểu từng nỗi nhọc nhằn, từng khát vọng thầm kín trong lồng ngực nàng. Và chàng biết rõ trong lòng mình, thời điểm thích hợp nhất để ngỏ lời cùng nàng bước chung trên một con đường bình đẳng, danh chính ngôn thuận, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi giữa cuộc đời này đã không còn xa nữa.

Thế nhưng, niềm vui thanh thản ấy chưa kịp lắng đọng trọn vẹn trong lòng đôi người thì một ngọn gió lạ từ phía bắc bỗng thốc mạnh qua mặt sông.

Ngọn gió không còn mang theo hơi mát mẻ của ban mai, mà đột ngột chuyển sang lạnh buốt và rít gào từng cơn giận dữ. Bầu trời phương bắc từ lúc nào đã chuyển sang màu chì xám xịt, đặc quánh và u ám như một khối đá khổng lồ đang từ từ đè nặng xuống những rặng núi xa xa nơi thượng nguồn. Không khí xung quanh bỗng chốc trở nên ngột ngạt, khó thở đến lạ kỳ, mang theo hơi ẩm nồng nặc và mùi tanh nồng của bùn đất phù sa bị cuộn trào từ đáy sông sâu.

Phía đầu cầu tàu, tiếng mõ báo động bằng gỗ mít của điếm sở canh đê bỗng giật liên hồi từng chập ba tiếng dồn dập:

“Cốc! Cốc! Cốc! ... Cốc! Cốc! Cốc!”

Tiếng mõ giục giã xé toạc không gian bến sông, báo hiệu hiểm họa khôn lường đang ập đến từ miền thượng lưu.

Từ Bá đang đứng trên doi đất nhô ra mé sông, nghe tiếng mõ thì sắc mặt bỗng chốc biến đổi nghiêm trọng. Lão vội vã chống cây gậy tre tập tễnh chạy thật nhanh về phía mép nước, mắt nhìn trừng trừng vào chiếc cọc tre sơn vôi đỏ cắm sâu dưới lòng bùn nơi mép bến.

Mặt sông Vọng Giang cuộn sóng gầm vang dữ dội, cọc đo nước vừa cắm sáng nay đã ngập quá vạch cảnh báo đầu tiên.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn