Hội Giữ Đất
Khói của ngọn đèn dầu lạc leo lét bốc lên từng luồng muội đen mỏng manh, chao đảo rồi hắt bóng những gương mặt hốc hác, nhợt nhạt của mười hai chủ hộ còn bám trụ quanh xóm Giếng Cạn lên vách đất nứt nẻ nhà Mộc gia.
Gió đêm từ lòng chảo Hạ Khê thổi thốc qua khe liếp nứa dập nát, mang theo mùi nồng gắt của lưu huỳnh rỉ ra từ Khe Táng Thủy hòa cùng bụi xỉ quặng lạnh lẽo, tanh tưởi vị kim loại hoai mục. Thứ không khí ấy luồn lách qua từng kẽ áo rách, bám vào da thịt nhớp nháp mồ hôi lạnh, chui sâu vào cuống họng từng con người đang ngồi bó gối nơi đây. Trong gian buồng tối tăm phía sau bức màn gai vá víu bằng bao tải tải quặng, tiếng ho khan rút ruột rút gan của mẹ Tầm chốc chốc lại dội lên, rền rĩ và khô khốc như tiếng hai mảnh ngói vỡ cọ xát vào nhau giữa đêm trường giá buốt. Cứ sau mỗi cơn rũ rượi ấy là một tiếng thở hắt ra bất lực, nặng trĩu như thể buồng phổi bà đã bị bột đá mài mòn đến lớp thịt đỏ cuối cùng.
Mười hai con người ngồi quanh chiếc bàn gỗ tạp xộc xệch kê giữa gian nhà ngoài. Người co ro bó gối ghì chặt cùi chỏ vào xương sườn để ngăn cơn run rẩy, kẻ chắp hai bàn tay thô ráp đầy vết cứa sau gáy, mắt dán chặt xuống nền đất nện ẩm ướt lồi lõm những vũng nước rỉ từ vách. Không ai buồn cất lời, cũng chẳng ai dám thở mạnh. Trên mặt bàn, ngọn bấc bện bằng sợi gai thô cháy lèo xèo trong một vũng dầu cặn đục ngầu, hắt ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù, chỉ vừa đủ soi rõ những hốc mắt trũng sâu hoắm vì đói khát triền miên và nỗi kinh hoàng chưa tan sau những biến cố dồn dập ban ngày.
“Cạch!”
Một tiếng đập chát chúa vang lên xé toạc bầu không khí đặc quánh ngột ngạt.
Phạm Nghi đập mạnh cán tẩu thuốc bằng gỗ ổi bọc đồng gỉ xanh xuống mặt bàn gỗ tạp. Lực đập mạnh đến mức tàn lửa đỏ lừ từ nõ tẩu bắn tung tóe lên những thớ gỗ nứt toác, văng cả vào mu bàn tay một gã phu đào đá ngồi bên cạnh, nhưng gã kia chỉ khẽ giật mình rụt lại chứ chẳng dám hé răng. Gương mặt khắc khổ của ông lão trông coi giếng xóm co rúm lại dưới chòm râu hoa râm lởm chởm tàn tro. Đôi mắt vằn đỏ những tia máu như mắt thú bị dồn vào ngõ cụt, đảo một vòng quét qua từng gương mặt đang cúi gằm trước mắt mình.
“Các người câm hết cả họng rồi à?” Phạm Nghi gằn từng tiếng qua kẽ răng vàng ố, lồng ngực già nua phập phồng sau lớp áo chẽn bạc màu, kéo theo tiếng thở rít khàn đặc của chứng phế tro kinh niên. “Ngồi đây mà trừng mắt nhìn nhau chờ chết đói, hay đợi bọn quan trên dưới huyện xua lính xuống xúc từng đứa bỏ vào xe quặng chở lên lò thiêu? Ban sáng mắt mũi các người có đui mù đâu! Chưởng quỹ Đỗ Kính của Vạn Thạch Hành vừa dẫn một lũ tay sai vác gậy gộc tới tận ngõ đòi siết nợ đất, ép chúng ta phải giao đứt hai sọt rau tươi mỗi tuần; đít hắn vừa nhấc khỏi rào tre thì chấp sự Thanh Lộ Tông đã vác la bàn tầm mạch xộc thẳng vào mép giếng! Cái thứ la bàn bằng đồng hun của chúng tuy quay loạn xạ vì tạp khí, nhưng cái mồm của thằng tu sĩ thì dõng dạc dọa tru diệt cả họ, san phẳng cái xóm này nếu ai dám đụng một mũi cuốc vào vỉa đá ngầm!”
Ông lão rít một hơi dài vào cái tẩu rỗng không có lấy một sợi thuốc. Không có khói nhả ra, chỉ có tiếng rít khô khốc của sự thèm thuồng, bế tắc và cay đắng tột cùng. Bàn tay gầy guộc run rẩy của ông chỉ mũi tẩu bọc đồng hướng thẳng ra khoảng sân tối mịt mùng phía sau nhà, nơi miệng Giếng Cạn đang được che chắn sơ sài dưới những tấm phên nứa rách nát và lớp cỏ khô phủ ngụy trang:
“Cả thương hành lẫn tông môn đều đã đánh hơi thấy mùi ẩm dưới đáy cái giếng cạn này rồi! Chúng không ngu đâu! Ngoài chợ Bến Tro thì người ta đang đồn ầm lên chuyện Giếng Cạn Hạ Khê mọc ra thứ thần thảo ngậm cam lộ có thể giải được phế tro, cứu sống người sắp xuống lỗ. Bọn trên núi cao kia không bao giờ cho phép một giọt nước sạch lọt khỏi tầm kiểm soát của chúng, còn bọn lái buôn béo múp míp thì muốn gặm sạch từng tấc đất thế chấp cuối cùng của các người để biến chúng ta thành nô lệ xúc xỉ đời đời kiếp kiếp! Cả cái xóm này, mười hai nóc nhà còn thoi thóp bám trụ, nếu đêm nay không biết ghì lưng vào nhau mà giữ giếng, giữ đất, thì chưa đầy nửa tháng nữa, đừng nói là rau tươi hay một bát cháo ngô loãng, đến cái xác rũ rượi của các người cũng bị người ta quẳng ra bãi xỉ làm phân bón lót cho dược viên trên đỉnh Thanh Lộ kia kìa!”
Từng lời, từng chữ của Phạm Nghi rơi xuống như những gáo nước lạnh tạt thẳng vào đống tro tàn, làm bùng lên nỗi sợ hãi tột cùng vốn đã âm ỉ cắn xé ruột gan họ suốt từ sớm tinh sương. Mấy người đàn bà ngồi nép phía góc tường khẽ kéo vạt áo quẹt nước mắt sụt sịt, tiếng thút thít nghẹn ngào chìm lấp trong tiếng gió rít qua khe nứa. Vài gã phu đào đá đưa bàn tay thô ráp đầy những vết chai sần và sẹo chém lởm chởm lên quệt vội mồ hôi lạnh túa ra trên trán, ánh mắt dại đi vì tuyệt vọng.
Nhưng sự im lặng khiếp nhược ấy rốt cuộc không thể kéo dài được lâu trước sức ép của miếng ăn và sự sống còn.
“Bác Nghi nói thì nghe sang sảng hay lắm, nhưng giữ bằng cái gì? Lấy cái mồm ra mà giữ à?”
Một giọng nói ồm ồm, khàn đặc như tiếng hai hòn đá tảng cọ xát vào nhau vang lên từ góc tối bên trái chiếc bàn gỗ. Trịnh Bách chống hai bàn tay hộ pháp to bản, đầy những nốt chai sần gồ ghề như da cóc lên mặt bàn, nửa thân trên đồ sộ chồm hẳn về phía trước khiến chiếc bàn gỗ tạp nghiêng ngả, ngọn đèn dầu chao đảo suýt tắt.
Là nông hộ sở hữu nhiều đinh tráng nhất xóm Giếng Cạn, nhà Trịnh Bách có tới ba đứa con trai đang độ tuổi đôi mươi, vai u thịt bắp, khỏe như những con trâu mộng chưa từng biết mỏi. Bao năm qua, bố con nhà họ Trịnh chính là cái cột trụ chống đỡ cho việc phá đá, bạt đồi mở ruộng ở cái bãi đá hoang Thạch Nê đầy cạm bẫy. Trên vạt áo nâu rách tả tơi, bết dính mồ hôi của ông ta lúc này vẫn còn bám trắng xóa những lớp bột đá vôi mịn buốt, minh chứng cho một ngày dài quai búa quần quật ngoài bãi quặng mà bụng không có nổi một hạt cơm dằn lòng.
Trịnh Bách đảo đôi mắt đục ngầu vằn tia máu nhìn quanh một lượt, cái nhìn sắc như dao rựa cạo vào da thịt từng người, giọng điệu hằn học không thèm che giấu:
“Muốn giữ đất thì phải có người vỡ đất! Muốn có lúa mà bỏ vào họng thì phải đào rãnh mương, phải dùng búa tạ đập vỡ cho bằng sạch cái lớp vỏ đá vôi nén dày ba tấc ở Thạch Nê cho rễ cây nó có chỗ mà cắm xuống, rồi còn phải è cổ gánh nước từ giếng rỉ ra tận ngoài đồng! Tôi hỏi cả cái xóm này, ai gánh nổi cái việc đập đá đào mương tróc da tróc thịt ấy? Ngoài bốn bố con nhà họ Trịnh này cùng mấy anh em đinh tráng xóm Trong có bắp thịt, lũ người ốm nhom ốm nhắt, thở không ra hơi như các người liệu có vung nổi một nhát cuốc chim cắm vào đá tảng hay không?”
Trịnh Bách giơ bàn tay to bè như chiếc xẻng sắt, chỉ thẳng vào chòm râu rung rinh của Phạm Nghi rồi quay ngoắt sang phía Mộc Tầm đang ngồi lặng thinh nãy giờ:
“Nói thẳng toẹt ra cho vuông vức một lời! Nếu muốn cứu đất Thạch Nê, muốn cứu cái xóm này khỏi miệng cọp Vạn Thạch Hành, thì nhà nào góp nhiều sức đào mương, đập đá, đổ mồ hôi và máu tươi ra trên vỉa quặng thì nhà đó phải được ưu tiên hàng đầu! Nước giếng múc lên được bao nhiêu gàu mỗi ngày, phải chia trước cho những nhà đổ sức nhiều nhất để lấy cái tẩm bổ mà làm việc nặng. Ruộng cứu được khoảnh nào, đất Thạch Nê phục hồi được tấc nào, phải giao đứt cho nhà có đinh tráng cày cấy trước để lấy thóc lúa nuôi thợ vỡ đất! Chứ hơi sức đâu mà đi gánh từng gàu nước tưới cho những vạt đất cằn bỏ hoang của những kẻ không có người làm, hay chia đều từng bát nước trong veo cho những kẻ chỉ biết ngồi nhà há mồm chờ cứu tế hả?”
Mấy gã lực điền ngồi túm tụm phía sau lưng Trịnh Bách lập tức gật gù phụ họa, tiếng rì rầm tán thành nổi lên như ong vỡ tổ.
“Bác Bách nói chí phải!”
“Không có sức khỏe quai búa thì nước rỉ ra cũng chỉ bốc hơi trên mặt đá vôi chứ làm được trò trống gì!”
“Có làm thì mới có ăn, luật đời xưa nay nó thế!”
Trong lúc ranh giới giữa cái sống và cái chết mỏng manh như một sợi chỉ, lý lẽ của kẻ nắm giữ cơ bắp bao giờ cũng mang sức nặng nghìn cân, đè bẹp mọi đạo lý thông thường. Kẻ có sức mạnh tin rằng mạng sống của mình có giá trị hơn vì chính đôi tay họ làm ra củ khoai, hạt thóc, còn kẻ tàn tật ốm đau chỉ là gánh nặng kéo cả bầy đàn xuống hố chôn chung.
Mộc Tầm vẫn ngồi bất động ở đầu bàn. Hai bàn tay anh đan chặt vào nhau, giấu kín dưới gấu áo vải thô đã sờn rách mép. Dưới lớp vải, những đầu ngón tay anh khẽ run lên từng chặp. Anh nhớ lại nốt rễ Tức Căn dưới đáy Giếng Cạn vừa nứt toác ra vào cuối buổi chiều nay. Ký ức về giọt dịch đen ngòm sủi bọt xèo xèo, ăn mòn lớp đá vôi Thạch Nê như một vết bỏng rát vẫn còn in hằn mồn một trong tâm trí anh.
Lòng Mộc Tầm thắt lại thành một khối nghẹn đắng. Tức Căn không phải là một mạch nước ngầm vô tận của trời đất để người ta mặc sức múc cạn, càng không phải là thứ rễ cây thần kỳ có thể tùy tiện xới tung, chặt chém hay dùng bạo lực cơ bắp để ép nó đâm chồi lan nhanh. Nó là một sinh mệnh quái dị, nhạy cảm đến mức hung bạo; chỉ cần một nhát cuốc sai lệch, một chút tạp khí hay sự kích động thô bạo chạm vào vỉa đá, nọc độc tích tụ trong các nốt rễ sẽ lập tức phát tác, biến cả cái giếng thành một vũng bùn chết chóc hủy diệt toàn bộ sinh linh xung quanh.
Nhưng Mộc Tầm chưa kịp mở miệng giãi bày thì một bóng dáng mảnh khảnh ở góc bàn đã lao vụt ra phía trước.
“Bác Trịnh! Bác nói những lời vô lương tâm ấy mà nghe lọt lỗ tai được à?”
Mộc An đứng bật dậy. Chiếc ghế tre ọp ẹp nàng vừa ngồi bị chân đẩy lùi ra phía sau, phát ra một tiếng “két” chói tai miết trên nền đất nện ẩm ướt. Đôi mắt nàng trũng sâu quầng thâm xám xịt vì đã trải qua quá nhiều đêm thức trắng tính từng đồng hào lẻ sổ sách và chép thuê từng bản khế ước ngoài chợ Bến Tro, nhưng lúc này, bên trong đôi mắt ấy lại ánh lên một tia sáng sắc lẹm, bướng bỉnh và quyết liệt đến gai người.
Nàng quét ánh mắt rực lửa nhìn thẳng vào gương mặt vuông vức đang đỏ gay vì men giận của Trịnh Bách, không hề lùi bước lấy nửa tấc:
“Nhà bác có bốn đinh tráng, bác khỏe, các con bác khỏe, nên bác muốn lấy nước trước, muốn cứu ruộng nhà bác trước để cấy lúa ăn riêng! Vậy tôi xin hỏi bác một câu, nhà thím Sáu đầu ngõ chỉ còn trơ trọi hai đứa con thơ vì chồng thím ấy đã chết vùi xác trong hầm quặng sâu của Thanh Lộ Tông năm ngoái thì sao? Nhà lão Bát cả một đời quai búa xúc đất cho tiên môn, giờ buồng phổi nát bấy như xơ mướp mục, ngồi một chỗ thở không ra hơi thì tính thế nào? Mẹ tôi đang nằm thoi thóp trong gian buồng kia, ngày ngày ho ra từng ngụm đờm đen tanh tưởi, cùng với mấy chục người già cả, đàn bà góa bụa, con nít côi cút trong cái xóm này, bác định vứt họ đi đâu hả?”
Mộc An bước dồn một bước sát mép bàn gỗ tạp, ngón tay trỏ mảnh khảnh gõ côm cốp xuống mặt gỗ lim nứt nẻ:
“Nếu chia nước và cứu ruộng theo cái thói cậy mạnh hiếp yếu của bác, thì những người già yếu, lũ trẻ mồ côi, những người mang chứng phế tro trong xóm này sẽ chết đói, chết khát sạch bách trước khi bông lúa đầu tiên trên ruộng nhà bác kịp trổ đòng! Bác bảo họ không góp sức, nhưng cái Giếng Cạn kia là giếng công của sáu xóm từ đời cha ông để lại, đất đai Thạch Nê này là mồ hôi của tổ tiên chung. Lúc giếng ngập ngụa bùn độc, ai ai cũng phải chịu cái khổ, cái nhục như nhau! Bây giờ mầm sống vừa hé ra dưới đáy giếng được vài tấc, các người khỏe mạnh liền muốn đạp đầu những kẻ tàn phế, ốm đau xuống bùn đen để một mình ngoi lên trước sao? Đó là giữ đất để cùng sống, hay là nhân lúc hoạn nạn mà ăn cướp trắng trợn của những người cùng đường mạt lộ?”
Từng lời đanh thép của Mộc An như những nhát búa nện thẳng vào bầu không khí im phăng phắc. Cả gian nhà bỗng chốc lặng ngắt như tờ, chỉ còn nghe tiếng gió rít bên ngoài và tiếng thở dốc nghẹn ngào của những người có mặt. Mấy người phụ nữ có chồng con mắc chứng phế tro khẽ gục đầu vào vai nhau quẹt nước mắt.
Trịnh Bách tím tái mặt mày, hai gò má rung lên bần bật, lồng ngực phập phồng như ống bễ lò rèn vì bị một đứa con gái vắt mũi chưa sạch sỉ vả ngay trước mặt bàn dân thiên hạ:
“Con ranh con! Mày... mày chỉ là cái ngữ chép thuê ngoài chợ, biết cái thá gì chuyện cày bừa, đập đá, vỡ đất hoang? Không có gạo tống vào mồm đám đinh tráng thì lấy đâu ra gân cốt mà quai búa tạ phá lớp đá vôi ngậm độc ở Thạch Nê? Tình thương xót rẻ rúng của mày có đập vỡ nổi một hòn đá tảng nào không? Đói rã ruột cả lũ thì cùng dắt tay nhau xuống lỗ chôn chung à?”
“Tôi không nói chuyện bằng thứ tình thương suông vô tích sự, tôi nói chuyện bằng sổ sách và tính mạng của toàn bộ con người ở cái đất Hạ Khê này!”
Mộc An không hề nao núng trước cái gầm thét của kẻ hộ pháp. Nàng dứt khoát thò tay vào chiếc túi vải thô đeo chéo bên hông, rút ra một cuốn sổ dày cộp, bìa bọc bằng da mộc đã ngả màu sẫm đen vì mồ hôi tay và bụi đường tích tụ qua năm tháng. Nàng đập một tiếng “bộp” đanh gọn xuống giữa mặt bàn gỗ, ngay sát cạnh cái nõ tẩu bọc đồng của Phạm Nghi.
Đó chính là cuốn sổ mà nàng đã ngồi còng lưng, vắt kiệt từng chút tâm lực để vạch ra suốt từ lúc chân ướt chân ráo trở về từ phiên chợ Bến Tro đầy cạm bẫy.
Mộc An lật toang trang giấy đầu tiên. Dưới ánh sáng vàng vọt lèo xèo của ngọn đèn dầu lạc, những dòng chữ chân phương, ngay ngắn được viết bằng thứ mực tàu đen kịt chia thành hai cột rành mạch, rõ ràng đến từng nét bút hiện ra trước mắt mọi người.
“Các bác, các chú, các anh nhìn cho thật kỹ vào đây!” Mộc An đặt ngón tay mảnh dẻ chặn ngang trang giấy. “Nếu làm theo cách của bác Trịnh, xóm này sẽ tan đàn xẻ nghé ngay ngày mai. Người yếu thế cùng đường sẽ liều mạng cướp nước để sống qua ngày, nồi da xáo thịt, rồi Vạn Thạch Hành với Thanh Lộ Tông sẽ đục nước béo cò, nhảy vào thâu tóm sạch không còn một mảnh đất cắm dùi! Nhưng nếu cào bằng, chia đều chằn chặn mọi thứ thì đám đinh tráng kiệt sức, chẳng còn ai chịu gánh vác việc nặng nhọc ngoài đồng ruộng. Cho nên, sống chết của xóm này phải được tách bạch rành rẽ thành hai phần rõ ràng!”
Nàng hít một hơi thật sâu, ngẩng cao đầu, cất giọng sang sảng để từng người ngồi trong xó xỉnh tối tăm nhất cũng nghe rõ mồn một:
“Phần thứ nhất: Khẩu phần sống tối thiểu! Toàn bộ lượng nước sạch múc được từ Giếng Cạn mỗi ngày, cùng với rau tươi thu hoạch được từ khoảnh đất thử nghiệm quanh miệng giếng, trước hết bắt buộc phải trích ra một phần cố định, chia đều chằn chặn theo đầu người cho toàn bộ mười hai hộ gia đình còn bám trụ lại đây, tuyệt đối không phân biệt già trẻ, gái trai, khỏe mạnh hay tàn tật ốm đau! Mỗi miệng ăn trong xóm đều phải được nhận đủ một bát nước sạch để sắc thuốc hoặc uống cầm hơi qua ngày, cùng với một nắm rau luộc dằn bụng. Đó là quyền được sống cơ bản của con người, để giữ cho cái xóm này không có bất kỳ ai phải chết đói, chết khát trong tuyệt vọng!”
Trịnh Bách hừ mạnh một tiếng qua kẽ răng, nhưng lần này ông ta không ngắt lời. Đôi mắt ti hí của gã hộ pháp chăm chú nhìn vào những dòng chữ ngay ngắn trên trang giấy bọc da. Đám đinh tráng phía sau cũng bắt đầu dỏng tai lên, tò mò muốn nghe tiếp.
“Phần thứ hai,” Mộc An lật soạt sang trang kế tiếp, nơi chi chít những ô vuông kẻ bằng mực tàu đều đặn như bàn cờ: “Phần nước sạch dôi dư sau khi đã trừ khẩu phần sống, cùng với toàn bộ hoa lợi gặt hái được từ những thửa ruộng mới phục hồi sau này, sẽ được tính toán nghiêm ngặt dựa trên CÔNG ĐIỂM LAO ĐỘNG! Bác Trịnh đập vỡ một trượng đá vôi ở Thạch Nê, đào được ba thước mương dẫn nước, ghi mười công điểm. Lê Cẩn lặn xuống nạo vét túi bùn độc ngấm rễ cây, ghi mười lăm công điểm. Đàn bà con gái, người già yếu gánh đất mùn bón gốc, kết phên rào che chắn quanh giếng, ghi ba công điểm. Ai tích lũy được nhiều công điểm thì khi ruộng Thạch Nê mở ra, được ưu tiên nhận phần nước dôi dư để tưới cho ruộng nhà mình trước, được chia thêm phần thóc lúa khi thu hoạch mùa màng! Ai lười biếng không làm mà đòi hưởng, thì ngoài một bát nước cứu mạng tối thiểu kia ra, một giọt nước dư thừa cũng đừng hòng tơ hào!”
Gian nhà đất bỗng chốc rơi vào một khoảng lặng sâu thẳm. Yên ắng đến mức người ta chỉ còn nghe thấy tiếng ngọn bấc cháy lách tách trong vũng dầu cặn và tiếng gió rít từng hồi ngoài bãi hoang.
Từng người một chồm người về phía trước, dán chặt mắt vào cuốn sổ bìa da mộc của Mộc An.
Những con số rành mạch, những lề lối phân định trắng đen trên trang giấy bổi không phải là thứ giáo điều ma quái xa vời của đám tu sĩ trên núi cao, càng không phải những điều khoản bẫy rập lắt léo trong khế ước nợ máu của Đỗ Kính. Nó sòng phẳng và trần trụi như chính cuộc đời lam lũ của họ. Nó mở ra cho người già, kẻ yếu một con đường sống sót tối thiểu để không bị chính láng giềng vứt bỏ ra bãi tha ma; đồng thời, nó trả lại cho kẻ đổ mồ hôi, sôi nước mắt một sự đền đáp công bằng đến từng giọt máu rơi trên đá tảng.
Lê Cẩn, người thợ đào giếng nãy giờ vẫn ngồi im lìm ôm ngực ở một góc bàn tối tăm, bỗng ho lên một tràng sù sụ. Cơn ho kéo dài khiến toàn thân anh rung bần bật, mặt đỏ tía tai. Anh vội vã lấy vạt tay áo lau vệt đờm nhớp nháp nơi khóe miệng, rồi bất thần vung tay đập mạnh xuống mặt bàn một cái “rầm”:
“Cách này được! Mẹ kiếp, rất sòng phẳng và công bằng! Tôi cả đời làm nghề đào giếng, tôi hiểu cái lẽ đời này hơn ai hết. Xuống đáy hố sâu nạo bùn thì cần sức trâu mộng, nhưng ở trên miệng hố có người nắm chặt dây thừng cứu mạng thì kẻ dưới đáy mới mong bò lên được! Cứ ghi công điểm rành mạch vào sổ thế này, đứa nào trốn việc lười biếng thì nhịn phần nước dư, đứa nào liều mạng phá đá mở đường thì được hưởng phần hơn. Nhưng con bé An nói một câu chí phải: tuyệt đối không thể bỏ mặc người bệnh và con trẻ chết đói! Ở cái đất Hạ Khê này, ai trong chúng ta dám vỗ ngực bảo cả đời mình sẽ không bao giờ gục xuống vì cái chứng phế tro quái ác này?”
Lời nói khàn đặc của Lê Cẩn như một mũi kim châm thẳng vào nỗi đau sâu kín nhất trong tâm can đám đông. Ở cái đất thung lũng nghẹt thở vì khói quặng này, làm gì có ai dám chắc ngày mai buồng phổi mình vẫn còn lành lặn? Hôm nay Trịnh Bách khỏe như trâu mộng, nhưng ngày mai, liệu ba đứa con trai của ông ta có chắc sẽ không hít phải một ngụm khí độc từ Khe Táng Thủy rồi ngã quỵ xuống như bao lớp thợ mỏ đi trước?
Một cuộc tranh cãi nảy lửa lập tức bùng nổ quanh chiếc bàn gỗ tạp.
“Đập vỡ một trượng đá vôi nén Thạch Nê cứng như sắt nguội, mười công điểm là quá ít ỏi! Phải mười lăm công điểm mới bõ công quai búa!” Một gã đinh tráng phe Trịnh Bách gào to, mặt đỏ gay.
“Thế công gánh đất mùn ủ gốc cây của đàn bà chúng tôi thì sao? Ba công điểm một ngày không đủ đổi lấy nửa nắm cám bổi dằn bụng cho con trẻ!” Một người phụ nữ gầy gò, hai má hóp sâu chen vào phản bác kịch liệt.
“Khẩu phần nước tối thiểu chia thế nào? Một gàu cho mỗi nóc nhà hay chia đích danh theo đầu người? Nhà đông miệng ăn con mọn thì tính sao cho khỏi thiệt thòi?”
Tiếng cãi vã, tiếng đập bàn, những gương mặt hốc hác đỏ gay lên vì tranh giành từng chút quyền lợi sinh tử. Nhưng điều kỳ lạ là, khác hẳn với những cuộc cãi vã vô vọng, bế tắc trước đây vốn chỉ kết thúc bằng những nắm đấm thô bạo hoặc sự buông xuôi cay đắng, lần này họ tranh cãi gay gắt xung quanh những dòng kẻ trong cuốn sổ của Mộc An. Mọi đòi hỏi, mọi toan tính, mọi lý lẽ gắt gao đều hướng về một mục đích duy nhất: làm sao để các điều khoản ghi trên giấy được công bằng, chặt chẽ và không ai có thể lật lọng.
Cuộc giằng co kéo dài suốt gần hai canh giờ đồng hồ. Gió đêm ngoài trời càng lúc càng thổi mạnh, mang theo sương muối lạnh buốt tràn qua các khe nứa. Bóng trăng non gầy guộc đã lặn hẳn sau những rặng thông đen trũi của núi Thanh Lộ từ lâu.
Phạm Nghi đã phải nhiều lần đập mạnh cán tẩu thuốc xuống mặt bàn gỗ tạp để vãn hồi trật tự cho căn phòng. Mộc An tay cầm chiếc bút lông đã mòn vẹt đầu, thoăn thoắt chấm vào đĩa mực tàu mài dở, liên tục bôi xóa, chỉnh sửa các định mức công điểm, ghi chú thêm từng yêu cầu thỏa hiệp giữa các bên vào mép trang giấy bìa da.
Cuối cùng, khi ngọn đèn dầu lạc đã cạn đến đáy bát, chỉ còn thoi thóp một đốm sáng đỏ quạch như một hạt đậu le lói trong bóng tối nhờ nhờ, Phạm Nghi từ từ đứng dậy. Hai bàn tay gân guốc của ông đè chặt lên cuốn sổ bìa da mộc lúc này đã kín đặc chữ viết, các cột phân chia và những thỏa thuận chi tiết.
“Yên lặng hết cho ta!” Ông lão quát to một tiếng, giọng nói khàn đặc nhưng đầy uy lực của người lớn tuổi nhất xóm. “Tranh cãi thế là đủ rồi! Bụng đứa nào đứa nấy đói rã ruột ra cả rồi. Bây giờ, mười hai chủ hộ có mặt ở đây, có chịu ký tên, ấn chỉ vào cuốn sổ này để chính thức lập ra ‘Hội giữ đất Hạ Khê’ hay không?”
Cả gian phòng bỗng chốc nín thở. Trịnh Bách thở phì phò qua hai lỗ mũi như trâu đực trúng tên, đôi mắt vằn tia máu nhìn chằm chằm vào Mộc An, rồi lại cúi xuống nhìn những vết chai sần rớm máu trên lòng bàn tay mình. Cuối cùng, ông ta nghiến chặt quai hàm phát ra tiếng ken két, giơ bàn tay thô kệch đầy bột đá vôi ra phía trước:
“Được! Bốn bố con tao chịu theo! Nhưng phải giữ cho đúng ba điều cốt lõi này, nếu sai một ly thì tao dắt con tao bỏ đi nơi khác, mặc xác cái giếng của chúng mày!”
Phạm Nghi gật đầu dứt khoát. Ông lão đứng thẳng người, giọng đanh lại như thép nguội tôi qua nước lạnh, chậm rãi tuyên đọc ba quy ước nền tảng của Hội giữ đất Hạ Khê:
“Điều thứ nhất: CẤM BỨNG BÁN CÂY LẠ! Toàn bộ mầm cây, rễ cây Tức Căn nằm dưới đáy Giếng Cạn và lan sang góc vườn Mộc gia là sinh mệnh chung của cả hội này. Tuyệt đối cấm bất kỳ ai được tự ý bứng gốc, chặt rễ mang bán ra ngoài; cấm tiết lộ bí mật về đặc tính của cây cho bất kỳ đan sư hay thương lái nào! Kẻ nào dám vi phạm, cả xóm sẽ đồng lòng đuổi cổ cả nhà nó ra khỏi lòng chảo Hạ Khê, tịch thu toàn bộ đất đai và hoa lợi!”
“Điều thứ hai: CHIA NƯỚC MINH BẠCH THEO SỔ! Khẩu phần sống tối thiểu chia đều theo đầu người; phần nước dôi dư và hoa lợi từ những thửa ruộng mới phục hồi chia tuyệt đối theo công điểm lao động ghi chép trong cuốn sổ bìa da mộc này. Tuyệt đối không ai được tự ý lén lút múc trộm một gàu nước, không ai được ưu tiên vì quen biết hay ỷ vào sức mạnh cơ bắp để hiếp đáp người khác!”
“Điều thứ ba: CẤM TỰ Ý NHẬN TÀI TRỢ RIÊNG LẺ! Nghiêm cấm bất kỳ hộ gia đình nào được ngầm nhận lương thực, tiền bạc hay ký kết bất kỳ khế ước riêng tư nào với Vạn Thạch Hành hoặc Thanh Lộ Tông để đổi lấy quyền trích nước hay ranh giới đất đai. Mọi giao dịch, thương lượng với bên ngoài bắt buộc phải thông qua toàn thể mười hai chủ hộ của Hội biểu quyết công khai!”
“Được! Chúng tôi theo!”
“Tôi đồng ý ấn chỉ!”
“Cứ theo lệ ấy mà làm!”
Từng người một lần lượt bước lên chiếc bàn gỗ tạp. Những ngón tay thô ráp, nứt nẻ, dính đầy bụi đá và bùn đen quệt mạnh vào đĩa mực tàu rồi ấn dứt khoát xuống mặt giấy bổi lót trong bìa da. Trịnh Bách là người ấn chỉ đầu tiên trong số các nông hộ; dấu vân tay to bè, đỏ lòm của ông ta in hằn lên trang giấy như một vết chém sâu hoắm. Mười hai gia đình, mười hai số phận cùng đường đang ngấp nghé bên bờ vực diệt vong, lần đầu tiên tự trói chặt lấy nhau bằng một giao ước tự phát, nghiệt ngã nhưng đầy sự sống.
Khi dấu điểm chỉ cuối cùng vừa ráo mực, ánh mắt của tất cả mọi người trong phòng đồng loạt dồn về phía Mộc Tầm.
Nãy giờ, người phát hiện ra mầm cây đầu tiên, người duy nhất có chút tu vi Dẫn Khí sơ kỳ và hiểu rõ đặc tính sinh tử của rễ cây lại gần như ngồi im lặng tuyệt đối từ đầu đến cuối buổi họp.
Phạm Nghi nhìn Mộc Tầm, ánh mắt ông lão vô cùng phức tạp. Trong ánh mắt ấy vừa có sự mang ơn sâu sắc vì anh đã không giấu giếm nguồn nước, lại vừa ẩn chứa một sự kiêng dè, cảnh giác nặng nề. Là người từng trải qua bao cuộc bể dâu ở cái chốn bùn lầy nước đọng này, ông hiểu quá rõ: mầm cây mọc dưới giếng chung của làng, nhưng rễ của nó lại đang ăn luồn vào lòng đất thuộc tư gia nhà họ Mộc. Nếu để một mình Mộc Tầm nắm toàn quyền định đoạt sự sống chết của cái rễ cây ấy, thì cái Hội giữ đất Hạ Khê này chẳng qua cũng chỉ biến thành một phường làm thuê không công cho một mình họ Mộc mà thôi. Đứng trước miếng ăn sinh tử, lòng người vốn đa nghi; không một ai dám đặt cược tính mạng của cả gia đình mình vào lòng tốt đơn thuần của một cá nhân, dẫu cá nhân ấy có hiền lành đến đâu.
“Tầm này,” Phạm Nghi chậm rãi lên tiếng, giọng trầm xuống mang theo toàn bộ sức nặng của người chủ trì: “Cậu là người đầu tiên tìm ra mầm cây lạ, lại từng có thời gian học nghề thuốc từ bà giáo Bùi Sương, hiểu được tính nết của đất đai và rễ cây. Hội giữ đất chúng tôi nhất trí giao cho cậu vị trí quản lý kỹ thuật sinh trưởng của rễ Tức Căn. Cậu sẽ chịu trách nhiệm theo dõi độ ẩm của giếng, kiểm tra độc tính của các nốt rễ, chỉ dẫn bà con cách đào xới đất đá, đắp bùn mùn sao cho rễ cây không bị chết úng hay phát độc.”
Ông lão dừng lại một nhịp thở dài, đôi mắt già nua nhìn thẳng tháy vào mắt Tầm:
“Nhưng ta nói trước cho thật rõ ràng và sòng phẳng: cậu KHÔNG CÓ QUYỀN tự quyết định việc phân chia đất đai, không được tự ý chọn thửa ruộng nào để cấy rễ thử nghiệm, và càng không có quyền tự tay múc chia một giọt nước giếng nào cho bất kỳ ai! Mọi việc cấy rễ sang bãi Thạch Nê, mở rộng diện tích đất thử nghiệm hay phân bổ nguồn nước dôi dư đều bắt buộc phải do mười hai chủ hộ của Hội biểu quyết công khai, và do con bé Mộc An đối chiếu theo sổ công điểm mà thi hành. Cậu có chấp thuận để Hội tước bỏ toàn bộ quyền tự quyết này hay không?”
Bầu không khí trong gian buồng đất lại một lần nữa chùng xuống nặng trịch. Mấy gã lực điền đứng sau lưng Trịnh Bách nheo mắt nhìn Tầm đầy vẻ dò xét, nín thở chờ đợi một sự phản kháng kịch liệt. Dù sao đi nữa, mầm sống kỳ diệu kia cũng nằm trong tay anh; việc tước bỏ quyền lực phân chia tài nguyên chẳng khác nào biến người nắm giữ bí mật sinh tử thành một kẻ làm công kỹ thuật thuần túy, không hơn không kém.
Nhưng trái ngược hoàn toàn với sự nghi kỵ của đám đông, Mộc Tầm chỉ khẽ thở dài một hơi thật dài. Một cảm giác nhẹ nhõm vô hình bỗng chốc lan tỏa khắp lồng ngực anh, như thể một tảng đá ngàn cân đè nặng lên đôi vai gầy suốt ba mươi ngày qua vừa được dỡ bỏ.
Anh nhớ lại ngón tay trỏ của mình từng bị hoại tử, cháy đen quắt queo như một cành củi khô chỉ vì sự ngu ngốc khi cố rót linh khí vào nốt rễ; anh nhớ lại giọt dịch độc đen ngòm vừa sôi xèo xèo dưới đáy giếng hoang ban chiều. Tức Căn mang lại sự sống màu mỡ cho đất đai, nhưng sâu thẳm bên trong nó cũng ẩn chứa nọc độc chết người. Một mình anh, với chút tu vi Dẫn Khí cắc ké chẳng đủ hộ thân, nếu ôm khư khư lấy cái bí mật khủng khiếp ấy chỉ chuốc lấy sự nghi kỵ của láng giềng và tai họa sát thân từ những kẻ quyền thế bên ngoài. Chia sẻ quyền lực và trách nhiệm cho cả cộng đồng, để chính họ tự quản lý lòng tham và sự sinh tồn của nhau, đó mới là con đường sống duy nhất để giữ cho cái mầm cây này không bị giằng xé đến nát vụn.
Mộc Tầm đứng dậy khỏi ghế tre, vòng hai tay cúi đầu thật thấp trước mười hai chủ hộ đang ngồi quanh bàn:
“Tôi hoàn toàn đồng ý với quyết định của bác Nghi và mọi người. Tôi chỉ là người chăm sóc rễ cây. Rễ cây sống được là nhờ đất ẩm và bàn tay lao động của bà con, chứ không sống nhờ sự độc đoán của một kẻ tu vi thấp kém như tôi. Tôi xin tự nguyện giao toàn bộ quyền phân chia đất đai và nguồn nước cho Hội và cuốn sổ của An quản lý.”
Một tiếng thở phào nhẹ nhõm đồng loạt vang lên khắp căn phòng đất nứa.
Sự căng thẳng nghẹt thở bao trùm nãy giờ bỗng chốc tan biến như làn khói mỏng trước gió, nhường chỗ cho một cảm giác gắn kết mong manh nhưng vô cùng chân thật. Trịnh Bách khẽ gật đầu, ánh mắt nhìn Mộc Tầm bớt đi vài phần hằn học gay gắt. Lê Cẩn mỉm cười để lộ hàm răng ố vàng, khẽ vỗ vai người bên cạnh.
Mộc An mỉm cười rạng rỡ, hai má ửng hồng lên dưới ánh đèn dầu le lói. Nàng cẩn thận gấp cuốn sổ bìa da mộc lại, ôm chặt nó vào lòng như ôm một báu vật thiêng liêng nhất trần đời.
Phạm Nghi đưa bàn tay run rẩy gạt nốt tàn thuốc cuối cùng trên mặt bàn, khàn giọng nói:
“Vậy là xong việc lớn đêm nay. Mọi người giải tán về nghỉ ngơi đi. Sáng sớm mai, đội đinh tráng của Trịnh Bách bắt đầu mang cuốc chim ra Thạch Nê khảo sát lớp đá vôi…”
“Lộc cộc! Lộc cộc! Kítttt—!”
Lời dặn dò của ông lão chưa kịp dứt thì tiếng vó ngựa dồn dập, sắc lạnh kèm theo tiếng bánh xe nghiến ken két trên sỏi đá từ con đường cái xé toạc màn đêm tĩnh mịch của lòng chảo Hạ Khê.
Một cỗ xe ngựa hai tầng nặng trịch, đóng bằng gỗ lim đen bóng, được kéo bởi hai con ngựa chiến lực lưỡng thở phì phò từng luồng khói trắng xóa trong sương đêm, dừng xịch lại ngay trước cổng rào tre nhà Mộc gia.
Dưới ánh sáng chói lòa của những ngọn đuốc dầu thông đỏ rực cắm quanh thành xe, một lá cờ lớn thêu bằng chỉ vàng phần phật tung bay trong gió lạnh. Trên nền vải gấm viền đen sang trọng, ba chữ lớn thếp vàng lấp lánh phản chiếu ánh lửa bập bùng:
*VẠN THẠCH HÀNH.*
Mười hai con người trong gian nhà đất đồng loạt đứng bật dậy như bị điện giật, mặt cắt không còn một hột máu. Ánh mắt Trịnh Bách lập tức lóe lên một tia dao động dữ dội, lén lút nhìn qua khe liếp về phía những bao lương thực căng tròn, trắng muốt đang chất cao như núi trên thùng xe ngựa vừa đỗ ngoài sân.