Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtC.5 / 36
Chương 5

Ba Mươi Ngày

Mùi đất ẩm nồng nàn thơm ngát lạ lùng bốc lên từ vạt đất nhỏ quanh miệng Giếng Cạn, tương phản gay gắt với mùi tro khô khốc của phần còn lại làng Hạ Khê.

Chỉ cần bước lùi lại năm bước chân về phía con đường mòn dẫn ra đồng Thạch Nê, không khí lập tức đặc quánh vị khét lẹt của xỉ khoáng bị nung cháy và hơi nóng hầm hập phả lên từ lớp vỏ đá xám ngoét. Nơi ấy, từng vạt cỏ may đã chết rũ từ đầu mùa hạ, thân cây giòn vụn thành tàn tro dưới mỗi bước chân qua lại. Mặt đất ngoài ranh giới ấy rạn nứt thành muôn vàn kẽ hở ngoằn ngoèo, sâu hun hút như những vết chém rỉ máu khô cằn trên da thịt một kẻ hấp hối. Mỗi khi ngọn gió chướng từ phía rặng núi Thanh Lộ tràn xuống lòng chảo, nó cuốn theo lớp bụi khoáng mịn li ti, vàng vọt và xỉn màu, rát bỏng như kim châm vào khóe mắt, bám chặt vào chân lông, khiến cuống họng bất kỳ ai hít phải cũng phải co thắt lại trong những cơn ho khan đắng ngắt.

Nhưng ngay tại đây, trong vòng bán kính hơn hai trượng quanh bờ giếng đá cổ kính, một khoảng đất chừng ba mươi mét vuông lại khoác lên mình một sắc thái hoàn toàn khác: màu nâu thẫm mỡ màng của bùn ải đã được thuần hóa, tơi xốp và mát rượi dưới lòng bàn chân trần.

Đó là một sự tương phản gần như vô lý, tựa hồ ai đó vừa cắt một mảnh ruộng trù phú từ cõi mộng ảo nào đó đem đặt lọt thỏm vào giữa chảo lửa hoang tàn. Hơi ẩm từ lòng đất này bốc lên không mang theo mùi hôi hám của xú khí hay phèn quặng, mà phảng phất hương vị tinh khôi của rêu xanh sau cơn mưa đầu mùa, ngai ngái mùi chất hữu cơ mục rữa một cách êm đềm, thấm đẫm sinh lực tiềm tàng đang rạo rực cựa mình dưới tầng sâu.

Tròn ba mươi ngày kể từ buổi sớm mai Mộc Tầm phát hiện ra mầm cây kỳ lạ dưới đáy sâu tăm tối. Ba mươi ngày đằng đẵng trôi qua với từng cữ quan sát khắt khe, từng trang giấy bổi thấm đẫm mồ hôi và than củi ghi chép độ ẩm, màu bùn và nhịp thở của rễ cây theo lời dạy của bà giáo Bùi Sương.

Ba mươi ngày ấy là chuỗi ngày ròng rã của máu, mồ hôi và sự nhẫn nại đến cùng cực. Mỗi buổi hừng đông, khi sương mù xám đục còn chưa tan trên các mái rạ xơ xác của xóm Giữa, Tầm đã phải lần theo dây thừng tụt xuống đáy giếng sâu hơn bốn trượng. Dưới đáy vực hẹp ấy, không khí ngột ngạt từng khiến ngực anh thắt nghẹn, từng làm mười đầu ngón tay anh phồng rộp rồi rỉ máu vì phải cào bới từng tảng bùn dính trọc tức quánh đặc. Những vết trọc tức cắn vào da thịt để lại những vết thâm đen nhức nhối, nhưng đổi lại, trên từng trang sổ giấy bổi vàng úa, những nét vẽ bằng mẩu than củi của Tầm cứ ngày một dày thêm. Anh ghi chép lại mọi biến chuyển vi mô nhất: ngày thứ bảy rễ nhú thêm hai nhánh tơ mảnh như sợi tóc; ngày thứ mười bốn vỏ rễ chuyển từ màu nâu gỉ sắt sang màu xám tro pha vân lam; ngày thứ hai mươi mốt đất xung quanh miệng giếng bắt đầu tự bung tơi xốp, đẩy lùi lớp váng muối trắng độc hại từng phong tỏa mặt đất suốt năm năm ròng.

Giờ đây, trước mắt Mộc Tầm và Lê Cẩn là một khoảnh đất xanh ngắt đến nao lòng. Những luống rau cải ngắn ngày—thứ giống cải dại lá tròn vốn cằn cỗi trên sỏi đá, thân còi cọc và đắng chát khi mọc ngoài đồng hoang—khi gieo xuống nền đất được hơi thở Tức Căn thanh lọc đã vươn mình mạnh mẽ chỉ sau chưa đầy bốn tuần. Từng phiến lá cải xòe rộng bằng bàn tay người lớn, xanh mướt như ngọc phỉ thúy, căng tràn nhựa sống, bên trên còn đọng những giọt sương mai trong vắt lấp lánh như hạt châu dưới ánh bình minh vừa ló rạng qua rặng núi Thanh Lộ. Từng gân lá màu trắng ngà nổi rõ, mập mạp và đẫm nước, tựa như những mạch máu căng đầy sinh khí, kiêu hãnh phô diễn sức sống giữa một vùng bình nguyên đang lụi tàn.

Mộc Tầm quỳ một bên gối trên lớp đất ẩm, trên tay cầm chiếc liềm con đã mài sắc bén. Chiếc liềm sắt cũ kỹ mòn vẹt sống dao, vốn từng cùng anh phát cỏ gai và đào rễ củ mục, nay lướt đi nhẹ nhàng tựa như một ngón tay gảy đàn. Anh cẩn thận vén từng phiến lá mập mạp, luồn ngón tay trỏ xuống sát gốc cây, nơi phần bẹ trắng muốt tiếp giáp với lớp bùn nâu tơi xốp, rồi khẽ cứa một đường gọn gàng.

Tiếng *xoẹt* giòn giã vang lên, êm tai và dứt khoát, kèm theo dòng nhựa cây trắng đục, thơm mùi ngai ngái tươi nguyên tứa ra từ vết cắt. Mùi hương ấy xộc thẳng vào cánh mũi, mang theo vị ngọt mát lành của sương đêm và vị thanh sạch của tầng đất sâu chưa từng bị tro mỏ vấy bẩn.

“Khéo tay đấy, Tầm,” Lê Cẩn ngồi xổm bên cạnh, hai bàn tay thô ráp đầy vết chai sần thoăn thoắt xếp từng cụm rau vào chiếc sọt tre đan mắt cáo. “Cả đời tao đào giếng, lội bùn khắp cái lòng chảo Hạ Khê này, chưa từng thấy luống rau nào nhú lên mập mạp, mọng nước dường này giữa mùa đại hạn. Nhìn cái cọng non này xem, bẻ một cái là gãy giòn tan, chẳng hề có chút xơ cứng hay mùi hôi nồng của phèn quặng.”

