Lương Có Điều Khoản
Mùi cám mới thơm lừng tỏa ra từ hai mươi bao tải xếp cao ngất trên cỗ xe ngựa của Vạn Thạch Hành khiến bụng dạ những người dân xóm giếng cồn cào réo rắt.
Gió đêm từ lòng chảo Hạ Khê thổi thốc vào khoảng sân đất nện, cuốn theo cát bụi xám xịt và mùi nồng nặc của đá ngậm phế tro, nhưng chẳng thể nào át nổi hương thơm ngọt ngào của ngũ cốc nguyên vẹn. Đó là thứ hương vị xa xỉ mà suốt sáu tháng qua, kể từ ngày con rãnh từ núi Thanh Lộ cạn khô và nguồn nước ngầm hóa thành bùn độc, không một mái nhà nào trong xóm Giữa còn được ngửi thấy. Những đứa trẻ gầy trơ xương trong xóm đã ngủ thiếp đi vì đói từ chập tối, hơi thở mỏng manh như sợi khói bếp tàn, còn những người lớn ngồi quây quần trong gian nhà tranh vách đất của họ Mộc thì mắt dán chặt vào thành xe, yết hầu giật lên từng cơn nuốt nước bọt khan. Bóng tối đặc quánh của lòng chảo như bị xé toạc bởi hai chiếc đèn lồng bọc lụa đỏ treo lủng lẳng bên càng xe, hắt ra những vệt sáng nhờ nhờ, run rẩy in hình những bóng người gầy guộc lên vách đất nứt nẻ. Mùi tro quặng cháy dở từ các lò luyện đan phía thượng nguồn vốn dĩ ngày ngày bám riết lấy cuống họng họ, giờ đây bỗng chốc bị đẩy lùi bởi mùi bột ngô mới xay, mùi lúa mạch còn đượm hơi ấm của kho vựa đồng bằng. Cái đói ở Hạ Khê không chỉ làm teo tóp da thịt; nó gặm nhấm vào tận tủy xương, biến mỗi nhịp thở thành một nỗi giày vò ê chề, khiến cho sự xuất hiện của cỗ xe lương thực lúc nửa đêm chẳng khác nào một giấc mộng huyễn hoặc đầy ma quái rớt xuống giữa bãi tha ma.
Hai con tuấn mã kéo xe phì phò những luồng hơi ấm trắng xóa vào màn sương lạnh buốt. Móng sắt của chúng gõ lóc cóc xuống nền đá dăm lẫn xỉ quặng, đuôi quất phần phật xua đi lũ ruồi tro bay vo ve. Phu xe mặc áo tơi bện bằng cỏ bấc dày cộp, hai tay ghìm chặt đôi dây cương bọc da thú bóng lộn, vừa thắng ngựa lại thì tấm rèm nhung viền gấm đen trên thùng xe đã được vén lên một cách nhã nhặn, thong dong.
Đỗ Kính bước xuống xe. Y không mặc áo cộc vải thô hay quần vải gai chắp vá như những kẻ lam lũ nơi lòng chảo quanh năm còng lưng bới quặng, mà vận một bộ trường bào màu xám tro dệt bằng tơ gai thượng hạng, tà áo buông dài chấm mu bàn chân thêu hoa văn sóng nước chìm. Bên hông y lủng lẳng một túi tiền thêu kim tuyến phồng căng và một chiếc kính đơn tròng bằng pha lê trong vắt viền bạc, treo lơ lửng bằng sợi dây chuyền mảnh mai trước ngực. Khuôn mặt y vuông vức, đẫy đà, nước da trắng trẻo mịn màng hoàn toàn tương phản với những gương mặt xám ngoét vì bụi xỉ của người dân bản thổ. Hàm râu quai nón được cạo tỉa nhẵn nhụi, bóng loáng, toát lên vẻ tinh khôn của một người buôn bán lọc lõi, thấu hiểu mọi ngóc ngách của sự đời và luôn biết cách giữ cho khóe môi mình một nụ cười đôn hậu đúng lúc. Từng cử chỉ của y, từ cái nhấc chân hạ gót xuống nền đất bẩn cho đến động tác chỉnh lại cổ áo, đều toát ra vẻ ung dung tự tại của kẻ nắm trong tay quyền năng sinh sát thông qua từng thỏi bạc và từng đấu thóc.
“Nửa đêm gió máy, Đỗ mỗ đường đột ghé thăm, mong bác Nghi và bà con xóm giếng lượng thứ cho,” Đỗ Kính chắp tay khom lưng, chiếc quạt xếp bằng gỗ đàn hương trong tay áo khẽ lay động, cử chỉ cung kính và mực thước đến mức khiến mấy gã lực điền thô lỗ vừa mới định quắp búa thủ thế bên góc rào cũng phải lúng túng nhìn nhau rồi từ từ hạ tay xuống.
Phạm Nghi nheo đôi mắt đục ngầu kèm nhèm vì khói bếp, chống cây gậy tre mòn vẹt bước lên trước một bước. Tấm lưng còng của ông lão khẽ run dưới lớp áo nâu vá chằng vá đụp, giọng ông khàn đặc đầy cảnh giác:
“Chưởng quỹ Đỗ, giao ước trước đây của Mộc gia với thương hành là mỗi tuần giao hai sọt rau sạch trừ dần nợ bạc, kỳ hạn gia hạn ba mươi ngày vẫn chưa hết một nửa. Nửa đêm nửa hôm ngài đánh cả cỗ xe lương thực lớn thế này vào xóm Cạn, bánh xe nghiến nát cả rào dâm bụt, chẳng hay có điều chi chỉ giáo?”
Đỗ Kính bật cười ha hả, tiếng cười giòn tan, nghe ấm áp như rượu thuốc hâm nóng giữa ngày đông giá rét. Y bước tới hai bước, chiếc quạt xếp gõ nhẹ vào lòng bàn tay trắng trẻo:
“Bác Nghi đa nghi quá rồi. Đỗ mỗ này tuy là người buôn bán, nhưng há lại là loài sài lang canh lúc người ta khốn khó mà đến bóp cổ đòi nợ sao? Số nợ của gia đình Mộc Tầm là chuyện riêng giữa Mộc gia và bổn hành, hôm nay Đỗ mỗ đến đây hoàn toàn không phải để đòi nợ hay siết vườn. Ngược lại, ta mang đến cho mười hai hộ dân của xóm Giếng Cạn một lối thoát. Một con đường sống thực sự, rõ ràng và trông thấy được bằng mắt.”
Y quay người lại, thong thả vỗ nhẹ bàn tay đeo chiếc nhẫn ngọc bích xanh biếc vào một bao tải gai căng phồng trên sàn xe. Mép bao được buộc lỏng bằng lạt tre non hơi hé ra, để lộ những hạt thóc hạt kê mẩy tròn, vàng óng ả như những hạt ngọc dưới ánh đèn lồng, tuyệt nhiên không hề lẫn một mảy bụi tro hay mạt quặng xám xịt nào của vùng lòng chảo.
“Ta biết xóm các vị vừa mới đồng lòng lập ra cái Hội giữ đất,” Đỗ Kính nheo mắt mỉm cười, đôi con ngươi đảo qua từng gương mặt hốc hác, giọng điệu hạ thấp xuống nhưng vang rền, thấu suốt mọi ngóc ngách tâm can người nghe: “Ta cũng biết các vị đang nuôi mộng lớn: muốn đập lớp vỏ đá vôi ở bãi Thạch Nê, dùng nước ngầm lọc sạch dưới giếng nhà Mộc gia để khai hoang ruộng mới, mong tự cứu lấy mạng mình trước khi mùa đông tới. Nhưng các vị thử tự sờ lên bụng mình xem? Phá đá vôi Thạch Nê cần bao nhiêu sức đinh tráng? Quai một nhát búa tạ mất bao nhiêu hơi thở? Đói lả thế này, chân bước còn run rẩy, các vị lấy gì để cầm xà beng, lấy gì để đào mương dẫn nước qua ba tháng ròng rã?”
Cả gian sân bỗng chốc im phăng phắc, chỉ còn tiếng gió rít qua kẽ liếp nứa và tiếng thở dốc nặng nhọc của đám đông. Trịnh Bách đứng nép sau lưng Phạm Nghi, bàn tay thô ráp đầy những vết chai sần và sẹo cắt siết chặt lấy chiếc xà beng tự chế bọc sắt vụn, cơ bắp trên hai cánh tay gân guốc run lên từng chặp. Từng thớ thịt trên người ông ta đang co rút lại vì đói. Lời của Đỗ Kính như một mũi kim thép nung đỏ, chọc thẳng vào nỗi sợ hãi lớn nhất, cay đắng nhất đang gặm nhấm lòng dạ ông ta suốt mấy ngày qua: họ có ý chí, họ có người làm, họ có cả niềm tin vừa mới nhen nhóm, nhưng trong hũ sành của mười hai nóc nhà cộng lại, số cám bổi sót lại chẳng đủ nấu cháo loãng quá mười ngày. Người ta có thể dùng ý chí để vượt qua một buổi lao dịch, nhưng không ai có thể dùng ý chí để nâng chiếc búa nặng ba mươi cân đập vào đá tảng khi dạ dày rỗng không suốt ba ngày liền.
Thấy sự im lặng chết chóc bao trùm lên khắp sân, nụ cười trên môi Đỗ Kính càng thêm đôn hậu và xót xa, tựa như một bậc trưởng thượng đang trăn trở trước nỗi lầm than của con trẻ. Y thò tay sâu vào trong vạt áo trường bào, rút ra một cuộn giấy dầu vàng óng, dày dặn, được niêm phong cẩn thận và buộc chặt bằng một dải lụa đỏ thắm.
“Hai mươi bao lương thực hảo hạng này gồm mười bao gạo lứt vùng phù sa hạ lưu, tám bao bột ngô vàng thơm ngậy và hai bao cám mịn loại thượng phẩm. Đủ cho toàn bộ đinh tráng và người già trẻ nhỏ của mười hai hộ ăn no nê suốt ba tháng khai hoang mở đất,” Đỗ Kính vừa nói vừa từ tốn mở cuộn giấy, trải rộng nó lên chiếc chõng tre ọp ẹp đặt giữa sân: “Vạn Thạch Hành chúng ta mở cửa làm ăn tại Bến Tro bao đời nay, sống nhờ hạt gạo ngọn rau của mảnh đất này, há lại không thấu hiểu nỗi khổ của bà con khi nguồn nước bị cắt đứt? Ta bày ra bản ‘Hợp đồng cứu tế khai hoang’ này: toàn bộ hai mươi bao lương thực cho xóm vay trước, ăn ngay đêm nay. Cứ khuân vào bếp mà nhóm lửa, nấu cho con trẻ một bữa cơm hoa gấc no nê. Quan trọng nhất là: thương hành KHÔNG TÍNH MỘT ĐỒNG TIỀN LÃI NÀO. Một hạt thóc vay hôm nay, ba tháng sau khi lúa trên bãi Thạch Nê trổ bông, các vị chỉ cần trả đúng một hạt thóc. Không lãi mẹ đẻ lãi con, không đòi thế chấp giấy nhà đất, cũng không bắt nộp trước một đồng tiền kẽm nào!”
Một tiếng ồ kinh ngạc khẽ bật ra từ miệng mấy người phụ nữ đứng nép sau vách đất rách nát. Một người mẹ trẻ ghì chặt đứa con đang ngậm ngón tay khô khốc vào lòng, nước mắt chực trào ra nơi khóe mi đỏ hoe.
Không tính lãi bằng tiền? Cho vay trắng hai mươi bao lương thực giữa lúc nạn đói rình rập ngay bậu cửa, giữa lúc một nắm cám thối ở chợ Bến Tro cũng bị hét giá năm mươi tiền kẽm? Trên cõi đời đầy rẫy những trò lừa lọc và bóc lột của đám tu tiên giả lẫn con buôn này, làm sao có thể tồn tại một chủ nợ từ bi hỉ xả đến mức ấy?
Trịnh Bách nuốt nước bọt đánh ực một cái, âm thanh khô khốc vang lên rõ mồn một trong đêm vắng. Đôi mắt đỏ ngầu vì thiếu ngủ và bụi đá của ông ta bỗng nhiên bừng sáng rực rỡ, bàn chân như có ma xui quỷ khiến vô thức bước tới nửa bước. Giọng ông ta run rẩy, lắp bắp:
“Chưởng quỹ Đỗ… ngài… ngài nói thật chứ? Thật sự không tính lãi bạc, không bắt cắm sổ đất của tổ tiên để lại sao?”
“Đỗ mỗ buôn bán lấy chữ tín làm đầu, trước mặt bác Nghi và toàn bộ các vị chủ hộ ở đây, lời nói ra như đinh đóng cột, có trời đất quỷ thần chứng giám,” Đỗ Kính điềm đạm rút từ trong tay áo ra một cây bút lông cán trúc cùng một nghiên mực đá đã mài sẵn mực đen nhánh, đặt ngay ngắn cạnh mép giấy dầu: “Chỉ cần bác Nghi, với tư cách người đại diện cho Hội giữ đất, cùng các vị chủ hộ ở đây cùng nhau điểm chỉ vào bản khế ước này, hai mươi bao lương thực lập tức được phu xe bốc dỡ xuống sân nhà Mộc gia ngay trong đêm. Đêm nay nhóm bếp đỏ lửa, ngày mai đinh tráng các vị có thể ăn cơm trắng no bụng rồi vác búa ra đồng, sức lực tràn trề như hổ dữ!”
Trịnh Bách hít một hơi thật sâu, lồng ngực phập phồng dữ dội. Ánh mắt ông ta đầy van nài, chuyển từ hai mươi bao tải căng tròn trên thùng xe sang khuôn mặt già nua của Phạm Nghi. Thậm chí vài chủ hộ khác đứng sau lưng cũng bắt đầu dợm bước tới, những đôi bàn tay thô kệch, nứt nẻ vì sương muối khẽ giật giật, tưởng chừng như muốn lao tới giật phắt lấy cây bút lông trong tay Đỗ Kính để ấn chỉ tay vào mảnh giấy cứu mạng kia. Ngay cả Phạm Nghi, người cả đời từng trải qua bao cuộc bể dâu, từng nếm đủ mọi đòn hiểm độc của quan nha và lái buôn ở đất Hạ Khê, cũng thoáng chút ngập ngừng, ánh mắt đục ngầu dao động mãnh liệt. Cơn đói khát cồn cào của mười hai gia đình là một thứ độc dược vô hình, nó bào mòn sự tỉnh táo và lòng kiên định nhanh hơn bất kỳ thứ trọc khí hôi hám nào bốc lên từ lòng đất.
Nhưng đúng lúc ngón tay khô cằn của Phạm Nghi vừa run rẩy đưa ra, chỉ còn cách mép giấy dầu một lóng tay, một bàn tay nhỏ nhắn, xương xẩu nhưng vô cùng dứt khoát đã từ bên cạnh vươn tới, đè chặt lên mặt giấy.
“Khoan đã.”
Giọng nói trong trẻo, rành rọt và lạnh lùng như nước suối đầu nguồn vang lên, cắt ngang bầu không khí cuồng nhiệt đang sôi sục trong sân.
Mộc An bước ra từ bóng tối mờ ảo dưới hiên nhà tranh. Nàng không nhìn vào những bao lương thực béo bở đang tỏa hương thơm ngát trên xe, cũng chẳng hề liếc mắt nhìn nụ cười ấm áp, nhân từ của Đỗ Kính. Đôi mắt đen láy, sắc sảo của cô gái trẻ lập tức dán chặt vào những dòng chữ đen li ti được chép bằng thứ mực tàu bóng loáng ở phần cuối cuộn giấy dầu.
Nàng cầm theo một chiếc đèn dầu hạt sở le lói, đưa sát ngọn lửa nhỏ hạt đậu vào mặt giấy. Ánh sáng vàng vọt hắt lên khuôn mặt thanh tú nhưng cương nghị của Mộc An. Đỗ Kính hơi nhíu mày, khóe mắt giật nhẹ một cái rất khẽ, nhưng nụ cười niềm nở trên khuôn mặt đầy đặn của y vẫn không hề suy suyển.
“Cô bé Mộc An, chữ nghĩa của thương hành ta đều theo đúng quy thức chuẩn mực của huyện nha Bến Tro, minh bạch rõ ràng từng nét, tuyệt đối không có gì mờ ám đâu,” Đỗ Kính khẽ cười, giọng mang theo chút dỗ dành, khoan dung của bậc bề trên đối với đứa trẻ con chưa hiểu sự đời.
“Cháu chép thuê văn tự ở Bến Tro ba năm nay, từ công văn của nha môn cho đến văn khế bán thân gán nợ, quy thức nào cháu cũng thấy qua rồi,” Mộc An lạnh lùng đáp trả, ngón tay trỏ gầy guộc lướt nhanh thoăn thoắt qua từng hàng chữ lớn viết về việc cứu tế lương thực vô điều kiện, bỏ qua những lời lẽ hoa mỹ về lòng từ bi nhân ái, rồi dừng phắt lại ở một đoạn chữ viết nhỏ như hạt vừng, chen chúc nghẹt thở ở mép dưới bên phải của tờ giấy dầu, nơi ánh đèn lồng bình thường khó lòng soi thấu tới.
Mộc An đọc thầm vài nhịp. Lồng ngực nàng khẽ phập phồng dưới manh áo vá. Sắc mặt nàng từ bình tĩnh dần chuyển sang trắng bệch, rồi đôi môi mỏng mím chặt lại thành một đường thẳng tắp đầy phẫn nộ. Nàng từ từ ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc như dao cạo nhìn thẳng vào tròng mắt của Đỗ Kính:
“Chưởng quỹ Đỗ, ngài quả thực là bậc đại nhân từ bi hỉ xả, bồ tát tái thế của đất Bến Tro! Ngài quả nhiên không lấy của xóm Cạn chúng cháu một đồng tiền lãi nào, nhưng xin ngài giải thích cho bà con nghe xem ngài cài cắm cái gì ở điều khoản thứ chín này đây?”
Mộc An hít một hơi thật sâu, cất cao giọng, đọc to từng chữ rành rọt giữa đêm thanh vắng, để từng âm tiết dội thẳng vào tai mọi người:
*‘…Nhằm bảo đảm khả năng hoàn trả hiện vật và duy trì trật tự lưu thông, bên vay đồng ý trao cho Vạn Thạch Hành toàn quyền bao tiêu độc quyền đối với mọi nông sản, ngũ cốc và dược thảo sinh ra từ toàn bộ diện tích đất được hồi phục tại Hạ Khê trong thời hạn năm năm liên tục. Mức giá thu mua trong suốt thời hạn trên được ấn định cố định theo bảng giá vụ hạn năm Bình Xuyên thứ mười hai.’*
Tiếng đọc đanh thép của Mộc An vừa dứt, Mộc Tầm đang đứng lặng lẽ bên góc sân lập tức biến sắc. Đôi mày anh nhíu chặt lại, từng đường gân trên trán giật mạnh.
Mộc Tầm bước nhanh tới trước chõng tre, cúi xuống cầm lấy mép tờ giấy dầu, cùng em gái soi dưới ánh đèn leo lét. Là người từng theo cha gánh rau đi khắp các chợ phiên từ Hạ Khê lên tận Bến Tro, anh biết quá rõ bảng giá nông sản của năm Bình Xuyên thứ mười hai: đó là cái năm nghiệt ngã mà trận đại hạn đầu tiên giáng xuống vùng thung lũng, khi Thanh Lộ Tông bắt đầu khơi dòng dẫn toàn bộ nước ngọt về các lò luyện quặng của tiên môn, bỏ mặc ruộng đồng dưới chân núi nứt nẻ như mai rùa. Mùa màng thất bát, người dân hoảng loạn, và thương nhân các phường buôn lớn đã nhân cơ hội đó ép giá thu mua nông sản xuống tận đáy bùn đen. Giá thu mua lương thực khi ấy chỉ bằng một phần ba, thậm chí có những loại rau củ chỉ bằng một phần tư giá chợ thông thường!
“Bao tiêu độc quyền năm năm với giá chết?” Mộc Tầm ngẩng phắt dậy, lồng ngực phập phồng vì phẫn nộ, ánh mắt rực lửa nhìn thẳng vào Đỗ Kính: “Nghĩa là bất kể bà con trong xóm đổ bao nhiêu mồ hôi nước mắt để đập đá, bón bùn, gánh từng gàu nước lọc sạch dưới giếng sâu lên để trồng ra củ khoai, bó rau hay cây thuốc, chúng tôi đều không có quyền đem ra chợ bán tự do? Chúng tôi bắt buộc phải bán lại toàn bộ cho Vạn Thạch Hành với cái giá rẻ mạt như cho không mà các ngài đã định sẵn từ năm năm trước?”
Mấy người nông dân trong xóm vẫn còn ngơ ngác nhìn nhau. Khái niệm ‘bao tiêu’ đối với những người cả đời chỉ biết cúi mặt xuống đất như họ nghe có vẻ xa lạ và trừu tượng. Trịnh Bách ngập ngừng gãi đầu, lên tiếng phân trần:
“Thì… thì bán cho thương hành của chưởng quỹ Đỗ cũng là bán mà Tầm? Có người đến tận đầu bờ cân thóc chở đi, đỡ cho bà con phải cõng từng sọt nặng ra chợ Bến Tro, lại khỏi mất tiền mãi lộ qua trạm thu phí của đệ tử tiên môn, chẳng phải tiện cả đôi đường sao cháu?”
“Bác Bách, bác nghĩ nông cạn quá rồi!” Mộc An quay ngoắt lại, giọng nàng sắc lẹm cắt ngang lời trần tình của người đàn ông thô mộc: “Nếu năm sau mưa thuận gió hòa, hoặc đất bãi Thạch Nê cho hoa lợi tốt, giá thị trường ngoài Bến Tro lên một trăm tiền một đấu gạo, thương hành cũng chỉ trả cho bác đúng hai mươi tiền vì trên hợp đồng đã ghi rõ ‘giá cố định’! Bác không được bán cho bất kỳ ai khác ngoài họ. Chỉ cần bác lén giấu một bơ gạo mang ra chợ đổi lấy manh áo manh quần cho con, thương hành sẽ lập tức quy cho bác cái tội vi phạm khế ước thương chính, đem bản hợp đồng này kiện thẳng lên huyện nha để tịch thu toàn bộ ruộng đất mà bác vừa khai khẩn xong! Năm năm trời, các bác còng lưng quai búa, chân tay tưa máu từ sáng sớm đến đêm khuya, làm ra được bao nhiêu hoa lợi thì thương hành nuốt trọn bấy nhiêu, chỉ ném lại cho các bác chút cám bổi để sống dở chết dở qua ngày! Đó không phải là mua bán, đó là biến cả cái xóm này thành nông nô cho họ!”
Đỗ Kính vẫn giữ nụ cười điềm đạm trên khuôn mặt trắng trẻo. Y khẽ phe phẩy chiếc quạt xếp cầm tay, dù những cơn gió đêm buốt giá vẫn đang thổi hun hút qua sân:
“Mộc An cô nương nói lời cay nghiệt quá rồi. Ta là người làm ăn, tính toán đường dài cho cả đôi bên. Cái gọi là giá cố định thực chất là để bảo hiểm rủi ro cho bà con đấy chứ. Các vị thử nghĩ xem, đất Thạch Nê xưa nay là đất đá ngậm độc, rủi như vụ sau gặp sâu bệnh, hoặc trọc khí dưới lòng đất lại bùng lên làm mùa màng thối rễ, lúa lép hạt quặng, ngoài chợ không ai thèm mua, thì thương hành ta vẫn cam kết xuất tiền mua đúng giá đó. Há chẳng phải thương hành đang gánh hết rủi ro về mình, làm chỗ dựa vững chắc như núi Thái Sơn cho xóm nghèo hay sao?”
“Vậy ngài giải thích thế nào về điều khoản chữ nhỏ thứ mười một này?”
Mộc An không hề để cho tài hùng biện trơn tru của Đỗ Kính dẫn dắt câu chuyện. Nàng lật ngược mặt sau của cuộn giấy dầu, ngón tay chỉ thẳng vào những dòng chữ viết bằng mực đỏ son sát mép gấp dưới cùng. Nét chữ son đỏ quạch như máu gà, viết li ti chen chúc như những đàn kiến bò sát chân tường. Nàng dằn từng tiếng, giọng run lên vì căm giận:
*‘…Đối với nguồn sinh cơ bản thể (tức mầm cây lạ và hệ thống rễ ngầm) cùng mọi nhánh cây con, chồi chiết tách phát sinh trong tương lai: nhằm bảo đảm tính an toàn sinh thái và phòng ngừa trọc tức phân tán, bên vay thừa nhận Vạn Thạch Hành giữ quyền giám sát kỹ thuật tối cao. Thương hành có toàn quyền chỉ định địa điểm gieo cấy, quy chuẩn chăm sóc và chỉ định đích danh người chịu trách nhiệm trông coi đối với bất kỳ nhánh cây con nào được chiết tách từ rễ mẹ.’*
Khoảng sân đất nện bỗng nhiên chìm vào một sự im lặng chết chóc.
Lần này, không chỉ riêng Mộc Tầm hay Phạm Nghi, mà ngay cả những người nông dân chất phác, ít học nhất trong xóm Giếng Cạn cũng đã lờ mờ ngửi thấy mùi tanh tưởi và sự rùng rợn ẩn giấu đằng sau những câu từ hoa mỹ, chuẩn mực ấy.
Toàn quyền giám sát kỹ thuật? Toàn quyền chỉ định địa điểm gieo cấy? Chỉ định đích danh người trông coi đối với bất kỳ nhánh rễ con nào được chiết ra?
Mộc Tầm hít một hơi thật sâu, cảm giác lạnh buốt chạy dọc từ sống lưng lên tận đỉnh đầu. Anh bước lên phía trước nửa bước, thân hình cao gầy nhưng rắn chắc đứng chắn ngang giữa Đỗ Kính và chiếc chõng tre, ánh mắt sắc lạnh nhìn xoáy vào gã chưởng quỹ giảo quyệt.
Là người duy nhất từng lặn xuống đáy giếng sâu, từng tận mắt chứng kiến và dùng dòng sinh cơ yếu ớt của mình để giao hòa với Tức Căn, Tầm thấu suốt bản chất sinh học của loài cây này, và anh nhìn thấu âm mưu thâm độc tột cùng của Vạn Thạch Hành hơn bất kỳ ai có mặt tại đây.
“Chưởng quỹ Đỗ,” Mộc Tầm cất giọng trầm thấp, nhưng từng lời anh nói ra đều nặng trịch như những khối đá tảng nện thẳng xuống mặt đất: “Tức Căn không phải là thứ thảo mộc phàm trần mà các ngài có thể tùy tiện bứng đi, giâm cành hay chiết nhánh vô tội vạ. Nó là một thực thể sống cộng sinh với lòng đất ngậm độc. Mỗi lần muốn tách một nhánh rễ con có mang mắt sinh, cây mẹ dưới đáy giếng sâu sẽ bị tổn thương nặng nề, dòng nhựa sống cạn kiệt, sinh cơ suy thoái ít nhất nửa tháng trời mới hồi phục lại được. Nhánh rễ con khi mang ra ngoài bãi đất mới, muốn bén rễ và sống sót được, bắt buộc phải mang theo thứ bùn cộng sinh quen thuộc từ đáy giếng, và phải có bàn tay của người hiểu từng thớ đất, cảm nhận được từng phản ứng co thắt của rễ cây trước nồng độ trọc tức thì mới giữ cho nó không bị thối rữa. Nếu xóm này ký vào điều khoản trao cho Vạn Thạch Hành quyền ‘chỉ định địa điểm và người chăm sóc’, các ngài sẽ làm gì?”
Mộc Tầm quay phắt lại, nhìn vào mười hai người chủ hộ đang đứng chết trân trong sân, giọng anh vang lên dõng dạc, rành rọt từng chữ:
“Đêm nay các ngài hào phóng cho chúng ta vay hai mươi bao gạo cứu đói. Ngày mai, khi tôi dốc cạn sức lực, mạo hiểm tính mạng lặn xuống đáy giếng tách được nhánh cây con đầu tiên đem lên định cấy ra bãi Thạch Nê thử nghiệm, thương hành sẽ lập tức giở bản hợp đồng này ra. Các ngài sẽ viện cớ ‘an toàn sinh thái’ theo đúng điều thứ mười một để hạ lệnh: nhánh rễ quý giá này không được phép trồng ở mảnh đất chung của xóm Cạn, mà phải chở ngay về trang trại riêng của Đỗ Kính tại Bến Tro! Các ngài sẽ chỉ định người của riêng thương hành đến tiếp quản, gạt phắt toàn bộ mười hai hộ dân của xóm Giếng Cạn ra ngoài lề! Và khi ấy, Tức Căn—thứ bảo vật duy nhất có khả năng hút lọc độc tố, cải tạo đất đai và cứu sống quê hương chúng ta—sẽ vĩnh viễn biến thành công cụ độc quyền để một mình Vạn Thạch Hành làm giàu!”
“Chưa hết đâu các bác!” Mộc An tiếp lời anh trai, giọng nàng đanh thép như tiếng chuông đồng vang vọng trong sương đêm: “Đất Thạch Nê là đất hoang của mười hai hộ chúng ta cùng nhau đổ mồ hôi khai phá. Nước ngầm để tưới tiêu là công sức của anh Lê Cẩn và đội thợ ngày đêm nếm bùn đào giếng. Nhưng một khi đã đặt dấu tay vào đây, đất hồi phục xong thì toàn bộ hoa lợi thuộc về Đỗ Kính với cái giá bèo bọt của năm hạn hán; cây giống sinh sôi nảy nở ra nhánh nào thì quyền sở hữu và kiểm soát thuộc trọn về Vạn Thạch Hành! Mười hai hộ dân chúng ta, từ những người nông dân có quyền tự quyết trên mảnh đất của tổ tiên, sẽ chính thức biến thành những kẻ tá điền làm công không công ngay trên quê hương mình! Chúng ta còng lưng quai búa đập đá ngậm quặng, hít bụi độc tàn phá buồng phổi, còn sự sống, quả ngọt và quyền lực thì dâng trọn vào tay thương nhân!”
Từng lời, từng chữ của hai anh em họ Mộc bóc trần từng lớp mạ vàng hào nhoáng của bản hợp đồng, phơi bày dã tâm thâm độc bên trong như một nhát dao xẻ toang khối u nhọt. Những lời phân tích khúc chiết, sắc bén ấy chẳng khác nào một gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào mặt những người nông dân đang bị cơn đói làm mờ mắt.
Trịnh Bách sững sờ. Đôi mắt đỏ ngầu của người đàn ông lực điền nhìn trân trân từ cuộn giấy dầu vàng óng sang hai mươi bao tải ngũ cốc căng tròn, thơm nức trên xe, rồi lại từ từ nhìn xuống đôi bàn tay thô kệch, nứt nẻ đầy vết chai sần của chính mình. Đúng vậy, ông ta thèm gạo, ông ta xót xa khi thấy đứa con thơ ở nhà phải húp nước cháo cám loãng cầm hơi. Nhưng ông ta là con em của đất Hạ Khê, tổ tiên ông ta bao đời khai phá đất này, đổ mồ hôi trên từng luống cày để làm chủ mùa màng của mình; ông ta thà chết đói chứ không muốn con cháu muôn đời sau phải làm kiếp nô lệ, làm thân trâu ngựa cho phường buôn phố thị.
“Mẹ kiếp…” Trịnh Bách nghiến răng ken két, hai hàm răng va vào nhau lập cập vì uất ức. Bàn tay ông ta nắm chặt lấy cán xà beng đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, nổi gồ lên: “Chưởng quỹ Đỗ, ngài… ngài ăn mặc sang trọng, miệng nói lời từ bi, mà bụng dạ ngài tính kế chôn sống xóm nghèo chúng tôi sâu đến thế này sao?”
Nụ cười đôn hậu trên khuôn mặt tròn trịa của Đỗ Kính rốt cuộc cũng nhạt đi đôi chút. Đôi mắt y híp lại thành hai đường chỉ hẹp, lóe lên tia sáng lạnh lùng, sắc sảo của loài sói già săn mồi. Tuy nhiên, y vẫn không hề bối rối hay tỏ vẻ chột dạ. Y vẫn đứng thẳng lưng, hai tay thong thả chắp sau tà trường bào tơ gai, phong thái của một kẻ nắm chắc đằng chuôi không hề suy suyển một phân.
“Làm ăn buôn bán trên đời, xưa nay đều là có qua có lại. Bổn hành bỏ ra hai mươi bao lương thực hảo hạng giữa cái thời buổi thóc cao hơn vàng, người chết đói la liệt ngoài bãi hoang này, há lại có thể ném tiền qua cửa sổ mà không nắm lấy sự bảo đảm?” Đỗ Kính thản nhiên rời mắt khỏi hai anh em họ Mộc, quay sang nhìn thẳng vào Phạm Nghi: “Bác Nghi, bác là người có tuổi trong làng, từng nếm trải mùi đời, ắt phải biết nhìn xa trông rộng. Người mà chết đói rồi thì cần đất đai để làm gì? Cần giống cây lạ để làm gì nữa? Chết rồi thì chỉ cần một cỗ ván mỏng, mà đất này ván gỗ tạp cũng chẳng có mà chôn đâu! Không có số lương thực này của ta, đinh tráng xóm các vị cầm cự được mấy ngày trước khi ngã gục vì kiệt sức trên bãi đá Thạch Nê? Ký vào đây, các vị mất đi quyền tự do buôn bán năm năm, nhưng đổi lại con cháu các vị có cơm no trong bụng qua ba tháng ròng rã, giữ được mạng sống để mà chờ ngày đất nở hoa!”
Sự cám dỗ vẫn còn nguyên vẹn ở đó, trần trụi, tàn nhẫn và đầy sức nặng. Mùi thơm ngọt ngào của hai mươi bao cám mới và gạo lứt vẫn cuồn cuộn tỏa ra trong màn sương đêm buốt giá, như một miếng mồi thơm phức giấu kín lưỡi câu ngạnh bằng thép nguội bên trong. Chỉ cần một cái gật đầu, một vết chỉ tay bằng mực đỏ, nồi cơm của mười hai nóc nhà sẽ đỏ lửa ngay đêm nay. Nhưng cái giá phải trả là sự lệ thuộc muôn đời.
Phạm Nghi run rẩy trút ra một hơi thở dài nặng nhọc. Lồng ngực gầy guộc của ông lão phập phồng sau làn áo mỏng. Ông từ từ đưa mắt nhìn quanh khoảng sân đất nện. Những người láng giềng của ông, những người đàn ông mặt mũi hốc hác, những người đàn bà mắt trũng sâu vì đói khát, những người vừa mới đây thôi đã cùng ông kiên quyết ấn ngón tay dính mực vào cuốn sổ bìa da mộc để khai sinh ra Hội giữ đất Hạ Khê, đang nhìn ông bằng những ánh mắt giằng xé tột cùng. Đó là cuộc chiến khốc liệt giữa sự sinh tồn trước mắt của thể xác và phẩm giá, tự do lâu dài của cả một cộng đồng.
Ông lão chống gậy, bước từng bước chậm rãi tới trước chiếc chõng tre.
Đỗ Kính khẽ nhếch mép mỉm cười đắc thắng, chìa cây bút lông cán trúc về phía ông lão.
Nhưng Phạm Nghi không hề đưa tay nhận lấy cây bút. Đôi bàn tay già nua, gầy guộc đầy những đồi mồi của ông bất thần chộp lấy cuộn giấy dầu trên mặt chõng. Ông dùng hết sức bình sinh cuốn tròn nó lại một cách dứt khoát, rồi giáng mạnh cuộn giấy vào ngực áo của Đỗ Kính.
“Hội giữ đất Hạ Khê chúng tôi… tuyệt đối không ký!”
Giọng của Phạm Nghi khàn đặc, đứt quãng vì thiếu sức, nhưng từng âm vang thốt ra lại dứt khoát, cứng cỏi như nhát búa đập vỡ đá tảng:
“Quy ước thứ ba của Hội chúng tôi vừa mới lập cách đây nửa canh giờ, mực trên sổ còn chưa kịp khô: cấm tuyệt đối mọi hộ tự ý nhận tài trợ hay ký kết bất kỳ thỏa thuận riêng rẽ nào làm tổn hại đến quyền tự quyết của cả xóm! Hội giữ đất chúng tôi thà ăn rau dại cầm hơi, thà cùng nhau chia nhau từng hớp nước cháo loãng, chứ nhất quyết không bán giống Tức Căn, không bán tương lai của mảnh đất này để đổi lấy ba tháng cơm no làm kiếp tá điền cho Vạn Thạch Hành!”
“Bác Nghi nói chí phải!” Lê Cẩn từ phía sau đám đông bước sầm sập tới, đưa mu bàn tay quẹt ngang sống mũi, giọng khàn khàn nhưng rắn rỏi: “Anh em thợ đào giếng chúng tôi thà vác xà beng quai búa với cái bụng lép kẹp rỗng không, chứ không đời nào chịu để con cháu sau này phải quỳ gối van xin các người định giá từng ngọn rau, từng cọng cỏ!”
“Đúng thế! Không ký kết gì hết! Đem lương thực của các người cút khỏi xóm Cạn đi!” Mấy gã lực điền trong đội phá đá của Trịnh Bách cũng đồng thanh gầm lên đầy phẫn nộ, tiếng thét xé tan màn đêm u tịch, dù bên dưới lồng ngực gầy guộc kia, bụng dạ họ vẫn đang sôi lên sùng sục từng cơn cồn cào.
Trịnh Bách đứng chết lặng giữa sân. Ánh mắt ông ta nhìn trân trân vào những bao thóc mẩy tròn đang dần vuột khỏi tầm với, nỗi tiếc nuối và xót xa cuộn trào nghẹn ứ nơi cổ họng. Nhưng đứng trước lý lẽ đanh thép của anh em nhà họ Mộc và khí phách kiên cường bất khuất của cả xóm giếng, ông ta cúi gằm mặt xuống, hai bàn tay buông thõng bên hông, không dám và cũng không thể thốt ra một lời phản đối nào nữa.
Nụ cười trên khuôn mặt tròn trịa của Đỗ Kính rốt cuộc cũng hoàn toàn biến mất. Gương mặt y lạnh tanh như tượng đá. Y giơ tay đón lấy cuộn giấy dầu bị đẩy trả lại, từ tốn phủi phẳng những nếp gấp rồi nhét sâu vào trong ống tay áo rộng, ánh mắt sắc như dao quét qua từng khuôn mặt hốc hác, lem luốc trong sân với vẻ thương hại xen lẫn khinh bỉ tột cùng.
“Khí phách lắm. Đỗ mỗ hôm nay thực sự mở rộng tầm mắt trước sự cứng cỏi của các vị,” Đỗ Kính cười nhạt một tiếng, quay người bước từng bước chậm rãi lên lại cỗ xe ngựa: “Nhưng trên cõi đời này, khí phách chưa bao giờ lấp đầy được cái dạ dày rỗng tuếch. Đá vôi Thạch Nê cứng lắm, còn cổ họng của những kẻ chết đói thì mềm yếu vô cùng. Các vị cứ ôm chặt lấy mảnh đất cằn cỗi và cái mầm cây rễ mục của mình đi. Đỗ mỗ tin chắc rằng, không lâu nữa đâu, khi những đứa trẻ bắt đầu kiệt sức nằm liệt giường, người đói các vị rồi sẽ tự bò bằng tứ chi đến trước bậc cửa hiệu của Vạn Thạch Hành tại Bến Tro mà dập đầu cầu xin ta ký bản hợp đồng này thôi. Chỉ có điều lúc đó, các điều khoản sẽ không còn dễ chịu như đêm nay nữa đâu.”
Y vén rèm bước vào trong thùng xe, lạnh lùng gõ ngón tay đeo nhẫn ngọc lên thành gỗ:
“Quay xe!”
Tiếng roi da của tên phu xe vụt vun vút trong không khí lạnh, nổ giòn tan như pháo đập. Hai con tuấn mã hí vang một tiếng dài ai oán, cựa mình kéo cỗ xe hai tầng nặng trịch quay đầu lại. Tiếng bánh xe bọc sắt nghiến ken két trên nền sỏi đá lạo xạo xa dần, mang theo hương thơm ngào ngạt của cám mới và thóc mẩy khuất dần vào màn đêm mịt mùng của lòng chảo Hạ Khê. Khoảng sân nhà Mộc gia lại một lần nữa chìm vào sự lạnh lẽo cô tịch, chỉ còn mùi chua nồng, ngai ngái quen thuộc của phế tro và đất chết xộc thẳng vào mũi.
Sự im lặng nặng nề như ngàn cân chì lập tức đè sụp xuống vai mười hai con người đang đứng trơ trọi giữa sân. Khi ảo ảnh về bữa cơm no nê tan biến vào bóng tối, thực tại tàn khốc của sự đói khát lập tức quay trở lại bóp nghẹt từng lồng ngực.
Trịnh Bách ngồi thụp xuống bậu cửa đất nứt nẻ, hai tay ôm chặt lấy đầu, bờ vai vạm vỡ rung lên bần bật trong từng tiếng nấc nghẹn ngào:
“Từ chối rồi… Đuổi người ta đi rồi… Nhưng sáng mai lấy cái gì bỏ vào mồm mà có sức quai búa phá đá đây các bác ơi? Chẳng lẽ nhìn vợ con chết đói thật sao?”
Tiếng than thở của Trịnh Bách như một tảng đá ngàn cân ném vào mặt hồ yên ả, làm dấy lên nỗi bi thương cùng cực trong lòng mọi người. Mộc Tầm nắm chặt hai bàn tay thành nắm đấm, móng tay cắm sâu vào da thịt đến rớm máu. Lòng anh đau như dao cắt. Anh biết mình và Mộc An vừa làm một điều hoàn toàn đúng đắn để bảo vệ Tức Căn, bảo vệ mảnh đất và phẩm giá của cả cộng đồng, nhưng cái giá phải trả ngay trước mắt là sự đói khát tàn khốc của những người hàng xóm đã đặt trọn niềm tin vào anh.
“Nếu xóm Giếng Cạn cần lương thực để đập đá mở đất, nhóm dược hộ Bến Tro chúng tôi có thể gánh vác một phần.”
Một giọng nói trong trẻo, dịu dàng nhưng ẩn chứa sức mạnh kiên định bỗng nhiên vang lên từ phía cổng rào tre đầu ngõ.
Mọi người giật mình thảng thốt, đồng loạt quay đầu nhìn ra.
Đào Nguyệt bước vào sân. Chiếc áo vải nâu sồng giản dị của cô ướt đẫm sương đêm vùng núi, mái tóc dài buộc gọn sau gáy lấm tấm những hạt nước li ti. Theo sau bước chân thoăn thoắt của cô là hai người đàn ông trung niên vạm vỡ, mặc trang phục ngắn tay của phường thuốc Bến Tro, trên vai mỗi người gánh một đôi bồ đan bằng tre cật, bên ngoài bọc kín bằng nhiều lớp vải bạt chống ẩm.
“Cô Đào Nguyệt?” Mộc Tầm ngạc nhiên thốt lên, vội vã bước tới đón.
Đào Nguyệt dừng lại bên mép chõng tre, đưa tay áo gạt đi những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán, mỉm cười nhẹ nhõm rồi cúi đầu chào Phạm Nghi cùng bà con xóm giếng:
“Tôi nghe ngóng được tin tức cỗ xe lương thực lớn của Vạn Thạch Hành rời kho từ lúc chập tối, linh tính mách bảo Đỗ Kính nhất định sẽ dùng mồi thóc ngon để ép bà con xóm Cạn vào tròng. Đoán trước tình hình nguy cấp, tôi vội vàng cùng hai vị sư huynh trong phường thuốc gánh hàng, chạy bộ theo đường tắt men qua hẻm núi Khe Táng Thủy để kịp sang đây.”
Nói rồi, cô ra hiệu cho hai người đàn ông đi cùng hạ những đôi bồ nặng trịch xuống giữa sân đất, cẩn thận tháo từng nút buộc và mở tung các lớp vải bạt ra.
Bên trong không có gạo trắng ngần hay cám mịn thơm phức như trên cỗ xe của Vạn Thạch Hành. Thay vào đó là những lát sắn dây rừng phơi khô trắng muốt, những khúc củ mài già chắc nịch đã được gọt vỏ thái mỏng sấy khô kiệt trên than củi, cùng vài bao tải nhỏ đựng các loại thảo dược dưỡng phế bình hòa như cát cánh, bách bộ và những cánh hoa khoản đông khô vàng sẫm.
“Nhóm dược hộ Bến Tro chúng tôi chỉ là những người làm thuốc nghèo khó, không có kho lẫm bạc vạn như các đại thương hành, càng không có sẵn gạo ngon thóc mẩy để mang tặng,” Đào Nguyệt từ tốn giải thích, đôi mắt trong veo sáng ngời nhìn khắp lượt từng gương mặt đang ngơ ngác: “Nhưng trong kho dự trữ của phường thuốc chúng tôi, qua nhiều mùa giáp hạt, chúng tôi luôn tích trữ các loại rễ củ rừng phơi khô để phòng khi bão lũ. Chỗ sắn dây rừng và củ mài này tuy đem nghiền ra nấu cháo hay hấp chín ăn sẽ ráp cổ, nhạt nhẽo và khó nuốt, nhưng chúng chứa lượng tinh bột vô cùng dồi dào và dược tính lành mát. Ăn vào chắc dạ, đủ sức lực để đinh tráng lao động nặng nhọc suốt cả ngày mà không lo kiệt sức.”
Trịnh Bách ngẩng phắt đầu lên khỏi bậu cửa. Đôi mắt đỏ ngầu của ông ta lại lóe lên một tia hy vọng mới, nhưng nỗi sợ hãi về những chiếc bẫy nợ vẫn khiến giọng ông ta run rẩy, đầy ngờ vực:
“Cô Nguyệt… cô mang số lương thực này đến… cô muốn xóm nghèo chúng tôi đổi lấy cái gì? Chúng tôi… bây giờ khố rách áo ôm, đào đâu ra bạc vụn hay linh thạch để trả cho cô đây?”
“Chúng tôi tuyệt đối không cần bạc vụn, cũng không đòi độc quyền mua bán hay nhòm ngó giống cây Tức Căn của các vị,” Đào Nguyệt quay sang nhìn Mộc Tầm, ánh mắt cô chan chứa sự thấu hiểu và tin cậy, rồi chuyển sang Phạm Nghi và Mộc An: “Điều nhóm dược hộ chúng tôi thực sự cần là một nguồn dược liệu sạch. Ba mươi ngày qua, những luống rau cải xanh tốt trồng quanh mép Giếng Cạn đã chứng minh rõ ràng một điều: đất và nước được rễ Tức Căn lọc sạch hoàn toàn không còn độc tính của kim loại nặng và phế tro. Hiện nay, hàng trăm phu mỏ và người nghèo mắc chứng bệnh ho ra tro xám ở Bến Tro đang chết dần mòn trong đau đớn chỉ vì thiếu những vị thuốc thanh sạch để bài trừ độc khí trong phổi. Chúng tôi muốn lập một thỏa thuận sòng phẳng, công bằng với Hội giữ đất: đổi toàn bộ số rễ củ phơi khô và thảo dược dự trữ này lấy QUYỀN ĐƯỢC NHẬN DƯỢC LIỆU SẠCH trong vụ mùa thu hoạch đầu tiên của các vị.”
Mộc An lập tức mở to mắt. Nàng kéo chiếc chõng tre lại gần ngọn đèn, tay thoăn thoắt mở cuốn sổ bìa da mộc của Hội giữ đất ra:
“Quyền nhận dược liệu sạch vụ mùa đầu tiên? Chị Nguyệt, xin chị nói rõ từng điều kiện cụ thể được không?”
“Rất đơn giản và minh bạch,” Đào Nguyệt gật đầu, ngón tay thanh mảnh chỉ vào các bao tải thảo dược: “Hội giữ đất sẽ cam kết dành riêng một phần ba diện tích đất khai hoang thử nghiệm tại bãi Thạch Nê để gieo trồng các loại thảo dược trị phế cơ bản như hoàng liên, bách bộ, cát cánh. Đến kỳ thu hoạch, nhóm dược hộ Bến Tro chúng tôi được quyền ưu tiên thu mua toàn bộ số dược thảo sạch đó theo đúng mức giá tự do của thị trường tại thời điểm bấy giờ. Và giá trị của số sắn khô, củ mài cứu đói đêm nay sẽ được cấn trừ sòng phẳng vào số tiền chúng tôi trả để mua dược liệu ở vụ mùa tới. Nhóm dược hộ chúng tôi cam kết tuyệt đối không can thiệp vào quy trình kỹ thuật chăm sóc Tức Căn, không đòi hỏi chia chác cây giống, và toàn bộ giao ước này sẽ được ghi chép rõ ràng từng dòng vào cuốn sổ quy ước của Hội.”
Đào Nguyệt dừng lại một nhịp, ánh mắt cô dừng lại trên gương mặt cương nghị của Mộc Tầm:
“Số củ mài và sắn khô này, nếu mười hai hộ dân chia nhau ăn dè sẻn, nấu độn cùng rau rừng và rau sạch quanh giếng, đủ để toàn bộ đinh tráng có sức khỏe làm việc nặng nhọc trong đúng hai mươi ngày. Hai mươi ngày đó, liệu có đủ để các vị phá xong lớp vỏ đá vôi Thạch Nê và đưa những nhánh rễ con đầu tiên bén đất hay không?”
Hai mươi ngày!
Con số ấy vang lên không hề êm ái, xa hoa như lời hứa hẹn ba tháng no nê đầy cạm bẫy của Đỗ Kính. Nhưng đó là một chiếc phao cứu sinh chân thật, một sự sẻ chia ấm áp giữa những con người cùng chung cảnh ngộ khốn cùng, được đánh đổi bằng chính danh dự, mồ hôi và sức lao động chân chính của đôi bàn tay họ.
“Đủ! Hai mươi ngày là quá đủ cho anh em chúng tôi!” Lê Cẩn đập mạnh bàn tay hộ pháp xuống đùi đánh bốp một cái, đôi mắt bừng sáng, phấn khích reo to.
Phạm Nghi run rẩy tiến lại gần, đưa hai bàn tay già nua đón lấy một khúc củ mài sấy khô từ tay Đào Nguyệt. Hốc mắt nhăn nheo của ông lão bỗng ươn ướt lệ:
“Được… được quá đi chứ! Đội ơn cô Nguyệt, đội ơn nhóm dược hộ Bến Tro! Đây mới chính là sự cứu giúp của những tấm lòng cùng chung hoạn nạn! An, con mau lấy bút mực ra đây, ghi chép cẩn thận từng cân củ mài, từng sọt sắn khô, từng điều khoản thỏa thuận với phường thuốc của cô Nguyệt vào cuốn sổ bìa da mộc cho bác!”
“Dạ, con làm ngay đây ạ!” Mộc An mừng rỡ đáp lời, tiếng nàng ngân vang trong trẻo. Nàng chấm ngòi bút lông vào nghiên mực, cẩn thận nắn nót viết từng dòng chữ ngay ngắn, rõ ràng trên trang giấy bổi thô ráp, ghi lại từng con số cân đong minh bạch trước sự chứng kiến và đồng thuận tuyệt đối của tất cả mọi người.
Trịnh Bách lững thững bước tới bên đôi bồ đựng củ khô. Ông ta thò bàn tay chai sần bốc lên một nắm sắn dây thái lát trắng tinh, đưa lên mũi hít một hơi thật sâu. Không hề có mùi thơm ngọt ngào ngạt của cám gạo đồng bằng, chỉ có mùi ngai ngái, mộc mạc và thanh khiết của rễ củ vùng rừng núi hoang sơ. Nhưng người đàn ông lực điền ấy hít lấy hít để thứ hương vị mộc mạc đó như thể vừa tìm lại được linh hồn đã mất của chính mình. Ông ta quay người lại, ngượng ngùng đưa tay gãi mái tóc bù xù lấm tấm bụi tro, giọng nghẹn ngào nhìn hai anh em Mộc gia:
“Tầm này… con An này… Bác… ban nãy cái bụng đói nó làm cái đầu bác u mê, hồ đồ quá. May mà nhờ có hai đứa tỉnh táo chặn tay lại, nếu không thì cái xóm Giếng Cạn này đã tự đem thân mình bán đứt cho loài lang sói rồi…”
Mộc Tầm mỉm cười ấm áp, bước tới vỗ nhẹ lên bờ vai vạm vỡ của người nông dân dạn dày sương gió:
“Bác Bách đừng bận lòng làm gì. Đói cơm rách áo thì ai mà chẳng có lúc cuống lòng. Nhưng chúng ta đã cùng nhau cắt máu lập Hội, thì từ nay sống chết có nhau, nhất định phải cùng nhau giữ lấy từng tấc đất này đến cùng.”
Đêm đã về khuya, gió lạnh từ lòng chảo vẫn không ngừng thổi thốc qua những rặng tre xơ xác, nhưng bầu không khí trong khoảng sân nhà Mộc gia không còn vẻ ngột ngạt, u ám và tuyệt vọng như trước nữa.
Mười hai bao củ khô nhanh chóng được đem ra cân đong cẩn thận trên chiếc cân đòn bằng gỗ lim của xóm. Mộc An dựa theo định mức khẩu phần sống tối thiểu mà nàng đã tính toán chi li từ trước, chia đều từng phần sắn dây, củ mài cho từng nóc nhà tùy theo số lượng miệng ăn và số đinh tráng tham gia đội đập đá. Từng bọc củ khô được các chủ hộ trân trọng ôm chặt vào lòng như ôm lấy báu vật, vội vã mang về mái ấm xiêu vẹo của mình để kịp nhóm lên ngọn lửa ấm, bắc một nồi cháo nóng lót dạ cho con trẻ trước khi trời rạng sáng.
Khi ngọn đèn dầu hạt sở trong gian nhà vách đất của họ Mộc lụi dần, chỉ còn lại những đốm than đỏ le lói trong chiếc đĩa sành, phía chân trời đằng đông—nơi có những rặng núi đá tai mèo sắc nhọn ngút ngàn của Thanh Lộ Tông bao bọc—một vệt sáng màu xám đục bắt đầu le lói hiện ra, xé toạc màn sương mù quánh đặc đang bao phủ cả thung lũng.
Gió sớm thổi rập rờn qua bãi Thạch Nê, mang theo những tiếng lách cách khô khốc của những phiến đá vôi ngậm độc nằm im lìm suốt bao năm tháng qua.
Lê Cẩn vác chiếc xà beng nặng trịch lên vai, dẫn đầu tốp thợ bước ra cánh đồng Thạch Nê xám xịt dưới nắng quái.