Qua Ga, Có Một Bữa CơmC.10 / 12
Chương 10

Tô phở của lần báo trước

Ga Nam Định đón Thư trong cơn mưa rào đầu mùa giăng kín sân ke; không còn sự xốc nổi của ngày khởi hành, Thư bước vào quán phở của ông Thành đúng khung giờ ngắn đã được xác nhận trước qua điện thoại, giữa lúc quán đang vào đợt khách đông của chuyến tàu chiều.

Màn nước dội xối xả xuống mái tôn rỉ sét của dãy nhà kho cũ, biến khoảng sân gạch mấp mô trước cổng ga thành những vũng nước đục ngầu loang lổ váng dầu mỡ máy tàu. Gió quẩn từ khoảng trống giữa các đường ray hắt từng luồng buốt lạnh vào mặt tiền ga, cuốn theo mùi than tổ ong ủ nồng nặc trong các góc bếp lò dã chiến, hòa lẫn với mùi bùn non ngai ngái bốc lên từ lớp đá ba-lát ướt sũng. Tiếng còi tàu từ bãi dồn phía xa rúc lên từng chặp khàn đặc, dội vào không gian ẩm ướt một cảm giác gấp gáp, trĩu nặng của những kiếp người lấy sân ga làm kế sinh nhai.

Chiếc balô du lịch kéo nặng trĩu trên vai Thư đã bạc đi một lớp màu rõ rệt sau chuyến đi dằng dặc dọc dải đất miền Trung. Vải dù quanh quai đeo sờn rách, bám đầy bụi đường và hơi muối biển chưa kịp giặt tẩy. Dưới đáy túi, chiếc máy thu âm Marantz chuyên dụng nằm im lìm trong lớp mút chống sốc; cổng cắm canon số một đã lỏng chân tiếp xúc từ đợt công tác trước, chiếc micro định hướng không còn được cắm sẵn chĩa ra ngoài như mũi dùi chực chờ thâu tóm nhịp thở và tiếng nói của người khác. Nó nằm đó như một khối kim loại nguội ngắt, nhắc nhở cô về giới hạn của công nghệ và cái giá đắt đỏ của sự nôn nóng nghề nghiệp.

Trước khi nhảy xuống bậc toa tàu lúc mười sáu giờ mười lăm phút, Thư đã cẩn thận lật giở từng trang cuốn sổ chi tiêu cá nhân bọc bìa ni-lông xám. Những con số ghi chép bằng bút bi mực xanh hiện lên chi li đến từng nghìn lẻ: tiền vé tàu ghế cứng chặng Vinh – Nam Định tiêu tốn của cô khoản tiền chắt bóp cuối cùng trong tài khoản cá nhân. Chuyến ghé chặng bốn mươi lăm phút này hoàn toàn do cô tự ý thu xếp bằng tiền túi, không hề nằm trong bất kỳ khoản mục tạm ứng công tác nào được phòng tài vụ của tòa soạn phê duyệt.

Nguyễn Thu Hạnh đã nói rất rõ ràng qua điện thoại từ đầu tuần: mọi hành trình phát sinh, mọi chặng dừng chân nằm ngoài bản đề cương khung ban đầu đều là trách nhiệm tự thân của cộng tác viên hợp đồng. Nếu phát sinh chi phí ăn ở, đi lại hay rủi ro trễ tàu, Thư phải tự gánh vác mà không có quyền gửi kèm hóa đơn thanh toán. Cô tự trả tiền vé tàu, tự lo bữa ăn lót dạ dọc đường, tuyệt đối không dám để bản thân bước chân vào quán phở của ông Thành với tư thế của một phóng viên đi làm nhiệm vụ được cơ quan bảo trợ quyền năng. Cô quay lại đây chỉ vì món nợ tư liệu chưa trọn vẹn của bài viết số hai, và vì một lời hẹn đối soát danh dự cần được giữ cho đàng hoàng trước khi bản thảo cuối cùng được khép lại.

Quán phở của ông Bùi Văn Thành nằm lọt thỏm ngay cổng phụ dẫn ra bãi bốc dỡ hàng hóa số hai, nơi đường ray phụ rẽ nhánh vào các kho chứa xi măng và bông sợi. Mái hiên quán căng bạt sọc xanh đỏ đã ố màu khói bụi, mép bạt trũng xuống vì sức nặng của nước mưa, chốc chốc lại rùng mình trút từng dòng nước xối xả ràn rạt xuống rãnh thoát nước xây bằng gạch chỉ bên hông đường tàu. Giờ này vừa vặn trùng khớp với lúc chuyến tàu chở khách mang số hiệu ĐN2 từ phía nam ra dừng đón trả khách mười lăm phút theo biểu đồ chạy tàu mùa mưa. Lượng hành khách ùa vào tránh mưa đông nghịt, chen lẫn với tốp thợ máy mặc áo bảo hộ màu xanh công nhân của ga hàng đang lục tục giao ban ca chiều, tạo nên một cảnh tượng hỗn độn, ngột ngạt và đặc quánh hơi người.

Tiếng thìa nhôm gõ vào thành bát sứ lanh canh, tiếng điếu cày rít sòng sọc từ góc quán phả ra làn khói thuốc lào xanh biếc, tiếng quát gọi món đan chéo vào nhau át cả tiếng mưa đang rầm rập giã trên mái tôn thấp lè tè.

"Bàn bốn thêm hai đĩa quẩy giòn, cắt ngắn thôi!"

"Một tái gầu không hành hoa, tráng bát thật kỹ bằng nước sôi cho cụ già đi tàu nằm toa năm!"

"Nước dùng bàn góc ngoài chan đậm một tí, các chú bốc vác vừa dầm mưa xong cần mặn miệng!"

Thư dừng lại ngay mép bạt ướt rượt, cẩn thận tháo chiếc áo mưa giấy mỏng đã rách mép nách, gấp gọn gàng thành một nắm nhỏ rồi nhét sâu vào túi lưới bên hông ba lô. Cô đứng trên tấm bao tải rách đặt ở ngưỡng cửa xi măng, di đi di lại mũi giày bata bết bùn đất cho ráo bớt nước bẩn rồi mới dám bước vào bên trong. Cô không tiến thẳng tới bàn nấu như lần đầu tiên đến đây với chiếc máy thu âm lăm lăm trên tay, mà chủ động nép sát người vào góc cột gạch quét vôi vàng bong tróc từng mảng lớn, nơi vừa đủ tầm nhìn bao quát mà hoàn toàn nằm ngoài luồng di chuyển tất bật của quán.

Khói từ hai chiếc nồi gang cỡ đại đặt trên bệ bếp than đỏ rực bốc lên cuồn cuộn, biến gian quán hẹp chừng hơn hai mươi mét vuông thành một khoảng không mờ ảo, ấm sực và nồng nặc mùi gia vị quen thuộc của phở bò đất Bắc. Mùi thảo quả nướng cháy vỏ quyện chặt với mùi quế chi, hoa hồi, hạt ngò và vị béo ngậy đặc trưng của mỡ bò đang sôi lục bục lấn át hoàn toàn cái ẩm mốc của mưa gió ngoài sân ga.

Ông Bùi Văn Thành đứng sừng sững sau chiếc bàn pha chế bằng gỗ lim đen bóng nước mỡ, hai cánh tay gân guốc thoăn thoắt đưa đẩy nhịp nhàng không một giây ngơi nghỉ. Tay trái ông cầm chiếc muôi nhôm dài cán múc từng dòng nước dùng sôi lăn tăn từ nồi hầm xương truyền qua nồi chan, tay phải thoăn thoắt đảo chiếc vợt sắt chần bánh phở trong nồi nước sôi sùng sục đặt ngay mép ngoài. Chiếc áo may-ô màu cháo lòng của ông ướt đẫm mồ hôi dán chặt vào tấm lưng rộng, từng thớ thịt cuộn lên theo mỗi nhát vung muôi dứt khoát, mặc cho ngoài trời từng đợt gió lạnh đầu mùa đang luồn qua các kẽ ván ghép hở toang hoác.

Ánh mắt Thư dời khỏi đôi tay điêu luyện của ông lão thợ phở, từ từ dừng lại ở chiếc bàn gỗ nhỏ kê chéo góc quầy thu tiền—nơi mà trong chuyến đi vội vã hai tuần trước, cô gần như đã hoàn toàn ngó lơ để dồn hết sự chú ý vào nhân vật chính.

Đứng ở vị trí hiểm yếu ấy là một người đàn ông trạc gần bốn mươi tuổi, dáng người gầy guộc, gương mặt vuông chữ điền sạm nắng gió và đôi mắt trũng sâu vì những đêm dài thức đón tàu hàng. Anh mặc chiếc áo sơ mi cộc tay kẻ sọc xanh đã sờn rách ở mép cổ áo, cổ tay trái đeo một dải chun nịt màu đỏ dùng để giữ các tập phiếu giấy nhỏ cắt vuông vức. Đó là anh Toàn—người mà lần trước Thư chỉ vội vàng ghi chú trong cuốn sổ tay bìa da bằng ba chữ vô thưởng vô phạt: "người phụ việc".

Lời nhắc nhở nghiêm khắc của bà Oanh ở ga Vinh dội về trong tâm trí Thư, rõ ràng và chuẩn xác đến từng chữ. Một quán ăn nép mình ngoài ga tàu vào giờ cao điểm chưa từng bao giờ và không thể nào vận hành bằng một cá nhân đơn độc, dù người thợ chính có tài hoa đến đâu. Nếu ông Thành là quả tim bơm máu qua những muôi nước dùng sôi bỏng, thì người đàn ông đứng bên góc bàn nhỏ này chính là bộ não điều phối toàn bộ nhịp thở, giữ cho nhịp sống hỗn loạn của gian quán không vỡ vụn trước áp lực của những chuyến tàu đếm ngược từng phút.

Thư chăm chú quan sát từng cử chỉ của anh Toàn. Cách đánh dấu trên những mẩu giấy màu vàng ngà đã có sự thay đổi rõ rệt so với lần cô ghé qua ghi âm dạo nọ. Thay vì dùng một nét gạch chéo đơn giản bằng bút chì dễ nhầm lẫn giữa phở chín và phở tái nạm khi nước mỡ bắn vào, trên đầu mỗi mẩu giấy giờ đây được bấm một lỗ tròn nhỏ bằng chiếc kìm bấm sắt cầm tay nếu là khách ăn tại chỗ, và xé vát một góc nhọn dứt khoát nếu là khách mua vào hộp xốp mang vội lên các toa tàu đang chuẩn bị lăn bánh. Dãy ký hiệu bằng bút chì mỡ đen nhánh hiện lên ngắn gọn, sắc lẹm: chữ "9" cho phở chín truyền thống, chữ "T" cho phở tái, và một dấu móc câu nhỏ uốn cong ở đuôi biểu thị yêu cầu đặc biệt: "nhiều hành hoa, xin nước trong đầu nồi".

Thế nhưng, giữa nhịp gọi dồn dập của gần hai mươi con người đang sốt ruột nhìn đồng hồ đeo tay và ngóng tiếng loa phóng thanh ngoài sân ga, thực tế đời thường nơi xóm đường sắt chưa từng bao giờ phẳng lặng như một bản quy trình chuẩn mực được vẽ ra trên trang giấy biên tập.

"Này chú Toàn, cái bàn ba góc trong của tôi gọi hai bát tái chín từ lúc tàu ngoài bãi chưa kéo còi vào ke, sao giờ lại bưng ra bát nạm gầu toàn mỡ thế này?" Một người đàn ông trung niên mặc áo khoác gió mỏng, tay xách túi du lịch giả da cất tiếng cằn nhằn gay gắt, ngón tay trỏ gõ mạnh xuống mặt bàn gỗ bóng loáng.

Anh Toàn không hề ngẩng đầu lên để đôi co hay phân bua, các ngón tay gầy guộc vẫn thoăn thoắt bấm chiếc kìm sắt vào một mẩu phiếu mới đặt dưới lòng bàn tay:

"Bác thông cảm cho em một chút, nãy tiếng còi tàu dồn toa ngoài bãi to quá, gió lại bạt vào nên em nghe lướt thành nạm gầu. Bác cứ ngồi giữ nguyên đôi thìa đũa giúp em, đúng ba mươi giây nữa có bát tái chín nóng rẫy đổi sang ngay, dứt khoát không trễ giờ tàu lăn bánh của bác đâu ạ!"

Nói vừa dứt câu, anh quay ngoắt nửa người sang phía ông Thành, cất giọng đanh gọn, âm lượng được nén lại vừa đủ để lọt qua tiếng nước sôi ùng ục và tiếng mưa rơi ràn rạt:

"Bác Thành ơi, sửa đơn bàn ba: nhấc bát nạm gầu sang bàn sáu cho hai chú thợ lái máy dồn ca chiều, chần gấp một bát tái chín nhiều bánh cho khách đi chuyến mười sáu giờ ba mươi!"

Ông Thành không hề quay đầu lại, cũng không thốt ra một lời cằn nhằn. Ông chỉ khẽ gật đầu một nhịp rất nhẹ, cơ cổ căng lên dưới lớp da đồi mồi. Chiếc muôi nhôm dài trong tay ông lập tức chuyển hướng trên miệng nồi, lướt qua tảng thịt chín đang treo lủng lẳng trên thanh giằng bằng tre, hạ một nhát dao bản mỏng dứt khoát như tiện gỗ, thái từng lát thịt bò mỏng tang như cánh ve rồi thả gọn ghẽ vào lòng bát tô đã chần nóng.

Dây chuyền phục vụ không hề đứt đoạn dù chỉ một phần mười giây. Không có lời xin lỗi dài dòng rỗng tuếch, không có vẻ bối rối bẽ bàng hay những màn diễn xuất vụng về nhằm che đậy một lỗi sai thường nhật của quán ăn ga tàu. Nhầm lẫn xảy ra như một phần tất yếu của nhịp sống lao động vội vã, nơi con người phải giành giật từng phút với lịch trình đường sắt; và nó được hóa giải bằng chính sự nhịp nhàng, từng trải của hai con người đã đứng tựa lưng vào nhau qua hàng nghìn chuyến tàu ngược xuôi suốt bao năm tháng.

Thư đứng yên bên góc cột, bất giác khẽ mỉm cười tự giễu chính mình.

Trong bản thảo bài viết số hai của loạt phóng sự âm thanh mà cô từng nộp cho ban biên tập, cô đã cố công dùng những tính từ hoa mỹ nhất để nhào nặn nên một hình tượng ông lão nấu phở thần thánh, một cỗ máy ẩm thực hoàn hảo hoạt động với độ chính xác tuyệt đối như một nghệ nhân ẩn dật giữa đời thường. Trong bản thảo cũ ấy, Thư đã thẳng tay gạch bỏ chi tiết người phụ việc nhầm lẫn đơn gọi món trong lần tác nghiệp trước, vì cô cho rằng một chi tiết lộn xộn như thế sẽ làm giảm đi giá trị thanh tao của món ăn, làm mờ đi vẻ đẹp thi vị mà độc giả thị thành quen thưởng lãm qua các trang tạp chí phong cách sống.

Nhưng giờ đây, đứng giữa làn khói mờ ảo và mùi mỡ bò nóng rẫy, cô mới thấm thía rằng chính khoảnh khắc này—tiếng gọi giật ngắn gọn của anh Toàn, mẩu giấy đổi chỗ dưới thanh nẹp nhôm, bát phở tráo sang cho tốp thợ máy chuẩn bị vào ban đêm—mới là mạch máu thực sự nuôi sống quán ăn này. Đó là thứ sự thật mộc mạc, thô ráp mà không một phần mềm chỉnh âm hay ngòi bút duy mỹ nào có quyền gọt giũa để phục vụ cho sự thỏa mãn thẩm mỹ dễ dãi của người nghe đài.

Thấy bóng Thư đứng lặng lẽ bên góc cột quét vôi vàng, ông Thành liếc mắt qua làn khói nước nghi ngút, đôi mày rậm bạc hoa râm khẽ nhíu lại rồi từ từ giãn ra theo nhịp thở đều đặn:

"Cô Thư đấy à? Chuyến này đến sớm hơn giờ tàu chạy mười phút đấy nhỉ. Đi dịch vào mé trong kia mà ngồi, đứng ngay luồng cửa gió lùa bạt hắt ướt hết cả người bây giờ!"

"Cháu chào bác Thành ạ. Cháu vừa xuống tàu chuyến Vinh ra lúc bốn giờ mười lăm." Thư bước lại gần mép quầy pha chế, dừng lại ở khoảng cách đúng một sải tay ngoài tầm với của muôi nước dùng nóng, hai chân đứng nghiêm ngắn. "Cháu xin phép ghé quán đúng bốn mươi lăm phút như đã thưa trước với bác qua điện thoại thôi ạ."

Anh Toàn đưa mắt nhìn Thư. Ánh nhìn của anh ban đầu thoáng chút dò xét, nhưng rồi cơ mặt anh giãn ra khi nhận ra gương mặt cô gái trẻ từng làm đổ chiếc ghế nhựa chắn lối đi của khách chạy bàn trong lần ghé trước. Anh khẽ gật đầu chào một tiếng cộc lốc rồi lại cắm cúi xé một xấp phiếu giấy mới gắn vào dải chun trên cổ tay.

Thư thò tay vào túi áo khoác gió, đầu ngón tay chạm vào bề mặt trơn nhẵn của chiếc điện thoại thông minh. Theo thói quen nghề nghiệp đã ăn sâu vào tiềm thức suốt những tháng ngày tác nghiệp thực địa, các ngón tay cô co lại định rút máy ra, mở khóa màn hình để bật ứng dụng ghi âm giọng nói—cô muốn bắt lấy những thanh âm đối đáp chát chúa, chân thực và đầy tiết tấu giữa ông Thành và người ghi đơn.

Nhưng vừa nhìn thấy ngón tay cô chạm vào mép túi áo khoác, ông Thành đã lập tức khoát chiếc muôi nhôm dài, cán muôi chỉ thẳng xuống mặt sàn gạch ẩm ướt:

"Hôm nay đông khách tàu dồn toa, quán xá ồn ào như vỡ chợ, không có thu với chép gì vào máy móc đâu nhé! Nói một câu với khách phải hét lên ba câu, thu vào đài người ta nghe thấy lại bảo cái quán này chỉ giỏi cãi cọ, gắt gỏng với người ăn. Cất ngay cái máy ấy vào túi đi!"

Giọng ông già đanh lại, thẳng băng như một thanh thép nguội. Không có sự thù hằn hay xua đuổi gay gắt, nhưng âm sắc dứt khoát y hệt như nhát dao pha tảng thịt bò trên thớt gỗ lim, tuyệt nhiên không để lại một kẽ hở nào cho sự nài nỉ hay thương lượng.

Nếu là Thư của hai tuần trước—cô cộng tác viên luôn bị ám ảnh bởi việc phải gom đủ những đoạn âm thanh "đắt giá", những tiếng động hiện trường sống động để chứng minh năng lực với ban biên tập—chắc chắn cô sẽ cảm thấy hụt hẫng, bẽ bàng. Cô sẽ cố nài nỉ xin bác "chỉ thu mười lăm giây tiếng nước sôi làm tư liệu nền", hoặc tệ hơn, sẽ tìm cách đặt lén chiếc điện thoại đang ghi âm lên góc bàn gỗ khi người ta không để ý.

Nhưng sau bài học nhớ đời ở ga Vinh, sau khi phải tự tay xóa sạch từng tệp âm thanh thu trộm trước ánh mắt nghiêm cẩn, thất vọng của bà Oanh, Thư đã hiểu thấu cái giá của sự xâm phạm. Tiếng ồn ào ở đây, sự vất vả tất bật này thuộc về không gian mưu sinh thiêng liêng của những người lao động quanh đường ray. Nó không phải là thứ nguyên liệu thô miễn phí nằm rải rác bên đường để một kẻ ngoài cuộc tùy tiện nhặt nhạnh, cắt xén làm đẹp cho sản phẩm báo chí của mình.

"Vâng ạ, cháu không thu âm đâu bác." Thư lập tức rút tay ra khỏi túi áo, để hai bàn tay trống trơn xuôi theo vạt áo khoác, mắt nhìn thẳng vào ông Thành với vẻ bình thản, chân thành. "Cháu đã cất máy rồi ạ. Hôm nay cháu ghé lại chỉ xin phép được đứng quan sát anh Toàn ghi đơn và hỏi lại bác vài chi tiết kỹ thuật đối soát để sửa lại bài viết cho chuẩn xác thôi ạ."

Ông Thành liếc nhìn cô một cái thật sâu qua làn khói nước đang tỏa ra nghi ngút. Thấy chiếc balô trên vai cô đã được kéo kín miệng khóa đồng, không có đầu micro nào thò ra, không có dây nối lòng thòng giấu dưới cổ áo như lần trước, ánh mắt người thợ già thoáng dịu đi một chút, bờ vai ông hơi hạ xuống:

"Tùy cô. Nhưng muốn đứng thì đứng nép gọn vào góc quầy bên trong, cấm có bước chân vượt qua cái vạch xi măng phân giới hạn kia. Nồi nước sôi một trăm độ dập dềnh suốt ngày, va quệt vào một cái là bỏng tróc da tróc thịt đấy, không đùa được đâu."

Thư khẽ cúi đầu nhận lời, rút từ ngăn ngực áo khoác ra cuốn sổ tay bìa da nhỏ bằng bàn tay và chiếc bút bi ngòi kim loại bấm sẵn. Cô lùi sâu hơn vào góc tường quét vôi vàng, chọn đúng vị trí có thể nhìn rõ cả bàn tay ghi chép thoăn thoắt của anh Toàn lẫn từng động tác vung muôi múc nước của ông Thành, nhưng tuyệt đối không cản trở lối đi hẹp của hai đứa cháu họ đang chạy bàn thoăn thoắt.

Phương pháp ghi chép thực địa đối soát thay thế hoàn toàn cho máy thu âm đòi hỏi một sự tập trung cao độ và tiêu tốn năng lượng tinh thần hơn gấp nhiều lần. Khi không còn điểm tựa là những đường sóng âm lưu trữ sẵn trong thẻ nhớ để có thể thoải mái nghe lại lúc đêm muộn, Thư buộc phải vận dụng tối đa đôi mắt trần và đôi tai mộc của mình. Cô ghi nhanh từng ký hiệu, từng khoảng lặng và từng biến chuyển của nhịp điệu lao động xung quanh quầy phở:

*“16:22 – Tàu hàng kéo còi dài 3 tiếng báo hiệu dồn toa bãi số hai. Quán nhận cùng lúc 7 đơn mới. Toàn dùng ngón trỏ và ngón giữa tay trái kẹp giữ 4 mẩu giấy, tay phải lia bút không cần nhìn mặt bàn. Ký hiệu chữ T hoa có gạch ngang thân = tái nhúng chín tới; chữ T không gạch đuôi móc ngược = tái lăn qua mỡ gừng.”*

Trong một khoảng trống ngắn ngủi chừng mười lăm giây khi anh Toàn vừa xếp xong một xấp phiếu và chờ ông Thành chan nước cho đợt bát tiếp theo, Thư khẽ nghiêng người về phía trước, giữ khoảng cách chừng nửa mét, cất giọng hỏi rất nhỏ:

"Anh Toàn ơi, cho em hỏi nhanh một câu thôi: cái ký hiệu chữ 'N' có vòng tròn khép kín quanh đuôi ở mẩu giấy bàn số năm đằng kia nghĩa là gì thế ạ?"

Anh Toàn quay sang nhìn cô, ánh mắt sắc sảo vẫn không rời khỏi cửa quán nơi có thêm ba người khách mặc áo mưa tiện lợi đang bước vào, trả lời cộc lốc nhưng rành rọt từng tiếng:

"Nước béo để riêng ra một bát con. Mấy anh em lái tàu hàng chạy cung đêm Nam Định – Đồng Hối người ta cần nhiều váng mỡ ngậy để chống lại cái rét luồn trong cabin đầu máy diezen, nhưng họ không muốn chan chung vào bát vì sẽ làm đục bánh phở, mất vị chua thanh của giấm tỏi. Bác Thành nhìn thấy cái khoanh tròn ấy là tự khắc dùng muôi con hớt lớp váng trên mặt nồi hầm xương rót riêng vào cái chén sứ hoa lam."

Thư lia ngòi bút bi thật nhanh, ghi chép cẩn thận từng chi tiết kỹ thuật ấy vào trang giấy: *“Nước béo riêng chén sứ hoa lam – phục vụ thợ lái tàu hàng chạy đêm chống rét cabin. Nồi chan giữ nguyên độ trong veo của sợi bánh phở Nam Trực.”*

"Thế trung bình mỗi ca tàu chiều thế này, anh phải bấm kìm bao nhiêu phiếu giấy hả anh?" Thư hỏi tiếp khi thấy anh Toàn với tay lấy một tập giấy mới cắt từ ngăn kéo gỗ.

"Độ sáu mươi đến bảy mươi phiếu. Hết đợt khách tàu ĐN2 thì đến đợt thợ bốc xếp và gác ghi của ga sang ăn lót dạ trước giờ đổi ca lúc mười bảy giờ. Giấy này là tôi tự tay dùng dao rọc giấy cắt từ rìa mép báo cũ với mấy lớp giấy xi măng bọc hàng hóa hỏng ở ga bãi, chất giấy vừa dày vừa xốp, không sợ lem mực khi dính mỡ bò. Mua mấy tập giấy in sẵn ngoài hiệu sách phố về dùng trơn tuột, dính một giọt nước dùng vào là bút bi tắc mực ngay, không tài nào viết nổi." Anh Toàn đáp đều đều, các ngón tay thoăn thoắt gài liên tiếp ba mẩu phiếu vừa bấm lỗ vào một thanh nẹp nhôm sáng loáng được bắt vít dọc theo thành bàn gỗ lim.

Thư gật đầu cảm ơn, ghi nhận chi tiết thực tế ấy bằng một nét gạch chân đậm dưới đáy dòng chữ. Trong bài viết số hai trước đây, cô từng lãng mạn hóa thanh nẹp nhôm ấy thành "chiếc giá giữ nhịp thời gian của người nghệ nhân", dùng những mỹ từ bay bổng để tán tụng nó như một phát minh mỹ thuật độc đáo. Nhưng thực chất, đó chỉ là một thanh nhôm phế liệu bóc ra từ cánh cửa sổ của một toa xe hàng bị trật bánh thanh lý, được ông Thành mang về đục hai lỗ đinh mười để kẹp giấy, nhằm ngăn những cơn gió lốc thốc từ sân ga vào không thổi bay mất phiếu gọi món của khách.

Mọi chi tiết trong không gian lao động này đều mang một công năng trần trụi, bền bỉ và thực tế đến tận cùng. Nó tồn tại vì nó phục vụ đắc lực cho sự sống còn của quán ăn bên đường ray, chứ không sinh ra để làm phông nền cho những suy tưởng văn chương kiểu cách của những người khách qua đường.

Đúng lúc ấy, cậu thiếu niên phụ việc chừng mười lăm tuổi bưng một chiếc khay nhôm lớn đựng đầy bát đĩa bẩn từ ngoài dãy bàn hiên chạy hớt hải vào trong. Do nền gạch tàu ẩm ướt trơn trượt sau cơn mưa, bước chân cậu bé hơi loạng choạng, miệng la lớn át cả tiếng quạt thông gió:

"Anh Toàn ơi, quầy hết sạch bát tô sạch rồi! Dưới bể rửa nước giếng khoan không kịp tráng nước sôi để chuyển lên đâu!"

Khói từ nồi nước dùng vẫn bốc lên mù mịt như sương mù đầu đông. Ông Thành đang dở tay chần cả cân thịt bò tươi cho ba bàn khách mới vào, hai tay dính đầy mỡ và nước nóng không thể rời vị trí bếp nấu. Anh Toàn thì đang bận bịu bấm phiếu và tính tiền lẻ trả lại cho một tốp khách đi tàu đang nhấp nhổm sợ lỡ giờ tàu chạy.

Nhìn thấy hai chồng bát sứ Hải Dương men trắng tinh đã được tráng nước sôi ráo nước đang nằm chỏng chơ trên chiếc bàn gỗ phụ sát lối đi ngay sau lưng mình, Thư không ngần ngại gập ngay cuốn sổ tay nhét sâu vào túi áo khoác.

"Để chị bê giúp cho một tay!" Thư nói nhanh, giọng dứt khoát.

"Ừ, cô bê hộ hai chồng bát sang mép quầy bên tay trái bác Thành, bước cẩn thận kẻo trơn ngã đấy nhé!" Anh Toàn nói với theo mà hai mắt vẫn dán chặt vào mặt bàn tính tiền.

Thư cẩn thận nhấc từng chồng bát men trắng nặng trịch. Đáy bát sứ còn âm ấm hơi nóng của nước tráng sôi, tỏa ra mùi gốm nung sạch sẽ. Cô đặt chân chậm rãi từng bước một trên nền gạch hoa cũ ẩm ướt, giữ trọng tâm cơ thể thật vững để hai chồng bát không phát ra tiếng va chạm lách cách. Cô đặt chồng bát xuống đúng góc mặt bàn gỗ lim theo vị trí anh Toàn chỉ định, vừa vặn ngay tầm với thuận tay trái của ông Thành mà không che khuất tầm nhìn của ông vào nồi chan nước dùng.

Khi cậu bé phụ việc từ mép sân bước vào định với tay đón lấy chồng bát tiếp theo, Thư lập tức chủ động thu tay lại, lùi nhanh về phía sau đúng ba bước. Lưng cô ép sát vào bức tường quét vôi vàng bong tróc, nhường trọn vẹn khoảng trống lối đi hẹp chỉ vừa một người lách qua cho cậu bé chạy bàn.

Cô tuyệt đối không tự tiện nán lại gần quầy để với tay lấy đũa, xếp thìa hay phụ bấm phiếu như thể mình đã trở thành một người nhà thân thiết sau hai lần ghé quán. Thư ý thức sâu sắc ranh giới của bản thân: cô là một vị khách có hẹn trước, một người quan sát đang mượn tạm một góc nhỏ trong không gian mưu sinh của người khác để kiểm chứng sự thật tư liệu. Vượt qua lằn ranh mỏng manh ấy, sự nhiệt tình xốc nổi thiếu cân nhắc sẽ lập tức biến thành một sự cản trở phiền toái, làm rối loạn nhịp vận hành chuẩn xác của một bộ máy kiếm sống nhọc nhằn.

Cậu bé phụ việc khẽ gật đầu cảm ơn Thư một tiếng thật nhanh rồi thoăn thoắt bốc từng chiếc bát xếp vào giá gỗ cạnh bếp nấu. Dây chuyền phục vụ của quán phở lại tiếp tục lăn bánh êm ru giữa tiếng mưa rào đang ràn rạt trút nước ngoài hiên bạt.

Đến mười sáu giờ bốn mươi phút, hồi còi tàu thứ hai vang lên xé toạc màn mưa chiều ảm đạm. Tiếng còi rúc lên từng đợt dồn dập, báo hiệu chuyến tàu khách ĐN2 bắt đầu chuyển bánh rời ga Nam Định để tiếp tục hành trình xuôi về phía bắc. Tiếng xình xịch trầm đục của đầu máy diezen nặng nề kéo theo đoàn toa xe lăn bánh qua các mối nối đường ray, âm thanh xa dần rồi chìm dần vào màn mưa trắng xóa ngoài bãi hàng.

Dòng khách vãng lai đi tàu trong quán nhanh chóng thu dọn hành lý, tất tả chạy ngược ra sân ke, để lại những chiếc bàn nhựa trống trơn còn vương vãi vài cọng hành hoa và mẩu giấy ăn vo tròn. Quán phở bỗng chốc chùng hẳn xuống, chỉ còn lại ba người thợ bốc vác ngồi nán lại ở chiếc bàn góc ngoài cùng, thong thả rít nốt điếu thuốc lào và nhấp từng ngụm trà đặc nóng rẫy, cùng hai người khách địa phương lớn tuổi đang ăn những miếng phở cuối cùng một cách chậm rãi, khoan thai.

Khói từ hai chiếc nồi gang cỡ đại dường như cũng bớt cuồn cuộn hơn, để lộ ra gương mặt đẫm mồ hôi, đầy những vết nhăn sâu nơi khóe mắt của ông Bùi Văn Thành. Người thợ già thở hắt ra một hơi dài, buông chiếc vợt sắt xuống mép nồi chần, với chiếc khăn bông cũ màu cháo lòng vắt ngang vai lên lau mồ hôi trán.

"Toàn, chần cho cô Thư một bát chín nạm nhiều hành hoa đi. Bát ăn tại chỗ, nhớ múc nước đầu nồi chan cho nóng rẫy nhé." Ông Thành cất tiếng bảo người phụ việc, giọng ông trầm ấm hơn hẳn lúc ban nãy.

"Vâng ạ, em làm ngay đây bác." Anh Toàn đáp lời, ngón tay thoăn thoắt bấm chiếc kìm sắt vào mẩu phiếu giấy cuối cùng trong ngày.

Chưa đầy năm phút sau, một bát phở bò nóng hổi bốc khói nghi ngút được anh Toàn bưng tới, đặt ngay ngắn xuống chiếc bàn gỗ nhỏ kê sát góc tường—chiếc bàn mà Thư đã ngồi thu lu quan sát suốt gần bốn mươi phút đồng hồ qua.

Hơi nóng từ bát phở phả vào mặt Thư, mang theo mùi thơm ngào ngạt của nước hầm xương bò nguyên chất ninh nhừ suốt mười hai tiếng, quyện chặt với hương thơm hăng nồng của hành hoa chần tái và ngò gai thái chỉ. Từng lát thịt nạm bò chín được thái mỏng đều đặn, viền mỡ vàng ươm ôm lấy phần nạc nâu sẫm, xếp lớp lang ngay ngắn trên bề mặt lớp bánh phở Nam Trực màu trắng ngà. Sợi phở ở đây to bản, dẻo dai và dày dặn đặc trưng của vùng đồng bằng ven biển, không hề bị bở nát dù ngập trong nước dùng sôi bỏng. Nước dùng trong veo, không một gợn váng đục, nhưng ánh lên những giọt mỡ bò li ti màu hổ phách lấp lánh dưới ánh đèn tuýp mờ mờ của quán ga.

Thư kéo chiếc ghế đẩu nhựa ngồi xuống đối diện bát phở. Cô mở cuốn sổ tay bìa da đặt bên cạnh chiếc thìa nhôm, hai tay đón lấy đôi đũa tre mộc nhưng chưa vội và bánh vào miệng.

Cô nhìn thật kỹ từng chi tiết hiển hiện trong lòng bát sứ, cẩn thận đối chiếu từng hình ảnh thực tế ấy với những dòng ghi chép vội vã mà mình vừa ghi lại ban nãy: độ trong của làn nước dùng, độ dày của từng lát thịt chín nạm, và lượng hành hoa được rải đều khắp mặt bát theo đúng tỷ lệ mà ông Thành luôn gìn giữ qua nhiều thập kỷ.

Lần này, tuyệt nhiên không có chiếc máy ghi âm Marantz nào nằm chực chờ bên cạnh mép đĩa quẩy; không có dây cáp lòng thòng hay ánh đèn tín hiệu nhấp nháy đỏ rực làm phiền bữa ăn. Ở đây chỉ có một bát phở nóng đúng đơn, đúng hẹn, được làm ra bằng sự tôn trọng trọn vẹn và được trả bằng sự kiên nhẫn quan sát trung thực của một người làm nghề viết lách.

Thư đưa chiếc thìa nhôm múc một ngụm nước dùng đầu tiên đưa lên miệng nếm thử. Vị ngọt đậm đà, sâu lắng của tủy xương bò hầm kỹ tan ra trên đầu lưỡi, một vị ngọt thanh tao hoàn toàn khác biệt với vị ngọt lợ của mì chính hay bột nêm công nghiệp. Vị mặn mòi vừa vặn của muối hạt kết hợp với hương thơm của quế chi và thảo quả lan tỏa khắp khoang miệng, xua tan hoàn toàn cái cảm giác lạnh lẽo, ẩm ướt của cơn mưa rào đầu mùa đang quất ràn rạt ngoài hiên ga.

Chiếc điện thoại thông minh nằm trong túi áo khoác của Thư khẽ rung lên hai nhịp ngắn ngủi.

Thư đặt thìa xuống, rút máy ra khỏi túi. Màn hình điện thoại sáng lên, hiển thị thông báo tin nhắn văn bản gửi đến từ trưởng ban biên tập Nguyễn Thu Hạnh:

*“Đã nhận và rà soát xong bản thảo tập 4 sửa đổi (ga Vinh) cùng toàn bộ các ghi chú đối soát chữ viết của em gửi về sáng nay. Toàn bộ các đoạn trích dẫn âm thanh thu không xin phép đã được kỹ thuật gỡ bỏ hoàn toàn khỏi hệ thống lưu trữ. Bản thảo bài viết văn xuôi đạt yêu cầu kiểm tra thực tế, giữ đúng ngữ cảnh tôn trọng đời sống nhân vật. Ban biên tập ghi nhận tinh thần chịu trách nhiệm và nỗ lực khắc phục sai sót rất kịp thời của em.”*

Thư khẽ thở phào một hơi dài, một gánh nặng tâm lý đè nặng lên lồng ngực cô suốt cả tuần lễ vừa qua dường như vừa được trút bỏ phần nào. Thế nhưng, dòng tin nhắn tiếp theo của Thu Hạnh gửi nối tiếp ngay phía dưới lập tức kéo giật cô trở về với thực tế khắc nghiệt của công việc:

*“Tuy nhiên, chị cần thông báo rõ ràng để em chủ động phương án cá nhân: ban lãnh đạo tòa soạn đang tiến hành siết chặt định mức ngân sách hoạt động cuối năm. Đề xuất cấp kinh phí sản xuất cho mùa thứ hai của chuỗi bài du ký âm thanh đường sắt hiện vẫn chưa chắc chắn được duyệt. Suất bài của quý tới sẽ phải đưa ra hội đồng biên tập bình xét lại toàn bộ, dựa trên hiệu quả tương tác thực tế của độc giả và tính ổn định của thiết bị tác nghiệp mà cộng tác viên tự trang bị. Em chuẩn bị tinh thần nộp bản thảo hoàn chỉnh tập 2 (Nam Định) trước 17 giờ chiều thứ Sáu theo đúng hạn chót quy định.”*

Thư nhìn chằm chằm vào những dòng chữ đen sắc lạnh trên màn hình điện thoại một lúc lâu.

Không có bất kỳ lời hứa hẹn ngọt ngào nào về một vị trí biên tập viên chính thức, không có một sự bảo đảm chắc chắn nào cho tương lai của dự án bản đồ âm thanh mà cô đã dốc trọn tâm huyết và những đồng tiền tiết kiệm ít ỏi để theo đuổi dọc theo những sân ga miền Trung. Phía trước mắt cô vẫn là sự bấp bênh cố hữu của một người viết tự do, là áp lực đè nặng của những chỉ tiêu định mức cuối năm và nguy cơ dự án tâm huyết bị dừng lại vĩnh viễn ngay khi mùa phát sóng thứ nhất khép lại.

Cô bấm nút tắt màn hình điện thoại, úp mặt kính xuống mặt bàn gỗ lim đen bóng rồi cầm đôi đũa tre lên, tiếp tục gắp từng sợi bánh phở đưa vào miệng. Bát phở vẫn nóng rẫy, nước dùng vẫn đậm đà, thuần khiết và ngọt lành như chính bản chất mộc mạc vốn có của nó.

Dù đề xuất kinh phí của cô có được duyệt tiếp hay bị gạt bỏ, dù chuyên mục du ký âm thanh có được phát sóng tiếp hay phải dừng lại vĩnh viễn sau tập mười hai, thì cái quán phở nhỏ nép bên cổng phụ bãi hàng này vẫn sẽ đỏ lửa mỗi sớm chiều. Nồi nước dùng của ông Thành vẫn sẽ sôi ùng ục, chiếc kìm bấm phiếu của anh Toàn vẫn sẽ lách cách làm việc để đón đưa từng chuyến tàu ngược xuôi bằng sự nhẫn nại bền bỉ của những con người lao động thầm lặng, không cần bất kỳ sự tán tụng hay ghi nhận nào từ những bài viết truyền thông.

Thư ăn cẩn thận đến thìa nước dùng cuối cùng, không để thừa lại một sợi bánh. Cô dùng mẩu giấy ăn lau sạch sẽ mép bàn nơi mình vừa ngồi, cẩn thận gập cuốn sổ tay nhét sâu vào ngăn kéo an toàn bên trong ba lô du lịch.

Cô đứng dậy, rút từ chiếc ví vải dù bạc màu ra hai tờ tiền giấy mệnh giá hai mươi nghìn đồng phẳng phiu—tổng cộng là bốn mươi nghìn đồng, bao gồm ba mươi nghìn tiền bát phở theo giá niêm yết thông thường và mười nghìn cô tự tính thêm cho hai cốc nước chè tươi ấm nóng đã uống trong lúc ngồi chờ tàu. Cô bước lại gần bàn thu tiền, nơi anh Toàn đang cặm cụi vuốt lại những mẩu giấy báo cũ.

"Anh Toàn ơi, em gửi tiền bát phở với tiền nước chè ban nãy ạ." Thư đặt hai tờ tiền ngay ngắn lên góc bàn gỗ lim.

Anh Toàn cầm lấy hai tờ tiền, dùng ngón tay vuốt thẳng nếp gấp ở góc tờ giấy bạc rồi thả vào chiếc hộp bánh quy bằng sắt tây đựng tiền lẻ dưới gầm bàn. Sau đó, anh rút ra một tờ mười nghìn đồng đưa trả lại cho Thư:

"Nước chè tươi này là bác Thành tự hái lá chè đồi từ quê gửi ra, nấu một nồi to đùng để mời khách lỡ đường vào tránh mưa, quán không tính tiền nước bao giờ. Bát phở của cô ba mươi nghìn thôi, cầm lại mười nghìn này đi."

Thư đưa hai tay nhận lại tờ tiền mười nghìn đồng, khẽ mỉm cười: "Em cảm ơn anh nhiều. Nhờ có anh chỉ dẫn mà chiều nay em hiểu thêm được rất nhiều điều về cách quán mình xoay xở giờ tàu đông."

Anh Toàn chỉ cười xòa, nụ cười làm những nếp nhăn quanh khóe mắt anh xô lại, tay anh lại cầm lấy chiếc kìm sắt bấm thử một tiếng tách giòn giã vào không khí: "Có cái gì to tát đâu mà phải cảm ơn hả cô. Quán xá xóm ga tàu nó thô mộc, luộm thuộm thế đấy, ngày nào cũng lặp đi lặp lại chừng ấy việc quen tay thôi. Thôi, chúc cô lên tàu về Hà Nội bình an nhé."

Thư quay người sang phía bệ bếp nấu, nơi ông Thành đang dùng một chiếc khăn vải ẩm lau chùi thật kỹ mặt bàn gỗ lim đen bóng quanh hai nồi gang:

"Cháu xin phép bác Thành cháu ra ga đón tàu về Hà Nội cho kịp chuyến tối ạ. Cháu cảm ơn bác bát phở rất ngon."

Ông Thành dừng tay lau bàn, ngước đôi mắt già nua lên nhìn Thư. Ánh nhìn của người thợ già qua làn khói mỏng dường như có một thoáng ấm áp, bao dung rất kín đáo:

"Về đi cho sớm cô ạ, trời mưa gió đường trơn thế này tàu dễ trễ giờ lắm đấy. Lần sau nếu có dịp đi tàu qua ga Nam Định mà quán vắng khách, rảnh rang thì cứ vào đây, tôi pha cho ấm chè mạn đặc mà uống. Nhưng nhớ lấy một điều này nhé: đi đâu thì đi, làm cái nghề viết lách hay làm đài làm báo của các cô, cứ phải nhìn cho thật kỹ, nghe cho hết đầu đuôi ngọn ngành câu chuyện của người ta rồi hẵng đặt bút xuống viết. Đừng có hấp tấp, vội vàng chụp giật mà làm khổ, làm phiền người lao động người ta."

"Dạ vâng, cháu ghi nhớ lời bác dặn rồi ạ." Thư cúi đầu chào ông lão thật lễ phép, một cái cúi đầu xuất phát từ sự kính trọng chân thành đối với một người thầy thực tế của đời sống.

Một cuộc hẹn mở được khép lại một cách tự nhiên, không hề định sẵn ngày tháng, không hẹn giờ giấc cụ thể và cũng tuyệt nhiên không kèm theo bất kỳ lời hứa hẹn thân mật quá đà nào. Đó chính là cách những con người lao động quanh sân ga đối đãi với nhau: sòng phẳng, chừng mực, biết tôn trọng giới hạn và luôn giữ một khoảng cách cần thiết để không làm xáo trộn cuộc sống mưu sinh thường nhật của đôi bên.

Thư khoác chiếc ba lô du lịch nặng trịch lên hai vai, kéo chặt khóa áo khoác rồi bước ra khỏi mái hiên bạt của quán phở.

Cơn mưa rào đầu mùa đã ngớt hạt hẳn, chỉ còn lại những giọt nước mưa đọng trên mái tôn nhỏ từng giọt tí tách xuống rãnh thoát nước bằng gạch chỉ. Gió lạnh từ bãi dồn toa thổi thốc vào sân ga mát rượi, mang theo mùi ngai ngái nồng đượm của đất ướt, mùi than đá cháy dở và mùi sắt thép gỉ sét của những toa xe hàng nằm im lìm trên đường ray phụ.

Bước chân của Thư bước đi trên nền gạch sân ke ga Nam Định giờ đây đã vững chãi, đằm sâu hơn rất nhiều. Không còn sự xốc nổi, hấp tấp của một kẻ muốn dùng công nghệ để thâu tóm tất cả âm thanh cuộc đời vào chiếc máy thu âm vô tri. Cô hiểu sâu sắc rằng việc quay trở lại một nơi chốn cũ không nhất thiết phải đổi lấy thêm những tệp ghi âm giật gân, những chi tiết lâm ly hay những lời trích dẫn bóng bẩy để làm đẹp cho bài viết tái ngộ. Sự trở lại đích thực nằm ở nhận thức đã chín chắn hơn của chính người cầm bút—biết tôn trọng sự thật trần trụi của cuộc sống mưu sinh, biết chủ động lùi lại để nhường lối đi cho người khác, và biết cách ghi nhớ cuộc đời bằng sự đối soát cẩn trọng, nghiêm cẩn của lương tâm nghề nghiệp.

Khi Thư bước qua cổng kiểm soát vé bằng sắt để bước lên bậc toa của chuyến tàu khách đêm về Hà Nội, chiếc điện thoại thông minh nằm sâu trong túi quần lại rung lên liên hồi từng nhịp dài.

Cô đứng nép bên cửa sổ hành lang toa xe, mở màn hình điện thoại ra xem. Một tin nhắn của mẹ gửi đến từ đầu giờ chiều hiện lên đầu danh sách:

*“Thư à, dạo này cái cổ tay phải của mẹ lại đau nhức buốt lên tận bả vai mỗi khi ngồi máy may lâu, chắc đợt này mẹ phải giảm bớt đơn nhận sửa đồ bạt công trình của người ta lại thôi con ạ. Khi nào con xong việc công tác về đến phòng thì nhắn trước một tiếng để mẹ đi chợ mua ít xương sườn về ninh canh bồi dưỡng nhé.”*

Ngay phía dưới dòng tin nhắn đầy âu lo của mẹ là tin nhắn ngắn gọn, dứt khoát và lạnh lùng của Lê Tường Vy:

*“Tối nay về đến phòng trọ thì nhắn tao ngay lập tức nhé. Tao với anh Sơn đã ngồi tính toán lại toàn bộ bảng chi tiêu chung và xem lại hợp đồng thuê nhà rồi, cần nói chuyện dứt điểm, nghiêm túc về tiền nhà tháng tới và kế hoạch tìm chỗ ở mới sắp tới của mày đấy.”*

Thư khẽ thở dài một hơi, ngón tay run nhẹ khi bấm nút khóa màn hình rồi cất chiếc điện thoại vào sâu dưới đáy túi áo khoác.

Tiếng còi tàu rúc lên từng hồi dài xé toạc màn sương đêm đang buông xuống, báo hiệu giờ chuyển bánh. Đầu máy kéo lê thân tàu bằng sắt trườn đi chầm chậm trên đường ray ướt nước, đưa cô rời xa thành phố dệt trong màn đêm mịt mùng. Bữa cơm tái ngộ ở quán phở ga Nam Định đã khép lại một cách gọn gàng, trọn vẹn, nhưng đón đợi Thư ở phía trước không phải là sự thảnh thơi, nhẹ nhõm sau một chuyến đi dài, mà là một thực tế ngổn ngang, khắc nghiệt của cuộc sống thường nhật đang chờ đợi cô phải đối mặt: chiếc máy thu âm hỏng cổng cắm chưa có tiền sửa chữa, tương lai bấp bênh của chuyên mục du ký âm thanh, những cơn đau khớp tuổi già đang đè nặng lên đôi tay gầy gò của mẹ, và trách nhiệm sòng phẳng về kinh tế với căn phòng trọ chật chội nơi phố thị phồn hoa.

Còi tàu ga Hà Nội vang lên trong màn sương đêm, đón Thư trở về với thực tế ngổn ngang của máy móc hỏng hóc và các mối quan hệ đời thường đang chờ xử lý.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn