Hợp Đồng Sau Cơn Đói
Tấm rèm tre già đan bằng cật nứa buông rủ xuống ngưỡng cửa gian phòng trà nép mình bên mạn đông chợ Bến Tro. Gió sông thổi thốc từ mé nước lên, cuốn theo mùi tanh nồng của bùn đãi quặng, mùi cá ươn trên những sạp nan dầm nắng, rồi bị tấm mành cản lại bên ngoài, chỉ để lọt vào gian phòng thứ không khí ẩm sì và tiếng ồn ào rền rĩ như sấm rền xa xôi.
Trên chiếc bàn con đóng bằng danh mộc thông rừng chưa kịp lên nước bóng, khói từ chiếc ấm đồng bốc lên từng dải mảnh dẻ, vấn vít quanh xấp giấy bản điều chỉnh điều khoản nợ vừa được nha môn phủ doãn sao lục, mực đen đóng dấu triện son đỏ quạch hãy còn phảng phất mùi dầu chu sa ngai ngái.
Hương trà chát đượm của búp chè shan tuyết sao suốt quẩn quanh giữa hai chiếc bàn gỗ mộc. Tiếng xao động từ bến sông dội vào vách ván nứa nghe trầm đục và rời rạc: tiếng bánh xe thồ nghiến cọt kẹt trên mặt đường rải cuội sỏi, tiếng người phu khuân vác thở dốc từng cơn dưới sức nặng của những sọt than bùn, tiếng kỳ kèo bớt một thêm hai từng đồng kẽm của cánh lái buôn thóc gạo, và cả những hồi búa đập chan chát, khô khốc phát ra từ dãy lò rèn công cụ phía tây mé nước. Mỗi âm thanh dội tới đều mang theo cái nhọc nhằn, bức bối của một bến chợ vùng biên ải đang oằn mình trong cơn khan hiếm vật tư giữa mùa giáp hạt.
Đỗ Kính ngồi xếp bằng ngay ngắn trên chiếc đệm cói dệt hoa văn hình thoi. Tấm áo dài bằng lụa màu cánh chả viền chỉ bạc đã được giũ sạch bụi bặm nơi công đường, từng nếp gấp phẳng phiu buông rủ xuống hai bên đầu gối. Trên gương mặt phốp pháp, bóng nhẫy dầu mỡ của viên chưởng quỹ Vạn Thạch Hành, tuyệt nhiên không còn tìm thấy một nét bẽ bàng hay chút bối rối nào của kẻ vừa bị quan phụ mẫu vạch trần thủ đoạn tính lãi phạt đè lãi mẹ cách đây hai canh giờ.
Đối với hạng con buôn lão luyện đã kinh qua hàng trăm phen chìm nổi chốn thương trường, sự sỉ nhục hay lòng tự tôn bất quá cũng chỉ là những con tính bù trừ có thể gạt sang bên lề chiếc bàn tính gỗ mun. Bản án của Huyện quan Ngô Trực đã gõ búa định đoạt rành rành trên công đường, giấy trắng mực đen không thể đảo ngược, điều duy nhất còn có ý nghĩa trong đầu gã lúc này là làm sao xoay xở thế cờ, vớt vát được mối lợi lớn nhất từ đống tàn tích của sự phán quyết ấy.
Gã khẽ nghiêng cổ tay đẫy đà, vòi ấm đồng rót ra hai dòng nước trà màu hổ phách sóng sánh vào hai chiếc chén gốm da lươn thô ráp, rồi thong thả đẩy sang phía đối diện. Khóe miệng gã hơi nhếch lên, nặn ra một nụ cười nhã nhặn như thể giữa họ vừa trải qua một buổi đàm đạo thanh tao chứ không phải một cuộc đấu đá sống còn nơi nha môn:
— Mộc tiểu ca, Mộc cô nương, mời nhấp tạm ngụm trà ấm cho nhuận giọng, giải bớt cái oi nồng của bụi đường. Nước giếng nguồn Bến Tro này đào trúng mạch đá vôi ngậm quặng, uống không thì hơi khé cổ vị phèn, nhưng nếu biết hãm chung với trà rừng sao kỹ trên chảo gang thì lại giữ được cái hậu ngọt rất sâu. Chuyện chốn công đường khi sáng, đại nhân Ngô Trực xử trí nghiêm minh, công bằng như cán cân công lý, kẻ làm ăn buôn bán lấy chữ tín làm đầu như Đỗ mỗ đây tâm phục khẩu phục, tuyệt nhiên chẳng dám ôm giữ nửa lời oán thán trong lòng.
Ngồi đối diện với gã, Mộc Tầm vẫn giữ nguyên tư thế ngồi thẳng lưng như một thân cây gỗ nghiến mọc giữa sườn đá. Hai bàn tay thô kệch, chai sần từng mảng lớn của anh đặt hờ trên hai đầu gối bọc trong lớp vải bố thô sờn rách mép. Anh không hề đưa tay với lấy chén trà. Những vết nứt nẻ sâu hoắm ở đầu ngón tay do ngâm nước lạnh và tro bùn suốt bao đêm qua vẫn còn rỉ ra những vệt máu khô thâm sì. Từng vết nứt ấy nhức nhối như muốn nhắc nhở anh về giá trị của từng tấc đất Thạch Nê, thứ đã phải đổi bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu của những người nông phu khốn cùng.
Cạnh anh, Mộc An khẽ kéo lại mép tay áo chàm đã bạc phếch màu thời gian. Mái tóc đen nhánh của cô được vấn gọn gàng bằng một chiếc trâm tre mộc, để lộ vầng trán thanh tú và đôi mắt sáng quắc, sắc lẻm như dao cau đang găm thẳng vào xấp giấy bản đặt ngay ngắn giữa bàn. Ánh nhìn của cô không chứa đựng sự căm hờn bốc đồng, mà lạnh lùng, tỉnh táo đến mức khiến một kẻ lọc lõi như Đỗ Kính cũng phải kín đáo rụt ngón tay lại một chút.
Thấy hai người không có ý định chạm vào chén trà nghênh tiếp, nụ cười trên gương mặt đẫy đà của Đỗ Kính thoáng chững lại trong chớp mắt, nhưng rồi gã lập tức gạt phắt đi sự gượng gạo bằng một cái phẩy tay nhẹ tênh. Gã xòe chiếc quạt nan ngà voi chạm trổ tinh xảo, nhịp nhịp cán quạt lên mặt bàn theo từng tiếng gõ khô khốc:
— Bản trích lục án văn của huyện nha đã ghi chép rành rẽ, chẳng ai chối cãi được: toàn bộ khoản tiền phạt quá hạn tính theo lối phạt chồng phạt mà thương hành áp dụng trước đây đều bị bãi bỏ triệt để. Nợ gốc của Mộc gia đối với thương hành ta được ấn định dứt khoát là sáu lượng bạc trắng cùng ba viên linh thạch hạ phẩm. Chiểu theo luật định của triều đình về việc chậm trễ thanh toán mùa màng, Mộc gia phải nộp thêm một phần mười tiền phạt quá hạn thông thường, tức là sáu tiền bạc trắng. Gom tất tật lại, số nợ hiện thời là sáu lượng sáu tiền bạc trắng chẵn và ba viên linh thạch hạ phẩm. Quan huyện rộng lòng lân tuất, cho phép Mộc gia chia làm ba kỳ thanh toán sòng phẳng bằng nông sản vụ mùa. Thế nhưng, hai vị cũng là người hiểu lẽ đời, ắt phải biết một điều...
Đỗ Kính khẽ rướn người về phía trước, hạ thấp giọng xuống một bậc, chiếc quạt ngà khép lại một nửa, ánh mắt gã lóe lên những tia tính toán sắc sảo và nhớp nhúa như dầu đèn:
— Phán quyết của quan huyện là khuôn phép của triều đình để giữ yên bờ cõi, còn cách thức người buôn kẻ bán thu hồi vốn liếng lại là lẽ tuần hoàn của bạc tiền. Vạn Thạch Hành ta có thể nhẫn nại đợi các người qua ba kỳ gặt hái, cũng chẳng thèm ngó ngàng đến cái vườn thuốc cằn cỗi trên đồi đá hay tranh đoạt quyền thả gàu múc nước ở Giếng Cạn của xóm các người làm gì cho thêm nặng nghiệp. Nông dân lấy đất làm gốc, giữ được tấc đất cắm dùi thì mới có cái mà bỏ vào mồm. Thay vì để các người chạy vạy vắt mũi đút miệng lo từng đồng nợ vụ mùa, Đỗ mỗ xin đề xuất một con đường thênh thang hơn: chúng ta chuyển toàn bộ số nợ gốc sáu lượng sáu tiền cùng ba viên linh thạch này thành một bản hợp đồng cung ứng nông sản và thảo dược có kỳ hạn cố định. Thương hành ta sẽ bỏ vốn bao tiêu, nhận nông sản trừ dần vào nợ gốc lẫn nợ lãi. Mộc gia vừa giữ trọn được vườn tược, vừa thanh thản trả xong món nợ thuốc thang cứu mạng cho lệnh đường năm xưa. Hai vị nghĩ xem, mối giao hảo thuận buồm xuôi gió này có phải là mở ra một con đường sống cho cả đôi bên hay chăng?
Dứt lời, bàn tay mập mạp của Đỗ Kính nhẹ nhàng đẩy bản khế ước mới được thảo bằng thứ mực tàu đen nhánh sang mép bàn phía Mộc An. Mặt giấy lụa mịn màng, chữ viết chân phương chỉnh tề như một lời mời gọi đầy thiện chí.
Mộc An không đáp lời ngay. Bàn tay thon thả của cô vươn ra, ngón tay chạm vào mép giấy bản lành lạnh, kéo tập khế ước về phía mình. Cô lật giở từng trang một cách cẩn trọng và chậm rãi. Giữa không gian tĩnh mịch của căn phòng chỉ có tiếng giấy sột soạt khô khốc vang lên đều đặn. Dưới ánh sáng vàng vọt hắt qua khe rèm nứa, từng con chữ uốn lượn phơi bày rõ mồn một. Mộc An đọc không sót một chữ, từ tiêu đề lớn cho đến những dòng chú thích li ti nằm khuất nẻo dưới góc chân trang. Bài học cay đắng từ tờ trát phạt lãi kép trước đây đã khắc sâu vào tâm khảm cô một chân lý nghiệt ngã: cạm bẫy của phường buôn giảo hoạt không bao giờ lộ liễu trên mặt bàn, mà luôn ẩn náu dưới những lắt léo câu chữ mà người chất phác thường bỏ qua.
Quả nhiên, khi lật đến trang thứ ba, ngón trỏ của Mộc An khựng lại ở dòng chữ nằm nép sát lề dưới. Khóe môi cô khẽ cong lên một nụ cười mỉa mai, đôi mắt ngước lên nhìn thẳng vào Đỗ Kính:
— Đỗ chưởng quỹ tính toán quả thật không hổ danh là bậc thầy thâu tóm của đất Bến Tro. Miệng thì nói mở lượng khoan hồng, chuyển nợ thành bạn hàng giao kết, nhưng cái điều khoản thứ tư này ngài viết thế nào đây? 'Bên vay cam kết trao toàn quyền độc quyền phân phối mọi loại ngũ cốc, rau màu và thảo mộc thu hoạch từ toàn bộ diện tích đất hoàn nguyên thuộc lòng chảo Hạ Khê cho Vạn Thạch Hành trong thời hạn ba năm liên tiếp; tuyệt đối không được xuất bán cho bất kỳ thương lái, thuyền buôn hay y quán nào khác ngoài chợ Bến Tro nếu chưa có sự ưng thuận bằng văn bản của Vạn Thạch Hành'.
Không đợi Đỗ Kính kịp phân trần, Mộc An thò tay vào túi áo chàm, rút ra một chiếc quản bút lông thỏ cán trúc ngả màu vàng ố cùng một chiếc lọ sành nhỏ bằng ngón chân cái đựng mực mài sẵn. Cô mở nắp lọ, chấm đẫm ngọn bút lông vào thứ mực đen đặc sánh, rồi không một chút do dự, vung tay gạch một đường mực đen ngòm, sắc ngọt và dứt khoát, xé toạc ngang qua toàn bộ đoạn văn tự của điều khoản thứ tư trên mặt giấy lụa.
Vệt mực đen thẫm loang ra, biến những dòng chữ nắn nót thành một đống bầy hầy dơ bẩn.
Sắc mặt Đỗ Kính trong nháy mắt cứng đờ lại như tượng đá. Cặp mắt ti hí của gã nheo lại thành hai đường chỉ mảnh, giọng nói không giấu nổi sự bực bội:
— Mộc cô nương! Hà cớ gì phải nóng vội làm hỏng hòa khí như thế? Vạn Thạch Hành ta nắm giữ trong tay hàng chục bến bãi, thuyền buôn ngược xuôi khắp phủ Bình Xuyên, kho lẫm rải dọc các ngả đường lớn. Nông sản trên thứ đất bùn đá vừa mới hoàn nguyên của các người nếu không qua tay mạng lưới thuyền bè của ta thì làm sao tìm được mối tiêu thụ giá cao? Độc quyền phân phối là để bảo đảm đầu ra vững vàng cho các người, gom về một mối để tiện đường chuyên chở, đâu phải là chuyện chèn ép bắt bí nhau!
— Đầu ra vững vàng hay là cái thòng lọng mới tinh tròng vào cổ họng dân nghèo Hạ Khê? — Mộc An đanh giọng, chiếc bút lông đập mạnh xuống mặt bàn nghe một tiếng *cạch* dứt khoát. — Đất Thạch Nê không phải là sản nghiệp riêng của nhà họ Mộc! Từng gàu nước từ đáy Giếng Cạn múc lên là tài sản chung do mười hai hộ dân cùng giữ gìn! Khoản nợ sáu lượng sáu tiền cùng ba viên linh thạch này là món nợ riêng của gia đình tôi, anh em tôi bằng xương bằng thịt sẽ cày cuốc trả sòng phẳng cho ngài từng phân, từng ly! Nhưng ngài lại muốn vin vào số nợ này để nuốt trọn quyền sinh sát của toàn bộ ruộng đồng trong thung lũng, biến cả thôn làng chúng tôi thành một đám tá điền cày thuê cuốc mướn trọn đời cho họ Đỗ các người sao?
Cô hơi chồm người lên, ánh mắt như hai ngọn đuốc rực sáng giữa gian phòng mờ tối:
— Dấu triện son trên bản án của Huyện nha mực còn chưa ráo, ngài muốn hai anh em tôi lập tức quay lại bậc thềm công đường, thỉnh cầu quan phụ mẫu Ngô Trực đích thân xem xét lại thói quen 'ôm đồm bao thầu' này của Vạn Thạch Hành chăng? Để xem tội cưỡng đoạt thương quyền và bức bách dân cày có đáng để gông cổ thêm vài tên tay chân nữa hay không?
Khóe miệng nhiều thịt của Đỗ Kính giật giật liên hồi. Nhắc đến cái tên Ngô Trực cùng đòn trừng phạt thẳng tay giáng xuống lũ tay chân khi sáng, một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng gã. Viên quan huyện ấy nổi tiếng cứng rắn, lại đang muốn lập uy trước triều đình; nếu chuyện này vỡ lở ra rằng gã vừa rời nha môn đã lập tức dùng khế ước ngầm để bóp nghẹt nông dân, cái ghế chưởng quỹ này của gã e rằng cũng khó giữ nổi. Bàn tay cầm quạt ngà của Đỗ Kính vô thức siết chặt lại, khớp ngón tay trắng bệch, giọng gã chùng hẳn xuống, mang theo vẻ thỏa hiệp miễn cưỡng:
— Thôi được rồi... Bỏ điều khoản độc quyền ấy đi. Đỗ mỗ này lùi một bước. Nhưng các người cũng phải nói cho rõ, số nợ ấy các người định lấy cái gì ra mà trừ dần? Lúa má ngoài bãi Thạch Nê còn đang trổ bông, trời đất dạo này thất thường, ai dám vỗ ngực cam đoan vụ này sẽ gặt hái đủ đầy mà không gặp sâu bệnh, úng ngập?
— Lúa trên đất Thạch Nê chắc chắn sẽ chín vàng, hạt nào hạt nấy mẩy tròn, không sót một hạt lép! — Mộc An nhìn thẳng vào gã, giọng nói rành rọt từng tiếng như đinh đóng vào cột gỗ. — Nhưng trước khi bàn đến chuyện cấn trừ nợ nần cho mùa gặt mười ngày tới, chúng ta phải giải quyết mối nguy ngay trước mắt này đã. Hạ Khê đang rơi vào kỳ giáp hạt ngặt nghèo nhất trong vòng mười năm qua. Kho lẫm của mười hai hộ dân trong xóm đã cạn trơ đáy từ ba ngày nay. Những người thợ đập đá kiệt sức, người già mắc chứng phổi tro chỉ còn húp cháo loãng nấu độn với rau dại ven suối để cầm cự qua ngày. Mùa gặt chỉ còn mười ngày nữa là bắt đầu, nhưng nếu không có lấy một hột gạo lót dạ, người dân sẽ ngã quỵ xuống bờ ruộng ngay trước ngưỡng cửa mùa màng!
Cô đẩy ngược tờ giấy lụa loang lổ vết mực về trước ngực Đỗ Kính:
— Điều kiện tiên quyết để bản hợp đồng cung ứng này có hiệu lực: Vạn Thạch Hành các ngài phải mở kho xuất bán ngay lập tức ba mươi bao gạo cứu trợ khẩn cấp cho Hội giữ đất Hạ Khê! Bán ngay trong chiều nay, dùng xe thồ chuyển thẳng về tập kết tại sân đình làng!
Đỗ Kính nghe vậy thì tròn mắt ngạc nhiên, rồi bật ra một tiếng cười khẩy khô khốc:
— Mộc cô nương, cô nói chuyện cứ như đùa cợt con nít! Giờ là lúc nào mà đòi mua một lúc ba mươi bao gạo? Toàn vùng lòng chảo đang giáp hạt, nguồn hàng từ mạn ngược trôi về bị nghẽn, giá gạo ngoài chợ Bến Tro này đang đội lên từng canh giờ! Một bao gạo tốt giờ hét giá một lượng bạc trắng còn chưa chắc có người chịu nhả hàng ra! Mười hai hộ dân rách nát của các người đào đâu ra tiền mặt mà thanh toán một lúc ba mươi bao gạo? Lại tính chơi trò ghi nợ chồng nợ, lấy khế ước miệng ra mà gạt Đỗ mỗ này sao?
— Không ghi nợ một đồng nào cả!
Giọng nói trầm đục, vang rền như tiếng đá tảng va đập bất thần vang lên từ phía Mộc Tầm. Suốt từ đầu buổi đàm phán, anh chỉ ngồi im lặng như một pho tượng, nhưng khi anh cất lời, cả gian phòng dường như chùng xuống dưới sức nặng của từng âm tiết. Mộc Tầm nhìn xoáy vào đôi mắt ti hí của Đỗ Kính, hai bàn tay thô ráp đan chặt vào nhau trên mặt bàn:
— Chúng tôi mua ba mươi bao gạo này theo đúng mức giá niêm yết bình ổn mùa giáp hạt mà Huyện nha đã ban bố: ba tiền hai phân bạc một bao, không thiếu một đồng kẽm. Toàn bộ số tiền mua gạo này sẽ được khấu trừ sòng phẳng vào kỳ thanh toán nông sản đầu tiên ngay sau khi cắt lúa. Để bảo đảm cho số nợ lúa gạo này, Hội giữ đất cam kết giao nộp cho thương hành đúng bốn mươi tạ thóc sạch đã phơi đủ ba nắng giòn, cùng với ba tạ củ bạch chỉ loại một do đích thân Dược sư Đào Nguyệt tuyển lựa từ những luống dược điền tốt nhất trên đất Thạch Nê!
Nghe đến mấy chữ 'ba tạ củ bạch chỉ loại một', mí mắt Đỗ Kính giật thót một cái. Gã há hốc mồm, nhìn chằm chằm vào người thanh niên làm vườn:
— Ba tạ bạch chỉ sạch? Có thật là loại củ sinh trưởng trên lớp đất đã được lọc sạch độc bằng mạng rễ Tức Căn?
— Đúng như vậy. — Mộc Tầm gật đầu, ánh mắt vững chãi và kiên định. — Dược liệu do đất Thạch Nê dưỡng thành hoàn toàn không nhiễm chút tàn dư lưu huỳnh hay độc quặng trọc tức. Dược tính thuần hậu, củ to, nạc thịt và thơm đậm. Mấy y quán lớn ngoài huyện lỵ đang lùng mua loại củ này với giá cao gấp rưỡi ngày thường để bào chế thuốc giải độc phổi cho thợ mỏ. Đỗ chưởng quỹ là người sành sỏi đường buôn bán, ngài tự khắc hiểu rõ ba tạ bạch chỉ sạch ấy, cộng thêm bốn mươi tạ thóc đầu mùa thơm dẻo, có giá trị thế nào trên thị trường sau đợt bão lũ trọc tức vừa qua! Số nông sản ấy không những thừa sức cấn trừ khoản tiền ba mươi bao gạo cứu tế cùng đợt trả nợ kỳ một của Mộc gia, mà thương hành các ngài còn nắm chắc phần lãi ròng không dưới mười lượng bạc trắng!
Đỗ Kính im bặt, chiếc quạt ngà buông thõng trên đùi. Những ngón tay ngắn ngủn, mập mạp của gã bắt đầu gõ dồn dập, lách cách trên mặt bàn gỗ thông.
Bên trong bộ óc tinh quái của một con buôn lọc lõi, những con số đang nhảy múa liên hồi. Ba mươi bao gạo bán theo giá công của huyện quả thực gã không thu được chút tiền lời chênh lệch nào, nhưng đổi lại, Vạn Thạch Hành sẽ trở thành mối lái độc quyền đầu tiên được chạm tay vào nguồn nông sản sạch và thảo dược thượng thặng vừa hồi sinh sau thảm họa. Đó là thứ hàng hóa mà các đan phường tu tiên và các tửu điếm lớn ngoài phủ thành đang thèm khát đến đỏ mắt. Nếu gã chối từ giao kèo này, đám dân bùn đất Hạ Khê hoàn toàn có thể đem số bạch chỉ ấy sang bắt tay với hội dược hộ của bà Bùi Sương hoặc bán thẳng cho y quán huyện, khi ấy Vạn Thạch Hành sẽ hoàn toàn bị gạt ra ngoài lề, mất trắng cả chì lẫn chài.
Chưa kịp để Đỗ Kính suy tính xong xuôi, Mộc An đã bồi thêm một đòn cân não cuối cùng:
— Chưa hết đâu, Đỗ chưởng quỹ. Đi kèm với bản hợp đồng này, ngài phải ký ngay vào lệnh triệt hạ tức khắc ba tầng hàng rào cọc nghiến bọc sắt tại trạm gác Đường Nam và trạm kiểm soát cửa ngõ Bến Tro! Khơi thông toàn bộ tuyến đường vận chuyển cho xe chở vôi tôi, tro trấu mục và chum sành chịu nhiệt của Lò Đất Kín đi vào lòng chảo! Nếu đến chiều nay, trạm gác còn giữ lại một chiếc cọc sắt, hoặc gia đinh của thương hành còn dám đập vỡ một chiếc vò nung nào của bà Tạ Hạnh, bản giao kèo này lập tức bị hủy bỏ tại chỗ! Chúng tôi sẽ quay lại công đường tố cáo Vạn Thạch Hành tội danh cố ý phong tỏa cứu nạn thiên tai, bức hại sinh mạng trăm họ!
Căn phòng trà rơi vào một khoảng lặng đặc quánh như chì. Tiếng nước trà rỉ qua kẽ ấm đồng rơi tí tách xuống khay gỗ. Hơi nóng từ chén trà đã nguội ngắt tự bao giờ.
Đỗ Kính nhìn trừng trừng vào hai anh em họ Mộc. Người anh ngồi đó như một khối đá tảng sừng sững bên sườn non, thô ráp, chai lì nhưng mang trong mình sức mạnh thầm lặng của đất đai màu mỡ; người em gái mảnh mai lại sắc bén như lưỡi gươm tuốt trần, từng lời từng chữ thốt ra đều khóa chặt lấy khuôn phép luật lệ, không để hở ra một kẽ hở nào cho sự xảo quyệt luồn lách.
Gã chưởng quỹ hít vào một hơi thật dài, lồng ngực phập phồng dưới lớp lụa đắt tiền. Chiếc quạt ngà trong tay gã khẽ gập lại một tiếng *tách* dứt khoát.
— Khá lắm... Khá cho hai anh em nhà họ Mộc các người! Quả thực là không chừa cho kẻ khác lấy một khe hở để thở dài!
Nói đoạn, gã với lấy ngọn bút lông trên nghiên mực, tự tay gạch bỏ hoàn toàn những dòng chữ về quyền độc quyền bao tiêu còn sót lại. Gã nắn nót viết thêm vào phần cuối của bản giao kèo: cam kết xuất kho ba mươi bao gạo cứu tế theo giá công của huyện nha, phương thức thanh toán khấu trừ bằng bốn mươi tạ thóc và ba tạ bạch chỉ sau vụ gặt, kèm theo lệnh dỡ bỏ toàn bộ chốt chặn vật tư tại hai trạm kiểm soát trong vòng hai canh giờ.
— Ký đi! — Đỗ Kính nghiến răng, cầm lấy chiếc triện đồng vuông vức dập mạnh xuống góc khế ước một dấu son đỏ rực như máu, rồi đẩy tờ giấy sang.
Mộc An cầm lấy tờ văn tự, cẩn thận soi từng nét chữ dưới ánh sáng ban ngày, rồi mới trịnh trọng chấm ngón tay trỏ vào nghiên mực, ấn một dấu vân tay đen nhánh bên cạnh triện son. Mộc Tầm cũng vươn bàn tay thô ráp, đặt ngón tay cái nứt nẻ máu bùn của mình xuống, ấn một vết chỉ tay sâu hoắm, vững chãi.
Một bản khế ước thương mại có kỳ hạn, sòng phẳng, minh bạch và hoàn toàn bình đẳng, lần đầu tiên trong lịch sử đất Bến Tro, đã được xác lập giữa những người nông phu nghèo khổ nhất và thế lực tài chính hùng mạnh nhất vùng lòng chảo.
***
Khi ráng chiều đỏ rực bắt đầu nhuộm thẫm những vách đá xám ngoét của dãy núi Thanh Lộ, chiếc xe bò lọc cọc chở Mộc Tầm và Mộc An chầm chậm lăn bánh qua trạm gác Đường Nam.
Những chiếc cọc gỗ nghiến to bằng bắp đùi, đầu bọc sắt nhọn hoắt cắm sâu bên vệ đường đang bị nhóm gia đinh áo xám của Vạn Thạch Hành hì hục dùng xà beng bẩy lên dưới sự giám sát nghiêm ngặt của hai viên trượng dịch mang đao thuộc huyện nha. Con đường đất rải đá dăm dẫn vào thung lũng Hạ Khê, vốn bị cô lập và phong tỏa suốt nửa tháng ròng rã, nay đã hoàn toàn thông suốt, mở toang ra đón những luồng gió mát lành từ triền núi thổi xuống.
Phía sau cỗ xe bò của hai anh em, ba chiếc xe thồ cỡ lớn do những con la lực lưỡng kéo theo đang lặc lè vượt qua dốc đá. Trên sàn xe, ba mươi bao tải gai dầy dặn căng tròn, buộc túm đầu bằng dây gai chắc nịch, tỏa ra mùi thơm ngai ngái, ngọt lành của cám gạo mới xay.
Tin tức về đoàn xe gạo cứu trợ lan đi như một ngọn lửa gặp gió khô qua các ngõ xóm nghèo nàn.
Khi chiếc xe bò dừng bánh trước cổng đình Hạ Khê, khoảng sân đất nện rộng thênh thang đã chật kín người từ bao giờ. Toàn bộ mười hai chủ hộ của xóm Giếng Cạn, cùng đại diện các hộ thân tộc thuộc Liên hộ Đường Nam, những người thợ đập đá với đôi bàn tay chai sạn, đàn bà gầy guộc bồng con nhỏ và đám trẻ thơ lem luốc đều đã tề tựu đông đủ. Không khí căng thẳng, u uất của những ngày giáp hạt đói lả hằn rõ trên từng gương mặt hốc hác, xám xịt vì khói bụi trọc tức và những hốc mắt trũng sâu vì mất ngủ.
Dưới tảng râm mát của gốc đa cổ thụ trước cửa đình, cụ Phạm Nghi chống cây gậy tre ngà đứng đợi, lưng còng rạp xuống nhưng đôi mắt vẫn ánh lên vẻ ngóng trông đau đáu. Bên cạnh cụ là Trịnh Bách, mình khoác chiếc áo cộc rách tơi tả để lộ bờ vai vạm vỡ chằng chịt những vết bầm tím do quai búa phá đá; bà giáo Bùi Sương cùng Đào Nguyệt đang đứng cạnh chiếc bàn gỗ con kê tạm bên bậc thềm đá; Vũ Liên khoác chiếc áo tơi lá cọ nâu sẫm, hai tay ôm chặt bọc giấy tờ trích lục điền bạ ủy thác của các hộ di cư; và bà Tạ Hạnh với đôi bàn tay còn vương đầy vệt đất sét nung đỏ au của Lò Đất Kín.
Mộc An bước xuống xe, hai chân chạm xuống nền đất làng thân thuộc. Không để bà con phải thấp thỏm thêm một khắc nào, cô bước thoăn thoắt lên ba bậc thềm đá xanh của đình làng, giơ cao cuốn sổ bìa da mộc đã gắn bó với Hội giữ đất qua bao phen sóng gió.
— Bà con lối xóm ơi! — Tiếng Mộc An lanh lảnh, vang xa khắp khoảng sân đình lộng gió. — Quan huyện đã xử phân minh, Vạn Thạch Hành đã nhận thua và phải ký khế ước mua bán sòng phẳng! Ba mươi bao gạo cứu tế khẩn cấp đang ở ngay sau lưng tôi, mua theo đúng giá công của nha môn! Chiều hôm nay, mỗi người già, mỗi đứa trẻ, mỗi người mang bệnh trong xóm đều sẽ có một bát cháo hoa nóng lót dạ!
Một tiếng reo hò nghẹn ngào vỡ òa ra giữa đám đông nghẹt thở. Những người đàn bà ôm chặt lấy đứa con thơ vào lòng mà ứa nước mắt, các tráng đinh thở phào buông thõng đôi vai mỏi mệt, những bàn tay run rẩy nắm lấy nhau trong nỗi mừng tủi khôn xiết.
Mộc An khẽ giơ tay lên, ra hiệu cho dân làng nén lại niềm vui để lắng nghe. Ánh mắt cô trở nên nghiêm cẩn, trang trọng lạ thường:
— Gạo cứu đói đã về đến sân đình, nhưng để giữ được hạt cơm trên tay mà không bị lòng tham cắn xé, không biến thành mồi ngon cho những mối bất hòa mới, chúng ta phải lập lại quy củ cho thật rành mạch! Hội giữ đất Hạ Khê hôm nay mở cuộc họp toàn thể để thông qua Quy chế phân phối nội bộ mới cho mùa gặt sắp tới!
Cụ Phạm Nghi gõ mạnh đầu gậy tre xuống nền đá, cất giọng khàn đục phụ họa:
— Đúng thế! Phải có quy củ, phải có trắng đen phân minh thì xóm làng mới đứng vững được qua cơn hoạn nạn! Mộc cô nương, đọc cho cả làng cùng nghe đi!
Mộc An giở trang giấy mới tinh trong cuốn sổ da mộc, dõng dạc xướng to từng điều khoản:
— Điều thứ nhất: Trích cố định mười lăm phần trăm tổng sản lượng thóc lúa và hoa màu sau thu hoạch nhập vào Quỹ Bảo trợ Cộng đồng. Khoản hoa lợi này dùng để chu cấp lương thực bắt buộc và thuốc men thang ẩm cho người già cô quả, trẻ em mồ côi, và những bệnh nhân mắc chứng phổi tro không còn sức lao động nặng! Tuyệt đối không để một ai bị bỏ mặc cho chết đói trong thung lũng này chỉ vì họ không thể cầm búa quai đá hay không có ruộng đất cày cấy!
Dưới sân, Đào Nguyệt khẽ mỉm cười, đôi mắt rưng rưng xúc động. Mấy lão thợ mỏ già ngồi co ro dưới bóng hiên đình khẽ gạt giọt nước mắt lăn trên gò má nhăn nheo, hai tay chắp lại lầm rầm tạ ơn trời đất và tổ tiên.
— Điều thứ hai: — Mộc An hướng ánh mắt rành rọt về phía Vũ Liên đang đứng nghiêm trang. — Thực thi trọn vẹn Khế ước canh tác cứu nạn đã giao kết với Liên hộ Đường Nam! Ghi nhận và bảo toàn nguyên vẹn quyền tài sản điền bạ của ba hộ họ Tống, họ Hoàng và các gia đình tản cư vắng mặt. Trích đúng một phần ba sản lượng hoa lợi từ các thửa ruộng nhận ủy thác canh tác để giao trả sòng phẳng cho Liên hộ Đường Nam, bất kể họ trở về cày cấy hay tiếp tục định cư nơi đất khách! Đất đai của người ly hương dứt khoát không bị thôn xóm chiếm đoạt hay coi là đất hoang vô chủ!
Vũ Liên siết chặt lấy mép áo tơi, bước lên một bước dài, cúi rạp người xuống thật sâu trước toàn thể dân làng:
— Thay mặt cho bà con Đường Nam tản cư, tôi xin đa tạ tấm lòng công chính của Hội giữ đất! Một phần ba sản lượng hoa lợi này, chúng tôi xin cam đoan trích lại một nửa để cùng bà con mua thêm gỗ lim, nứa tép, cùng nhau gia cố lại toàn bộ hệ thống máng nước khép kín cho cả lòng chảo vào vụ tới!
Tiếng vỗ tay rào rào như mưa rào mùa hạ vang lên khắp khoảng sân. Trịnh Bách đứng ở hàng đầu gật đầu lia lịa, trên gương mặt sạm đen vì nắng gió không còn vương lại chút tị hiềm nào của những ngày tranh chấp nguồn nước trước đây.
— Điều thứ ba: — Mộc An nhìn sang Trịnh Bách cùng hai gia đình có ruộng nằm ở vùng trũng. — Trích ba phần mười sản lượng từ ba thửa ruộng Thạch Nê còn nguyên vẹn để bù đắp toàn bộ số lương thực tổn thất cho ba hộ gia đình anh Trịnh Bách, bác Lão Bát và chị Ba — những người đã cắn răng chấp nhận hy sinh thửa ruộng số bốn làm túi đệm tiêu độc, cứu sống toàn bộ mạng rễ Tức Căn và giếng làng trong đêm lũ bùn kinh hoàng Khe Táng Thủy!
Bờ vai vạm vỡ của Trịnh Bách khẽ run lên. Gã vội vàng đưa bàn tay to bè như chiếc xẻng quệt ngang khóe mắt, rồi cúi gằm mặt xuống đất để giấu đi những giọt nước mắt lăn dài trên lớp da chai sạn.
Nhưng phần cốt lõi và hệ trọng nhất của bản quy chế mới không dừng lại ở việc chia chác thóc gạo. Mộc An thong thả khép cuốn sổ lại, lùi về phía sau một bước, nhường khoảng trống chính giữa thềm đá đình làng cho anh trai mình.
Mộc Tầm bước lên. Anh đưa mắt nhìn khắp một lượt dân làng Hạ Khê — những gương mặt sạm đen lấm lem bùn đất, những thân hình còi cọc, gầy guộc đã từng cùng anh ngâm mình dưới dòng nước lũ buốt giá, từng cùng anh thức trắng những đêm dài bên vách đá Giếng Cạn. Anh hít một hơi thật sâu, luồng khí mát lành của buổi chiều tà tràn ngập lồng ngực. Giọng anh cất lên, bình thản nhưng chắc nịch như bàn thạch:
— Thưa các bác, các chú, và toàn thể bà con. Trong phiên xử tại công đường huyện nha sáng nay, tôi đã quỳ gối dập đầu từ chối tấm Bằng Chứng Nhận Độc Quyền Sáng Tạo Địa Mộc mà đại nhân Ngô Trực ban tặng cho cá nhân tôi. Giờ đây, đứng trước thềm đình làng linh thiêng, trước vong linh tổ tiên đã khai phá ra thung lũng này, tôi xin chính thức tuyên bố: Bản quy chế mới của Hội giữ đất kể từ giờ phút này sẽ bãi bỏ hoàn toàn mọi quyền phủ quyết cá nhân đối với tài nguyên của Hạ Khê!
Khoảng sân đình rộng lớn bỗng chốc im phăng phắc, đến mức nghe rõ cả tiếng lá đa khô xào xạc rơi trên mái ngói rêu phong. Hàng trăm ánh mắt đổ dồn về phía người thanh niên trẻ tuổi.
— Bản thân tôi, Mộc Tầm này, từ nay về sau chỉ thuần túy chịu trách nhiệm về mặt kỹ thuật rễ Tức Căn và hướng dẫn chăm bón đất đai trong Tổ kỹ thuật luân phiên ba người. Bác Phạm Nghi chỉ chịu trách nhiệm trông coi sổ sách giếng nước và điều phối giờ giấc múc nước sinh hoạt. Tôi không có quyền, bác Nghi không có quyền, và không một ai trong cái thung lũng này có quyền tự ý quyết định việc chia chác ruộng nương, ngăn chặn nguồn nước, hay tự tiện ký kết bất kỳ giao ước nào với các thế lực bên ngoài!
Mộc Tầm giơ cao hai cánh tay gân guốc, chỉ thẳng về phía cuốn sổ da mộc đặt trên bàn:
— Kể từ nay trở đi, bất kỳ kế hoạch khai khẩn bãi đá mới nào, việc phân bổ nguồn nước lọc ba bước qua các xóm, việc chiết tách nhân giống các nhánh rễ hay việc sử dụng kho lưu trữ nốt rễ tại Lò Đất Kín... tất cả đều bắt buộc phải đưa ra bàn bạc và biểu quyết công khai trước cuộc họp toàn thể của mười hai chủ hộ và đại diện Đường Nam! Chỉ khi nào có quá nửa số hộ đồng thuận điểm chỉ bằng lòng, kế hoạch đó mới được phép thi hành! Đất đai này hồi sinh là nhờ mồ hôi, nước mắt và cả tính mạng của toàn thể dân làng góp lại, thì quyền quyết định tương lai của nó phải thuộc về bàn tay của tất cả chúng ta!
Một thoáng ngỡ ngàng bao trùm không gian trong chốc lát. Người dân nhìn nhau, dường như chưa thể tin vào tai mình rằng một kẻ nắm giữ bí quyết sinh tử của cả vùng đất lại tự nguyện buông bỏ quyền uy tuyệt đối ấy. Rồi bất thần, một tràng vỗ tay rền vang như sấm dậy bùng nổ khắp sân đình.
Lê Cẩn, người thợ mỏ già với chiếc áo rách vai, là người đầu tiên bước lên phía trước, giơ cao cánh tay khẳng khiu lên nền trời chiều:
— Tôi đồng ý! Bãi bỏ độc đoán, biểu quyết công khai!
Trịnh Bách quệt nước mắt, vung nắm đấm vạm vỡ lên không trung:
— Tôi đồng ý! Cả nhà họ Trịnh này xin theo quy chế mới đến cùng!
Tạ Hạnh, Bùi Sương, Đào Nguyệt, và từng người một — đàn ông, đàn bà, thợ đập đá, thợ hái thuốc — đều đồng loạt giơ cao cánh tay chai sần của mình lên giữa khoảng không gian lộng gió hoàng hôn. Những bàn tay vươn lên san sát như một rừng cây vững chãi trước giông bão. Không còn sự nghi kỵ, không còn nỗi sợ hãi về một kẻ cứu tinh độc tài mới sẽ đứng lên giẫm đạp lên xóm làng để thay thế lũ thương nhân tàn nhẫn. Một trật tự mới mẻ, công chính và bền vững đã chính thức được thai nghén và khai sinh từ chính đống tro tàn của sự áp bức.
Đúng lúc ấy, tiếng hò reo inh ỏi từ phía ngõ làng dội tới cắt ngang bầu không khí trang nghiêm:
— Gạo vào sân rồi! Xe gạo của Vạn Thạch Hành đã dỡ hàng xuống rồi bà con ơi!
Đoàn xe thồ ba mươi bao gạo nặng trịch, dây chằng chắc nịch, từ từ tiến qua cổng đình, dừng lại ngay giữa sân đất. Những bao tải gai căng phồng được các phu xe lực lưỡng vác xuống, xếp ngay ngắn thành từng hàng dài trên những tấm phên nứa sạch sẽ được lót sẵn dưới bóng râm của cây đa cổ thụ. Mùi thơm mộc mạc, ngọt lịm của hạt gạo mới lan tỏa ngây ngất trong không gian, xua tan đi mùi khét lẹt của đá cháy, mùi tanh tưởi của quặng lưu huỳnh và thứ tro bụi trọc tức cay nồng từng ám ảnh lòng chảo suốt bao tháng ngày tăm tối vừa qua.
Tiếng cười nói rộn rã xé toạc màn u uất đè nặng bấy lâu. Lũ trẻ con ùa ra vây quanh những bao gạo, những bàn tay nhỏ xíu đen nhẻm rụt rè vuốt ve lớp vải gai thô ráp. Những bếp lửa dã chiến lập tức được nhóm lên ngay góc sân đình; những nồi gang khổng lồ chứa đầy nước giếng ngọt ngào được bắc lên kiềng sắt. Gạo trắng được vo sạch thả vào nồi, nước sôi sùng sục, bốc khói nghi ngút mang theo hương cháo hoa thơm nức mũi giữa tiếng reo hò, tiếng bát đũa khua lách cách trong niềm hoan hỉ vô bờ bến.
Bóng ma chết đói của mùa giáp hạt nghiệt ngã, thứ từng đe dọa bóp nghẹt sự sống của cả thung lũng ngay trước ngưỡng cửa mùa màng, giờ đây đã bị đẩy lùi hoàn toàn ra khỏi ranh giới của Hạ Khê.
***
Đêm hôm đó, thung lũng Hạ Khê chìm vào một giấc ngủ yên ả, thanh bình hiếm hoi sau bao chuỗi ngày giông bão. Mùi khói bếp thoang thoảng hương cháo gạo mới quyện chặt vào làn sương đêm ẩm mát, nhẹ nhàng vỗ về những lá phổi khô cằn vì tro bụi của những người thợ mỏ.
Mộc Tầm lẳng lặng một mình bước ra sau vườn, men theo bờ đá rêu phong quen thuộc đi xuống lòng Giếng Cạn.
Dưới đáy giếng sâu, không khí mát lạnh như chạm vào một phiến ngọc thạch. Nước ngầm sau khi chảy qua các tầng lọc ba bước rỉ ra từ kẽ vách đá vôi, phát ra những tiếng róc rách êm tai, thanh khiết và trong vắt nhìn thấu tận đáy. Mạng rễ Tức Căn bám chằng chịt vào vách đá ngầm, sau những ngày gồng mình nuốt trọn cơn lũ bùn độc và vượt qua đợt thử thách tàn khốc của trận bàn nha môn, nay đã hoàn toàn hồi phục, căng tràn sức sống.
Mộc Tầm ngồi xổm trên gờ đá ướt, đưa những ngón tay trần nhẹ nhàng chạm vào lớp mùn ủ bằng lá bồ hòn mát rượi bao quanh gốc cây mẹ. Một luồng sinh cơ dịu dàng, êm ả truyền qua da thịt anh, không hề có sự xung đột bỏng rát của trọc tức hay sự cưỡng ép ngột ngạt của linh khí tu sĩ. Đó là thứ sinh khí thuần khiết nhất của đất đai, bền bỉ và nhẫn nại.
Và rồi, dưới ánh sáng vàng leo lét của ngọn đèn dầu hỏa cầm tay, ánh mắt Mộc Tầm bỗng dừng lại ở nách cuống rễ cái to nhất.
Nơi những nốt sần màu xám tro từng khô cứng và se miệng lại sau trận kiệt sức cứu giếng, bất ngờ nhú lên những chấm nhỏ li ti kết lại thành từng chùm dày đặc. Chúng không phải là những mắt sinh dưỡng chiết cành thông thường mà anh vẫn thấy, mà là những bao noãn nhỏ xíu, mịn màng như những hạt vừng non, đang khẽ run rẩy tỏa ra những đốm sáng màu lam nhạt huyền ảo giữa bóng tối thăm thẳm của đáy giếng.
Đó là dấu hiệu của sự kết hạt. Một chu kỳ sinh sản tự nhiên hoàn toàn mới mẻ của giống cây kỳ diệu này đang lặng lẽ bắt đầu, báo hiệu rằng sự sống không chỉ dừng lại ở sự cầm cự hay phục hồi cục bộ trong lòng chiếc giếng này, mà đang sẵn sàng tự nhân giống, gieo rắc tương lai đi khắp muôn phương.
Mộc Tầm nín thở, ngắm nhìn chùm hạt non đang tỏa ánh lam ngọc hồi lâu, lòng trào dâng một niềm xúc động không lời. Anh cẩn thận vén lại lớp mùn ủ giữ ẩm cho rễ, rồi bước ngược lên miệng giếng.
Gió đêm từ cánh đồng Thạch Nê thổi về, mang theo hương lúa ngậm đòng chín rộ ngọt lịm. Ngoài kia, trên ba thửa ruộng Thạch Nê đã được rửa sạch độc quặng, những bông lúa trĩu nặng hạt vàng óng ả đang uốn cong mình chờ đợi nhát liềm đầu tiên.
Sáng sớm hôm sau, tiếng liềm cắt vào gốc rạ rào rào vang lên trên nền đất xám Thạch Nê dưới ánh bình minh rạng rỡ.