Cẩn đưa một cọng rau lên gần mũi hít hà, lồng ngực gầy guộc phập phồng sau lớp áo vá chằng vá đụp. Vạt áo nâu của anh đã ố vàng vì mồ hôi muối và lấm lem bùn đất, những đường chỉ khâu vụng về chắp nối từng mảnh vải thô để che đi bộ xương sườn nhô rõ từng dóng. Anh khẽ nuốt nước bọt, cổ họng giật giật thèm thuồng, nhưng rồi lập tức kìm nén, cẩn trọng đặt ngay ngắn cọng cải vào giữa sọt như sợ làm dập nát báu vật. Đã bao nhiêu tháng ngày rồi người dân Hạ Khê chưa được nhìn thấy một cọng rau tươi đúng nghĩa? Những gì họ nhét vào bụng suốt mùa khô hạn vừa qua chỉ là rễ cỏ tranh khô quắt, củ mài xơ xác đào sâu dưới đáy khe cạn, hay những nắm lá dại chát đắng phải luộc đi luộc lại ba lần nước tro để khử độc mà vẫn khiến đầu lưỡi tê dại.

Dù vậy, sau vài động tác cúi gập người liên tục, Cẩn lại phải nén một tiếng ho khan nơi cuống họng. Anh khẽ nghiêng người, kín đáo xoay mặt sang hướng khác, đưa mu bàn tay khô ráp lên che miệng. Từng cơn rùng mình chạy dọc sống lưng gầy guộc; tiếng thở của anh trở nên khò khè, nặng nhọc, phát ra âm thanh rin rít như chiếc ống bễ rách lò rèn bị nghẽn bụi. Bệnh phổi tro—thứ quái tật gieo rắc bởi bụi đá Thạch Nê và khói xỉ nung của các lò luyện quặng thượng nguồn—đã bắt đầu gặm nhấm vào phế nang của người thợ đào giếng trẻ tuổi này từ hai năm trước, mỗi khi anh gắng sức hay cúi gập người quá lâu.

Tầm không bỏ qua chi tiết đó. Đôi mắt anh chùng xuống trong thoáng chốc, đáy mắt gợn lên một nỗi xót xa âm thầm nhưng anh không vội vã vạch trần để giữ thể diện cho bạn mình. Tầm hiểu rõ tính khí của Cẩn: thà cắn răng chịu đau chứ không bao giờ muốn tỏ ra mình là kẻ tàn phế hay gánh nặng cho người khác. Anh chỉ lặng lẽ chuyển mũi liềm sang khóm cải tiếp theo, ghìm bớt tốc độ cắt để Cẩn có thêm thời gian nghỉ giữa những lần xếp rau, giọng anh trầm ấm vang lên đều đặn:

“Đất chịu nhả chất độc ra thì cây mới có đường sống. Ba mươi ngày qua, nhờ lớp bùn ẩm dưới đáy giếng làm đệm và rễ Tức Căn kéo trọc tức về các nốt sần, vạt đất này mới thở lại được. Nhưng cũng chỉ mới được chừng này thôi, Cẩn ạ. Ra khỏi bờ rào đá kia, đất vẫn cứng như ngói nung. Hơi ẩm của mầm cây chưa đủ sức lan xa, nếu mình nôn nóng đào xới rộng ra ngoài ranh giới này, trọc tức tích tụ xung quanh sẽ tràn ngược vào bóp chết mầm non ngay.”

Cẩn hít sâu một hơi, cố điều hòa nhịp tim đang đập dồn trong lồng ngực, rồi gật đầu tán đồng:

“Tao hiểu chứ. Nhìn vạt đất này, tao cứ ngỡ mình đang nằm mơ giữa ban ngày. Một tháng trước, chính tay tao với mày dọn sỏi ở đây, đất lúc đó xám như tro bếp, ném hòn đất xuống đá còn vỡ toác ra thành bụi. Thế mà giờ đây...”

Chỉ trong nửa canh giờ, hai chiếc sọt tre lớn đã đầy ắp những bó rau cải xanh tươi mơn mởn. Màu xanh ấy rực rỡ và tràn đầy sinh khí đến mức trông gần như lạc lõng, như một ảo ảnh kỳ dị giữa khung cảnh hoang tàn, xám xịt của xóm làng đang chìm dần trong cơn hấp hối vì cạn kiệt linh mạch. Xa xa ngoài ngõ, những mái nhà tranh xiêu vẹo, những bờ tường đất nứt nẻ trơ trọi dưới ánh nắng sớm khô khốc, như một bức tranh chết chóc bao bọc lấy hòn đảo xanh bé nhỏ kỳ diệu này.

Bên bờ giếng, tiếng róc rách của dây thừng kéo gàu gỗ vang lên nhịp nhàng.

Đào Nguyệt đứng bên phiến đá rửa thuốc nhẵn thín, mái tóc đen nhánh được vấn gọn gàng bằng chiếc trâm gỗ đào mộc mạc không chút hoa mỹ. Nàng mặc bộ y phục bằng vải thô màu xanh chàm của dược hộ Bến Tro, tay áo được xắn cao quá khuỷu để lộ đôi cánh tay trắng ngần nhưng săn chắc. Nàng vừa kéo lên một thùng nước giếng đầy ắp. Dòng nước múc từ đáy giếng lúc này không còn ngả sắc vàng đục của lưu huỳnh hay đóng váng dầu đen kịt như một tháng trước; nước trong văn vắt, soi rõ từng đường vân gỗ và chiếc đinh sắt đã rỉ sét dưới đáy thùng, chỉ phảng phất một mùi khoáng chất thanh khiết hơi lạnh, làm mát rượi cả khoảng không gian xung quanh phiến đá.

Nguyệt đón lấy một rổ rau từ tay Tầm, nhẹ nhàng thả từng cụm cải vào chậu gỗ lớn. Nàng dùng những ngón tay thon thả, lành nghề khẽ khuấy đều nước, rửa sạch từng lớp đất mùn mịn màng còn bám nơi cuống rễ. Động tác của nàng uyển chuyển và chuẩn xác, không làm dập nát dẫu chỉ một mép lá mỏng manh.

Từ trong chiếc túi da thuộc sẫm màu đeo bên hông, Đào Nguyệt rút ra một bao gấm nhỏ thêu chỉ ngũ sắc đã bạc màu. Mở bao gấm, nàng cẩn thận lấy ra ba cây kim dài bằng bạc ròng bóng loáng, thân kim mảnh mai như sợi cước nhưng thẳng tắp và sắc lẹm. Đây không phải kim châm cứu thông thường để đả thông kinh lạc, mà là y kim thử độc chuyên dụng của các dược hộ vùng Bến Tro—thứ bảo vật gia truyền được tôi luyện qua nước suối lạnh và ngâm qua bảy loại dịch thảo mộc bí truyền, thân kim được khắc chìm các vạch đo tinh vi li ti như vảy cá để kiểm tra mức độ ngưng trệ và biến chất của khí tức.

Nàng chọn ra một cọng rau cải non mập mạp nhất, đặt ngay ngắn lên mặt thớt gỗ sạch đã được lau khô bằng khăn vải gai. Ánh mắt Đào Nguyệt lập tức trở nên tập trung cao độ, sự trầm tĩnh toát ra từ vầng trán thanh tú khiến nàng hoàn toàn tách biệt khỏi những thanh âm xào xạc của gió sớm hay tiếng thở dài của Cẩn.

Nàng cầm cây kim bạc đầu tiên, ngón tay điểm nhẹ vào chuôi kim, chậm rãi đâm xuyên qua phần cuống trắng mọng nước. Mũi kim lướt qua thớ thịt mọng, cắm sâu vào lõi bẹ cải. Nàng giữ nguyên cây kim trong mười nhịp thở, đôi mắt không chớp, chăm chú quan sát từng phần nghìn tấc bạc đang ngâm mình trong dòng nhựa cây.

Mọi người nín thở dõi theo. Lê Cẩn ngừng hẳn tay xếp rau, chiếc cuốc buông thõng bên sườn, hai mắt dán chặt vào đầu kim như thể vận mệnh của chính mình đang treo lơ lửng trên mũi bạc mong manh ấy. Tầm đứng sừng sững bên cạnh, hai bàn tay vô thức siết nhẹ lại. Dù ba mươi ngày qua anh đã theo dõi sát sao từng nhịp thở của mầm Tức Căn, nhưng trước sự kiểm định nghiêm ngặt của y đạo Bến Tro, lòng anh vẫn không tránh khỏi một thoáng hồi hộp khôn nguôi.

Khi Nguyệt chậm rãi rút cây kim thứ nhất ra, ánh kim loại bạc ròng vẫn sáng lấp lánh dưới ánh nắng mai rọi nghiêng. Không hề có một vệt xám xịt, không có một đốm đen rỉ sắt hay sắc xanh đen nhờ nhợ của chất độc quặng mỏ xuất hiện trên thân kim. Bề mặt kim loại trơn láng, phản chiếu vệt sương mai trong trẻo.

Đào Nguyệt khẽ gật đầu, vẻ mặt hơi giãn ra một chút nhưng sự cẩn trọng vẫn vẹn nguyên. Nàng tiếp tục dùng cây kim thứ hai, lần này châm thẳng vào gân chính của phiến lá xanh biếc—nơi tập trung dòng luân chuyển khí tức quang hợp của cây. Nàng xoay nhẹ chuôi kim nửa vòng, đợi thêm mười nhịp thở nữa rồi rút ra. Kết quả vẫn vẹn nguyên như cũ: kim bạc tinh khiết tuyệt đối, óng ánh sắc trắng thanh tao.

Chưa dừng lại ở đó, y thuật của dược hộ đòi hỏi sự kiểm chứng bằng chính thân thể mình. Đào Nguyệt đưa cọng rau non lên sát môi. Nàng không ngần ngại cắn nhẹ một đoạn cuống trắng mập mạp, chậm rãi nhai từng chút một.

Tiếng giòn rụm vang lên khẽ khàng giữa khoang miệng. Vị ngọt thanh khiết, giòn tan và mát lành lập tức lan tỏa trên đầu lưỡi, kéo theo một luồng khí ẩm dịu dàng trượt xuống cuống họng. Hoàn toàn không có cảm giác cay rát bỏng cháy của lưu huỳnh, không có cảm giác tê dại đầu lưỡi của độc chì, và tuyệt nhiên vắng bóng vị chua chát đặc trưng của tro quặng xả từ các mỏ thượng nguồn Thanh Lộ Tông. Ngược lại, luồng thanh khí mát rượi kia như một làn suối nhỏ len lỏi qua yết hầu, xoa dịu đi cơn hanh hao ngột ngạt của buổi sớm mùa đại hạn.

Đôi mắt Đào Nguyệt sáng lên một nét rạng rỡ hiếm thấy, gạt phăng đi vẻ mệt mỏi tích tụ suốt những đêm dài thức trắng chong đèn nghiên cứu bên bàn thuốc. Nàng ngẩng đầu nhìn Tầm, giọng nói điềm tĩnh nhưng chứa đựng sức nặng vững chãi của người làm nghề y:

“Rau hoàn toàn sạch trọc tức. Không có một mảy may độc tính kim loại nặng hay cặn lắng phế tro tồn dư trong thớ lá.”

Nàng cầm một cọng cải khác đưa về phía Lê Cẩn, mỉm cười nói thêm:

“Tính chất của thứ cải này rất bình hòa, lại ngậm nhiều thủy khí thanh sạch thuần dương từ mầm Tức Căn lọc qua. Với những người đang mắc chứng phổi tro như mẹ của anh Tầm, hay lão Bát xóm Giữa, cổ họng và phế nang bị bụi đá hun khô rát suốt mấy năm qua, nếu dùng rau này nấu canh thanh đạm hoặc ép lấy nước cốt uống ấm, sẽ có tác dụng nhuận phế, làm mềm các mảng đờm quánh và khai thông khí đạo cực kỳ tốt. Đây không phải linh dược trường sinh giúp người ta đột phá cảnh giới hay cải tử hoàn sinh, nhưng là thứ thực phẩm bổ dưỡng và an toàn nhất mà cả cái đất Hạ Khê này có thể mơ tới lúc này.”

Lê Cẩn thở phào một hơi dài thườn thượt, như trút bỏ được tảng đá nặng ngàn cân đang đè nặng trên ngực. Anh đưa tay áo quệt ngang vệt mồ hôi đọng trên trán, cười rạng rỡ, hàm răng trắng lóa lộ ra trên khuôn mặt sạm đen vì nắng gió:

“Nghe cô Nguyệt nói thế là tao yên bụng rồi! Thật sự sống lại rồi Tầm ơi! Mau, mau xới đất gieo tiếp lứa hạt mới. Đất này nhả được một vụ thì chắc chắn sẽ nuôi thêm được vụ nữa! Cứ đà này, chẳng mấy chốc mà cả cái vạt đất quanh giếng xanh um tùm, mẹ mày có rau sạch tẩm bổ mỗi ngày, phế khí của bà cụ nhất định sẽ chuyển biến tốt!”

Nói là làm, Cẩn vớ lấy chiếc cuốc cán tre dựng bên bờ rào đá, hăm hở bước về phía góc luống vừa thu hoạch xong. Đôi vai vạm vỡ của người thợ đào giếng vung lên, lưỡi cuốc sắc bén bổ mạnh xuống lớp đất ẩm để lật tơi tầng mùn đáy, chuẩn bị xẻ rãnh gieo cho lứa hạt giống cải dại tiếp theo đã được hong khô sẵn trong bồ.

*Keng!*

Một âm thanh giòn đanh, trầm đục vang lên bất thường giữa nền đất xốp mềm. Tiếng va chạm kim loại đanh thép dội ngược lại trong không gian tĩnh mịch, tựa như lưỡi cuốc vừa chém phập vào một khối sắt nguội hay một phiến đá hoa cương ngầm dưới lòng đất. Lực phản hồi chấn ngược cực mạnh chạy dọc theo cán tre, truyền thẳng vào hai cánh tay Cẩn khiến các khớp ngón tay anh tê dại, cả người lảo đảo lùi lại nửa bước, cán cuốc suýt chút nữa tuột khỏi lòng bàn tay thô ráp.

“Cái quái gì thế này?” Cẩn nhíu chặt đôi mày rậm, lùi lại một bước, xoa xoa cổ tay đang rung lên bần bật. “Đá ngầm à? Vô lý thật, hôm qua tao với Tầm đã dùng xẻng dọn sạch từng viên sỏi lớn quanh giếng sâu tới hai gang tay rồi cơ mà? Đào đâu ra tảng đá to thế này?”

Tầm lập tức bước tới, quỳ một gối xuống bên hố cuốc vừa bổ dở. Sắc mặt anh nghiêm lại, linh giác mách bảo anh điều bất thường:

“Khoan đã Cẩn, đừng cuốc bừa. Đất quanh đây mềm xốp, không thể có đá tảng trồi lên bất thình lình được.”

Tầm dùng hai bàn tay trần gạt phăng lớp đất mùn vừa bị lưỡi cuốc lật tung. Dưới lớp đất nâu xốp chừng nửa gang tay, hiện ra không phải là một tảng đá vôi gồ ghề hay khối xỉ quặng xám ngoét thường thấy ở vùng Thạch Nê.

Đó là một nhánh rễ cây.

Nhánh rễ to bằng ngón tay cái của người trưởng thành, lớp vỏ ngoài xù xì màu nâu sẫm pha sắc xám tro cổ kính, nhưng lẩn khuất dưới lớp vỏ xơ xác ấy là những đường vân gân guốc đang phát ra ánh sáng lam nhạt mờ ảo, chập chờn theo từng nhịp thở ngầm như mạch máu của một sinh linh khổng lồ đang say ngủ dưới lòng đất. Nhánh rễ không hề mềm yếu, mọng nước hay dễ đứt như rễ rau cỏ thông thường; nó dai chắc như gân bò rừng, đanh cứng như gỗ lim ngâm bùn vạn năm, đâm xuyên qua lớp đất thịt với một sức sống mãnh liệt và kiên định đến kinh ngạc. Lưỡi cuốc của Cẩn vừa rồi chém trúng thân rễ chỉ để lại một vết xước mờ mờ trên lớp vỏ ngoài, thậm chí không làm rỉ ra một giọt nhựa lam nào.

Điều đáng nói hơn cả là hướng đi và quỹ đạo vươn mình của nó.

Nhánh rễ chính này xuất phát từ lòng Giếng Cạn, len lỏi qua chân vách đá tổ ong cổ xưa, luồn sâu dưới tầng đất mặt, rồi bò ngang qua dưới chân hàng rào đá xếp chồng—vốn là ranh giới rạch ròi, lâu đời phân định giữa phần đất công cộng của giếng làng Hạ Khê và khoảnh vườn thuốc tư gia của nhà họ Mộc. Nó đã đâm xuyên qua chân hàng rào đá tự bao giờ không ai hay, cắm sâu đầu rễ vào lòng đất vườn Mộc gia, nơi từng luống hoàng liên khô héo, khẳng khiu đang thoi thóp nằm chờ từng gáo nước tưới suốt bao tháng ngày khô hạn.

Tầm đặt nhẹ các đầu ngón tay lên thân rễ còn vương đất ấm. Một luồng xúc cảm mát lạnh pha lẫn sự run rẩy nhè nhẹ truyền thẳng qua da thịt anh, chạy dọc theo cánh tay lên tới lồng ngực. Dưới tầng sâu thăm thẳm, nhánh rễ như đang khát khao vươn dài, những sợi rễ tơ vô hình của nó đang dò dẫm trong bóng tối, tìm kiếm những khe nước rỉ bé nhỏ nhất và các mạch dẫn ngầm cổ xưa hướng về phía hạ lưu lòng chảo. Nó không chỉ đơn thuần là hút nước để sống; nó đang âm thầm tái thiết lại cấu trúc của lòng đất mục ruỗng, thanh lọc độc tố và tạo ra một hành lang sống mới xuyên qua ranh giới đất đai.

“Nó... rễ Tức Căn đã bò sang đất vườn nhà mày rồi, Tầm!” Lê Cẩn thì thào, giọng nói lạc đi vì kinh ngạc, đôi mắt mở to nhìn chăm chú vào vệt sáng lam mờ ảo đang chập chờn dưới lớp mùn. “Mới có ba mươi ngày... làm sao một cái mầm cây nhỏ bằng ngón tay út dưới đáy giếng lại có thể vươn rễ xa và khỏe đến mức này?”

Chưa kịp để Tầm lên tiếng phân tích, một tiếng then cài rào tre va đập lách cách vang lên từ phía ngõ ngoài, kèm theo một giọng nói khản đặc, sắc nhọn bỗng xé toạc bầu không khí yên bình của buổi sớm:

“Dừng tay lại! Tất cả đứng nguyên đấy cho tôi!”

Từ con đường đất dẫn vào ngõ, Phạm Nghi sải những bước chân vội vã, chiếc áo vải nâu sờn rách hai bên vai bay phần phật theo từng nhịp bước dồn dập. Trên tay ông ta vẫn kẹp chặt cuốn sổ giếng bìa da trâu đen bóng—thứ kỷ vật đã sờn rách mép, ghi chép mọi lệ làng và định mức chia nước của sáu xóm Hạ Khê suốt ba đời nay. Ánh mắt sắc như dao của người quản sổ giếng đảo nhanh qua khoảnh đất, lướt qua hai sọt rau cải xanh ngắt đang tỏa hơi sương mát lạnh bên cạnh phiến đá rửa thuốc của Đào Nguyệt, rồi lập tức găm chặt vào nhánh rễ màu lam đang lộ ra dưới hố đất vừa bị cuốc xới.

Hơi thở của người quản sổ giếng dồn dập như người vừa chạy thục mạng qua con dốc Thạch Nê. Ông ta bước xộc tới mép hố, đứng khựng lại, đôi mắt trợn tròn nhìn chằm chằm vào nhánh rễ to bằng ngón tay cái đang tỏa ra thứ ánh sáng lam kỳ ảo. Cơ mặt ông co giật liên hồi; trong đáy mắt người đàn ông trung niên khắc khổ ấy, sự kinh ngạc tột cùng trước cảnh tượng đất chết hồi sinh đang tranh đấu dữ dội với sự căng thẳng, cảnh giác tột độ của một người nắm quyền quản lý công cộng khi nhận thấy trật tự quen thuộc bao năm qua đang đứng trước nguy cơ bị phá vỡ hoàn toàn.

“Trời đất quỷ thần ơi... Đất sống lại thật rồi... Cải mọc được thật rồi...” Phạm Nghi lẩm bẩm trong cổ họng, giọng run rẩy như không tin vào mắt mình. Nhưng rồi chỉ trong chớp mắt, bản năng cai quản và nỗi sợ hãi về sự hỗn loạn lập tức trỗi dậy, ông ta cao giọng, chĩa thẳng ngón tay trỏ khẳng khiu về phía hai sọt rau:

“Mộc Tầm, Lê Cẩn! Hai sọt rau này, cùng toàn bộ khoảnh đất và cái rễ cây dưới đất kia, tuyệt đối không ai được phép tự ý động vào!”

Lê Cẩn cau mày, chống mạnh cán cuốc xuống đất đánh *thịch* một tiếng, vẻ bực bội hiện rõ trên gương mặt phong trần:

“Bác Nghi, bác nói thế là có ý gì? Rau này là công sức thằng Tầm chăm bón sớm tối ròng rã một tháng trời, chui xuống đáy giếng nuốt bụi độc, tôi phụ xới đất tưới nước, cô Nguyệt vừa kiểm tra sạch độc xong xuôi. Mồ hôi nước mắt của anh em chúng tôi đổ ra cả tháng nay, sao lại không được động vào?”

“Ý gì à?” Phạm Nghi dằn từng tiếng, bước lên một bước, thân hình gầy gò đứng chắn ngang giữa hai sọt rau và Tầm như một bức tường ngăn cách: “Mấy người đừng có giả vờ ngây ngô trước mặt tôi! Gốc cây Tức Căn này nằm ở đâu? Nó mọc dưới đáy Giếng Cạn! Mà Giếng Cạn là gì? Là tài sản công của sáu xóm Hạ Khê từ đời cha ông để lại! Từng viên đá xếp thành giếng, từng gàu nước ngầm dưới đáy là của chung cả làng, đất quanh thành giếng này từ xưa tới nay đều là đất công của xóm quản lý. Cây hút nước làng, mọc trên đất giếng làng mà sống, thì hoa lợi từ nó sinh ra—toàn bộ số rau này—phải thuộc về quyền quản lý của xóm!”

Ông Nghi chỉ tay xuống nhánh rễ đang bò ngoằn ngoèo qua chân hàng rào đá:

“Còn cả cái nhánh rễ này nữa! Nó là rễ của cây công cộng dưới giếng vươn ra. Nay mai nó lớn lên, nó lan ra, nó là linh mạch cứu sống cả làng hay là mối họa trọc tức bùng phát làm sập cả bờ giếng thì xóm phải đứng ra nắm trọn quyền kiểm soát! Không thể để một tư gia nào tự tiện chiếm làm của riêng, muốn đào thì đào, muốn bứng thì bứng được! Tôi là người trông sổ giếng, nắm giữ công bằng cho sáu xóm, tôi có trách nhiệm giữ toàn bộ số rau này lại nhà kho của xóm để chia đều theo nhân đinh từng hộ, và lập rào gai niêm phong khu vực quanh rễ cây này ngay trong ngày hôm nay!”

Lời tuyên bố của Phạm Nghi rơi xuống khoảnh sân như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào ngọn lửa hy vọng vừa nhen nhóm. Không gian xung quanh bỗng chốc lặng ngắt như tờ, chỉ còn lại tiếng gió sớm rít qua những kẽ đá khô cằn. Lê Cẩn đỏ bừng mặt vì uất ức, lồng ngực phập phồng, những ngón tay siết chặt lấy cán tre của chiếc cuốc đến mức các khớp xương kêu răng rắc.

Đúng lúc căng thẳng đang dâng lên đỉnh điểm, cánh cửa liếp gian nhà chính bật mở với một tiếng *cạch* dứt khoát.

Mộc An bước ra. Nàng không mặc bộ váy áo rực rỡ nào, chỉ khoác chiếc áo vải nâu sẫm gọn gàng, nhưng phong thái toát ra từ cô gái trẻ làm nghề viết thư thuê ngoài chợ Bến Tro lại khiến người ta không thể xem thường. Nàng ôm chặt trong tay một tập hồ sơ dày cộp bọc vải dầu cùng cuốn sổ ghi chép bằng giấy bổi đã ố vàng. Ánh mắt Mộc An sắc sảo, lạnh lùng và trong vắt như băng tuyết mùa đông, từng bước chân nện xuống nền đất ẩm vững chãi, không hề có lấy nửa phần dao động hay e sợ trước uy quyền của người quản sổ giếng.

“Bác Nghi,” Mộc An cất giọng đanh thép, âm lượng không quá lớn nhưng từng lời từng chữ rành rọt, khúc chiết như búa gõ vào đe: “Bác mở miệng ra là nói chuyện công bằng của xóm, nhưng cái lý của bác nghe sao mà trơ tráo và cay đắng đến thế?”

Phạm Nghi quắc mắt nhìn sang, lông mày dựng ngược: “Con bé này! Mày dám ăn nói hỗn xược với bậc cha chú thế à? Đất giếng là đất chung, hương ước sáu xóm sờ sờ ra đấy, tao làm theo lệ làng chứ có tư túi cho bản thân tao đâu mà trơ tráo?”

“Hương ước nào dạy bác lúc tai ương thì vứt bỏ, lúc có miếng ăn thì nhảy vào cướp giật?” Mộc An bước thẳng tới trước mặt Phạm Nghi, không hề lùi bước dù chỉ nửa bước chân. Nàng lật phắt cuốn sổ giấy bổi ra, giơ thẳng những trang giấy chằng chịt vết than củi và vết bùn khô trước mắt ông ta.

“Bác nhìn cho rõ đây! Ba mươi ngày qua, khi cái giếng này bị coi là tử địa bốc mùi hôi thối, ai là người bò xuống đáy sâu bốn trượng nồng nặc trọc tức để vét từng xẻng bùn độc? Ai là người thức trắng đêm đắp bùn lạnh, che liếp tre khi rễ cây bị trọc tức hun bỏng rát? Ngón tay trỏ của anh Tầm bị trọc tức ăn hoại tử, thịt thối đến tận xương, suýt chút nữa phải tháo khớp nếu không có cô Nguyệt cứu chữa, lúc đó xóm của bác ở đâu? Bác quản sổ giếng ở đâu? Sổ công của bác có ghi lại một ngày công, một gáo nước, hay một bát cháo nào của người làng xuống phụ giúp không? Không hề có một ai! Lúc hiểm nguy, các người coi cái giếng này là hủi lậu, để mặc anh em tôi tự sinh tự diệt. Giờ đây thấy rau xanh mọc lên, thấy đất nhả quả ngọt, bác lại vác cái danh nghĩa ‘tài sản công’ ra để tước đoạt trắng trợn sao?”

Mộc An lật tiếp tập hồ sơ bọc vải dầu, rút ra một tờ giấy lệnh đã ngả màu vàng sẫm nhưng nếp gấp còn sắc nét, phía dưới góc có đóng dấu triện đỏ chót của huyện nha Bình Xuyên—đó là bản trích lục địa bạ Mộc gia do chính phụ thân nàng để lại.

“Còn về quyền đất! Bác nhìn cho kỹ cái hàng rào đá này.” Nàng chỉ thẳng tay vào bờ đá xếp chồng phủ đầy bụi xám ngăn đôi khu đất. “Đây là mốc ranh giới địa bạ do chính huyện nha Bình Xuyên xác lập và cắm mốc từ ba mươi năm trước, thời ông nội tôi còn làm chưởng quản dược điền. Giếng Cạn nằm bên ngoài ranh, thuộc về dải đất công cộng, điều đó gia đình tôi chưa bao giờ phủ nhận. Nhưng nhánh rễ này đã bò qua hàng rào đá, cắm sâu vào lòng đất vườn thuốc của nhà họ Mộc! Đất này có giấy tờ khế ước đứng tên cha mẹ tôi truyền lại, đóng thuế đinh, thuế điền đầy đủ cho huyện nha không thiếu một đồng một cắc suốt mấy chục năm qua. Dù hiện tại mảnh đất này đang bị Vạn Thạch Hành giữ làm tài sản thế chấp nợ, thì theo luật định của nha môn, quyền canh tác, quyền quản lý và quyền thụ hưởng toàn bộ hoa màu trên mảnh đất này vẫn tuyệt đối thuộc về gia đình tôi cho đến ngày cuối cùng của kỳ hạn chuộc nợ!”

Mộc An quét ánh mắt sắc lẹm nhìn thẳng vào đồng tử đang co rút lại của Phạm Nghi, giọng nói đanh lại, từng lập luận sắc bén như gươm tuốt khỏi bao:

“Luật của huyện Bình Xuyên ghi rõ ở điều Điền Trạch: rễ cây từ đất ngoài xâm lấn cắm vào đất tư, hoa lợi mọc trên đất tư thì chủ đất tư có toàn quyền định đoạt, kẻ ngoài không được phép xâm phạm. Bác vin vào cái gốc dưới giếng để đòi chiếm luôn phần rễ trong vườn nhà tôi sao? Nếu hôm nay bác dám bước qua hàng rào đá này để đòi niêm phong rễ cây trên đất Mộc gia, tôi sẽ lập tức mang tờ biên nhận nợ có dấu hiệu gian lận lãi kép của Vạn Thạch Hành cùng bản trích lục địa bạ này lên thẳng công đường huyện nha Bình Xuyên, đánh trống kêu oan trước mặt Huyện quan Ngô Trực, kiện bác tội lạm quyền, xâm phạm gia sản tư nhân giữa mùa đại hạn!”

Từng câu, từng chữ của Mộc An như những mũi tên bắn thẳng vào điểm yếu chí mạng của Phạm Nghi. Người quản sổ giếng tái mét mặt mày, bàn tay cầm cuốn sổ da trâu run rẩy thấy rõ. Ông ta lúng túng nhìn tập giấy tờ có triện đỏ chói lọi trên tay cô gái trẻ, cổ họng nghẹn ứ không thốt nên lời.

Phạm Nghi biết quá rõ, Mộc An không phải là một đứa con gái nông thôn chỉ biết cấy cày cam chịu. Nàng làm nghề viết thư thuê ngoài chợ Bến Tro, hằng ngày tiếp xúc với đủ loại đơn từ, khế ước, kiện cáo của giới thương buôn và quan lại; nàng thông thạo luật lệ và câu chữ của nha môn hơn bất kỳ ai trong cái làng Hạ Khê này. Nếu chuyện này thực sự bị xé to ra, đưa lên công đường huyện nha Bình Xuyên trước mặt quan huyện Ngô Trực—một người vốn nổi tiếng hà khắc và chỉ căn cứ vào văn tự bằng khoán để định tội—thì không những xóm chẳng xơ múi được chút hoa lợi nào, mà bản thân ông ta còn có thể bị gông cổ tra xét vì tội ức hiếp lương dân, tự tiện can thiệp vào tài sản thế chấp đang tranh chấp với Vạn Thạch Hành.

Tuy nhiên, mối lo về cái đói đang rình rập và gánh nặng sinh tồn của hàng trăm miệng ăn trong xóm vẫn khiến Phạm Nghi không thể dễ dàng buông tay. Nỗi tuyệt vọng biến thành sự ngoan cố hằn sâu trên những nếp nhăn nơi khóe mắt ông ta. Phạm Nghi nghiến chặt hàm răng vàng ố, hạ giọng xuống một tông nhưng vẫn đầy vẻ gay gắt, cay độc:

“Cô An, cô đừng có đem luật huyện ra dọa dẫm lão già này! Luật huyện ở tận trên trấn xa xôi, quan huyện ngồi kiệu ngắm hoa sen, còn cái bụng đói của dân làng Hạ Khê thì nó nằm ngay trước mắt đây này! Đất lòng chảo này sắp chết hết rồi, người trong xóm đang phát điên lên vì khát, người ta đang tranh nhau từng gáo nước bùn thối ngoài khe Thạch Nê kia kìa! Cô tưởng mang mấy tờ giấy lộn có đóng dấu đỏ ra là no bụng được sao? Nếu để người trong sáu xóm biết nhà cô giấu rễ cây thần, lại thu hoạch được rau sạch mang đi ăn riêng hay bán chác lấy tiền nhét túi, cô tưởng cái hàng rào đá mỏng manh xếp bằng mấy hòn đá cuội này ngăn được hàng trăm con người đang tuyệt vọng sao? Họ sẽ kéo đến đây, không cần biết luật nha môn hay khế ước nợ nần gì hết, họ sẽ san phẳng cái vườn này, đào bới tung từng tấc đất để tìm nước và rau trong một đêm! Lúc đó, cả nhà cô có giữ nổi mạng không?”

Không khí trong sân bỗng chốc đông cứng lại, lạnh ngắt đến rợn người.

Lời cảnh báo của Phạm Nghi thô bạo nhưng lại là sự thật tàn nhẫn nhất của cái đất Hạ Khê này. Trong cơn tuyệt vọng cùng cực của nạn đói, dịch bệnh và cái chết cận kề, mọi ranh giới đạo lý, luân thường và luật pháp đều sẽ bị xé nát như tro bụi. Một khi tin tức về giếng nước sạch và vạt rau xanh ngắt này lan truyền ra ngoài tầm kiểm soát, lòng tham và sự hoảng loạn của đám đông đói khát sẽ biến thành một cơn lũ quét hung hãn. Họ sẽ tràn vào, cào xới mảnh đất này để tranh cướp, và trong sự hỗn loạn ấy, cả mầm Tức Căn lẫn hy vọng hồi sinh duy nhất của mảnh đất này sẽ bị giẫm đạp tan tành trước khi kịp trưởng thành.

“Đủ rồi!”

Mộc Tầm cất tiếng. Giọng anh không the thé gay gắt như Mộc An, cũng không hằn học run rẩy như Phạm Nghi, nhưng lại mang theo một sức nặng trầm ổn, cương nghị kỳ lạ—sức nặng của một người đã trực tiếp đối diện với bóng tối, cái lạnh thấu xương và sự chết chóc dưới đáy giếng sâu suốt một tháng ròng để giành giật lại từng mầm sống.

Tầm bước lên hai bước, đứng chắn ngay giữa em gái mình và người quản sổ giếng. Anh cúi đầu nhìn xuống nhánh rễ Tức Căn đang khẽ phát ra ánh sáng lam nhạt dưới lớp đất ẩm, rồi ngẩng đầu lên, ánh mắt bình thản nhưng thẳng thắn nhìn thẳng vào đôi mắt vằn đỏ của Phạm Nghi.

“Bác Nghi nói đúng một điều: nếu chúng ta tranh giành, cấu xé lẫn nhau vào lúc này, tất cả sẽ cùng chết chìm trong cái lòng chảo này.” Tầm chậm rãi nói, từng lời thốt ra đều được cân nhắc kỹ lưỡng như từng nhát cuốc xới đất. “Nhưng An cũng không hề nói sai một nửa câu. Mầm cây này không phải thần dược trên trời rơi xuống, không phải thứ của trời cho cứ há miệng chờ sung là có ăn. Nó cần bàn tay chăm sóc, cần sự hiểu biết và cần cả sự hy sinh mồ hôi nước mắt mới có thể sống sót.”

Anh chỉ tay xuống hố đất, giọng nói trầm xuống đầy cảnh cáo:

“Bác nhìn cho kỹ nhánh rễ này đi. Nó dai như gân, sáng như ngọc, nhưng bên trong các nốt sần của nó đang ngậm đầy trọc tức bị nén lại từ lòng đất. Nếu xóm kéo người đến nhảy vào đòi bứng cây, chia rễ bừa bãi như chia thịt lợn cúng đình, cấu trúc rễ bị đứt gãy, trọc tức tích tụ trong các nốt sần sẽ lập tức bùng nổ ra ngoài! Lúc đó, không chỉ cái giếng này bị hủy hoại vĩnh viễn, mà toàn bộ khí độc sẽ xộc lên biến cả xóm Giữa thành một cái lò hun chết ngạt. Bác có gánh nổi mạng sống của hàng trăm con người đó không?”

Phạm Nghi khẽ rùng mình một cái, bờ vai run rẩy. Ký ức về buổi sáng một tháng trước lập tức ùa về trong tâm trí ông ta—khi bà giáo Bùi Sương cùng Đào Nguyệt làm thí nghiệm nhỏ giọt máu thỏ vào mẫu bùn trọc tức lấy từ đáy giếng, giọt máu tươi vừa chạm vào bùn đã bốc lên một làn khói đen khét lẹt rồi cháy đen thui như than vụn. Sắc mặt người quản sổ giếng thoáng chốc chuyển từ giận dữ sang sợ hãi tột cùng.

Tầm thấy chuyển biến trong mắt ông ta, liền tiếp tục, giọng điềm tĩnh nhưng dứt khoát không để đối phương có cơ hội thoái thác:

“Chúng ta không thể để sự việc đi đến bờ vực hủy diệt đó. Hôm nay, ngay tại miệng giếng này, trước mặt cô Nguyệt làm chứng, tôi đề xuất một thỏa ước tạm thời giữa gia đình tôi và đại diện sáu xóm là bác. Nếu bác đồng ý, chúng ta cùng ghi chép, ký tên vào sổ giếng để làm căn cứ thực hiện; nếu không, tôi thà tự tay lấp đất niêm phong miệng giếng lại vĩnh viễn, chặt đứt mạch rễ, để mảnh đất này trở lại thành đất chết như cũ, không ai được hưởng một giọt nước hay một cọng rau nào hết!”

Phạm Nghi nuốt khan một ngụm nước bọt, yết hầu giật mạnh, ngập ngừng thăm dò:

“Thỏa ước... cậu định đưa ra thỏa ước thế nào?”

Mộc Tầm giơ bàn tay lên, xòe ba ngón tay vững chãi:

“Điều thứ nhất: Tuyệt đối cấm bứng, cấm đào bới, cấm chặt rễ đem bán hay chia chác dưới bất kỳ hình thức nào! Gốc cây dưới đáy giếng hay nhánh rễ lan sang vườn nhà tôi đều phải giữ nguyên hiện trạng trong lòng đất để nuôi dưỡng. Bất kỳ ai, dù là người nhà họ Mộc hay người trong xóm, nếu tự ý xâm phạm, đào xới cấu trúc rễ sẽ bị coi là kẻ thù chung, bị trục xuất khỏi làng và tước bỏ mọi quyền lợi về nước.”

Phạm Nghi nhìn chăm chú vào nhánh rễ to bằng ngón tay đang phát sáng lam, ngẫm nghĩ một thoáng rồi gật đầu cái rụp:

“Được. Điều này chí lý! Giữ cây sống thì mới có cái mà trông cậy lâu dài. Tôi đồng ý.”

“Điều thứ hai:” Tầm quay sang nhìn về phía thùng nước giếng trong vắt Đào Nguyệt vừa múc lên, “Nguồn nước rỉ lọc qua rễ Tức Căn dưới đáy giếng sẽ được chia sẻ theo định mức nghiêm ngặt. Mỗi ngày, xóm được quyền cử người đến múc một lượng nước nhất định theo sự điều phối của bác Nghi để ưu tiên cấp cho những người bệnh nặng nhất trong làng nấu cháo cầm cự, sắc thuốc trị bệnh. Tuyệt đối không được múc tràn lan làm cạn kiệt tầng nước ngầm đáy giếng. Phần nước còn lại phải dành riêng để duy trì độ ẩm tối thiểu cho mầm cây và tưới tiêu cho vạt đất phục hồi này.”

Mộc An khẽ liếc nhìn anh trai, toan mở miệng nói điều gì đó, nhưng khi chạm phải ánh mắt kiên định, thấu suốt của Tầm, nàng lại im lặng. Nàng hiểu anh trai mình: chia sẻ nước có kiểm soát là nước cờ khôn ngoan nhất lúc này. Nó biến sự thèm muốn và đố kỵ của dân làng thành một lợi ích gắn liền, biến họ thành những người có trách nhiệm cùng bảo vệ cái giếng thay vì trở thành những kẻ cướp bóc rình rập ngoài bờ rào.

Phạm Nghi thở phào một hơi rõ rệt, nét mặt dãn ra trông thấy, như thể vừa trút bỏ được một tảng đá đè nặng trong tâm khảm:

“Được! Rất được! Có nước sạch cứu người bệnh nặng thì bà con trong xóm sẽ đội ơn, không một ai dám dị nghị hay kéo đến quấy phá mảnh vườn này nữa. Còn điều thứ ba?”

“Điều thứ ba liên quan trực tiếp đến hai sọt rau này,” Tầm chỉ tay vào những bó cải xanh mướt, mọng nước đang tỏa hơi sương. “Vụ rau đầu tiên này sản lượng còn quá ít, không thể chia nhỏ lẻ cho từng nhà trong sáu xóm, mỗi nhà được một hai lá nhét kẽ răng rồi đâu lại vào đấy, bụng vẫn đói mà việc lớn chẳng thành. Mộc An sẽ gánh toàn bộ số rau này ra chợ Bến Tro để bán.”

“Bán?” Phạm Nghi lại nhướng mày, giọng the thé toan bùng lên phản đối: “Sao lại đem bán ra ngoài chợ Bến Tro? Đồ ăn cứu mạng của làng—”

“Bác Nghi, bác nghe cho hết đầu đuôi đã!” Tầm cắt ngang lời ông ta một cách dứt khoát, âm lượng đanh lại khiến đối phương phải im bặt: “Tiền bán rau thu được sẽ chia làm hai phần minh bạch, có sổ sách ghi chép của An và bác cùng đối chiếu giám sát. Một phần tiền sẽ giao trọn cho cô Đào Nguyệt để mua các loại dược liệu bình hòa như bách bộ, khoản đông hoa, cam thảo ngoài Bến Tro mang về làng, phối hợp cùng nước sạch Giếng Cạn để sắc thuốc cứu chữa cho lão Bát và những người đang héo hắt vì bệnh phổi tro trong làng. Không có thuốc dẫn đường, chỉ uống nước lã thì phổi họ vẫn sẽ nát vụn!”

Tầm bước lên thêm một bước, ánh mắt sắc như thép nhìn thẳng vào tâm can người quản sổ giếng:

“Phần tiền còn lại, gia đình tôi sẽ dùng để thanh toán một phần tiền lãi cấp bách cho Vạn Thạch Hành, buộc chưởng quỹ Đỗ Kính phải ký giấy gia hạn nợ, không thể lấy cớ siết vườn thuốc của chúng tôi vào cuối tháng này!”

Tầm nhấn mạnh từng chữ, giọng vang vọng khắp khoảnh sân:

“Bác Nghi, bác thử dùng cái đầu của người quản sổ giếng mà nghĩ xem: nếu đất vườn nhà tôi bị Vạn Thạch Hành siết nợ cắm cờ niêm phong, bọn tay sai côn đồ của Đỗ Kính kéo đến chiếm đất, dựng hàng rào sắt, thì cái giếng làng này và nhánh rễ Tức Căn kia liệu có còn nằm trong tay xóm của bác được nữa không? Bọn thương nhân Vạn Thạch Hành có chia cho xóm của bác một giọt nước hay một cọng rau nào không, hay chúng sẽ đào tận gốc tróc tận rễ để mang về dâng cho các phường tu chân? Giữ được vườn nhà tôi, hoãn được nợ của thương hành, thì mới giữ được cái rễ cây này cho cả làng cùng sống!”

Không gian quanh miệng giếng lại chìm vào im lặng tuyệt đối, nhưng bầu không khí lần này không còn là sự đối đầu nghẹt thở, thù địch nữa. Đó là sự im lặng của sự tính toán tỉnh táo, của những con người đang cùng đứng chung trên một chiếc thuyền nan rách nát giữa dòng nước lũ dữ dội, buộc phải nương tựa vào nhau để tìm kiếm một con đường sống mong manh.

Phạm Nghi cúi đầu nhìn cuốn sổ giếng bìa da trâu trên tay mình, các ngón tay gầy guộc run rẩy miết nhẹ lên mép giấy sờn rách. Ông ta ngẩng lên, nhìn sang Đào Nguyệt đang đứng bên chậu nước trong veo, rồi lại nhìn sang Lê Cẩn đang siết chặt cán cuốc.

Đào Nguyệt khẽ lên tiếng, giọng nói trong trẻo, êm dịu nhưng tiếp thêm sức nặng ngàn cân cho đề xuất của Tầm:

“Bác Nghi, số thảo dược làm dịu phế nang tôi mang theo từ Bến Tro hôm trước đã cạn sạch rồi. Nếu không có tiền mua thêm dược liệu dẫn đường như bách bộ hay khoản đông hoa, người bệnh phổi tro trong xóm chỉ uống nước cầm cự thì khi mùa gió chướng tràn về mang theo khí lạnh, phế nang của họ vẫn sẽ rách toác ra vì ho ra máu. Đề xuất của anh Tầm là con đường duy nhất cứu được người lúc này.”

Lê Cẩn cũng gật đầu thật mạnh, phụ họa theo:

“Đúng đấy bác Nghi. Tôi với thằng Tầm cày cuốc đổ mồ hôi, chúng tôi không tiếc công tiếc sức, nhưng cái gì cũng phải có đầu có đuôi. Giữ được cái vườn của nhà họ Mộc thì xóm mình mới có chỗ mà giữ rễ cây, mới nhân giống tiếp được vụ sau chứ!”

Phạm Nghi thở dài một tiếng thật sâu, lồng ngực lép kẹp xẹp xuống như vừa trút bớt được một gánh nặng ngàn cân đã đè nén suốt bao ngày qua. Ông ta chậm rãi mở cuốn sổ giếng ra, lật đến một trang giấy còn trống, rút mẩu than củi giắt bên hông ra, bàn tay run run viết vội vài dòng tóm tắt ba điều thỏa ước tạm thời bằng những nét chữ nguệch ngoạc nhưng rõ ràng.

“Được...” Phạm Nghi ngẩng đầu lên, giọng trầm hẳn xuống, không còn vẻ hống hách ban nãy: “Tôi đồng ý. Cấm bứng cây, chia nước theo định mức cho người bệnh, và gom rau vụ đầu bán lấy tiền thuốc cùng tiền hoãn nợ thương hành. Cô An, cô ký vào đây cho tôi một chữ làm bằng chứng đối chiếu.”

Mộc An đón lấy mẩu than củi từ tay ông Nghi. Không chút do dự, nàng đặt cuốn sổ lên mặt phiến đá rửa thuốc, nắn nót ký tên mình ngay ngắn dưới dòng chữ thỏa ước. Nàng ngẩng lên nhìn người quản sổ giếng, ánh mắt đã bớt đi phần gay gắt, trở lại vẻ điềm tĩnh thường ngày:

“Mỗi đồng bạc, mỗi tiền đồng bán được ngoài chợ Bến Tro, chiều nay khi trở về tôi sẽ đối chiếu sổ sách công khai trước mặt bác và cô Nguyệt, tuyệt đối không giấu giếm một xu.”

Mọi bất đồng tạm thời được xoa dịu, nhường chỗ cho sự khẩn trương, hối hả của một buổi sáng bận rộn giữa mùa khô hạn.

Đào Nguyệt cẩn thận lấy hai tấm vải gai sạch, nhúng đẫm vào thùng nước giếng mát lạnh rồi phủ kín lên bề mặt hai sọt rau cải. Lớp vải gai ướt sũng tỏa ra hơi nước mỏng manh, giữ cho từng cọng cải xanh mướt không bị khô héo hay dập nát dưới cái nắng hanh hao, rát bỏng của con đường vượt dốc Thạch Nê.

Lê Cẩn nhanh nhẹn dùng xẻng xúc từng lớp đất mùn tơi xốp lấp lại cẩn thận hố đất quanh nhánh rễ Tức Căn, rồi anh đi gom những cành gai dại khô khốc cắm vòng quanh bên trên để đánh dấu ranh giới bất khả xâm phạm, ngăn không cho bất kỳ ai vô tình giẫm đạp lên mạch rễ non nớt.

Mộc An buộc chặt vạt áo nâu, xắn cao gấu quần, rồi xốc chiếc đòn gánh bằng tre đực dẻo dai lên vai. Hai sọt rau cải xanh tươi mơn mởn, nặng trĩu sinh khí đung đưa nhịp nhàng theo từng bước chân nhanh nhẹn, thoăn thoắt của cô gái trẻ.

Tầm bước theo em gái ra tận cổng rào tre, ánh mắt dõi theo đầy vẻ lo lắng:

“Em đi cẩn thận. Đường qua trạm thu phí của Thanh Lộ Tông trên đèo dạo này lính canh kiểm soát gắt gao lắm. Cứ đóng đủ hai mươi tiền đồng lệ phí qua trạm theo lệ cũ, đừng đôi co hay cãi lý với bọn họ làm gì cho thiệt thân.”

“Em biết rồi, anh cứ yên tâm chăm nom đất giếng với phụ cô Nguyệt sắc thuốc cho mẹ đi,” Mộc An ngoái lại nhìn anh, khẽ nở một nụ cười trấn an—nụ cười rạng rỡ và nhẹ nhõm hiếm hoi sau chuỗi ngày dài u ám, ngột ngạt vì món nợ của thương hành đè nặng lên mái nhà.

Bóng dáng mảnh khảnh của Mộc An cùng gánh rau xanh ngắt dần tiến ra phía con đường mòn gập ghềnh đá sỏi, nhấp nhô theo triền dốc dẫn thẳng tới ngã ba chợ Bến Tro.

Nàng không hề hay biết rằng, ngay phía sau rặng dâm bụt khô héo trơ cành cách cổng rào chưa đầy mười trượng, một bóng người mặc áo lam viền chỉ xám đặc trưng của Thanh Lộ Tông đã đứng nép mình tự bao giờ. Đôi mắt sắc lạnh, hẹp dài của kẻ lạ mặt chăm chú nhìn chằm chằm vào sắc xanh kỳ lạ của hai sọt rau đang khuất dần sau khúc quanh con dốc, rồi từ từ chuyển hướng, lướt nhìn làn hơi ẩm nồng nàn bất thường đang cuộn lên thành từng dải mỏng manh từ vạt đất quanh miệng Giếng Cạn.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn