Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtC.6 / 36
Chương 6

Luống Rau Ra Chợ

Tiếng trục xe gỗ cọt kẹt nghiến trên mặt đường đá sỏi khô khốc hòa cùng mùi tro xỉ nồng nặc đập thẳng vào sống mũi Mộc An khi gánh rau non còn đọng sương sớm của nàng vừa hạ xuống khoảng đất trống đầu Chợ Bến Tro.

Gió sớm thổi thốc từ họng hẻm núi Thạch Nê mang theo những vệt bụi xám mịn như bột chì, thứ phế thải tích tụ từ các lò luyện quặng sắt và những đỉnh lò luyện đan khổng lồ của Thanh Lộ Tông xả xuống hạ lưu suốt mấy mươi năm ròng. Bến Tro vào giờ tị vẫn đông đúc một cách ngột ngạt và tàn tạ. Hàng trăm con người xơ xác với đôi môi nứt nẻ rớm máu, hai gò má hóp sâu xám ngoét và lồng ngực không ngớt dội lên những tiếng khò khè nghẽn đặc của chứng bệnh phổi tro kinh niên. Họ dạt vào hai bên bờ rãnh cạn, kẻ bưng rổ, người ôm bao tải gai, ánh mắt đờ đẫn dán vào từng bước chân của những phường buôn khoáng thạch.

Dọc theo lối đi bùn khô nứt toác, trên những manh chiếu rách bươm và sạp gỗ mục kê tạm bằng đá hộc, sản vật bày bán trông thảm hại đến thắt lòng: những bó củ mài teo tóp bám đầy lớp đất quặng xám xịt như đất sét nung dở, dăm ba rổ rau dớn hái trộm trên vách đá quăn queo vì kiệt nước, hay những củ cải đực xơ xác, mốc thếch vì ủ quá lâu trong các hầm đất nhiễm phèn trọc. Không có lấy một sắc xanh tươi tắn nào tồn tại được dưới màn bụi quặng này quá nửa ngày.

Mộc An hít một hơi thật sâu qua lớp khăn vải thô nhuộm vỏ cây che kín nửa mặt, cẩn thận đặt hai sọt tre đan mắt cáo xuống góc sạp đất quen thuộc sát vách tường đá tróc lở—nơi nàng vẫn thường mượn tạm bóng râm để bày nghiên mực, nhận chép thuê văn tự và đơn từ cho phu quặng. Nàng cúi người, ngón tay thoăn thoắt gỡ từng nút lạt giữ lớp vải gai ướt sũng mà Đào Nguyệt đã cẩn thận đắp lên từ lúc trời còn chưa tỏ mặt người.

Tấm vải gai vừa nhấc ra, một làn hơi nước trong mát, ngai ngái dịu ngọt thoảng bay ra không gian đặc quánh, tức thì xua bạt đi mùi chua nồng của tro đá xung quanh.

Bên dưới lớp gai thô là từng bó cải xanh mướt mập mạp, cọng trắng nõn nà như ngọc thạch chưa mài, phiến lá mở rộng mọng nước, bóng bẩy và tuyệt nhiên không vương lấy một đốm xỉ quặng hay một vệt cháy vàng nào của khí lò đan. Từng giọt sương mai trong vắt đọng trên kẽ lá khẽ rung rinh dưới ánh nắng mai nhạt nhòa, lấp lánh như những hạt huyền châu. Giữa một bãi chợ ngập tràn sắc xám xịt của đất chết và bụi tàn, màu xanh mơn mởn, căng tràn nhựa sống ấy bừng sáng rực rỡ, tựa như một điều kỳ dị không thuộc về cõi trần gian khô kiệt này.

Người đàn bà gầy guộc bán củ mài ở sạp bên cạnh trố tròn mắt, chiếc cân con bằng đồng trên tay run rẩy suýt rơi thẳng xuống nền đất:

“Trời đất quỷ thần ơi... Con bé nhà họ Mộc, mày... mày hái đâu ra thứ rau này giữa cái lòng chảo hạn kiệt này thế?”

Tiếng thốt kinh ngạc thất thanh của bà lập tức thu hút ánh mắt của một gã thương lái chuyên thu mua khoáng xỉ đang đứng ngã giá gần đó. Hắn ngoắt đầu lại, đôi mắt đỏ ngầu vì bụi tro trợn trừng, bàn tay cáu bẩn đen nhẻm vội vã thò ra định chộp lấy một nhánh rau mọng nước đặt trên cùng:

“Rau tươi thật! Không phải ảo ảnh pháp thuật che mắt! Cọng lá không hề có mùi tanh tưởi của trọc tức... Bán thế nào đây cô em? Cả hai sọt này ta bao trọn gói, mười lăm tiền đồng!”

“Buông tay ra!”

Mộc An đanh giọng, chiếc thước gỗ lim dùng để kẻ dòng văn tự trong tay nàng gõ nhẹ nhưng dứt khoát lên mu bàn tay thô ráp của gã thương lái. Ánh mắt nàng sắc lạnh, hàng mi khẽ nhướng lên, không hề có lấy một tia nao núng trước dáng vẻ bặm trợn của kẻ đối diện:

“Mười lăm tiền đồng chỉ mua nổi nửa bó cải úa bám đầy bụi quặng ngoài cổng núi thôi. Đây là rau sạch gieo trên đất mạch, cọng giòn lá ngọt, không dính một hạt trọc khí. Một bó đúng năm mươi tiền đồng, không bớt một xu!”

Mức giá cao gấp năm lần ngày thường vừa thốt ra lập tức khiến đám đông xung quanh xôn xao kinh ngạc. Năm mươi tiền đồng đủ mua nửa bao cám tro hoặc một bát cháo ngô loãng nuốt qua ngày. Nhưng sự ngỡ ngàng chỉ kéo dài trong đúng một hơi thở ngắn ngủi. Mùi hương ngai ngái, thanh khiết của rễ cây ngậm đủ thủy khí sạch bốc lên giữa cái nóng hanh hao, bụi bặm như một mồi lửa châm thẳng vào bùi nhùi đói khát bấy lâu.

Những người dân phố chợ, từ các phu đẩy xe quặng với đôi bàn tay chai sần rướm máu cho tới các quản gia áo vải của các tiệm cầm đồ ven bến, lập tức ùa tới như bầy thiêu thân thấy ánh đèn dầu.

“Cho tôi ba bó! Mẹ già tôi đang tức ngực ho ra máu ba ngày nay rồi, cần nước rau tươi nấu canh giải nhiệt giải độc!”

“Tránh ra cho người khác mua! Ta trả năm mươi lăm tiền một bó, bán cho ta mười bó trước!”

“Ta trả hẳn sáu mươi tiền! Đừng có chen lấn xô đẩy, làm dập rau của người ta bây giờ!”

Đám đông xô đẩy, chen chúc đến nghẹt thở. Tiếng tiền đồng xâu dây va vào nhau lách cách chói tai, bàn tay này gạt phắt bàn tay khác, hơi thở hỗn hển nồng mùi tro bụi phả ra ràn rạt. Ai nấy đều thèm khát được chạm vào thứ sinh khí mọng nước dường như đã biến mất hoàn toàn khỏi vùng đất Hạ Khê suốt nửa năm qua kể từ ngày tiên môn siết chặt các dòng suối.

Mộc An một tay giữ chặt mép sọt tre, một tay thoăn thoắt thu tiền, đếm từng cắc bạc vụn và từng xâu tiền đồng rỉ sét. Nàng liên tục cao giọng nhắc nhở giữ trật tự, nhưng tâm trí nàng lúc này căng như dây đàn kéo căng hết cỡ. Từng bó rau trao đi là từng bó sinh mệnh; nàng nhớ như in từng câu từng chữ trong bản thỏa ước ba điều đã ký với Phạm Nghi dưới bóng hoàng hôn hôm trước: đây là khoản tiền sinh mạng để cứu mẹ và giữ lấy mảnh vườn trước miệng sói thương môn.

Chỉ sau chưa đầy hai khắc đồng hồ, hai sọt tre lớn đã sạch trơn, không còn sót lại lấy một cọng lá vụn. Đáy sọt tre chỉ còn vương lại mấy giọt nước giếng trong vắt đọng lấp lánh trên nan tre bóng nhẵn.

Mộc An vội vã gom toàn bộ số tiền bán được vào chiếc túi vải gai dày giắt chặt bên hông, luồn dây buộc hai vòng quanh thắt lưng. Nàng khẽ tính nhẩm trong đầu: tổng cộng thu về hơn bốn lượng bạc vụn cùng gần hai ngàn tiền đồng—một món tiền khổng lồ đối với một vụ thu hoạch rau ngắn ngày giữa mùa đại hạn, đủ khiến bất cứ kẻ bần hàn nào ở Bến Tro phải hoa mắt chóng mặt.

Không dám nán lại giữa bãi chợ đang bắt đầu xao động bởi những ánh mắt tò mò và thèm thuồng, nàng lập tức quẩy gánh sọt không, rảo bước thoăn thoắt về phía dãy hàng lương thực nằm khuất ở cuối chợ.

Tại đây, nàng dùng một phần tiền đồng mua ngay hai bao bột ngô loại mịn, đóng kín trong bao tải gai chống ẩm cẩn thận—thứ lương thực đủ để cả nhà nàng và mấy hộ nghèo quanh xóm giếng cầm cự trong nửa tháng tới mà không phải ăn độn cám tro hay vỏ cây rừng.

Xong xuôi, nàng cẩn thận vòng qua con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo phía sau tiệm thuốc Bắc của dược hộ Bến Tro, tìm đến gian nhà kho nơi Đào Nguyệt đã gửi gắm đơn vị thuốc từ trước. Đào Nguyệt đã dặn dò nàng vô cùng cẩn thận: để làm dịu phế nang đã giòn vụn như lá khô của mẹ nàng, không thể chỉ dựa vào nước giếng sạch mà nhất thiết phải có thêm các vị thảo dược dẫn đường như bách bộ phơi âm can, khoản đông hoa loại bỏ đài và cát cánh thượng phẩm để thông kinh chỉ khái.

Cầm bọc thuốc thơm mùi thảo mộc the mát được gói chặt bằng nhiều lớp giấy dầu trên tay, Mộc An khẽ thở phào một hơi dài. Một cảm giác nhẹ nhõm hiếm hoi lan tỏa trong lồng ngực đang căng cứng của nàng.

Thế nhưng, khi nàng vừa bước chân vào một quán trà tranh tồi tàn ven đường cái để buộc lại quai gánh và uống hớp nước hạ nhiệt, những âm thanh xì xào to nhỏ từ các bàn trà xung quanh đã đập thẳng vào tai nàng, khiến sống lưng nàng bất giác lạnh toát.

“Nghe thấy gì chưa? Sáng nay ở sạp chép thuê có người bán loại rau tiên xanh như ngọc thạch!”

“Không phải rau thường đâu bác ơi! Tôi nghe người ta kháo nhau dưới đáy Giếng Cạn nhà họ Mộc ở Hạ Khê mọc ra một gốc thần thảo thượng cổ. Rễ nó rỉ ra nước cam lộ tinh khiết, uống vào không chỉ sạch hết tro xỉ tích trong phổi mà còn đả thông kinh mạch, tăng tiến tu vi nữa đấy!”

“Bảo sao Thanh Lộ Tông chặn hết suối lớn suối nhỏ trên núi mà giếng nhà đấy vẫn đùn nước ăm ắp! Khéo chừng là bảo vật linh mạch trồi lên từ lòng đất...”

“Gớm, thảo nào mấy nhà xóm Giữa dạo này cứ thậm thụt quanh cái miệng giếng suốt đêm ngày. Quả này nhà họ Mộc đổi đời, nhưng e là tai họa cũng theo về...”

Những lời thêu dệt hoang đường cứ thế mọc cánh bay đi, tam sao thất bản theo từng ngụm trà đắng ngắt của đám thương lái rỗi việc và phu quặng nghỉ ca. Mộc An siết chặt quai túi vải bên hông, mồ hôi lạnh rịn ra nơi thái dương, thấm ướt cả lớp khăn che mặt. Nàng hiểu rõ thói đời ở chốn cùng kiệt này: đói khát sinh ra tuyệt vọng, và tuyệt vọng thì luôn đẻ ra những điều hoang tưởng nguy hiểm nhất. Tai họa đang kéo đến nhanh hơn nàng dự tính rất nhiều.

Không dám chần chừ thêm một khắc, nàng vội vã kéo sụp chiếc nón rách, cúi thấp đầu, đôi chân thoăn thoắt bấm trên con đường mòn lởm chởm đá cuội dẫn về phía thung lũng Hạ Khê.

***

Tin đồn ở Bến Tro truyền đi nhanh như gió cuốn tro tàn qua đồng khô. Trước khi bóng dáng Mộc An kịp vượt qua khúc quanh dốc Thạch Nê, lời thì thầm về “thần thảo cải tử hoàn sinh” và “mạch nước cam lộ” đã chui tọt vào gian phòng khách lót gấm hoa của Vạn Thạch Hành nằm sừng sững bên bến sông sầm uất.

Và khi Mộc An vừa về tới đầu ngõ xóm Giữa, hơi thở còn chưa kịp điều hòa, nàng đã cảm nhận được bầu không khí trong vườn thuốc nhà mình đặc quánh sự căng thẳng chết chóc.

Dưới gốc cây hòe cằn cỗi sát bờ rào đá xếp khan, một cỗ xe song mã lộng lẫy bằng gỗ mun sơn then bóng loáng đỗ chình ình, hai bánh xe bọc sắt cày nát cả lối đi công cộng bằng đất nện. Ba bóng người đang đứng sừng sững giữa khoảnh sân nhỏ trước căn nhà tranh vách đất xiêu vẹo của Mộc gia.

Đi đầu là Đỗ Kính—chưởng quỹ chi nhánh Bến Tro của Vạn Thạch Hành. Hắn mặc chiếc áo dài lụa màu hạt dẻ viền lông thú xa xỉ, bụng phệ hơi ưỡn ra, tay cầm một chiếc quạt xếp bằng ngà voi chạm trổ tinh xảo, nhịp gõ đều đặn vào lòng bàn tay mập mạp. Hai bên sườn hắn là hai tên tùy tùng vạm vỡ, mặc áo chẽn đen bó sát, thắt lưng da cắm đoản đao sáng loáng, đôi mắt lạnh lùng như mắt rắn đảo quanh từng gốc cây ngọn cỏ trong vườn.

Đối diện với bọn chúng là Mộc Tầm và Phạm Nghi. Tầm đứng chắn ngay trước tấm liếp nứa dẫn vào buồng mẹ, hai cánh tay buông thõng nhưng từng thớ cơ bắp cuồn cuộn dưới lớp áo nâu bạc màu đang căng cứng như dây cung. Gương mặt anh sạm đen vì sương gió, ánh mắt găm chặt vào viên chưởng quỹ không rời nửa tấc. Bên cạnh anh, Phạm Nghi một tay ôm chặt cuốn sổ giếng bọc da trâu sờn rách trước ngực, mặt mày xám ngoét không còn hột máu vì căng thẳng tột độ.

“Mộc Tầm lão đệ, hà tất phải làm ra vẻ mặt như sắp ra chiến trường sinh tử thế kia?” Đỗ Kính cất giọng thong thả, nụ cười trên môi vô cùng lịch thiệp nhưng ánh mắt lại sắc lẻm như dao rọc giấy: “Ta nghe người ta đồn đại khắp phố chợ rằng nhà ngươi tìm được thần dược cứu mạng dưới đáy đất, trồng ra cả những thứ rau tươi non ngút ngàn giữa mùa đại hạn. Có bổng lộc trời ban lớn như vậy mà lại nỡ quên mất món nợ cũ ở bổn hành sao?”

Hắn khẽ phẩy nhẹ chiếc quạt ngà. Một tên tùy tùng phía sau lập tức mở chiếc tráp gỗ mun khảm xà cừ, rút ra một cuộn giấy vàng buộc dây lụa đỏ thắm—khế ước vay nợ gốc mang dấu triện đỏ chót của Vạn Thạch Hành.

“Hôm nay vừa vặn tròn ba mươi ngày kể từ khi bổn hành gửi trát cảnh báo đầu tiên đến tận cửa nhà ngươi,” Đỗ Kính phe phẩy quạt, gió lụa làm bay bay chòm râu dê tỉa tót cẩn thận, giọng nói không nhanh không chậm nhưng từng chữ thốt ra nặng trịch như đá tảng ném vào mặt người nghe: “Khoản nợ gốc mười hai lượng bạc trắng và ba viên linh thạch hạ phẩm tiền mua linh dược trị phế tro cho lệnh đường năm ngoái. Cộng thêm tiền lãi định kỳ và phí chậm trả hai phần mười... hôm nay là hạn chót không thể lùi thêm. Hoặc là thanh toán sòng phẳng toàn bộ cả gốc lẫn lãi ngay tại chỗ, hoặc là dọn đồ đạc đi nơi khác trước khi trời tối, để bổn hành cắm cờ niêm phong, thu hồi nửa mẫu vườn thuốc này theo đúng điều khoản thế chấp đã ghi rành rành trong văn tự!”

“Đỗ chưởng quỹ!” Phạm Nghi run giọng bước lên nửa bước, giơ cuốn sổ giếng bìa da trâu lên như một tấm khiên chắn: “Khoan đã! Xin ngài hãy bớt lời ép người! Đất vườn nhà họ Mộc tuy có cắm cho thương hành, nhưng cái Giếng Cạn bên cạnh và bờ rào đá này là tài sản chung của cả sáu xóm làng Hạ Khê từ thời lập ấp đến nay! Các người muốn siết đất thì phải mời lý trưởng và nha môn về đo đạc cho rõ ranh giới từng thước một, tuyệt đối không được đụng tới giếng công!”

Đỗ Kính liếc nhìn Phạm Nghi bằng nửa con mắt, nụ cười trên khóe môi càng thêm vẻ châm biếm sâu cay:

“Bác Nghi quản sổ giếng đấy à? Ta việc gì phải đụng tới cái giếng làng khô cằn của các người cho bẩn tay? Nhưng khế ước này ghi rõ ràng từng nét mực son: thế chấp 'nửa mẫu vườn thuốc cùng toàn bộ quyền trích rút mạch nước ngầm phụ cận'. Mạch nước rỉ dưới cái giếng kia nếu rễ cây của mảnh vườn này chạm tới, nó chính là tài sản phụ đính không thể tách rời của vườn thuốc. Vạn Thạch Hành chúng ta buôn bán kinh doanh dựa trên luật pháp nghiêm minh của phủ huyện Bình Xuyên, cớ sao các người dám mở miệng vu vạ là cướp đoạt?”

Ánh mắt soi mói của Đỗ Kính vượt qua bờ rào đá đổ nát, dừng lại chằm chằm ở khoảnh đất đen ẩm ướt lạ thường rộng chừng ba mươi mét vuông quanh miệng giếng—nơi vừa được Mộc Tầm dọn sạch cỏ dại và gốc rễ sau vụ thu hoạch chớp nhoáng ban sáng.

Nhãn lực tinh đời của một tay buôn lâu năm lập tức mách bảo hắn rằng miếng đất kia có giá trị vượt xa một mảnh vườn rách nát nơi sơn cùng thủy tận này. Lòng tham trong đáy mắt hắn loé lên một tia sáng lạnh buốt.

“Khoan đã!”

Tiếng thở dốc của Mộc An vang lên từ cổng rào tre xộc xệch. Nàng quẳng đòn gánh và hai sọt rỗng sang một bên bờ cỏ, nhanh chân bước thẳng vào giữa vòng vây, đứng chắn ngang giữa anh trai và Đỗ Kính.

“Đỗ chưởng quỹ, ngài đừng mang cái giọng điệu lấy luật phủ huyện ra dọa dẫm người nghèo chúng tôi!” Mộc An rút từ trong ngực áo ra hai tờ biên nhận nợ cũ nát đã ngả màu ố vàng, giơ thẳng lên trước mặt Đỗ Kính: “Tờ biên nhận nợ này của ngài vào tháng trước đã tính phạt chậm trả hai phần mười trên tổng số nợ một lần rồi. Tháng này ngài lại ngang nhiên cộng dồn khoản tiền phạt một lượng hai tiền bạc đó vào nợ gốc để tính lãi phạt kép đợt hai! Luật điền trạch của phủ Bình Xuyên điều thứ mười bốn ghi rõ: nghiêm cấm thương hành áp dụng lãi kép trên tiền phạt quá hạn dưới mọi hình thức! Ngài có muốn chúng tôi mang bản trích lục này lên thẳng cửa nha môn của Huyện quan Ngô Trực để đối chất công khai không?”

Nụ cười trên mặt Đỗ Kính khẽ sượng lại trong chớp mắt. Chiếc quạt ngà trong tay hắn ngừng đung đưa giữa không trung.

Hắn nheo mắt đánh giá cô gái trẻ trước mặt bằng ánh mắt lạnh lùng, thầm giật mình trước sự sắc sảo khác thường của một kẻ quanh năm chỉ biết làm nghề chép thuê đầu đường xó chợ. Hắn thừa biết nàng nói không sai một chữ; nếu nha môn thật sự thụ lý điều tra theo đơn khiếu nại, việc tính lãi kép trái phép bị phanh phui sẽ khiến Vạn Thạch Hành gặp rắc rối không nhỏ với các quan thư lại như Lưu Tố—những kẻ luôn rình rập sơ hở của thương nhân để vòi vĩnh tiền bạc.

Tuy nhiên, Đỗ Kính là con cáo già lăn lộn nơi thương trường nhiều năm, nét mặt hắn lập tức trở lại vẻ bình thản, lạnh lùng như giếng sâu:

“Cô em họ Mộc nói chuyện nghe sắc sảo, thông tuệ lắm. Nhưng luật là luật, còn nợ gốc mười hai lượng bạc trắng và ba viên linh thạch hạ phẩm vẫn là giấy trắng mực đen rành rành mang dấu điểm chỉ của cha ngươi. Ta có thể rộng lượng xóa bỏ khoản phạt trùng lặp đó theo thiện chí của bổn hành. Nhưng nợ gốc đến hạn thì sao đây? Các người có tiền trả ngay bây giờ không, hay vẫn chỉ dựa vào cái miệng dẻo quẹo để xin khất lần khất lữa?”

Mộc Tầm bước lên nửa bước, bàn tay to bản vỗ nhẹ lên vai em gái để nàng lui lại phía sau. Anh nhìn thẳng vào đôi mắt hẹp dài của Đỗ Kính, giọng trầm ổn, đĩnh đạc không chút gợn sóng:

“Chúng tôi không xin khất không công.”

Tầm đón lấy chiếc túi vải dày từ tay Mộc An, dứt khoát mở dây buộc, trút toàn bộ số bạc vụn sáng loáng và những xâu tiền đồng nặng trịch lên chiếc bàn đá rửa thuốc trước sân.

Loảng xoảng! Tiếng kim loại va chạm vang lên giòn giã, chấn động cả bầu không khí ngột ngạt.

“Đây là bốn lượng bạc vụn và gần hai ngàn tiền đồng, quy đổi sòng phẳng tương đương sáu lượng bạc trắng nguyên chất. Toàn bộ là tiền bán hoa lợi rau sạch sáng nay ngoài Chợ Bến Tro,” Tầm chỉ tay vào đống tiền nằm ngay ngắn trên mặt đá: “Chúng tôi trả trước phân nửa nợ gốc bạc trắng ngay hôm nay, ngay tại chỗ này.”

Đỗ Kính nhìn đống tiền đồng còn lấm lem bùn đất và sương mai, đuôi lông mày khẽ giật giật. Hắn thừa biết số tiền này từ đâu mà ra—nó chính là minh chứng sống động nhất cho thấy lời đồn đại ngoài chợ sáng nay hoàn toàn không phải là chuyện bịa đặt. Khoảnh đất kia thật sự tạo ra tiền, và tạo ra với tốc độ khủng khiếp giữa mùa hạn hán.

“Sáu lượng bạc chỉ là một nửa số tiền bạc,” Đỗ Kính lạnh lùng nhắc nhở, ánh mắt vẫn không rời đống tiền: “Còn ba viên linh thạch hạ phẩm thì sao? Linh thạch là thứ bổn hành phải giao nạp làm phí thông quan trận pháp cho tiên môn trên núi, tiền đồng hay bạc vụn của phàm nhân các ngươi không thể thay thế được.”

“Gia hạn thêm ba mươi ngày nữa,” Tầm bình tĩnh nói, từng lời thốt ra chắc nịch như đóng đinh vào cột: “Trong ba mươi ngày đó, mỗi tuần Mộc gia chúng tôi sẽ cung ứng đều đặn cho chi nhánh Bến Tro của ngài hai sọt rau sạch tương tự như sáng nay, tính theo giá bán buôn cố định ba mươi tiền một bó. Ngài nắm độc quyền toàn bộ nguồn rau sạch này ngoài chợ Bến Tro, muốn bán lại giá năm mươi hay sáu mươi tiền là tùy ý ngài định đoạt. Đến cuối tháng, chúng tôi sẽ gom đủ số bạc còn lại và ra tiệm đổi đủ ba viên linh thạch hạ phẩm hoàn trả cho ngài. Nếu đến ngày đó chúng tôi không làm được, lúc đó ngài cứ mang trát siết đất đến, tôi tuyệt đối không hé răng nửa lời.”

Không khí trong sân lại rơi vào tĩnh lặng đến nghẹt thở. Đỗ Kính nheo mắt nhìn Tầm, bàn tay lại vô thức gõ nhẹ nan quạt lên mu bàn tay. Hắn đang tính toán những con số rất nhanh trong đầu.

Siết một mảnh vườn hoang khô cằn lúc này thực tế chẳng mang lại cho hắn bao nhiêu lợi lộc trước mắt, trừ phi hắn cử người đến tự cày xới—mà việc đó lại tốn kém chi phí thuê mướn và rất dễ gây xung đột, bạo loạn với dân xóm giếng của lão già Phạm Nghi. Ngược lại, nếu nắm độc quyền nguồn rau tươi không nhiễm độc trong ba mươi ngày, lợi nhuận hắn kiếm được từ việc bán lại cho các tửu lầu và các gia đình tu sĩ giàu có ngoài Bến Tro sẽ vượt xa vài đồng bạc tiền phạt con con. Chưa kể, ba mươi ngày là khoảng thời gian hoàn hảo để hắn âm thầm cài người thăm dò xem bí mật thực sự ẩn giấu dưới đáy giếng kia là thứ gì.

“Được. Mộc Tầm, ngươi quả thực biết cách nói chuyện làm ăn hơn con bé em gái ngươi nhiều,” Đỗ Kính nở nụ cười hào sảng giả tạo, thu quạt lại. Hắn vẫy tay ra hiệu cho tên tùy tùng: “Thu tiền lại. Lập một bản phụ lục khế ước cam kết giao nộp hoa lợi theo tuần, gia hạn siết nợ thêm đúng ba mươi ngày. Hạn chót là ngày ba mươi tháng sau.”

Tên tùy tùng nhanh nhẹn mài mực, trải giấy lên nắp tráp gỗ, viết vội tờ giao kèo phụ lục. Mộc Tầm bước tới, dứt khoát dùng ngón tay ấn mạnh vào nghiên mực đỏ rồi điểm chỉ dấu tay rõ ràng lên mặt giấy.

Đỗ Kính cẩn thận cất bản cam kết vào bọc áo lụa. Trước khi bước lên cỗ xe ngựa song mã, hắn còn ngoái đầu lại, ánh mắt tham lam quét qua vạt đất ẩm quanh Giếng Cạn một lần nữa:

“Nhớ kỹ lời hứa của ngươi đấy, Mộc Tầm. Thứ Hai tuần tới, ta sẽ cho người đem xe đến chở sọt rau đầu tiên. Nếu thiếu dù chỉ một cọng... khế ước này sẽ biến thành lệnh thu hồi đất lập tức.”

Chiếc xe ngựa rầm rập lăn bánh rời đi, để lại một làn khói bụi mờ mịt và bầu không khí ngột ngạt dần lắng xuống. Phạm Nghi tựa lưng vào bờ tường đá, thở hắt ra một hơi dài như người vừa thoát khỏi miệng cọp:

“Tạ ơn trời đất phù hộ... Lại qua được một ải đoạn trường. Nhưng Tầm này, mỗi tuần hai sọt rau lớn... liệu cái rễ dưới đáy giếng kia có chịu nổi không con?”

Tầm chưa kịp mở lời đáp thì một cơn rùng mình kỳ lạ đột ngột ập đến.

Đó tuyệt đối không phải là cơn gió lạnh bình thường của núi rừng. Trong không khí bỗng nhiên xuất hiện một luồng áp lực vô hình, đè nặng lên màng nhĩ, khiến luồng chân khí Dẫn Khí tầng ba mong manh trong kinh mạch của Tầm lập tức trở nên trì trệ, tắc nghẽn cục bộ. Mùi tro bụi nồng nặc ngoài đường dường như bị một luồng khí tức thanh hàn xua bạt đi trong chớp mắt.

Một bóng người từ trên bờ dốc cao Thạch Nê chậm rãi bước xuống.

Người này mặc một bộ trường bào màu lam nhạt, cổ áo và gấu tay thêu những đường chỉ xám hình mây cuộn tầng tầng lớp lớp—y phục chuẩn mực của một chấp sự ngoại môn thuộc Thanh Lộ Tông. Trên tay hắn cầm một chiếc pháp khí bằng đồng thau hình tròn to bằng miệng bát, trên mặt khắc đầy thiên can địa chi và những đường rãnh khảm bạc tinh xảo. Đó là một chiếc La Bàn Tầm Mạch.

Sự xuất hiện đột ngột của phái viên tiên môn khiến Phạm Nghi chết sững tại chỗ, cuốn sổ giếng trên tay rơi phịch xuống nền đất mùn. Mộc An giật thót mình, vội vã lùi lại nép sau lưng anh trai.

Tên chấp sự ngoại môn trạc ngoài ba mươi tuổi, gương mặt vuông vức lạnh lùng không chút cảm xúc, cằm hơi hếch lên lộ rõ vẻ ngạo mạn cố hữu của những kẻ bước ra từ cửa núi tiên đạo. Đôi mắt hắn lướt qua ba người họ như nhìn những con kiến hôi cỏ rác bên đường, rồi dừng lại ngay trên miệng Giếng Cạn.

“Vùng đất này... do ai quản lý?” Giọng hắn cất lên, bằng phẳng nhưng ẩn chứa uy áp thâm hậu của tu vi Luyện Khí tầng cuối, chấn động màng nhĩ người phàm đau nhức như có kim châm.

Phạm Nghi run rẩy nhặt cuốn sổ lên, ấp úng chắp tay cúi rạp người xuống sát đất:

“Bẩm... bẩm thượng tiên! Kẻ hèn này là Phạm Nghi, người trông coi sổ giếng công của sáu xóm làng Hạ Khê. Còn đây là... là vườn thuốc tư gia của nhà họ Mộc.”

“Giếng công? Vườn thuốc?” Viên chấp sự khẽ hừ lạnh một tiếng, bước từng bước chậm rãi tiến thẳng vào khoảnh sân. Hắn hoàn toàn không thèm liếc nhìn đám người phàm, chiếc la bàn tầm mạch bằng đồng trên tay hắn được nâng ngang ngực, ngón trỏ khẽ búng một đạo linh lực yếu ớt vào tâm bàn.

Tạch. Tạch. Tạch.

Chiếc kim chỉ nam bằng kim loại màu đen tuyền trên mặt la bàn bỗng nhiên run rẩy dữ dội, phát ra những tiếng gõ lách cách khô khốc.

Viên chấp sự nhíu mày, ánh mắt lập tức trở nên sắc bén khác thường. Hắn bước nhanh tới sát thành giếng đá, nơi những giọt nước rỉ từ kẽ nứt đang tí tách rơi xuống đáy sâu tăm tối. Hắn giơ thẳng la bàn ra ngay phía trên miệng giếng.

“Kỳ quái...” Hắn lẩm bẩm một mình, giọng mang theo sự nghi hoặc sâu sắc: “Sáng nay đài quan sát tầm mạch ở tiền đồn báo về có dao động thủy mộc chi khí dị thường xuất hiện cục bộ ở vùng lòng chảo hạ lưu này. Tưởng đâu mạch suối cũ của tông môn hồi sinh... nhưng cái thứ quái quỷ này là gì?”

Mộc Tầm nín thở, hai lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi lạnh buốt. Anh cố gắng kìm nén dòng linh lực Dẫn Khí nhỏ nhoi trong đan điền, hạ thấp nhịp thở đến mức tối đa để không gây ra bất kỳ sự chú ý nào. Dưới đáy giếng kia chính là mầm Tức Căn—thứ rễ cây kỳ lạ đang đâm sâu vào lòng đá. Liệu pháp khí tầm mạch chuyên dụng của tông môn có phát hiện ra chân tướng của nó?

Trên mặt chiếc la bàn bằng đồng, chiếc kim chỉ nam bắt đầu có biểu hiện điên cuồng mất kiểm soát.

Nó không hề chỉ về hướng bắc hay chỉ thẳng xuống đáy giếng như khi phát hiện ra một mạch khoáng thạch hay một dòng linh lưu thông thường. Ngược lại, chiếc kim xoay tít mù thành những vòng tròn hỗn loạn, giật cục liên hồi, lúc thì lệch sang phía đông nơi có luống đất ẩm, lúc lại rung lên bần bật rồi khựng lại như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt lấy.

Rắc! Một tiếng nổ lách tách nhỏ vang lên từ trung tâm la bàn, mặt kính bảo vệ bằng thạch anh khẽ rạn một đường tơ mỏng manh.

“Không có dòng chảy ổn định? Không có linh áp thuần dương?” Viên chấp sự lẩm bẩm, vẻ mặt đầy khó hiểu và bực bội. Hắn cúi đầu, nhìn chăm chú vào khoảnh đất đen xốp ẩm ướt rộng ba mươi mét vuông quanh miệng giếng, nơi vừa mọc lên lứa rau xanh mướt ban sáng.

Hắn ngồi xổm xuống, dùng mũi giày khều một mẩu đất ẩm lên, đưa lên mũi ngửi thử rồi lại bóp vụn ra trên các đầu ngón tay.

Đất tơi xốp, có thủy khí thanh khiết, hoàn toàn không có mùi tro quặng nồng nặc của đất chết Hạ Khê. Nhưng điều kỳ lạ tột cùng ở chỗ: trong nắm đất này lại không hề có lấy một tia linh khí thuần khiết nào có thể dung nạp cho việc tu luyện! Nó giống như một thứ đất thường sạch sẽ đến kỳ quặc, nằm lọt thỏm giữa một bãi tha ma nhiễm độc.

Đối với một tu sĩ được huấn luyện bài bản theo quy chuẩn chính thống của Thanh Lộ Tông—nơi mọi mạch khí đều được đo lường bằng độ tinh khiết và nồng độ linh thạch—hiện tượng này hoàn toàn mâu thuẫn và nghịch lý. Chiếc la bàn tầm mạch chuyên dụng của sơn môn được thiết kế để tìm kiếm những dòng năng lượng tập trung, có quy luật rõ ràng; khi đối diện với mạng lưới rễ tơ phân tán, biến đổi liên tục theo độ ẩm và chuyên hút trọc tức của Tức Căn, chiếc la bàn chỉ ghi nhận đó là một mớ “nhiễu loạn cục bộ” do khí độc ngầm bốc lên làm sai lệch từ trường tự nhiên.

“Dị tượng ẩm ướt này bắt đầu từ bao giờ?” Viên chấp sự đứng phắt dậy, ánh mắt lạnh lẽo như băng quét thẳng vào mặt Mộc Tầm.

Tầm nuốt khan một ngụm nước bọt, cúi đầu thật thấp, cố làm ra vẻ sợ sệt đúng mực của một người làm vườn thấp cổ bé họng trước uy áp của tu sĩ:

“Bẩm tiên sư... cách đây nửa tháng có một trận mưa rào nhỏ trên đầu nguồn dồn về. Có lẽ nước mưa ngấm qua kẽ nứt vỉa đá vôi Thạch Nê rỉ xuống giếng, rửa trôi bớt lớp tro xỉ trên bề mặt đất. Chúng tôi thấy đất còn hơi ẩm nên đánh liều gieo thử ít hạt cải dại kiếm miếng ăn qua ngày...”

“Hạt cải dại?” Tên chấp sự cười khẩy, giọng tràn đầy vẻ khinh miệt sâu sắc của kẻ bề trên nhìn xuống giống loài hạ đẳng: “Đám phàm phu các ngươi đúng là cả đời chỉ biết cắm mặt vào miếng ăn miếng uống. Đất có rửa trôi tạm thời thì vài hôm nữa độc khí ngầm xông lên cũng lại chết rụi cả thôi.”

Hắn rút từ trong tay áo ra một cuốn sổ da mỏng có thêu ấn ký mây xám của sơn môn, dùng bút than ghi ngoáy vài dòng vắn tắt: *Khu vực Giếng Cạn Hạ Khê: khí mạch hỗn loạn do túi trọc tức ngầm xáo động cục bộ, không có dấu hiệu hình thành linh mạch mới, đất ẩm tạm thời do nước ngầm rỉ thoát.*

Ghi chép xong, hắn gập cuốn sổ lại cái “bốp”, ánh mắt sắc như dao một lần nữa dừng lại trên người Tầm và Phạm Nghi. Uy áp tu sĩ khẽ phóng ra một luồng kình phong mỏng, khiến cả ba người lảo đảo lùi lại nửa bước.

“Nghe cho rõ đây lũ sâu bọ,” viên chấp sự cất giọng răn đe, âm thanh lạnh lẽo vang vọng khắp khoảnh vườn hoang: “Toàn bộ nguồn nước, khe suối và mạch ngầm từ đỉnh núi Thanh Lộ trải dài xuống lòng chảo này đều thuộc quyền sở hữu vĩnh viễn của Thanh Lộ Tông theo khế ước khai thác hộ sơn từ trăm năm trước. Sơn môn phong tỏa nguồn nước thượng nguồn là để duy trì đại trận hộ tông và lò luyện đan, đó là đại đạo trường tồn!”

Hắn chỉ thẳng mũi giày vào miệng giếng đá:

“Cái giếng này dù có rỉ ra chút nước cặn bẩn thỉu thì đó cũng là ân huệ rớt lại từ sơn môn. Tuyệt đối cấm các ngươi đào sâu thêm, phá vỡ cấu trúc vỉa đá làm ảnh hưởng đến phong thủy địa mạch của tông môn. Nếu để bản chấp sự phát hiện ra kẻ nào dám tự tiện khơi thông hay phá hoại vỉa đá nhằm trộm đoạt linh khí, hình phạt sẽ không phải là siết đất hay phạt tiền đâu... mà là tru diệt cả họ! Đã nghe rõ chưa?”

“Dạ... dạ rõ! Đệ tử đã ghi nhớ kỹ lời giáo huấn của tiên sư!” Phạm Nghi sợ hãi quỳ rạp xuống đất, trán dập sát mặt đá cuội lởm chởm. Mộc An cắn chặt môi dưới đến mức ứa máu tươi để kìm nén cơn uất ức đang dâng trào trong lồng ngực, trong khi Tầm chỉ im lặng cúi đầu, hai bàn tay siết chặt giấu sau vạt áo nâu rách nát.

Viên chấp sự hừ lạnh một tiếng đầy vẻ ghê tởm, không buồn nhìn lại đám dân đen lấy một lần. Hắn xoay người, ống tay áo lam phất mạnh tạo ra một cơn lốc nhỏ cuốn tung đám tro bụi mù mịt, rồi thoăn thoắt đạp trên những mỏm đá nhọn hướng về phía con đường mòn dẫn lên sơn môn mờ ảo trong mây.

Bóng áo lam vừa khuất hẳn sau rặng cây khô cằn trên sườn dốc Thạch Nê, Phạm Nghi mới run rẩy chống hai tay ngồi dậy, trán ướt đẫm mồ hôi trộn lẫn bụi đất bẩn thỉu.

“Khốn kiếp... suýt chút nữa là mất mạng cả lũ...” Ông lão lẩm bẩm, giọng nói run rẩy không sao kìm lại được: “Tầm ơi là Tầm, cái rễ cây dưới đáy giếng này... nó vừa là miếng cơm manh áo, mà cũng chính là cái thòng lọng treo lơ lửng trên cổ cả xóm mình đấy con ạ!”

Mộc An bước vội tới, nhẹ nhàng đỡ ông Nghi ngồi lên phiến đá rửa thuốc, rồi nàng quay sang nhìn anh trai với ánh mắt lo lắng tột độ:

“Anh... tên chấp sự kia tuy đã bỏ đi, nhưng hắn đã ghi chép vào sổ rồi. Nếu lần sau hắn quay lại cùng một địa sư cấp cao hơn, hoặc nếu Đỗ Kính đem chuyện rau sạch ra làm ầm ĩ ngoài chợ, tiên môn nhất định sẽ không để yên đâu.”

Mộc Tầm không trả lời ngay. Anh đứng lặng hồi lâu bên miệng giếng, ánh mắt thâm trầm nhìn theo hướng con đường núi mù mịt khói bụi tro xỉ của Thanh Lộ Tông.

Anh hiểu rất rõ những gì em gái mình lo lắng. Thanh Lộ Tông coi thường họ vì họ là phàm nhân giun dế; chiếc la bàn tầm mạch kia trở nên vô dụng vì nó chỉ biết tìm kiếm thứ linh khí thuần dương cao quý để phục vụ cho việc khai thác và bóc lột, chứ không thể nào hiểu nổi sức sống âm thầm, dai dẳng đang sinh sôi từ bùn đen và độc chất. Nhưng sự che giấu này chỉ là giải pháp tạm bợ trước mắt.

Chỉ cần Tức Căn tiếp tục lớn lên, diện tích đất phục hồi tiếp tục mở rộng ra xung quanh, sự xung đột gay gắt giữa khế ước khai thác độc quyền của tiên môn, lòng tham tài chính không đáy của Vạn Thạch Hành và quyền được sống sót cơ bản của người dân Hạ Khê sẽ bùng nổ dữ dội như một ngọn núi lửa bị dồn nén dưới đáy vực sâu.

“Vào nhà trước đã,” Tầm khẽ nói, giọng trầm tĩnh đến lạ kỳ: “Sắc thuốc cho mẹ, chia bột ngô cho các hộ theo đúng thỏa ước ba điều đã định. Chuyện gì đến sẽ phải đến, nhưng trước hết chúng ta phải sống sót qua vụ này đã.”

Chờ cho Mộc An dìu Phạm Nghi vào trong gian nhà tranh vách đất để cân đong, phân chia phần lương thực vừa mua được cho các nhà trong xóm giếng, Mộc Tầm mới chậm rãi bước lại gần miệng Giếng Cạn.

Anh quỳ một gối xuống lớp đất xốp ẩm thơm mùi phù sa, cẩn thận gạt lớp phên tre ngụy trang sang một bên rồi ghé mắt nhìn sâu xuống đáy giếng tối tăm.

Ánh sáng mặt trời đứng trưa rọi thẳng một vệt sáng hẹp, thẳng đứng xuống đáy vực sâu bốn trượng. Dưới đáy giếng ẩm ướt, mầm Tức Căn với hai chiếc lá ngọc bích vẫn kiên cường vươn lên giữa tầng đá mục ẩm ướt. Nhưng ngay phía dưới thân cây, tại nơi nhánh rễ to nhất đâm sâu vào kẽ nứt vỉa đá Thạch Nê, một cảnh tượng rợn người đập thẳng vào mắt anh.

Nốt sần màu xám tro đầu tiên—nơi tích tụ toàn bộ trọc tức và cặn bã kim loại nặng độc hại mà cái cây đã miệt mài lọc sạch suốt ba mươi ngày qua để cho ra vụ rau xanh mướt ban sáng—lúc này đã căng phồng hết cỡ, to bằng một quả trứng chim le le, bề mặt nổi cộm lên những đường gân đen tím ngoằn ngoèo như mạch máu.

Và ngay trước mắt Tầm, lớp vỏ xơ chai cứng của nốt rễ khẽ nứt toác ra một kẽ nhỏ.

Một giọt chất lỏng màu đen quánh như dầu hắc từ từ rỉ ra khỏi kẽ nứt, vừa chạm vào vỉa đá ẩm ướt liền lập tức sôi xèo xèo dữ dội, bốc lên một làn khói mỏng cay xè, nồng nặc mùi kim loại cháy khét lẹt.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn