Quán Trà Bên Bến ĐòC.32 / 34
Chương 32

Đơn hàng qua hai bờ

Bản thực đơn tiệc trà dát kim nhũ nằm ngay ngắn trên mặt bàn gỗ mộc, tỏa ra mùi mực xạ quý phái hòa quyện cùng hương thơm dịu nhẹ của bột thông sấy khô. Những nét chữ thảo mềm mại mạ vàng lấp lánh dưới dải nắng hanh hao của buổi xế trưa, nhưng đi kèm với vẻ hoa lệ ấy là con số khách mời khiến bất kỳ chủ quán nào dọc hai bờ sông Vọng Giang cũng phải e dè.

Liễu Thanh Hà khẽ nghiêng đầu, đưa những ngón tay thon thả miết nhẹ qua mép giấy hoa tiên dày dặn. Mặt giấy mịn như lụa dệt, mép cắt thẳng tắp không một sợi xơ thừa, chứng tỏ sự cầu toàn và gia thế lẫy lừng của kẻ gửi trao. Bên ngoài hiên lầu, gió thu từ mặt sông Vọng Giang thốc lên lồng lộng, mang theo hơi nước mát rượi xua đi cái oi nồng sót lại của mùa hạ. Mới chỉ cách đây mấy ngày, dòng nước lũ cuồn cuộn đỏ ngầu còn liếm sát mép hiên, phù sa quánh đặc nay đã rút hẳn, chỉ còn để lại một vệt ngấn mỏng manh xam xám bám trên những tảng đá hộc của bờ kè mới tôn cao. Con kè ba cấp bằng đá tảng vững chãi đã che chở cho mái Trà lâu Thanh Hà vượt qua cơn thịnh nộ của trời đất, và giờ đây, khắp hai bờ sông lại rộn rã cờ hoa ngũ sắc, chuẩn bị cho lễ khánh thành bến thuyền liên thông huyết mạch giữa huyện Thanh Lâm với các châu phủ trù phú miền thượng lưu.

Ngồi đối diện với nàng là Tiền chấp sự của Đại thương hội Đông Giang. Người đàn ông trung niên vận bộ cẩm bào màu xanh lục viền chỉ bạc lấp lánh, vạt áo buông rủ phẳng phiu không một nếp nhăn. Gương mặt ông ta tròn trịa, đôi mắt ti hí nhưng đáy mắt lại sáng quắc sự tinh đời của một kẻ đã dành nửa đời người để cân đo đong đếm từng phân bạc, từng chuyến hàng trên khắp các nẻo đường sông nước. Tiền chấp sự ung dung nâng chén sứ men lam vẽ cảnh sơn thủy, ngắm nhìn sắc nước xanh biếc sóng sánh bên trong, khẽ hít một hơi dài tận hưởng làn khói mảnh mai mang theo hương cốm non mộc mạc rồi mới nhấp một ngụm nhỏ.

Ông chậc lưỡi, gật đầu tấm tắc:

“Nước giếng đá ong gò Thanh Khê thanh ngọt, ngọt từ đầu lưỡi thấm sâu xuống tận cuống họng, lại hãm cùng trà búp nõn Tây Lĩnh vừa độ lửa than hoa gáo dừa, quả đúng là danh bất hư truyền! Liễu chưởng quỹ, ngài xem đó, tổng cộng hai trăm bốn mươi vị thương gia đầu ngành từ kinh kỳ xa hoa, các thương cảng duyên hải mặn mòi và đại diện mười hai thương hội lớn dọc lưu vực con sông này sẽ tề tựu về bến Vọng Giang trong suốt ba ngày ba đêm. Khách buôn đất kinh kỳ miệng lưỡi sành sỏi vô cùng, ngửi hương biết củi đốt lò, nhấp ngụm đoán ra nguồn nước từ suối cạn hay giếng sâu. Đại thương hội Đông Giang chúng tôi quyết định chọn Quán trà Thanh Hà làm nơi chủ trì thực đơn tiệc trà lần này chính là bởi nể phục chữ tín son sắt và danh tiếng đệ nhất vị trà mà nương tử đã giành được trong hội thi xuân vừa qua. Nhưng... quy mô tiệc lần này thực sự không phải chuyện đùa.”

Tiền chấp sự ngừng lại giây lát, ánh mắt sắc sảo khẽ đảo quanh gian phòng tầng hai hãy còn thơm ngát mùi gỗ thông mới xẻ của Trà lâu Thanh Hà. Từng chiếc rèm nứa đan tay tỉ mỉ, từng chậu phong lan rừng treo lơ lửng ngoài hiên đều toát lên vẻ thanh thoát, nhã nhặn, nhưng sự thanh nhã ấy dường như quá bé nhỏ trước một cơn sóng lớn.

“Mỗi ngày ba buổi trà chính: trà sớm đón bình minh, trà trưa đàm đạo và trà chiều ngắm hoàng hôn, xen kẽ với đó là các tuần thưởng trà đêm dưới ánh trăng rằm,” Tiền chấp sự chậm rãi xòe từng ngón tay mập mạp ra tính toán. “Hơn hai trăm thực khách luân chuyển liên tục, đòi hỏi không dưới sáu mươi bộ trà cụ tinh xảo bằng gốm sứ hoa lam đồng bộ, hơn một trăm bàn trà kê sát cảnh sông để khách vừa thưởng vị vừa ngắm thuyền buôn tấp nập, cùng một phường đàn gảy khúc thanh nhã cho xứng tầm giao thiệp của các bậc chủ thuyền vạn lượng. Quán trà của nương tử tuy xây kiên cố hai tầng ngói mũi hài, móng đá ba cấp vững chãi qua mùa lũ lụt, nhưng nếu dồn hết khách quý về đây cùng một lúc, e rằng không gian sẽ chật hẹp, mà nhân sự châm trà, bưng bánh cũng khó lòng chu toàn trọn vẹn. Một chén trà dâng trễ, một chiếc bánh nguội ngắt hay một khúc đàn lỗi nhịp cũng đủ làm phật lòng những vị khách quyền quý vốn quen chốn lầu son gác tía.”

Ở góc bàn phía trong, Thanh Du ngồi ngay ngắn phụ trách nghiên mực. Nghe đến những con số khổng lồ ấy, cậu bé mười ba tuổi không khỏi giật mình, chiếc bút lông cầm trên tay khẽ khựng lại, giọt mực đen nhánh suýt nữa rớt xuống trang giấy nháp. Cậu bé khẽ cắn môi, ngước đôi mắt tròn xoe đầy lo âu nhìn chị gái.

Trên trang giấy nháp trắng tinh, những nét chữ nắn nót của Thanh Du đã kịp vạch ra các phép tính chi tiết đến rợn ngợp: lượng củi nhãn khô cần đốt để giữ lửa lò suốt ba ngày đêm, số gánh nước ngọt phải gánh từ gò đá ong Thanh Khê cách xa ba dặm, số chum trà phải mở nắp niêm phong sáp ong, số lượng thợ bếp cần có để nhào bột, hấp bánh... Quả thật, một quán trà dù có khang trang, kiên cố đến đâu đi chăng nữa cũng không thể nào một mình gánh nổi một đại tiệc mang tầm vóc của cả một thương cảng sầm uất chỉ trong vỏn vẹn năm ngày chuẩn bị.

Thanh Hà vẫn giữ vẻ điềm tĩnh thường nhật như mặt nước hồ thu không gợn sóng. Nàng nghiêng chiếc ấm đất nung, châm thêm một dòng nước sôi già tăm tắp vào chén sứ của Tiền chấp sự. Dòng nước sôi lăn tăn bốc lên làn khói trắng mỏng manh, quẩn quanh nơi sống mũi mang theo hương hoa mộc thanh tao.

Trong đầu nàng, từng khớp tính toán đã bắt đầu ăn khớp và xoay chuyển nhịp nhàng ngay từ khoảnh khắc nhìn thấy con số hai trăm bốn mươi người trên bản thực đơn.

Nếu từ chối, Đại thương hội Đông Giang buộc lòng phải chia nhỏ đơn hàng cho các quán nhỏ lẻ xơ xác, hoặc tệ hơn là tìm về các trà đình xa tít tắp trên huyện thành, danh tiếng bến Vọng Giang sẽ lỡ mất dịp vàng ngàn năm có một để khẳng định vị thế một thương cảng sầm uất. Nhưng nếu vì lòng tham hay tính háo danh mà ôm đồm nhận hết một mình, thì chỉ cần một ấm trà khét mùi than bùn, một mâm bánh dọn chậm trễ nửa tuần hương, hay cảnh tượng khách khứa chen chúc va quẹt nhau trên hiên lầu, toàn bộ uy tín nàng gầy dựng bấy lâu bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu sẽ tan thành mây khói trong chớp mắt.

Muốn nuốt trọn tảng đá lớn, không thể dùng một chiếc thìa nhỏ. Muốn đón dòng nước lớn, hai bờ sông phải cùng mở rộng lòng đò.

“Tiền chấp sự bận tâm rất phải, những điều ngài lo ngại đều là lẽ thường tình của bậc lão luyện phong sương,” Thanh Hà ngước mắt lên, ánh nhìn trong trẻo, điềm đạm mà toát ra một sự đĩnh đạc lạ thường khiến Tiền chấp sự cũng phải nghiêm nét mặt. “Nếu chỉ dựa vào một mái trà lâu mé đông này, dẫu ta có căng hết rèm nứa, kê thêm bàn phụ sát mép bờ kè thì khách phương xa đến cũng chỉ thấy sự chật chội, xô bồ, làm mất đi cái phong thái thong dong, ung dung vốn là linh hồn của việc ẩm trà. Nhưng xin chấp sự cứ yên tâm ký thác bản giao ước nặng tựa ngàn cân này cho Thanh Hà. Ta xin lấy danh dự và chữ tín của Quán trà Thanh Hà ra bảo đảm với ngài: đúng giờ Thìn ngày rằm tháng Tám, đại sảnh hoa lệ nhất đôi bờ sông Vọng Giang sẽ mở rộng cửa đón khách quý; phường đàn sáo thanh tao nhất bến sông sẽ cất lên những khúc tiêu tương tao nhã làm say lòng người; và từng chén trà dâng lên bàn tiệc đều giữ trọn hương vị tuyệt phẩm từ dòng nước mát giếng đá ong Thanh Khê cùng những món điểm tâm tươi mới nhất, thanh tao nhất của đất trời Thanh Lâm.”

Tiền chấp sự thoáng kinh ngạc. Đôi mày rậm của ông nhướng lên, chăm chú quan sát dung mạo của nàng góa phụ trẻ tuổi. Ở nàng không có sự rụt rè của một người đàn bà chốn quê mùa, cũng không có vẻ khúm núm của kẻ đi cầu cạnh mối làm ăn, mà chỉ có sự tự tin vững chãi tựa như ngọn núi đá đứng sừng sững giữa phong ba. Ánh mắt kiên định ấy đã xua tan đi mối hoài nghi cuối cùng trong lòng người chấp sự lão luyện.

Ông bật cười vang sảng khoái, vỗ mạnh tay xuống mặt bàn gỗ mộc, chiếc tráp gấm chứa một nửa số ngân phiếu đặt cọc được đẩy dứt khoát về phía trước:

“Hay! Rất hay! Khí phách này quả không hổ danh người đã thắng giải nhất hội thi trà mùa xuân! Có được lời vàng ngọc này của Liễu chưởng quỹ, Đại thương hội Đông Giang chúng tôi xin trao trọn niềm tin nơi ngài. Ba ngày sau, toàn bộ cờ lệnh, thuyền hoa và các bậc cự thương của thương hội sẽ tề tựu tại bến đò này!”

Ngay khi bóng cỗ xe ngựa hai mã của Tiền chấp sự vừa khuất sau rặng tre đầu cầu tàu, tiếng vó ngựa lộp cộp xa dần trên con đường lát đá, Thanh Hà liền quay ngoắt sang em trai. Nét mặt nàng trở nên vô cùng khẩn trương nhưng rành mạch, dứt khoát:

“Thanh Du, mau mang cuốn sổ dự toán trà cụ, toàn bộ khế ước nguồn trà Tây Lĩnh còn hiệu lực và mài sẵn một nghiên mực đậm mang sang thuyền cho chị. Chúng ta qua bờ tây ngay bây giờ.”

Cậu bé Thanh Du đang thu dọn nghiên bút, nghe thấy thế thì trố tròn hai mắt, chiếc bút lông trên tay run lên bần bật:

“Sang bờ tây ư chị? Chẳng lẽ... chẳng lẽ chị định sang tìm Tống lâu chủ của Trà lâu Nghênh Xuân?”

“Phải,” Thanh Hà mỉm cười, nụ cười rạng rỡ và sắc sảo như ánh nắng mùa thu rọi trên mặt nước. Nàng với tay lấy chiếc nón chóp lá gài bên vách nứa, ánh mắt sáng rực nhìn qua khung cửa sổ tầng hai, hướng thẳng sang bờ bên kia con sông.

Nơi ấy, ngọn lầu ba tầng bề thế sơn son thếp vàng của Trà lâu Nghênh Xuân đang sừng sững vươn cao, mái ngói lưu ly biếc xanh lấp lánh rực rỡ dưới ánh trời chiều.

“Một bàn tay vỗ chẳng nên kêu, một cánh buồm đơn độc khó lòng vượt qua sóng dữ,” Thanh Hà vừa buộc lại dải yếm lụa vừa chậm rãi giảng giải cho em trai. “Bờ tây có hoa lầu rộng rãi thênh thang, có phường đàn hát nức tiếng mười dặm bến sông quy tụ những đào nương tài hoa nhất, có hàng trăm bộ bàn ghế gỗ gụ chạm trổ hoa văn tinh xảo mà quán chúng ta chưa thể sắm nổi. Còn chúng ta có nguồn nước ngọt độc nhất vô nhị từ mạch đá ong sâu thẳm, có những búp trà cổ Mây Rủ vừa vượt lũ an toàn nằm nguyên trong chum sành niêm phong sáp ong, và quan trọng hơn cả, chúng ta có tay nghề làm bánh điểm tâm không đâu sánh bằng. Đây không còn là lúc đôi bên so bì hơn thua từng bát nước hai văn, từng ấm trà vụn vặt, mà là lúc hai bờ sông Vọng Giang phải cùng đứng chung trên một chiếc thuyền lớn để đón lấy ngọn gió lành.”

***

Con đò nan của lão Từ Bá khẽ chao nghiêng một nhịp dưới sức nặng của người bước lên, rồi mái chèo gỗ nghiến quen thuộc cắm sâu vào lòng nước, rẽ sóng êm ả lướt qua dòng Vọng Giang lấp loáng ánh bạc. Gió sông thổi lồng lộng làm tung bay tà áo lam nhạt của Thanh Hà. Chỉ một lát sau, mũi thuyền đã chạm vào gờ đá bờ tây. Gót giày vải mộc mạc của nàng vững vàng đặt lên những bậc thềm đá hoa cương tráng lệ dẫn thẳng vào cửa chính của Trà lâu Nghênh Xuân.

Tống Kim Phượng đang ngồi ở chiếc bàn tròn lớn bằng gỗ trắc khảm ốc xà cừ bảy màu lộng lẫy ngay tại tầng hai lầu hoa. Khi thấy Liễu Thanh Hà bước vào, theo sau là cậu em trai ôm tráp sổ sách kè kè bên hông, bà chủ lừng lẫy của bờ tây không giấu nổi vẻ sững sờ tột độ. Đôi mày lá liễu kẻ đậm vút cao khẽ nhướng lên, chiếc quạt lụa thêu hình đôi chim trĩ vờn hoa mẫu đơn trên tay bà ta khẽ khựng lại giữa không trung.

Mới chỉ năm ngày trước, trong trận lũ dữ cuồn cuộn dâng cao, chính Thanh Hà đã hào phóng xuất hai mươi bè củi khô dự trữ sang cứu nguy cho bếp lò Nghênh Xuân đang ngập ngụa nước bùn, và đổi lại, Kim Phượng đã ra lệnh điều hai chiếc thuyền bầu đáy rộng hỗ trợ di dời những người dân nghèo mé bờ đông lên lánh nạn tại Miếu Gò Cao. Mối thâm thù cạnh tranh gay gắt, những lời gièm pha đay nghiến thuở nào nay đã dần nhường chỗ cho một sự kiêng nể ngấm ngầm giữa hai người đàn bà cùng bươn chải nơi đầu sóng ngọn gió. Thế nhưng, việc Thanh Hà đường hoàng bước chân sang tận sào huyệt của bà ta như thế này vẫn là điều nằm ngoài mọi dự liệu.

“Cơn gió độc nào lại đưa Liễu nương tử thanh cao, băng thanh ngọc khiết của bờ đông vượt sông sang chốn phồn hoa bụi bặm này thế?” Tống Kim Phượng cất giọng lảnh lót, nửa như châm chọc mỉa mai, nửa như thăm dò ý tứ, nhưng ánh mắt sắc sảo vẫn kín đáo ra hiệu cho gã tiểu nhị đứng góc phòng mau chóng dâng nước trà mời khách. “Chẳng lẽ quán trà mới dựng xong móng đá lại thiếu vôi vữa, hay nước lũ rút đi cuốn trôi mất mấy chum trà quý của nương tử rồi?”

Thanh Hà không hề nao núng trước lời nói móc mỉa ấy. Nàng ung dung kéo chiếc ghế gỗ gụ đối diện ra ngồi xuống, phong thái khoan thai, tự tại như đang ở chính trà thất của mình. Nàng không nói một lời thừa thãi, chỉ đưa tay rút cuộn thực đơn dát kim nhũ lóng lánh của Đại thương hội Đông Giang từ trong tay áo ra, chậm rãi trải rộng trên mặt bàn khảm xà cừ, ngay trước tầm mắt của Tống Kim Phượng.

Ánh mắt sắc như dao cau của Tống lâu chủ lập tức quét qua từng dòng chữ viết bằng mực xạ quý phái. Đôi đồng tử của bà ta co rút kịch liệt khi dừng lại ở con số hai trăm bốn mươi vị đại thương gia kinh kỳ và mức thù lao khổng lồ lên tới sáu mươi lượng bạc trắng nguyên đĩnh cho ba ngày tiệc lớn.

“Đại thương hội Đông Giang... tiệc trà thông bến mới?” Giọng Tống Kim Phượng bỗng lạc hẳn đi, chiếc quạt lụa thêu gập phắt lại đánh tách một tiếng khô khốc trên lòng bàn tay. Bà ta ngước phắt mắt nhìn chằm chằm vào khuôn mặt điềm tĩnh của Thanh Hà, lòng ngực phập phồng những cơn sóng ngầm kinh ngạc xen lẫn đố kỵ: “Họ... họ dám bỏ qua một Nghênh Xuân bề thế ba tầng lầu hoa lộng lẫy này, để trao toàn bộ đại tiệc vào tay một quán trà mái lá móng đá mới gầy dựng lại của ngươi sao?”

“Đại thương hội là những bậc sành sỏi, họ chọn người biết hãm trà ngon và giữ trọn chữ tín như vàng, chứ không chọn người chỉ có cái vỏ ngoài hư danh rỗng tuếch, điều đó Tống tỷ tỷ hẳn là người hiểu rõ hơn ai hết,” Thanh Hà cất lời, từng thanh âm nhẹ nhàng như tiếng suối chảy róc rách qua khe đá nhưng lại đanh thép, rõ ràng đến từng chữ. “Họ đã giao toàn quyền quyết định tiệc trà này cho ta. Nhưng ta sang bờ tây tìm tỷ hôm nay không phải để khoe khoang một tờ giấy có giá trị bạc vạn, mà là muốn đưa bàn tay này ra, mời tỷ cùng nắm lấy một cơ hội trăm năm hiếm có.”

Tống Kim Phượng nheo mắt lại, chiếc quạt trên tay gõ nhè nhẹ từng nhịp xuống mặt bàn:

“Ngươi muốn gì? Đừng vòng vo tam quốc nữa, nói thẳng ra xem nào.”

Thanh Du nhanh nhẹn bước lên, trải phẳng một tờ giấy bản trắng muốt ra mép bàn, tay thoăn thoắt mài thỏi mực hoa thị đen nhánh vào nghiên đá, ngòi bút lông nhọn hoắt đã sẵn sàng chờ lệnh. Thanh Hà đưa ngón tay trỏ thon thả chỉ vào từng điều mục đã được nàng suy tính cẩn mật từ trước:

“Nghênh Xuân của tỷ có đại sảnh lầu hoa rộng thênh thang, sức chứa ba trăm thực khách cùng lúc mà không hề có cảm giác chật chội. Tỷ có phường đào nương tài sắc so dây nắn phím tao nhã nhất vùng sông nước, có hơn sáu mươi bộ chén đĩa bằng sứ hoa lam đồng bộ tuyệt đẹp và đội ngũ tiểu nhị được huấn luyện lễ nghi quy củ, bài bản. Nhưng tỷ thiếu cái gì? Tỷ thiếu nguồn nước ngọt thanh khiết từ giếng đá ong Thanh Khê; trà búp tích trữ trong kho của tỷ sau trận lũ vừa rồi chắc chắn đã ngậm ẩm ít nhiều, pha lên sẽ có mùi nồng khét; và quan trọng hơn cả, thực khách kinh kỳ đã quá ngán ngẩm những món điểm tâm béo ngậy đầy dầu mỡ của các đầu bếp thông thường. Ta muốn liên kết hai bờ: Nghênh Xuân cung cấp toàn bộ địa điểm đại sảnh, bàn ghế, trà cụ cao cấp và phường đàn sáo hát xướng. Quán trà Thanh Hà sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ phần linh hồn của đại tiệc: chúng ta phụ trách vận chuyển nước giếng đá ong tinh khiết qua sông bằng thuyền riêng, đích thân ta kiểm soát việc pha chế các tuần trà xanh ướp hoa cùng mười cân trà cổ thụ vách đá Mây Rủ Tây Lĩnh thượng phẩm, và chuẩn bị toàn bộ các món bánh điểm tâm theo mùa tươi mới từng canh giờ chuyển sang.”

Tống Kim Phượng sững sờ ngồi bất động. Trong thoáng chốc, sự kiêu hãnh của một người đàn bà từng xưng bá trên bến sông suốt hai mươi năm khiến cuống họng bà ta nghẹn ứ lại. Bà ta muốn đứng dậy, muốn hất đổ cuộn giấy và xua đuổi người phụ nữ trẻ tuổi này ra khỏi lầu hoa để giữ lấy thể diện. Nhưng rồi, bộ óc sắc bén, thực tế của một thương nhân lão luyện nhanh chóng dập tắt cơn bốc đồng: Nếu xua đuổi Thanh Hà, Nghênh Xuân sẽ chẳng có lấy một xu dính túi, lại còn mang tiếng là kẻ hẹp hòi, ghen ăn tức ở khi đứng nhìn bờ đông làm tiệc; còn nếu bắt tay hợp tác, không những lầu hoa của bà ta sẽ rạng danh khắp chốn kinh kỳ, bước lên một vị thế hoàn toàn mới trong mắt quan phủ và thương hội, mà khoản lợi nhuận khổng lồ kia cũng thừa sức bù đắp toàn bộ những tổn thất, hư hại mà mùa lũ vừa qua đã gây ra cho quán.

“Lợi nhuận chia chác thế nào?” Tống Kim Phượng lạnh lùng hỏi, ánh mắt lóe lên tia nhìn sắc sảo như muốn lột trần mọi toan tính của đối phương.

“Năm - năm,” Thanh Hà dứt khoát không một chút do dự. “Toàn bộ chi phí nguyên vật liệu, tiền công thợ thuyền, tiền bồi dưỡng đào nương đàn sáo sẽ được trừ đều từ tổng số bạc nhận được. Sau khi hai bên đối chiếu sổ sách công khai, minh bạch từng đồng từng cắc, số tiền lời ròng sẽ chia đôi sòng phẳng, không ai hơn ai một phân bạc. Trên thiệp mời bằng giấy hoa tiên dâng lên bàn tiệc của hai trăm bốn mươi vị thương gia sẽ đề rõ ràng từng chữ: *Đại tiệc trà liên hiệp do Trà lâu Nghênh Xuân và Quán trà Thanh Hà đồng phụng biện*. Chúng ta không phân chia ranh giới bờ đông hay bờ tây nữa, trước mặt thương khách bốn phương, chỉ có duy nhất một danh trà bến Vọng Giang!”

Không gian căn phòng tầng hai chìm vào một khoảng lặng nghẹt thở. Tiếng gió sông lùa qua những dải rèm lụa màu cánh sen kêu xào xạc. Tống Kim Phượng nhìn chằm chằm vào đôi mắt trong veo, phẳng lặng và đầy cương nghị của Thanh Hà. Bà ta không tìm thấy trong đôi mắt ấy một chút xảo quyệt hay vụ lợi cá nhân, mà chỉ thấy một sự bao dung, một tầm nhìn khoáng đạt vượt xa những toan tính đàn bà hẹp hòi thông thường.

Một hơi thở dài thốt ra từ lồng ngực Kim Phượng. Khóe môi son khẽ cong lên thành một nụ cười nửa chua chát, nửa bội phục:

“Liễu Thanh Hà à Liễu Thanh Hà... Mụ già này lăn lộn trên bến sông này từ thuở mười lăm tuổi, gặp qua không biết bao nhiêu tay buôn gian bán lận, những kẻ lọc lõi róc thịt người không tanh tưởi, nhưng thực sự chưa từng thấy một người đàn bà nào có lá gan lớn và tầm nhìn khoáng đạt như ngươi. Được! Lập khế ước ngay tại đây!”

Ngòi bút lông trên tay Thanh Du lập tức lướt thoăn thoắt trên mặt giấy bản. Tiếng ngòi bút sột soạt hòa cùng tiếng gió sông. Từng dòng chữ Nôm chân phương, rõ ràng ghi nhận rành rọt từng điều khoản cam kết: trách nhiệm của Nghênh Xuân về trà cụ và mặt bằng; trách nhiệm của Thanh Hà về nguồn nước, lá trà và điểm tâm; nguyên tắc chia sẻ rủi ro nếu có chén đĩa vỡ hay sự cố phát sinh.

Dưới ánh nắng vàng rực của buổi xế trưa, hai bàn tay của hai người đàn bà có ảnh hưởng lớn nhất đôi bờ sông Vọng Giang cùng ấn mạnh dấu chỉ đỏ thắm bằng mực chu sa lên bản khế ước liên kết lịch sử. Một giao kèo sẽ thay đổi vĩnh viễn cục diện buôn bán của cả bến sông.

***

Tin tức về bản giao kèo chấn động lan nhanh như một ngọn lửa gặp gió khô khắp xóm chợ và bến thuyền đôi bờ. Người ta ngỡ ngàng, xôn xao bàn tán, nhưng không ai có thời gian để đứng lại hoài nghi quá lâu, bởi ngay trong buổi chiều hôm ấy, một guồng máy khổng lồ chưa từng thấy đã bắt đầu vận hành hối hả tại bến Vọng Giang.

Tại góc chợ Đông Tân, Đỗ Nguyệt Nương vừa nhận được phong thư ngắn gọn do chính Thanh Du chạy bộ sang trao tận tay. Đọc xong từng dòng chữ của Thanh Hà, người đàn bà đẫy đà lập tức xắn cao hai ống tay áo vải thô, chiếc khăn trùm đầu được buộc chặt lại. Chị bước ra giữa bãi đất trống của kho hàng khô, cất tiếng thét sang sảng làm kinh động cả một góc chợ:

“Các chị em Hội nữ thương đâu hết cả rồi! Mau tập hợp lại đây!”

Chỉ trong chớp mắt, hơn hai chục người phụ nữ buôn bán quanh chợ—từ những bà bán gạo, bán đỗ cho đến những chị gánh rau củ—đều ùa tới quây kín lấy Nguyệt Nương. Không khí tại kho hàng khô bỗng chốc rộn rã tiếng cười nói và tiếng xôn xao bốc dỡ. Đích thân Nguyệt Nương trèo thoăn thoắt lên bồ thóc cao ngất, thọc sâu cả hai cánh tay trần vào từng bao tải nếp để kiểm tra độ khô ráo và hương thơm:

“Các chị em nghe cho rõ đây! Lần này là đại tiệc thông bến lớn nhất mười năm qua của đất Thanh Lâm, là danh dự của muội muội Thanh Hà, cũng là danh dự của cả cái Hội nữ thương chúng ta! Toàn bộ bột nếp dùng làm bánh điểm tâm dâng lên các thương gia kinh kỳ phải là nếp cái hoa vàng vụ mùa muộn, hạt nào hạt nấy phải mẩy tròn, không được lẫn dù chỉ một hạt lép hay một cọng rơm mục, đem giã cối đá phải mịn màng như tuyết đầu mùa! Đường phèn phải xuất từ kho hàng thượng hạng, loại đường mía nấu thủ công tinh luyện trong vắt không một hạt sạn cát, óng ánh như hổ phách! Hội nữ thương chúng ta xuất hàng đúng phẩm cấp cống phẩm, giá gốc không tăng một đồng một cắc, để làm hậu thuẫn vững chắc nhất cho Thanh Hà muội muội!”

Tiếng dạ ran cả góc chợ. Từng đoàn người thoăn thoắt vào việc. Mười cỗ xe bò bánh gỗ kẽo kẹt chất đầy những bao bột nếp thơm lừng, những hũ sành đựng đường phèn tinh khiết, hàng chục gánh ngó sen tươi rói vừa vớt dưới đầm và đỗ xanh lòng vàng ươm nhanh chóng nối đuôi nhau kẽo kẹt hướng về phía chái bếp khang trang của Trà lâu Thanh Hà mé bờ đông.

Tại gian bếp rộng lớn của quán trà, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt như một lò rèn khổng lồ. Ba mươi chiếc lò nướng nhỏ bằng đất nung mới tinh được xếp thành ba hàng dọc thẳng tắp, than hoa gáo dừa đượm lửa hồng rực rỡ không một sợi khói đen. Phạm Minh Châu đứng ở vị trí chỉ huy giữa gian bếp. Nàng búi gọn mái tóc dài sau gáy bằng một chiếc lược gỗ mộc, chiếc tạp dề vải thô trắng quấn quanh eo. Dù khuôn mặt thanh tú ửng hồng lên vì hơi nóng rát bỏng của than củi, nhưng ánh mắt nàng lại lấp lánh sự tự tin và niềm hãnh diện khôn tả. Nàng không còn là cô nương yếu đuối, hoảng loạn của những ngày tháng cơ hàn trước đây nữa, mà nay đã thực sự trở thành một người thợ làm bánh tài ba dưới sự dìu dắt tận tình của Thanh Hà.

Bên cạnh Minh Châu, chị Thục hai tay thoăn thoắt nhào những khối bột nếp dẻo quánh trong chiếc chậu gỗ lớn, thím Mộc cẩn thận canh chừng nồi nước sôi sùng sục để khử vị đắng chát của hoa hòe tươi, cùng với năm người phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn từ Hội nữ thương vừa được nhận vào phụ việc đang nhanh tay nặn từng viên nhân đỗ xanh ngọt bùi.

“Chị Thục ơi, mẻ bánh hoa sen này hấp được bao nhiêu nhịp thở rồi?” Minh Châu vừa nâng một chiếc khay đồng lên vừa cất tiếng hỏi lớn qua tiếng reo sùng sục của nồi nước.

“Đúng ba mươi lăm nhịp thở rồi cô Minh Châu ơi!” Chị Thục quệt mồ hôi trán, cười đáp.

“Tốt lắm! Bánh đậu xanh hoa sen dùng bột năng lọc trong suốt chỉ cần hấp đúng bốn mươi nhịp thở thôi!” Minh Châu nhanh nhẹn chạy lại mép xửng hấp bằng tre, tay thoăn thoắt dùng kẹp tre nhấc nắp xửng ra. Làn hơi nước thơm ngát mùi đậu xanh và sen tươi bốc lên nghi ngút làm mờ cả gian bếp. “Mọi người nhìn xem, khi nào thấy lớp vỏ ngoài chuyển sang màu pha lê trong suốt, để lộ rõ nhụy hoa sen vàng óng ả e ấp bên trong là phải lập tức nhấc vỉ bánh ra ngay kẻo nát vỏ! Còn ba mươi lò than hoa này là dành riêng cho mẻ bánh hoa hòe nướng giòn ráo. Phải canh lửa thật đều, giữ nhiệt liu riu, khi nào vỏ bánh nở phồng xốp, rực lên sắc vàng nâu óng ả như mật ong rừng và tỏa ra mùi thơm thảo mộc the the nơi đầu mũi thì mới đạt chuẩn mực của chưởng quỹ!”

Từng đôi bàn tay khéo léo của những người phụ nữ thoăn thoắt xếp từng chiếc bánh nhỏ nhắn, thanh tao hình cánh hoa sen hé nở và những chiếc bánh hoa hòe vuông vắn vào các khay gỗ lót lá chuối khô đã được hong khói cẩn thận. Mùi hương ngào ngạt của bột nếp mới, vị ngọt ngào của đường mía, mùi thơm ngát của hoa hòe quyện cùng mùi khói củi nhãn khô lan tỏa ngút ngàn, bay qua những mái nhà tranh, bao trùm lên cả một khúc sông mé đông.

Suốt hai ngày hai đêm ròng rã, tiếng chày gỗ giã bột huỳnh huỵch, tiếng lách cách gõ khuôn bánh bằng gỗ đào và tiếng cười nói rộn rã của nhóm thợ nữ không hề ngơi nghỉ dù chỉ một canh giờ.

Trong khi đó, ở ngoài bến nước, không khí lao động cũng sục sôi không kém. Lại Tam cùng tốp phu bốc vác lực lưỡng, mình trần trùng trục bóng nhẫy mồ hôi, dùng những chiếc đòn gánh bằng tre đực dẻo dai gánh từng đôi thùng gỗ nghiến to tướng chứa đầy nước ngọt múc từ mạch đá ong sâu thẳm của gò Thanh Khê. Từng bước chân huỳnh huỵch nện trên cầu tàu gỗ vang lên rộn rã. Nước ngọt mát lạnh được cẩn thận rót vào những chiếc chum da lươn lớn đặt vững chãi trên ba chiếc thuyền tam bản đáy rộng.

Lão Từ Bá ngồi sừng sững nơi đầu mũi đò chỉ huy, chòm râu bạc phơ khẽ bay bay theo từng ngọn gió thu. Ánh mắt lão tràn ngập niềm kiêu hãnh khi nhìn đoàn thuyền chở đầy nước giếng ngọt ngào, chở những bó củi nhãn khô nỏ và hàng trăm tráp bánh đan bằng mây kín gió nối đuôi nhau vượt qua dòng nước bạc, hướng thẳng sang bến Nghênh Xuân rực rỡ ánh đèn.

***

Ngày rằm tháng Tám đã điểm. Tiết trời mùa thu trong vắt như một dải lụa thiên thanh trải dài vô tận, không một gợn mây xám. Mặt sông Vọng Giang phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ dát vàng dưới ánh nắng sớm mai, rực rỡ sắc màu của hàng trăm lá cờ ngũ sắc cắm dọc hai bờ kè đá. Tiếng pháo nổ giòn giã từ bến mới khánh thành hòa cùng tiếng thanh la, tiếng trống hội thùng thình vang dội cả một góc trời, nghênh đón hàng chục chiếc chiến thuyền buôn lớn mũi cong vút, căng buồm no gió từ từ cập bến.

Đại sảnh lầu hoa của Trà lâu Nghênh Xuân hôm nay mở toang toàn bộ các cánh cửa bức bàn ở cả bốn phía để đón trọn làn gió thu lồng lộng từ mặt sông thổi vào. Những dải lụa đỏ thắm buông rủ tha thướt từ trần nhà cao vút, khẽ lay động theo từng cơn gió thoảng. Sáu mươi chiếc bàn trà bằng gỗ trắc đen bóng loáng như gương được xếp đặt ngay ngắn, thẳng tắp trên nền gạch hoa tráng men bóng bẩy.

Trên bục cao lót thảm gấm đỏ, các đào nương tài sắc bậc nhất của Nghênh Xuân trong trang phục lụa mỏng thướt tha, đầu cài trâm ngọc, đôi bàn tay búp măng khẽ nắn phím đàn tranh, so dây tỳ bà, tấu lên những khúc ca thanh tao về cảnh đẹp sông nước hữu tình. Tiếng nhạc êm dịu, dìu dặt như tiếng suối ngàn róc rách, xua tan đi mọi bụi bặm, ồn ã của chốn thương trường trần tục.

Hơn hai trăm vị đại thương gia, chủ thuyền lớn trong những bộ cẩm bào gấm vóc sang trọng lần lượt bước vào đại sảnh. Họ là những bậc cự phú nắm giữ huyết mạch buôn bán tơ lụa, gốm sứ, lâm thổ sản khắp các vùng duyên hải nam bắc, những người vốn đã quá quen thuộc với những buổi yến tiệc xa hoa ngập ngụa rượu thịt béo ngậy chốn kinh thành. Thế nhưng, khi bước chân vào không gian thanh tịnh ngập tràn hương thơm thảo mộc và tiếng đàn êm ái này, ai nấy đều bất giác bước chậm lại, nét mặt lộ rõ vẻ ngạc nhiên và thích thú.

Liễu Thanh Hà vận một chiếc áo dài màu lam nhạt trang nhã, vạt áo buông rủ mềm mại theo từng bước đi uyển chuyển. Mái tóc đen nhánh của nàng được búi gọn gàng sau gáy, chỉ cài duy nhất một chiếc trâm bằng gỗ mộc mạc xua đi mọi nét phù phiếm. Nàng đích thân đứng bên chiếc bàn trà bằng gỗ hương cổ thụ được đặt ngay chính giữa tiền sảnh—nơi hội tụ mọi ánh nhìn của toàn thể thực khách.

Trước mặt nàng là chiếc lò đất nung đỏ rực than hoa gáo dừa không một vệt khói. Chiếc ấm đồng thau cổ kính reo lên những tiếng sôi “tăm tôm” êm ái, thanh thoát như tiếng chim hót đầu cành.

Từng cử chỉ, từng động tác pha trà của Thanh Hà đều đạt đến độ thuần thục, chuẩn xác và ung dung tự tại đến mức mê hoặc lòng người. Nàng dùng nước sôi đầu tráng nóng từng chiếc chén sứ hoa lam mỏng manh như vỏ trứng, đánh thức những búp trà nõn Tây Lĩnh một cách dịu dàng để hương thơm không bị dập tắt bởi nhiệt độ quá gắt, rồi nâng cao chiếc chuyên trà, rót một dòng nước xanh biếc lượn thành một vòng tròn hoàn mỹ quanh dải chén. Dòng trà chảy đều đặn, nhịp nhàng không một giọt rơi vãi ra ngoài, tựa như làn mưa xuân thanh khiết tưới tắm trên những phiến lá sen non.

Tuần trà đầu tiên được những người hầu bàn dâng lên tận tay từng vị khách quý trên những chiếc khay sơn mài đen tuyền.

Dòng nước trà xanh biếc, trong vắt như một khối ngọc bích không tì vết, bốc lên làn khói thơm dịu mùi hoa mộc vườn nhà và thoang thoảng hương cốm mới ngào ngạt của đồng nội. Đi kèm với mỗi chén trà là một chiếc đĩa sứ nhỏ bày hai món điểm tâm thanh nhã: một chiếc bánh hoa hòe nướng vàng ruộm, ráo giòn và một chiếc bánh đậu xanh hoa sen mềm mướt như ngọc thạch lộ rõ nhụy vàng.

Một vị đại thương gia buôn tơ lụa lừng danh đến từ kinh kỳ nâng chén trà bằng cả hai tay với vẻ kính cẩn. Ông khẽ nhắm mắt, hít một hơi thật sâu để đón lấy làn hương thanh tao đang lãng đãng bay lên, rồi mới nhấp một ngụm nhỏ nơi đầu môi.

Đôi mắt từng trải, vốn quen nhìn thấu mọi thói đời lọc lừa của vị cự thương bỗng mở to, ánh lên những tia sáng rực rỡ đầy kinh ngạc:

“Tuyệt diệu! Thật là tuyệt diệu khôn cùng! Nước trà thanh mát lạ thường, tuyệt nhiên không có lấy một chút mùi tanh nồng của bùn sông hay vị chát gắt của phèn chua! Ngụm trà trôi qua cổ họng mà để lại một vị ngọt hậu sâu thẳm, dịu mát thấm thía mãi nơi chân răng! Đây tuyệt đối không thể là thứ nước sông lọc cặn thông thường, mà chắc chắn phải là dòng nước tinh túy chắt lọc từ mạch ngầm đá ong nghìn năm!”

Nói đoạn, ông ta đưa những ngón tay đeo nhẫn ngọc bẻ nhẹ một góc chiếc bánh hoa hòe bỏ vào miệng. Một tiếng “rắc” giòn tan vang lên khe khẽ. Vị ngọt thanh tao, dịu nhẹ của đường phèn hổ phách hòa quyện hoàn hảo với hương hoa hòe mộc mạc thơm ngát; chất bột nếp cái hoa vàng dẻo bùi lập tức trung hòa đi cái vị chát nhẹ tinh tế nơi đầu lưỡi của ngụm trà xanh búp nõn, tạo nên một dư vị êm ái, thanh khiết đến tột cùng.

“Trà ngon gặp bánh quý, như tri kỷ tao ngộ giữa chốn phong trần! Cả đời lão phu xuôi ngược nam bắc mấy mươi năm, từng nếm qua trăm món mỹ vị chốn cung đình xa hoa, nhưng thực sự chưa từng thấy một món điểm tâm nào giữ được trọn vẹn cái vị mộc mạc của đồng nội mà lại đạt đến độ tinh tế, trang nhã nhường này!” Vị đại thương gia kinh kỳ đứng phắt dậy, hai tay nâng cao chén trà hướng về phía chiếc bàn pha trà của Thanh Hà mà cất lời ngợi khen không tiếc lời.

Lời khen ngợi của vị thương gia lão luyện như một mồi lửa châm ngòi cho sự phấn khích của cả đại sảnh. Tiếng xì xào thán phục bỗng chốc rộ lên khắp sáu mươi bàn tiệc, rồi vỡ òa thành những tràng vỗ tay rầm rộ, vang dội lấn át cả tiếng sóng vỗ ngoài bờ kè. Khắp các tầng lầu, các chủ thuyền, các đại chưởng quỹ tranh nhau thưởng thức, trầm trồ thán phục trước sự kết hợp kỳ diệu giữa không gian nguy nga, tráng lệ của Nghênh Xuân và ngón nghề trà bánh thần tình, tao nhã của người góa phụ bến sông.

Đến ngày đại tiệc thứ hai, sự kinh ngạc của thực khách lại được đẩy lên một nấc thang mới. Đó là khoảnh khắc Thanh Hà cho người mở niêm phong những chiếc chum sành ủ kín sáp ong, mang ra loại trà cổ thụ ngàn năm thu hái từ những vách đá Mây Rủ hiểm trở của dãy Tây Lĩnh. Khi những búp trà màu nâu xám phong trần được thả vào dòng nước sôi sủi tăm tôm của giếng đá ong, một làn hương trầm mặc, cổ kính như sương gió đại ngàn lập tức lan tỏa, lấn át mọi tạp niệm. Vị trà cổ thụ đậm đà khí chất non cao hòa quyện cùng bánh bột sen thanh nhiệt mát lịm khiến những bậc thương nhân sành sỏi nhất cũng phải ngây ngất tâm hồn.

Tiếng lành đồn xa, danh tiếng của “Liễu nương tử bến Vọng Giang” như có cánh bay khắp các thuyền buôn lớn nhỏ. Ngay trong ngày tiệc thứ hai và thứ ba, các vị chưởng quỹ không ngớt tìm gặp Thanh Hà, nài nỉ đặt mua trước hàng chục tráp bánh hoa hòe và bánh sen ngọc thạch, cùng những gói trà búp bọc giấy bản để mang về xuôi làm quà biếu quý giá cho gia quyến tận chốn kinh kỳ xa xôi.

Suốt ba ngày ba đêm diễn ra đại hội thông bến, Trà lâu Nghênh Xuân luôn chật kín khách nhưng trật tự, phong thái ẩm trà tao nhã vẫn được giữ gìn trọn vẹn. Không có một ấm trà nào bị nguội khét than, không có một đĩa bánh nào dọn chậm nửa khắc, và không một lời phàn nàn nào thốt ra từ miệng của hai trăm bốn mươi vị khách quý. Sự kết hợp hoàn hảo giữa hai bờ sông đã tạo nên một kỳ tích chưa từng có trong lịch sử bến đò Vọng Giang.

***

Đêm ngày thứ ba, khi chuyến thuyền buôn cuối cùng của Đại thương hội Đông Giang từ từ nhổ neo rời bến trong ánh sáng lung linh của hàng ngàn ngọn hoa đăng trôi bập bềnh trên mặt nước, sự tĩnh lặng, bình yên sâu lắng mới thực sự trở lại với lầu hoa Nghênh Xuân.

Trên chiếc bàn tròn bằng gỗ trắc ở tầng hai, hai ngọn nến sáp ong lớn thắp sáng bừng một góc phòng, rọi sáng một chồng sổ sách dày cộp bằng giấy bản. Tống Kim Phượng ngồi tựa hẳn lưng vào thành ghế gụ, nét mệt mỏi sau ba ngày đêm căng mình điều hành lộ rõ nơi khóe mắt, nhưng đôi mắt sắc sảo của bà ta vẫn sáng quắc khi nhìn chăm chú vào từng phím tính của chiếc bàn tính bằng gỗ mun đặt trước mặt.

Thanh Du ngồi ở phía đối diện, lưng thẳng tắp như cây tùng non. Cậu bé lật giở từng trang giấy đầy ắp những dòng chữ nắn nót, cất giọng đọc mạch lạc, dứt khoát từng mục thu chi từ cuốn sổ do chính tay mình ghi chép:

“Bẩm hai vị chưởng quỹ, tổng số tiền thù lao nhận từ Đại thương hội Đông Giang cho ba ngày đại tiệc trọn gói là sáu mươi lượng bạc trắng nguyên đĩnh. Tiền của các thương nhân mua thêm trà cổ thụ Tây Lĩnh và các tráp bánh điểm tâm mang về thuyền buôn là hai mươi tư lượng và sáu trăm văn tiền kẽm. Như vậy, tổng số tiền thu về của đại tiệc là tám mươi tư lượng sáu trăm văn.”

Cậu bé ngừng lại một nhịp, đưa mắt nhìn hai người phụ nữ rồi lật sang trang kê khai chi phí:

“Về phần các khoản chi phí thực tế: tiền mua củi than gáo dừa và củi nhãn khô nỏ hết ba lượng hai trăm văn; tiền đường phèn hổ phách, bột nếp cái hoa vàng và các loại đỗ hạt lấy từ kho của Hội nữ thương hết tám lượng bốn trăm văn; tiền công trả cho ba mươi thợ bếp, tiểu nhị phụ việc và đội phu gánh nước của Lại Tam hết sáu lượng bạc; tiền thù lao cho phường đàn sáo của Nghênh Xuân hết năm lượng; tiền trừ hao hụt do sứt mẻ hai chiếc chén sứ hoa lam trong lúc rửa dọn là bốn trăm văn tiền kẽm. Tổng toàn bộ chi phí thực tế phải chi trả là hai mươi ba lượng bạc đúng.”

Thanh Du dừng lại, dùng đầu ngón tay nắn nót chỉ vào dòng mực đỏ ghi con số tổng kết ở cuối trang giấy:

“Lợi nhuận ròng còn lại sau khi trừ hết chi phí là sáu mươi mốt lượng sáu trăm văn bạc trắng. Theo đúng bản khế ước liên kết chia đều năm - năm đã ấn chỉ, mỗi bên nhận đúng ba mươi lượng bạc trắng và tám trăm văn tiền kẽm.”

Căn phòng tầng hai im phắc, chỉ còn nghe thấy tiếng gió thu rì rào qua rèm lụa và tiếng nến sáp ong nổ lách tách. Tống Kim Phượng vươn tay cầm lấy cuốn sổ thu chi của Thanh Du, đôi mắt soi xét lướt qua từng cột mục. Từng bó củi nhãn, từng cân đường phèn, từng chiếc chén sứ bị mẻ mép cho đến tiền công của từng gã phu bốc vác đều được ghi nhận trung thực, chi tiết đến từng hào, không hề có một vết tẩy xóa hay một khoản kê khống mờ ám nào. Bà ta lấy tập thẻ tre ghi nhớ của đám tiểu nhị dưới quyền ra đối chiếu, từng con số đều trùng khớp nhau một cách kỳ lạ.

“Cạch!”

Tống Kim Phượng buông bàn tính xuống mặt bàn gỗ trắc, phát ra một âm thanh dứt khoát. Người đàn bà từng trải ngẩng đầu lên nhìn Thanh Hà đang ngồi lặng lẽ, thong dong nhấp từng ngụm nước trà nguội. Trong đáy lòng Kim Phượng, một làn sóng khâm phục mãnh liệt dâng lên, xóa sạch đi những tàn dư cuối cùng của sự đố kỵ, hiềm khích trước đây.

“Sòng phẳng, minh bạch và chu toàn đến từng chân tơ kẽ tóc,” Tống Kim Phượng thở ra một hơi dài, giọng nói trầm xuống, mang một sự chân thành hiếm thấy ở một bà chủ lầu hoa lừng lẫy. “Liễu Thanh Hà, thú thật với ngươi, trước đây mụ già này luôn nghĩ ngươi chỉ là một góa phụ trẻ gặp thời gặp vận, dựa dẫm vào lòng trắc ẩn của đám dân phu bến đò và sự che chở ngấm ngầm của tay buôn ngựa Hàn Thụy mà mở quán kiếm bát cơm qua ngày. Nhưng qua ba ngày đêm đại tiệc vừa rồi, tận mắt chứng kiến cách ngươi điều phối hàng chục con người nhịp nhàng như nước chảy, cách ngươi giữ lửa cho từng lò bánh không một sai sót, và nhìn ngọn bút sổ sách rành rọt, ngay thẳng của đệ đệ ngươi... ta mới thực sự hiểu vì sao người ta lại kính trọng và tin tưởng ngươi đến thế.”

Tống Kim Phượng đứng dậy, tự tay nâng chiếc ấm sứ, rót đầy hai chén trà thơm ngát rồi bưng một chén đưa thẳng về phía Thanh Hà bằng cả hai tay:

“Từ nay về sau, trên khúc sông Vọng Giang này, Nghênh Xuân ở bờ tây, Thanh Hà ở bờ đông. Hai bờ sông ngang hàng đối ẩm, là bạn hàng xứng tầm của nhau, cùng chung tay giữ gìn danh tiếng buôn bán cho bến nước này!”

Thanh Hà mỉm cười rạng rỡ, đôi mắt lấp lánh niềm vui. Nàng đứng dậy đón lấy chén trà từ tay người đàn bà từng là đối thủ đáng sợ nhất của mình. Hai chiếc chén sứ hoa lam khẽ chạm vào nhau đánh “leng keng” một tiếng ngân trong trẻo, vang vọng giữa màn đêm mùa thu tĩnh mịch.

***

Sáng hôm sau, khi những tia nắng bình minh đầu tiên vừa hé rạng dát một lớp vàng lấp lánh lên mặt nước êm ả của dòng Vọng Giang, không khí bến sông đã ngập tràn sức sống mới.

Liễu Thanh Hà khoác chiếc áo choàng màu chàm ấm áp, hai tay ôm chặt chiếc tráp gỗ lim nặng trĩu bước đi trên con đường đá dẫn qua bến đò mé đông. Bên trong chiếc tráp ấy là phần lợi nhuận ba mươi lượng bạc trắng vừa được chia đêm qua, cộng với toàn bộ số tiền bạc tích cóp bấy lâu nay từ những chén trà hai văn, những tráp bánh hoa hòe bán lẻ của quán.

Điểm dừng chân đầu tiên của nàng là sạp hàng khô quen thuộc của Đỗ Nguyệt Nương tại một góc chợ Đông Tân. Khi Thanh Hà bước vào, chiếc nắp tráp gỗ lim bật mở, sáu đĩnh bạc trắng nguyên chất mười tuổi sáng rực cùng hai xâu tiền kẽm bóng loáng được đặt ngay ngắn, vững chãi lên mặt chiếc bàn cân hàng.

Đỗ Nguyệt Nương đang cầm trên tay một bó hành tươi, nhìn thấy cảnh tượng ấy thì sững sờ đến mức đánh rơi cả bó hành xuống nền đất:

“Thanh Hà muội muội... chuyện này... đây là thế nào?” Nguyệt Nương lắp bắp, hai mắt mở to nhìn trân trân vào những thỏi bạc trắng ngời.

“Nguyệt Nương tỷ, đây là mười lượng bạc thanh toán dứt điểm toàn bộ số tiền gạch ngói, vôi bột xây móng kè đá và nguyên liệu làm bánh mà Hội nữ thương đã tin tưởng ứng trước cho muội trong những ngày gian khó nhất,” Thanh Hà bước tới, nắm chặt lấy đôi bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì sương gió buôn bán của người bạn thân thiết, giọng nói run run vì xúc động. “Còn hai lượng bạc này là phần tiền lãi cùng chút lòng thành của muội để cảm tạ công sức các chị em trong hội đã không quản ngày đêm thức trắng gom hàng cho muội suốt thời gian qua. Quán trà Thanh Hà xin hoàn trả đầy đủ, không thiếu của mọi người một phân một cắc!”

Nguyệt Nương nhìn tráp bạc sáng loáng, rồi ngước nhìn khuôn mặt rạng rỡ, thanh thản và đôi mắt ngời sáng niềm kiêu hãnh của Thanh Hà. Những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu bỗng trào ra khỏi khóe mi của người đàn bà buôn bán bươn chải. Chị vứt bỏ mọi e dè, ôm chầm lấy Thanh Hà vào lòng, vừa khóc vừa cười nấc lên:

“Trời phật có mắt! Một người đàn bà góa bụa hai bàn tay trắng dắt em rời khỏi nhà chồng, chịu bao điều tiếng đay nghiến của thiên hạ, mà nay tự mình trả hết nợ nần, dựng nên cơ nghiệp đứng vững như bàn thạch thế này! Thanh Hà ơi, muội đã làm rạng danh cho toàn bộ chị em đàn bà buôn bán đầu đường xó chợ của chúng ta rồi!”

Rời khỏi chợ Đông Tân trong tiếng vỗ tay chúc mừng và những ánh mắt cảm phục của các chị em tiểu thương, bước chân của Thanh Hà nhẹ bẫng tựa như đang lướt đi trên mây. Gánh nặng ngàn cân đè nặng lên vai nàng suốt bao tháng ngày dường như đã vơi đi hơn một nửa. Nàng sải bước quay trở về hiên Trà lâu Thanh Hà lộng gió mé bờ đông.

Dưới giàn hoa hòe rợp bóng mát rượi, những chùm hoa trắng li ti khẽ đung đưa trong gió thu tỏa hương dịu ngọt, bóng dáng cao lớn, trầm mặc của Hàn Thụy đã ngồi chờ ở chiếc bàn trà mộc quen thuộc từ bao giờ. Trên mặt bàn gỗ, chiếc ấm trà xanh do Tiểu Mãn vừa châm đang tỏa khói nghi ngút, hương thơm mộc mạc vấn vương trong không gian tĩnh lặng.

Thanh Hà bước chậm lại, hít một hơi thật sâu rồi tiến đến bên bàn. Nàng đặt chiếc tráp gỗ lim xuống trước mặt người thương nhân Tây Lĩnh. Đôi bàn tay thon thả mở nắp tráp ra, cẩn thận lấy ra mười lăm lượng bạc trắng nguyên đĩnh cùng một lượng hai phân bạc lẻ sáng lấp lánh, nhẹ nhàng đẩy về phía anh:

“Hàn gia, đúng kỳ hạn ước định, Quán trà Thanh Hà xin hoàn trả toàn bộ mười lăm lượng bạc gốc mà ta đã vay của ngài để xây dựng quán, cùng một lượng hai phân bạc tiền lãi tính theo mức bốn phân một năm trong suốt hai mươi bốn tháng qua, đúng như những điều khoản đã ghi nhận trong tờ khế ước năm xưa.”

Hàn Thụy không hề liếc nhìn số bạc trắng sáng lóa trên bàn dù chỉ một lần. Đôi mắt sâu thẳm, phong trần của người đàn ông từng bôn ba khắp các nẻo đường hiểm trở dừng lại rất lâu trên khuôn mặt thanh tú, kiêu hãnh của nàng.

Anh nhìn thấy rõ sự thanh thản tuyệt đối trong đáy mắt nàng—nỗi âu lo triền miên về sự phụ thuộc, gánh nặng nợ nần đè nén lên tâm can người phụ nữ đơn độc suốt hai năm ròng rã nay đã hoàn toàn tan biến không còn dấu vết. Nàng đã tự mình làm được. Nàng đã tự tay dựng nên cơ nghiệp này từ đống gạch vụn, tự tay vượt qua cơn lũ dữ, tự tay trả dứt từng món nợ lớn nhỏ mà không cần phải mang ơn huệ mờ ám của bất kỳ ai, không cần phải cúi đầu nương tựa vào bóng mát của bất kỳ bờ vai nào để đứng vững giữa cuộc đời giông bão.

Một nụ cười khẽ nở trên môi Hàn Thụy—nụ cười dịu dàng, ấm áp và thanh thản nhất mà Thanh Hà từng thấy ở người đàn ông ít nói này.

Anh thong thả thò tay vào trong vạt áo cẩm bào, rút ra một tờ giấy vay nợ đã ngả màu vàng ố vì thời gian, trên góc giấy vẫn còn in rõ dấu điểm chỉ chu sa đỏ thắm của Thanh Hà từ hai năm trước. Trước mặt nàng, trước sự chứng kiến của lão Từ Bá đang ngồi tựa mạn thuyền dưới bến và đôi mắt tròn xoe đầy ngưỡng mộ của Tiểu Mãn, Hàn Thụy cầm lấy chiếc bút lông trên khay trà, nhúng đẫm vào đĩa mực đỏ, rồi dứt khoát vạch một đường thẳng tắp gạch chéo qua toàn bộ những dòng chữ nợ nần.

“Tờ nợ đã tất toán. Từ nay, Liễu Thanh Hà hoàn toàn là chủ nhân duy nhất của Trà lâu Thanh Hà, không còn vướng bận một phân nợ nần với bất kỳ ai trên cõi đời này nữa,” Hàn Thụy khẽ cất lời, giọng nói trầm ấm, vang vọng như tiếng gió sớm thổi qua rừng thông bạt ngàn.

Thanh Hà đứng lặng dưới hiên lầu, hít một hơi thật dài làn gió thu trong trẻo mang theo vị ngọt ngào của phù sa sông Vọng Giang. Trút bỏ được gánh nặng tài chính nghìn cân, cả cơ thể nàng như nhẹ bẫng đi, một niềm vui sướng tự do trào dâng mãnh liệt, cuộn chảy trong từng huyết quản. Cơ nghiệp này, mái ngói cong kiên cố này, từng viên đá hộc vững chãi dưới chân kè kia... tất cả giờ đây đã hoàn toàn thuộc về nàng, được dựng xây bằng chính mồ hôi, trí tuệ kiên cường và đôi bàn tay lao động lương thiện của chính nàng.

Dưới ánh hoàng hôn vàng ruộm rải trên bến sông, Hàn Thụy đứng chờ Thanh Hà bên giàn hoa hòe, tay cầm một phong thư màu thắm chưa từng thấy trước đây.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn