Qua Ga, Có Một Bữa CơmC.9 / 12
Chương 9

Quay lại không đồng nghĩa được đón

Bước xuống sân ga Vinh sau hơn mười tiếng đồng hồ ngồi ghế cứng ê ẩm trên chuyến tàu ngược Bắc, Thư đi bộ thẳng về phía con ngõ quen thuộc lợp mái tôn, nghe rõ tiếng dạ dày cồn cào trong cái nắng trưa gay gắt.

Gió Lào đầu mùa thốc từ phía bãi dồn toa vào con ngõ hẹp, mang theo mùi hăng nồng của đá dăm bám dầu diesel, mùi rỉ sét của những gầm toa hàng phơi mình dưới trời nắng và hơi nóng ran rát phả lên từ những tấm tôn xi măng đã rạn nứt vì nhiệt độ. Khớp gối Thư mỏi nhừ sau một đêm co quắp trên băng ghế gỗ của chuyến tàu SE8. Suốt dọc đường từ dải đất cát miền Trung trở ngược ra đây, cô hầu như không chợp mắt được quá một tiếng trọn vẹn; mỗi nhịp lắc giật của khớp nối toa tàu, mỗi tiếng còi rúc dài xé toạc màn đêm ở các ga tránh đều dội thẳng vào thái dương cô như một chiếc búa gõ nhịp.

Chiếc ba lô trên vai Thư nặng trĩu. Sức nặng ấy không đến từ số hành lý vốn chẳng có thêm món đồ nào mới, mà trĩu nặng bởi chiếc máy thu âm Marantz gãy cổng giắc canon nằm im lìm dưới đáy túi như một khối kim loại thừa thãi. Miếng kim loại gãy góc tì vào bả vai qua lớp vải bố đã sờn mép. Đôi quai ba lô bọc mút xẹp lép cứa nghiến vào xương quai xanh đau nhức, nhưng Thư không buồn đưa tay chỉnh lại. Cô cắm cúi bước đi, hai mắt xót buốt và cay xè vì thiếu ngủ, vì bụi đường ray li ti bám thành một lớp màng ráp rỏng quanh khóe mi. Đôi dép rọ nhựa màu xanh mòn vẹt đế kéo lê từng bước trên nền đất lẫn xỉ than lạo xạo.

Mười một giờ mười lăm phút.

Mặt trời đứng bóng như một chiếc đĩa nung đỏ treo lơ lửng trên nền trời không một gợn mây. Con ngõ dẫn vào cổng phụ khu kho vận vắng tanh, chỉ có tiếng ve sầu ran lên từng chặp nhức nhối từ rặng xà cừ cằn cỗi chạy dọc bức tường bao ngăn cách khu dân cư với bãi vật tư đường sắt. Khác hẳn với cảnh tượng nhộn nhịp, ồn ã của những tốp thợ dồn toa và công nhân bốc vác áo ướt đẫm mồ hôi ùa ra ăn trưa như lần trước Thư ghé lại, quán cơm của bà Oanh lúc này đã im ắng lạ thường. Giờ cao điểm tan ca dường như đã trôi qua từ nửa tiếng trước, hoặc giả người ta đã không còn kéo đến đông đúc như mọi bận.

Tấm biển tôn sơn dòng chữ “Cơm bình dân ga Vinh” treo xiêu vẹo bên mép hiên vẫn vương một lớp bụi xám dày cộp. Dưới góc biển, những giọt sơn đỏ vẽ mũi tên chỉ lối vào đã tróc từng mảng lớn, để lộ phần kim loại rỉ vàng hoe. Mùi khói than tổ ong ngai ngái quen thuộc quyện với mùi mỡ cháy và mùi tanh nồng của cá nục kho nghệ đã nhạt dần trong không khí quánh đặc; giờ đây, bao trùm lên gian quán chỉ còn lại mùi nước lau sàn pha xà phòng nồng nặc bốc lên từ nền xi măng ẩm ướt, tanh lạnh và hăng hắc xộc thẳng vào sống mũi.

Bên trong quán, suất cơm cuối cùng dường như vừa rời khỏi mặt quầy. Những chiếc khay kim loại hình chữ nhật bằng inox xếp dọc tủ kính đã sạch trơn thức ăn, đáy khay chỉ còn trơ lại vài vệt mỡ vàng quánh đã nguội ngắt và dăm cọng thì là héo úa bám chặt vào góc viền. Nồi canh bí to tướng đặt trên bệ gạch ở góc bếp đã được nghiêng hẳn sang một bên, lòng nồi cạo nhẵn nhụi không còn lấy một giọt nước dùng, chỉ còn lại những vệt cặn màu vàng nhạt bám khô quanh thành nhôm.

Bà Oanh đang quay lưng ra cửa. Chiếc tạp dề may bằng vải thô màu chàm đã bạc phếch, loang lổ những vết ố của dầu mỡ và nghệ tây, được cột chặt quanh vòng eo thô đậm bằng một nút thắt đôi chắc nịch. Đôi bàn tay gầy guộc, thô ráp, nổi rõ những đường gân xanh ngoằn ngoèo chằng chịt của bà cầm chiếc giẻ lau màu xám vắt kiệt nước, miết mạnh từng đường dứt khoát trên mặt chiếc bàn tôn dài. Mỗi lần cánh tay gầy guộc đưa đi theo một đường cung chuẩn xác, tiếng mặt tôn rung lên phành phạch khô khốc, trần trụi, va đập vào những thanh giằng sắt rỉ sét bên dưới tạo nên thứ âm thanh chói gắt, dội lại giữa bốn bức tường ván ép oi nồng.

Thư dừng chân ngay trước mép hiên, nơi ranh giới giữa cái bóng râm mỏng manh của mái tôn rách và cái nắng chang chang ngoài ngõ cắt nhau thành một vệt xám sẫm trên nền đất. Cổ họng cô khô đắng như ngậm phải tro than, ngực thắt lại thành một khối nghẹn ứ đến khó thở.

Cô không bước thẳng vào trong. Cô không cất tiếng gọi “bác Oanh ơi” đon đả như những lần trước khi bước vào quán với tư cách một phóng viên trẻ mang theo sự tò mò hăm hở, và cô càng không vội vã tháo ba lô để mở lời phân bua hay tìm kiếm một cơ hội giải thích thanh minh. Thư nhớ rất rõ cái cảm giác bồng bột, nông cạn của chính mình trong những ngày đầu bước chân vào các gian bếp ga tàu dọc tuyến đường sắt Bắc - Nam: cái thói sốt sắng muốn người khác phải lập tức lắng nghe mình, cái thói ích kỷ vô thức khi coi nhịp sống mưu sinh nhọc nhằn của những người lao động chân tay chỉ là chất liệu thô ráp, là thứ phương tiện để mình gọt giũa cho kịp hạn nộp bài của tòa soạn.

Cô lặng lẽ lùi lại nửa bước, thận trọng như sợ tiếng đế dép của mình làm vỡ vụn sự tĩnh lặng ngột ngạt này. Cô đặt chiếc ba lô xơ xác xuống góc hiên đất, dựa lưng túi vào một cột gỗ đã mọt ruột, rồi ngồi xuống bậc thềm đá xám đã mòn vẹt mép ngoài cửa.

Bậc đá ráp và nóng hầm hập dưới cái nắng giữa trưa. Hơi nóng xuyên qua lớp vải quần bò thô ráp, truyền thẳng vào da thịt như một vỉ nung, nhưng Thư ngồi ngay ngắn, hai đầu gối khép chặt, hai bàn tay đặt phẳng phiu trên đùi, mắt nhìn thẳng xuống đôi dép rọ nhựa màu xanh đã bạc màu của mình. Đầu ngón chân cái của cô bám đầy bụi đất xám xịt từ đường ray ga Vinh.

Bên trong quán, bà Oanh vẫn cặm cụi làm việc, không một động tác thừa. Bà bước lại gần những dãy bàn, cúi người xếp từng chiếc ghế nhựa đỏ chồng lên nhau. Tiếng nhựa va chạm lách cách vang lên đều đặn, khô khốc. Tiếp đó là tiếng kim loại ken két rợn người khi bà bê từng chiếc khay inox rỗng xếp ngay ngắn thành một chồng cao, rồi bê cả khối kim loại nặng nề ấy đặt gọn vào chậu nhôm lớn chuẩn bị đem ra giếng ngõ rửa. Bà biết có người đang ngồi ngoài hiên. Cái bóng của Thư đổ dài trên nền đất nắng chói chang, in một vệt đen sẫm ngay trước lối ra vào, nhưng người đàn bà bán cơm ấy không hề ngẩng đầu lên. Bà không liếc mắt ra ngoài, cũng chẳng buồn cất tiếng hỏi lấy một câu xem ai đến, đến có việc gì. Sự im lặng giữa tiếng bát đĩa va quệt nặng nề, quánh đặc như một phiên tòa không có tiếng gõ búa, chỉ có sức nặng của sự khinh miệt và thất vọng đang âm thầm trừng phạt kẻ phạm lỗi.

Mười lăm phút trôi qua chậm chạp như cả một thế kỷ. Từng giọt mồ hôi túa ra từ chân tóc sau gáy Thư, lăn dài qua thái dương, chảy ròng ròng xuống sống lưng làm chiếc áo sơ mi bạc màu dính bết vào da thịt. Cơn đói bắt đầu trỗi dậy dữ dội; bụng cô lại réo lên một tràng dài quặn thắt, ruột gan cồn cào như có than củi nung đốt bên trong, bởi suốt từ Diêu Trì ngược ra đây hơn mười mấy tiếng đồng hồ, cô chỉ nhấm nháp nửa chai nước suối đã ấm nước vì nắng và vài mẩu bánh mì khô khốc, dai nhách mua vội ở sân ga Đồng Hới lúc nửa đêm. Nhưng Thư không nhúc nhích. Cô không đổi tư thế ngồi, không đưa tay lên quệt mồ hôi trên trán. Cô kiên nhẫn và câm lặng đợi chờ, đợi cho đến khi tiếng nước xối rửa trong góc bếp dứt hẳn, và tiếng giẻ lau vắt kiệt nước rơi cái *bẹp* trên mặt bàn tôn.

Bà Oanh tháo chiếc tạp dề ra khỏi người. Đôi bàn tay đỏ ửng vì nước xà phòng và nước rửa chén miết nhẹ mép vải, rồi bà vắt chiếc tạp dề lên chiếc đinh mười phân đóng chếch trên vách ván ép ngăn bếp. Bà bước chậm rãi ra phía chiếc bàn tôn gần cửa nhất, kéo một chiếc ghế nhựa thấp màu xanh lá cây đã phai màu rồi ngồi xuống.

Khuôn mặt bà hằn sâu những nếp nhăn quanh khóe miệng và đuôi mắt, làn da sạm đen vì nắng gió miền Trung và hơi nóng hừng hực của bếp than tổ ong qua hàng chục năm đanh lại trong vẻ nghiêm nghị lạnh lùng. Ánh mắt bà nhìn thẳng vào Thư—một ánh nhìn xa cách, sắc nhọn và trần trụi, không còn vương lại một chút ấm áp hay vẻ xởi lởi nào của người phụ nữ từng múc thêm cho cô muôi nước luộc rau muống dầm me giữa buổi trưa kẹt lũ hôm nào, khi cô ướt sũng bước vào quán tìm chỗ trú chân.

“Vào đi,” bà Oanh nói.

Giọng Nghệ của bà trầm đục, khô khốc như tiếng đá dăm lăn dưới bánh sắt toa xe hàng đang chuyển ray.

“Đứng ngồi ngoài đó cho thiên hạ nhìn vào rồi lại bảo cái quán này ngược đãi người làm báo.”

Thư đứng dậy. Đôi chân bị đè nén suốt mười lăm phút trên bậc đá đã tê dại đi từ lúc nào, mu bàn chân ran lên như có hàng ngàn mũi kim châm khiến cô hơi lảo đảo trong tích tắc. Nhưng Thư nhanh chóng lấy lại thăng bằng, siết chặt hai bàn chân xuống mặt đất, bước qua bậu cửa gỗ và tiến đến trước bàn. Cô không kéo chiếc ghế nhựa đối diện ra để ngồi xuống ngang hàng, mà đứng thẳng người, hai bàn tay đan chặt vào nhau phía trước bụng, đầu hơi cúi xuống.

“Cháu chào bác Oanh.”

Bà Oanh nhìn chằm chằm vào Thư. Ánh mắt nghiêm khắc của bà quét một lượt từ mái tóc rối bời bám đầy bụi than của cô gái trẻ, dừng lại ở khuôn mặt bơ phờ hốc hác, bờ môi khô nứt nẻ tróc từng vệt da trắng bợt, và đôi mắt trũng sâu thâm quầng vì những đêm thức trắng trên tàu xe. Nhưng nét mặt bà không hề giãn ra lấy một phân. Không có một thoáng mủi lòng hay thương hại nào xuất hiện trên những nếp nhăn khô cứng ấy. Bà khoanh hai cánh tay trần thô ráp trước ngực, ngả lưng vào thành tường ván, giọng nói rành rọt từng từ ghim thẳng vào không gian ngột ngạt của gian quán:

“Cô quay lại đây làm gì? Tàu xe tốn kém, đường sá xa xôi, cô về để xem tôi còn bán được mấy bát cơm sau cái trò cắt chữ gọt câu của cô à?”

Thư cắn chặt môi dưới, vị mặn của mồ hôi và vị tanh nhạt của vết nứt trên môi ứa ra nơi đầu lưỡi. Cô cúi đầu thấp hơn nữa, giọng nói trầm xuống nhưng không run rẩy:

“Cháu về để nhận lỗi với bác.”

“Nhận lỗi?” Bà Oanh bật ra một tiếng cười khẩy ngắn ngủi, khô khốc, không có lấy một hạt mầm vui vẻ nào bên trong. “Cô có biết ba ngày vừa rồi ở cái góc ga này tôi sống thế nào không? Mấy chục năm nay, từ cái thời còn xách từng xô nước sôi, rửa từng chồng bát thuê cùng bà Hiên, ông Thành ở căng tin ga Hàng Cỏ thời bao cấp, cho đến cái ngày dắt díu về đất Vinh này mở quán cơm hai mươi lăm nghìn cho phu tàu, tôi chưa từng để một ai phải đứng dậy chê một câu là con Oanh này ăn chặn bớt xén phần cơm của người làm ca.”

Bà Oanh ngừng lại. Bàn tay phải của bà đập mạnh xuống mặt bàn tôn một tiếng chát vang dội. Mặt tôn nảy lên, chiếc gạt tàn bằng nhôm đặt ở góc bàn rung bần bật.

“Thế mà đùng một cái, sáng hôm kia, thằng Thắng bên đội dồn toa cầm cái điện thoại dí sát vào mặt tôi. Nó bảo: ‘Bác Oanh, bác lên mạng nói bão giá nên phải bớt đi một chút phần ăn của bọn cháu đấy à? Quán bác tính toán chi li từ bao giờ thế mà bọn cháu không biết?’. Rồi trưa hôm đó, chú Thiết cùng cả tổ bảo trì đường ray bước vào quán, họ không nói không cười như mọi bận. Họ ngồi xuống, nhìn đĩa cơm cá nục, nhìn bát canh bí đỏ bằng ánh mắt dò xét, nghi ngại. Cô có hiểu cái cảm giác người ta quen mặt mình hai mươi năm, ngày nào cũng ăn hạt gạo của mình, tự dưng nhìn mình như một đứa gian lận buôn gian bán lận không?”

Từng câu, từng chữ của bà Oanh rơi xuống như những tảng đá hộc đè nặng lên lồng ngực Thư. Không có lời chửi rủa tục tằn nào, không có tiếng gào thét thịnh nộ mất kiểm soát, chỉ có nỗi uất ức đắng chát, cay nghiệt của một con người lao động tự trọng bị tước đoạt mất điều quý giá nhất mà cả đời họ gìn giữ: danh dự của một người nấu ăn cho thợ ga.

“Họ không chửi bới,” bà Oanh tiếp tục, khóe mắt giật nhẹ từng cơn giận dữ kìm nén. “Người lao động đường ray họ cục mịch lắm, họ không thèm đôi co. Nhưng họ ăn xong, để tiền xuống bàn rồi đứng dậy đi thẳng, không một câu chào, không một câu trêu đùa như mọi ngày. Cái ánh mắt ngờ vực ấy, nó nhục nhã hơn cả việc bị người ta tát vào mặt. Cô ngồi trong phòng máy lạnh, cô cần bài viết cho kịp giờ nộp, cô cần cái tít giật gân để tranh đua với ai đó trên đài, trên báo, cô cắt béng đi nửa câu nói của tôi. Cô biến cái nguyên tắc ‘thà nhận ít suất đi chứ không bớt phần ăn của người đã nhận lời’ thành cái trò bẩn thỉu là ‘phải bớt đi một chút phần ăn để đối phó bão giá’. Cô làm thế mà cô coi được à? Cô coi mạng sống, coi mồ hôi của người ta rẻ rúng đến thế à?”

Trước cơn thịnh nộ chính đáng và đầy tự trọng ấy, Thư đứng yên như hóa đá. Cô không mở miệng viện dẫn một lý do nào. Cô không nói rằng nửa đêm hôm ấy ở sân ga Vinh, cô đã phải đối mặt với tin nhắn đe dọa hủy hợp đồng từ ban biên tập; cô không nói về sự hoảng loạn của mình trước bài viết năm nghìn lượt chia sẻ của Đỗ Anh Quang đang làm mưa làm gió trên mạng; và cô tuyệt đối không hé răng nửa lời về việc mình vừa phải hủy toàn bộ lịch trình các chặng phía Nam, vét sạch những đồng bạc lẻ cuối cùng trong túi để mua chiếc vé tàu SE8 ngược ra đây trong tình trạng gần như kiệt sức.

Những áp lực đó, những khó khăn cơ cực đó là chuyện của riêng cá nhân cô. Chúng là cái giá cô buộc phải trả cho sự nông nổi, cẩu thả và thiển cận của chính mình. Đem những thứ ấy ra kể lể vào lúc này chẳng khác nào sự van xin lòng trắc ẩn một cách đê tiện, hèn hạ, chỉ làm nhơ bẩn thêm lời xin lỗi mà cô mắc nợ người đàn bà này.

Thư gập người xuống một góc chín mươi độ. Cô giữ nguyên tư thế cúi đầu tạ lỗi ấy suốt mấy giây dài đằng đẵng, lắng nghe tiếng nhịp tim mình đập thình thình nơi màng nhĩ. Khi từ từ thẳng người lên, khóe mắt cô đã rơm rớm, cay xè, nhưng ánh mắt cô nhìn thẳng vào bà Oanh, giọng nói cố giữ cho rành mạch, dứt khoát từng âm tiết:

“Cháu sai rồi bác Oanh. Cháu hoàn toàn sai. Lỗi lầm này xuất phát hoàn toàn từ sự nông nổi, cẩu thả và vô trách nhiệm của cá nhân cháu khi nộp bài trong đêm hôm đó. Cháu đã để sự vội vã của mình làm biến dạng sự thật. Không có bất kỳ lý do nào, không có bất kỳ hoàn cảnh nào có thể bào chữa cho việc cháu cắt xén câu nói của bác.”

Thư tháo chiếc túi vải bạt nhỏ đeo chéo bên hông ra. Cô cẩn thận mở khóa kéo, rút từ trong ngăn tài liệu một tờ giấy A4 được in phẳng phiu, không một nếp gấp, rồi bước tới hai bước, đặt tờ giấy xuống mặt bàn tôn ngay trước tầm tay của bà Oanh.

“Đây là văn bản đính chính chính thức của tòa soạn, do chị Thu Hạnh – Trưởng ban biên tập ký duyệt và đóng dấu đỏ. Bản đính chính này đã được đăng công khai ở vị trí nổi bật nhất trên trang chủ chuyên mục từ hôm qua. Trong văn bản nói rất rõ rằng phóng viên đã biên tập sai lệch ngữ cảnh phát ngôn của bác, và khẳng định quán cơm của bác luôn giữ trọn vẹn chữ tín cũng như định lượng khẩu phần phục vụ công nhân đường sắt suốt mấy chục năm qua.”

Bà Oanh liếc mắt nhìn xuống tờ giấy in ngay ngắn với con dấu tròn màu đỏ tươi nổi bật ở góc dưới. Nhưng bà không đưa tay chạm vào nó. Đôi bàn tay thô ráp của bà vẫn đặt im trên đùi. Đối với một người đàn bà bán cơm quanh năm bận rộn với mắm muối, than củi, cặm cụi múc từng muôi canh phục vụ những người thợ áo đẫm mồ hôi bên đường ray, một tờ giấy A4 đóng dấu đỏ từ tít tận Hà Nội xa xôi chẳng có nhiều ý nghĩa bằng cái nhìn hoài nghi của chú thợ dồn toa hay cái lắc đầu im lặng của người thợ bảo trì đường ray khi bước qua bậu cửa quán trưa nay.

Thư không dừng lại ở đó. Cô tiếp tục rút chiếc điện thoại thông minh trầy xước viền nhựa từ trong túi quần ra. Bàn tay cô hơi run nhẹ, nhưng cô nhanh chóng trấn tĩnh, mở thư mục lưu trữ âm thanh của ứng dụng ghi âm, tìm đến tệp tin mang tên `VINH_OANH_RAW_002.WAV`.

“Bác Oanh, đây là toàn bộ đoạn ghi âm gốc trưa hôm đó. Cháu xin phép mở lại để bác nghe toàn bộ câu nói nguyên văn mà cháu đã lưu trữ trong máy.”

Thư bấm nút phát, rồi đặt chiếc điện thoại nằm ngửa trên mặt bàn tôn, ngay cạnh tờ giấy đính chính.

Từ chiếc loa ngoài nhỏ bé của điện thoại, một chuỗi âm thanh hiện trường chân thực ùa ra, lấp đầy gian quán tĩnh lặng: tiếng gió Lào rít qua rặng chuối xào xạc ngoài hiên, tiếng lách cách của bát đĩa nhôm va chạm, tiếng xèo xèo của chảo mỡ trên bếp than, và rồi giọng nói của chính bà Oanh vang lên, trầm ấm, sang sảng và dứt khoát:

*“...Ở cái đất ga này, người ta sống bằng mồ hôi nước mắt. Lúc hàng khan hiếm, giá cả ngoài chợ leo thang, mình buôn bán thì phải biết tính. Nhưng tính là tính thế này: mình phải bớt đi một chút số suất nhận trước, chứ tuyệt đối không bao giờ được bớt phần ăn của người đã nhận lời. Người ta vào ca dồn toa mười hai tiếng, người ta trả hai mươi lăm nghìn là trông cậy vào đĩa cơm no bụng để giữ mạng sống trên đường ray. Mình bớt của người ta một miếng thịt, một cọng rau là mình thất đức...”*

Đoạn băng kết thúc bằng tiếng thở dài và tiếng một chiếc muôi sắt gõ lách cách vào thành nồi nhôm. Tiếng rè nhẹ của micro tích hợp chìm dần vào khoảng không gian oi nồng của buổi trưa.

Bà Oanh ngồi lặng đi. Nghe lại chính giọng nói của mình vang lên trọn vẹn, chân thực, mộc mạc và đầy lòng tự trọng giữa gian quán quen thuộc, lồng ngực người đàn bà lớn tuổi khẽ phập phồng dưới lớp áo bà ba bạc màu. Đôi mắt sắc lạnh ban nãy chớp nhẹ mấy nhịp; cái nhìn gay gắt dường như chùng xuống một thoáng, nhưng vẻ kiên quyết trên gương mặt sạm nắng thì tuyệt nhiên không hề suy giảm.

Bà ngước lên nhìn Thư, ánh mắt xuyên thẳng vào đôi mắt trũng sâu của cô gái trẻ. Giọng bà chậm rãi, gằn từng tiếng một:

“Cô mở cho tôi nghe lại để làm gì? Để chứng minh là cô không bịa đặt từ đầu à? Nhưng cái đoạn người ta nghe trên mạng mấy hôm nay đâu phải là cái này. Người ta chỉ nghe thấy con Oanh này bảo ‘phải bớt đi một chút’. Tôi không cần biết cái máy của cô xịn cỡ nào, đài báo của cô to tát ra sao. Hôm nay cô đã đến đây, tôi chỉ có một yêu cầu duy nhất.”

Thư đứng thẳng người, giọng nghiêm cẩn: “Dạ, bác cứ nói. Cháu sẽ thực hiện đúng như ý bác.”

“Gỡ bỏ toàn bộ,” bà Oanh nói, ngón tay trỏ thô ráp điểm thẳng vào chiếc điện thoại đang sáng màn hình trên bàn. “Xóa sạch mọi trích dẫn âm thanh có giọng của tôi ra khỏi cái bài viết ấy, ra khỏi cái hệ thống lưu trữ gì đó của các cô. Đừng có phát thanh, đừng có cắt ghép bất cứ một giây nào tiếng nói của tôi lên mạng nữa. Quán cơm này là nơi kiếm cơm của tôi và chỗ lót dạ của thợ ga, không phải chỗ để mua vui hay làm mẫu cho thiên hạ bàn tán. Cô làm được việc đó ngay bây giờ không?”

Yêu cầu của bà Oanh dứt khoát như một nhát búa đóng đinh xuống tà vẹt.

Thư hiểu rất rõ hậu quả kỹ thuật và nghiệp vụ của quyết định này. Nếu xóa bỏ toàn bộ trích dẫn âm thanh giọng nói của nhân vật trung tâm, bài viết tập 4 về ga Vinh trên chuyên mục du ký đa phương tiện sẽ hoàn toàn mất đi linh hồn của một tác phẩm báo chí phát thanh. Nó sẽ không còn những tệp âm thanh hiện trường sống động ghi lại tiếng nói mộc mạc mang đậm phương ngữ miền Trung—thứ vốn được kỳ vọng sẽ tạo nên bản sắc độc đáo để cạnh tranh định mức chất lượng với các bài viết khác của tòa soạn. Tập 4 sẽ bị hạ cấp xuống thành một bài ghi chép du ký bằng văn xuôi đơn thuần, một bài viết “câm” nằm lẻ loi giữa một chuỗi bản đồ âm thanh tương tác đang được ban biên tập theo dõi sát sao.

Thế nhưng, Thư không ngập ngừng dù chỉ nửa giây. Không có một thoáng do dự, không một lời kỳ kèo mặc cả, và tuyệt nhiên không có một câu xin xỏ xoa dịu kiểu “bác cho cháu giữ lại một câu ngắn thôi để làm bối cảnh”.

“Dạ được, cháu làm ngay trước mặt bác.”

Thư cầm chiếc điện thoại lên. Bằng những ngón tay nhanh nhẹn và chuẩn xác, cô mở ứng dụng quản lý tệp trên hệ thống lưu trữ đám mây kết nối trực tiếp với máy chủ xuất bản của tòa soạn. Dưới ánh mắt chăm chú, soi xét của bà Oanh, ngón tay Thư chạm vào tệp âm thanh trích đoạn phát thanh đã được cắt dựng sẵn cho tập 4. Cô bấm nút chọn, nhấn vào biểu tượng thùng rác màu đỏ, rồi không chút do dự ấn xác nhận dòng lệnh hiển thị trên màn hình: *Xóa vĩnh viễn khỏi máy chủ.*

Vòng xoay tải dữ liệu hiện lên trên màn hình điện thoại trong hai giây ngắn ngủi, rồi tệp âm thanh biến mất hoàn toàn không để lại dấu vết.

Tiếp đó, Thư mở giao diện bản thảo tập 4 trên trang biên tập nội bộ của hệ thống. Trước mặt bà Oanh, cô dùng ngón tay bôi đen toàn bộ các khung nhúng phát thanh chứa giọng nói của bà, xóa sạch chúng khỏi bài viết. Cô giữ lại nguyên vẹn phần chữ viết tường thuật lại diễn biến thực tế bằng lời văn khách quan, trung thực, thuật lại nhịp làm việc nặng nhọc của quán và cách người phụ nữ này xoay xở nguyên liệu để giữ vững nồi cơm cho thợ tàu giữa bão giá. Xong xuôi, cô bấm nút *Lưu và Cập nhật*, chờ thanh trạng thái chuyển sang màu xanh lục, rồi chìa thẳng màn hình điện thoại ra trước mặt người đàn bà bán cơm.

“Bác Oanh, cháu đã xóa toàn bộ các đoạn phát thanh có giọng nói của bác khỏi hệ thống trang du ký và máy chủ dữ liệu. Bài viết số 4 bây giờ chỉ còn lại phần chữ viết tường thuật về nhịp làm việc của quán cơm và cách bác linh hoạt xoay xở nguyên liệu khi có bão lũ, không còn bất kỳ trích dẫn âm thanh nào nữa. Cháu cũng cam đoan tệp ghi âm gốc trong máy này sẽ chỉ lưu trong ổ cứng cá nhân làm bằng chứng đối soát biên tập, tuyệt đối không bao giờ được phát sóng hay chia sẻ cho bên thứ ba.”

Bà Oanh ghé mắt sát vào màn hình điện thoại. Dù không hiểu hết những thuật ngữ kỹ thuật số hay các biểu tượng phần mềm phức tạp, bà nhìn thấy rất rõ sự dứt khoát, minh bạch trong từng cử chỉ của Thư. Không có sự lén lút, không có vẻ tiếc rẻ hay vùng vằng phụng phịu. Thư đã làm đúng những gì được yêu cầu, chấp nhận tự tay đập vỡ thành quả tác nghiệp mà mình đã tốn bao công sức thu thập, để trả lại sự trọn vẹn và bình yên cho tiếng nói của người khác.

Không khí ngột ngạt, căng thẳng quánh đặc trong gian quán dường như dịu đi đôi chút. Một cơn gió Lào khô rốc từ phía bãi dồn toa thổi thốc qua rặng chuối sau bếp, làm những tàu lá rách tơi tả va đập vào vách ván ép kêu xào xạc.

Bà Oanh thở hắt ra một hơi dài, bờ vai thô đậm hơi chùng xuống. Bà thu ánh mắt nghiêm khắc lại, nhìn Thư từ đầu đến chân một lần nữa. Nét mặt bà vẫn khô khan, không có nụ cười nào hé nở trên khóe môi nứt nẻ, nhưng cái vẻ xa cách băng giá ban đầu đã tan biến. Bà không nói những lời tha thứ dễ dãi hay xáo rỗng kiểu “thôi chuyện lỡ rồi thì bỏ qua”, bởi bà hiểu hơn ai hết, một vết thương về danh dự giữa xóm thợ lao động không thể biến mất chỉ sau một cái bấm nút trên màn hình điện thoại.

“Ngồi xuống đi,” bà Oanh chỉ tay vào chiếc ghế nhựa màu xanh đối diện.

Thư khẽ “dạ” một tiếng thật nhỏ rồi kéo ghế ngồi xuống mép ngoài, hai bàn tay vẫn đặt ngay ngắn trên đùi, lưng giữ thẳng.

Bà Oanh nhìn ra con ngõ vắng ngoài cửa hiên, nơi ánh nắng trưa đang thiêu đốt những viên đá dăm trên đường ray. Giọng nói của bà trầm xuống, mang theo cái trải nghiệm gồ ghề, góc cạnh của mấy chục năm va đập, bươn chải với đời sống ga tàu:

“Cô còn trẻ, đường đi còn dài. Nhưng tôi nói cho cô nghe điều này: người cầm cây bút hay cầm cái máy thu âm, cái quyền lực của các cô lớn lắm, dù các cô có nghĩ mình chỉ là đứa đi làm thuê kiếm nhuận bút đi chăng nữa. Một câu nói của người lao động chúng tôi buột ra giữa lúc mồ hôi nhễ nhại, nó mộc mạc, nó vụng về, nhưng nó là mồ hôi thật, là danh dự thật của người ta. Các cô vội vàng chạy theo cái giờ nộp bài, chạy theo mấy cái lời khen vu vơ trên mạng mà bẻ queo nó đi một tý, thì cái vội vàng ấy nó đổ ụp xuống đầu chúng tôi thành nỗi nhục nhã. Ở cái ga này, người ta tin nhau vì cái bát cơm đầy đặn qua bao mùa mưa lũ, chứ không ai tin nhau vì mấy cái lời hoa mỹ trên đài báo. Nhớ lấy điều đó mà làm nghề.”

“Dạ, cháu xin ghi nhớ lời bác,” Thư đáp, giọng nghẹn lại nơi cuống họng.

Từng lời của bà Oanh như những nhát khắc sâu vào tâm can cô, thấm thía và bỏng rát hơn bất kỳ lời khiển trách quy chuẩn nào của ban biên tập hay những bài học đạo đức nghề nghiệp trừu tượng trên giảng đường đại học.

Bà Oanh đứng dậy, không nói thêm lời nào nữa. Bà quay người, bước những bước nặng nề đi thẳng vào gian bếp phía sau.

Thư ngồi lại một mình bên chiếc bàn tôn dài. Gian quán lại chìm vào sự tĩnh lặng quen thuộc, chỉ còn tiếng nước nhỏ giọt đều đặn từ chiếc vòi rửa chén róc rách trong góc tối. Cô đưa bàn tay lên vuốt lại những sợi tóc lòa xòa bết dính mồ hôi trước trán. Trong lồng ngực cô, khối đá vô hình đè nặng suốt mấy ngày đêm qua dường như vừa được nhấc ra, để lại một khoảng trống rỗng rát bỏng, xót xa, nhưng nhẹ nhõm đến tận cùng tế bào. Cô đã đối mặt với sai lầm lớn nhất của mình, đã không trốn chạy, đã nhận lỗi và đã thực hiện trọn vẹn trách nhiệm trước nhân vật của mình.

Khoảng năm phút sau, tiếng bước chân lẹp xẹp vang lên từ phía sau tấm rèm vải. Bà Oanh từ trong bếp bước trở ra.

Trên tay bà không phải là một đĩa cơm cá nục nhiều cơm hay một bát canh bí đỏ nóng hổi—quán đã hết sạch thức ăn từ lúc trưa trật. Thay vào đó, bà cầm một bọc nhỏ bọc bằng lá chuối tươi đã được hơ qua ngọn lửa than cho mềm và dai, các mép lá được ghém lại vuông vắn, gọn gàng trong lòng bàn tay.

Bà đi đến bên bàn, đặt bọc lá chuối xuống ngay trước mặt Thư.

“Xôi trắng đấy,” bà Oanh nói cộc lốc, giọng vẫn giữ vẻ khô khan như trước. “Sáng nay đồ thừa một ít để ăn sáng, tôi còn nắm lại được một nắm với ít muối vừng. Cầm lấy mà ăn lót dạ dọc đường. Ngồi từ Diêu Trì ra đây cả đêm, bụng réo như máy xay lúa thế kia thì đi đứng nỗi gì.”

Mùi nếp cái hoa vàng quyện với mùi thơm ngai ngái, ấm sực của lá chuối hơ lửa lập tức bốc lên ngào ngạt, đánh thức cơn đói cồn cào đang thiêu đốt dạ dày Thư. Bọc xôi trong lòng bàn tay vẫn còn âm ấm, chắc nịch và đượm đà.

Thư lúng túng luồn tay vào túi quần, rút ra chiếc ví vải mỏng đã sờn rách góc. Cô mở ví ra; bên trong lúc này chỉ còn vỏn vẹn một tờ một trăm nghìn đồng và một tờ hai mươi nghìn đồng nhàu nát—số tiền ít ỏi còn lại sau khi cô phải vét sạch túi để đổi vé tàu SE8 quay ngược ra Bắc. Thư run run rút tờ hai mươi nghìn ra, dùng cả hai tay đưa về phía bà Oanh:

“Bác Oanh... bác cho cháu gửi tiền nắm xôi...”

Bà Oanh gạt phắt tay Thư ra, đôi lông mày rậm hơi nhíu lại, giọng gắt nhẹ:

“Cô cất ngay cái trò đó đi! Tôi cho cô nắm xôi ăn đường vì cô đói lả người ra đấy, chứ quán này không bán xôi thừa. Tôi không lấy tiền của cô, nhưng cô cũng đừng có nghĩ là ăn nắm xôi này xong là tôi với cô thành chỗ thân tình, hay là tôi mời cô ở lại đây chơi. Cơm nước xong xuôi rồi, lỗi cô nhận rồi, việc xóa bài cô cũng làm rồi. Giờ tàu xe thế nào thì cô tự liệu mà đi tiếp.”

Bà dừng lại một chút, ánh mắt lướt qua chiếc ba lô căng phồng, bạc màu đang dựa ở góc hiên ngoài kia, rồi nói thêm một câu ngắn ngủi trước khi quay lưng lại quầy dọn dẹp:

“Lần sau có ghé quán phở thằng Thành ở Nam Định, đừng có chỉ cắm đầu nhìn vào cái nồi nước dùng với ông chủ. Muốn hiểu một cái quán nó chạy ra sao giữa giờ tàu đông, thì mở to mắt ra mà nhìn cái người đứng phụ ghi đơn ấy.”

Nói dứt lời, bà Oanh quay lưng bước thẳng về phía chậu rửa bát ngoài sân sau. Tiếng nước từ vòi xối ầm ầm vào chiếc chậu nhôm lớn, tiếng bát đĩa va chạm loảng xoảng vang lên át đi tiếng gió ngoài ngõ. Bà không ngoái đầu lại nhìn thêm một lần nào nữa.

Không có một lời hứa hẹn nào về những bài viết sau này, không có một lời mời mọc quay lại ga Vinh, và tuyệt nhiên không có sự tha thứ sáo rỗng, dễ dãi kiểu bằng mặt mà không bằng lòng. Mọi thứ dừng lại ở đúng ranh giới của sự sòng phẳng đời thường giữa những con người lao động: lỗi lầm đã được đối diện và giải quyết dứt điểm, bài học xương máu đã được khắc sâu, và một nắm xôi lót dạ cho kẻ lầm lỡ có đủ sức mà bước tiếp con đường của mình.

Thư đứng lặng hồi lâu nhìn theo bóng lưng đẫm mồ hôi của bà Oanh bên vòi nước. Cô khẽ gập người, cúi đầu chào về phía gian bếp, dù biết bà đang bận xối nước và sẽ không nhìn thấy:

“Cháu cảm ơn bác Oanh.”

Thư cầm bọc xôi ấm áp trong hai bàn tay, bước qua bậu cửa ra ngoài hiên. Cô với tay nhấc chiếc ba lô nặng trĩu lên vai, xốc lại quai đeo rồi bước ra khỏi con ngõ lợp mái tôn. Nắng trưa bên ngoài vẫn gay gắt như trút lửa xuống mặt đất, rọi thẳng vào những thanh ray sắt sáng loáng của bãi dồn toa phía xa.

Cô bước chầm chậm về phía một bóng râm dưới tán cây bàng già cạnh bức tường hoa ngăn cách khu kho vận. Dựa lưng vào thân cây bàng xù xì, Thư cẩn thận mở từng lớp lá chuối ra. Nắm xôi nếp trắng tinh, dẻo quánh, bề mặt được rắc một lớp muối vừng giã dập thơm lừng, những hạt vừng đen bóng quyện chặt với những hạt muối hầm trắng đục.

Thư bẻ một miếng xôi nhỏ đưa vào miệng, nhai thật chậm. Vị ngọt đậm đà của hạt nếp mới, vị mặn mòi bùi béo của vừng rang và hạt muối hầm lan tỏa trên đầu lưỡi, thấm dần qua thực quản, xua tan đi vị đắng ngắt của những âu lo, sợ hãi và mệt mỏi đã tích tụ suốt dọc đường thiên lý từ Nam ra Bắc.

Cô vừa ăn từng miếng xôi chắc dạ, vừa lấy chiếc điện thoại từ trong túi ra để kiểm tra kết nối mạng.

Hộp thư đến trên ứng dụng nội bộ nhấp nháy một thông báo mới từ Nguyễn Thu Hạnh. Tin nhắn được gửi đến lúc mười một giờ bốn mươi phút:

*“Đã nhận thông báo cập nhật hệ thống của em. Việc gỡ toàn bộ trích dẫn âm thanh tập 4 để chuyển sang bài ghi chép chữ là quyết định đúng đắn và chuẩn mực trong tình huống này. Ban biên tập chấp thuận phương án xử lý. Yêu cầu nộp bản thảo hoàn chỉnh của tập 4 (ga Vinh) và tập 2 (ga Nam Định) trước 17 giờ chiều thứ Sáu để kịp duyệt tiến độ mùa một. Nhắc lại: chất lượng kiểm chứng tư liệu phải đặt lên hàng đầu.”*

Thư thở phào một hơi ngắn, lồng ngực khẽ giãn ra. Cô khép ứng dụng thư, dùng ngón tay lướt sang mở tệp ghi chú lưu trữ bản thảo tập 2 về quán phở của ông Thành ở ga Nam Định.

Đọc lại từng dòng chữ cô đã viết vội vã sau chuyến đi thực tế lần trước, Thư bỗng khựng lại. Lời nhắc nhở cộc lốc của bà Oanh ban nãy như một luồng điện xẹt qua tâm trí cô, làm bừng sáng những góc khuất mà bấy lâu cô hoàn toàn mù quáng bỏ qua:

*“Đừng có chỉ cắm đầu nhìn vào cái nồi nước dùng với ông chủ. Muốn hiểu một cái quán nó chạy ra sao giữa giờ tàu đông, thì mở to mắt ra mà nhìn cái người đứng phụ ghi đơn ấy.”*

Thư lật giở lại cuốn sổ tay công tác bìa da đã quăn góc trong ngăn kéo ba lô. Những trang ghi chép về ga Nam Định hiện ra với dày đặc các số liệu, chi tiết về kỹ thuật ẩm thực: hai nồi nước dùng riêng biệt sôi sùng sục, bánh phở Nam Trực sợi dẻo chần đúng ba giây trong nước sôi, nước dùng luôn giữ ở mức lưng chừng nồi để kiểm soát độ ngọt của tủy xương... Nhưng về nhịp vận hành thực tế của quán, về sự phối hợp nhịp nhàng giữa ông Thành đứng bếp và người phụ việc đứng bên góc quầy—người cầm xấp phiếu giấy nhỏ, thoăn thoắt kẹp đơn và cũng chính là người từng ghi nhầm đơn phở của cô với chú thợ ga hôm nọ—thì những trang sổ tay của cô gần như trống rỗng.

Bản ghi chép ban đầu của cô chỉ chăm chăm khắc họa hình tượng một ông chủ lão luyện với công thức gia truyền bí truyền, một bức chân dung cá nhân cô độc và thi vị hóa, mà hoàn toàn bỏ quên mất đôi tay thoăn thoắt điều phối luồng khách, trí nhớ kỳ lạ và sự nhẫn nại của người đứng sau quầy vé.

Đó là một lỗ hổng nghiêm trọng trong bức tranh đời sống ga tàu mà cô muốn phục dựng. Một bài viết không thể nào chân thực và có hồn nếu người viết chỉ mải mê nhìn vào kẻ tỏa sáng nhất dưới ánh đèn, mà lạnh lùng bỏ qua những mắt xích thầm lặng đang giữ cho toàn bộ dây chuyền phục vụ không bị đổ vỡ giữa giờ cao điểm đổi chuyến đầy hỗn loạn.

Thư nhìn xuống đồng hồ trên góc màn hình điện thoại: mười hai giờ kém mười lăm.

Chuyến tàu khách địa phương chạy chặng ngắn Vinh – Hà Nội dự kiến sẽ đón khách tại sân ga Vinh vào lúc mười hai giờ ba mươi phút. Theo lịch trình cố định của ngành đường sắt, con tàu ấy sẽ dừng trả khách tại ga Nam Định vào khoảng cuối giờ chiều, vừa vặn lúc phố xá lên đèn và quán phở ga bắt đầu đỏ lửa đón chuyến tàu đêm.

Chiếc vé tàu ghế cứng từ Vinh về Nam Định sẽ tiêu tốn nốt số tiền lẻ cuối cùng còn lại trong chiếc ví vải của Thư. Nhưng lần này, khi đứng giữa cái nắng gay gắt của miền Trung, cô không còn cảm giác hoang mang, sợ hãi hay tủi thân trước sự cạn kiệt tài chính nữa. Những vấp ngã đau đớn vừa qua đã tước đi của cô sự ảo tưởng ngây thơ, sự hối hả nông nổi của tuổi trẻ, nhưng đổi lại, nó trao cho cô một đôi mắt biết nhìn sâu hơn vào bản chất thầm lặng của đời sống lao động.

Thư gói ghém lại phần lá chuối còn sót lại vài hạt xôi dẻo, bỏ cẩn thận vào chiếc thùng rác ven đường rồi rảo bước về phía cổng chính của ga Vinh.

Khi đôi chân cô bước lên những bậc tam cấp bằng đá mài dẫn vào sảnh phòng chờ rợp bóng râm, chiếc điện thoại trong túi quần bỗng rung lên một nhịp ngắn.

Màn hình sáng lên với thông báo tin nhắn từ một số điện thoại lạ, nhưng dãy số đuôi rất quen thuộc—đó chính là số máy bàn cố định của quán Phở Thành ngoài ga Nam Định mà bà Hiên từng cẩn thận chép vào sổ tay cho cô trước ngày cô lên đường:

*“Cô Thư đấy à? Tôi Thành đây. Bác Hiên vừa gọi điện bảo dạo này tàu xe bão lũ thất thường lắm. Chuyến đi của cô vào trong ấy có thuận lợi như dự tính ban đầu hay không? Khi nào quay ra Bắc?”*

Thư dừng chân giữa sảnh ga ồn ã tiếng còi báo chuyển ray và tiếng loa phát thanh rè rè thông báo giờ tàu chạy. Cô nhìn dòng tin nhắn mộc mạc của người đầu bếp già bán phở ngoài Bắc mà khóe mắt bỗng thấy cay cay. Cô hít một hơi thật sâu mùi khói than đá và dầu mỡ quen thuộc của sân ga miền Trung, rồi đưa ngón tay nhẹ nhàng lướt trên bàn phím, chuẩn bị gõ câu trả lời.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn