Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtC.36 / 36
Chương 36

Hạt Giống Dưới Đất Chết

Tiếng liềm cắt ngọt xới qua từng gốc rạ khô giòn vang rào rào, đánh thức cánh đồng Thạch Nê trong làn sương sớm bảng lảng ánh bình minh khi từng bó lúa trĩu hạt đầu tiên được chuyền tay nhau đưa lên bờ ruộng.

Mùi rơm rạ mới ngấu nắng quyện chặt với hơi sương ẩm, bốc lên ngào ngạt khắp dải lòng chảo vốn từng một thời chỉ nồng nặc mùi khét lẹt của vỉa đá vôi cháy và mùi tanh nồng của bùn quặng lưu huỳnh. Giữa sắc mai le lói trên đỉnh núi Thanh Lộ, ba thửa ruộng Thạch Nê trải ra một dải vàng óng ả, lung linh như một tấm thảm lụa dệt giữa hoang tàn. Những bông lúa ngắn ngày trĩu nặng uốn cong cần câu, từng hạt thóc căng tròn, vỏ mẩy đều tăm tắp, kết thành từng chùm dầy khít rung rinh theo từng cơn gió sớm.

Dưới chân ruộng, không còn lớp váng xám xịt đóng bánh như sắt nung thuở nào. Tầng bùn đất bên dưới mặt rạ nay tơi xốp, dẻo quánh và ngả màu đen thẫm của mùn mục phù sa hòa lẫn tro trấu đã qua xử lý. Trịnh Bách đứng thụt nửa bắp chân trần dưới bùn, hai tay nắm chặt gốc rạ của một bụi lúa vừa gặt, giật mạnh lên khỏi mặt đất để kiểm tra. Lớp rễ chùm trắng phau, mập mạp tỏa ra như nan quạt, cắm sâu xuyên qua tầng đệm cũ, quấn chặt lấy những vụn đá vôi đã bị phân rã xốp mềm như đất thịt. Không có một vệt đen thối rữa, không có một giọt mủ độc quặng nào rỉ ra từ chóp rễ.

Gió bấc cuối thu thổi qua những rặng duối bờ rào, lay động những giọt sương mai đọng trên đầu ngọn cỏ mật, hắt những vệt sáng lấp lánh như hạt ngọc xuống mặt bùn ướt. Cúi người thấp hơn một chút, Trịnh Bách miết ngón tay cái thô ráp, chai sạn qua từng sợi rễ tơ trắng ngần. Lòng bàn tay ông cảm nhận rõ rệt độ ẩm lành lạnh, thanh khiết của một tầng đất đã được lọc sạch qua bao tầng rễ Tức Căn và các lớp đệm xỉ than, tro bồ hòn. Nhớ lại những đêm mưa bão rách da xé thịt, khi dòng nước lũ ngậm đầy độc chất từ thượng nguồn đổ ập xuống, tưởng chừng chỉ sau một đêm là toàn bộ thung lũng sẽ biến thành bãi tha ma của cây cỏ, khóe mắt người nông phu già bỗng giật giật.

— Đất sống rồi! Bà con ơi, rễ ăn sâu hơn một gang tay mà trắng muốt! Đất Thạch Nê sống thật rồi!

Tiếng thét vang dội của người nông phu dạn dày sương gió vỡ òa giữa không gian, làm bầy chim sẻ đang sà xuống mót hạt giật mình vỗ cánh bay vút lên nền trời xanh ngắt.

Những tiếng reo hò, tiếng cười nói, tiếng liềm va vào gốc rạ tanh tách nổi lên râm ran khắp ba khoảnh ruộng số một, số hai và số ba. Đám trai tráng xóm Giếng Cạn cởi trần trùng trục, lưng áo vắt ngang vai, những bờ vai cuồn cuộn thớ thịt bóng nhẫy mồ hôi hòa quyện với bùn non. Từng nhát liềm vung lên dứt khoát, chuẩn xác, cắt sát chân rạ với âm thanh sắc ngọt như xé vải. Đằng sau họ, những người phụ nữ lom khom gom từng lượm lúa, dùng sợi rơm dài bện chặt thành từng bó lớn tròn lẳn rồi xếp ngay ngắn dọc theo bờ đắp.

Những gánh lúa vàng ruộm, nặng trĩu oằn cong đòn gánh tre cật, được các tráng đinh và phụ nữ thay nhau kĩu kịt gánh ngược lên bờ mương dẫn chính. Đôi quang gánh kẽo kẹt theo từng nhịp bước chân dẻo dai trên bờ đất hẹp. Mỗi gánh lúa đi qua để lại một vệt hương thơm ngọt lịm của sữa gạo quyện lẫn hương nắng sớm.

Thửa ruộng số bốn phía xa vẫn còn nằm im lìm dưới lớp bùn độc dày cộp đóng váng — cái giá đau đớn mà cả xóm đã phải trả để làm túi đệm hứng trọn cơn lũ bùn cứu lấy ba thửa ruộng này. Nơi đó, những gốc rạ cũ cháy đen quắt queo, mặt bùn nứt nẻ những đường rãnh xám ngoét như da cóc, nhắc nhở mọi người về ranh giới mong manh giữa sự sống và sự diệt vong. Nhưng sự hy sinh ấy hôm nay đã đơm hoa kết trái bằng những nong thóc đầy ắp, vàng rực dưới ánh mặt trời rực rỡ. Đứng trên bờ đê nhìn xuống, ba thửa ruộng thoai thoải bậc thang như ba tấm đệm vàng ươm được bọc trong vành đai bờ kè đá xanh vững chãi, nơi những mắt lưới rễ cây đang âm thầm dệt nên sự bình yên dưới lòng đất. Sự sống thực thụ đã hồi sinh ngay trên nền đất từng bị phán quyết là đá chết.

Từng xe cút kít bằng gỗ đóng thô sơ lăn bánh lục cục trên con đường đất nện dẫn từ bờ ruộng về trục đường liên xóm. Bụi rơm rạ bay lơ lửng trong không trung, bám vào mái tóc bù xù của lũ trẻ con đang tíu tít chạy theo mót những hạt thóc rơi vãi. Tiếng mõ tre trên chòi canh đồng ngừng gõ những nhịp dồn dập báo động của chuỗi ngày phòng lũ, nay chuyển sang gõ nhịp ba khoan thai, rộn rã, hòa nhịp cùng tiếng cười đùa vang vọng khắp thung lũng.

***

Đến đầu giờ Thìn, khi sương mù trên sườn núi Thanh Lộ đã tan biến hoàn toàn nhường chỗ cho ánh nắng vàng như mật đổ xuống mái ngói rêu phong, không khí thu hoạch từ ngoài đồng Thạch Nê cuộn tràn về khoảng sân đất rộng thênh thang trước cửa đình làng Hạ Khê.

Ba cỗ bàn cân đòn bằng gỗ nghiến bịt đồng cỡ lớn đã được kê ngay ngắn trên những phiến đá xanh vững chãi giữa sân. Mặt đá xanh bằng phẳng, phẳng lì như mặt nước mùa thu, chịu lực cho những chiếc đòn cân dài bằng nửa cây tre đực, quả cân bằng đồng đen nặng trịch sáng bóng do nhiều bàn tay ma sát qua năm tháng. Xung quanh sân đình, những hàng rào tre ngăn cách khu vực cân thóc và khu vực tập kết bao tải được dựng lên quy củ, chừa lối đi thông thoáng cho dòng người gánh lúa và xe thồ qua lại.

Mộc An ngồi bên chiếc bàn gỗ mộc kê dưới bóng cây đa cổ thụ, trước mặt là cuốn sổ công bìa da mộc đã sờn mép cùng nghiên mực đá mài sẵn. Từng trang giấy bản dày dặn lật mở kêu sột soạt, ghi chép chi tiết từng dòng mực ngay ngắn không một vết tẩy xóa. Nàng buộc gọn mái tóc đen nhánh sau gáy bằng một dải lụa thô, ống tay áo vén cao để lộ đôi cổ tay trắng ngần nhưng cứng cáp. Bên cạnh nghiên mực là ba thỏi mực tàu hiệu Tùng Trĩ còn thơm mùi xạ, chiếc chặn giấy bằng đồng hình rùa phục giữ cho mép sổ không bị gió thu thổi lật.

Đứng cạnh nàng là Phạm Nghi, tay cầm cây thước gỗ và quả cân đồng sáng loáng, khuôn mặt khắc khổ nay giãn ra từng nếp nhăn nhẹ nhõm nhưng ánh mắt vẫn giữ trọn vẻ cẩn trọng, nghiêm nghị của người trông coi kỷ cương xóm giềng. Đôi mắt sâu hoắm của người đàn ông từng nếm trải bao mùa mất mùa, bao phen quan nha ức hiếp, nay quét qua từng bao thóc với sự sắc sảo của một chiếc cân công lý.

Bên cạnh bàn cân, Vũ Liên đứng khoanh tay trong bộ áo chẽn gọn gàng, thắt lưng vải gai thắt chặt tôn lên vóc dáng khỏe khoắn, ánh mắt sắc sảo dõi theo từng bao thóc được các đinh tráng khiêng từ xe bò đặt lên bàn cân. Phía sau cô là đại diện của các hộ tản cư thuộc Liên hộ Đường Nam, những người từng ngỡ đã mất trắng cơ nghiệp tổ tiên khi lưu lạc tha hương, nay đứng nép bên nhau, trong mắt họ ánh lên sự hồi hộp lẫn niềm tin tưởng chưa từng có.

— Thửa số một, gánh thứ mười tám! Một tạ hai yến ba cân! — Tiếng anh thợ đá hô vang khi quả cân đồng trượt đến điểm thăng bằng trên cán gỗ nghiến, sợi dây gai treo quả cân căng tròn không chút rung lắc.

Mộc An thoăn thoắt chấm bút lông, ghi con số vào cột sản lượng thực thu. Đầu ngọn lông thỏ lướt êm ru trên thớ giấy bản, nét chữ chân phương, dứt khoát định hình từng cân thóc mồ hôi nước mắt. Ghi xong, nàng ngẩng đầu lên, cất giọng trong trẻo nhưng rành rọt đủ cho hàng trăm con người đang vây quanh sân đình cùng nghe rõ:

— Toàn bộ sản lượng thóc gặt từ ba thửa ruộng Thạch Nê sáng nay được đối chiếu công khai theo đúng Quy chế phân phối nội bộ đã được toàn thể mười hai chủ hộ và đại diện Đường Nam biểu quyết công nhận tại công đường hôm trước.

Tiếng nói của người con gái thanh mảnh nhưng mang sức nặng của sự minh bạch tuyệt đối khiến cả khoảng sân đình rộng lớn dần lắng xuống. Những người đang trò chuyện rì rầm đều im bặt, ánh mắt đổ dồn về chiếc bàn gỗ mộc nơi cuốn sổ công đang mở rộng.

Nàng lật sang trang tính toán đã lập sẵn các tỷ lệ phân bổ, chỉ ngọn bút lông vào từng khoản mục:

— Khoản thứ nhất: Trích đủ bốn mươi tạ thóc sạch hạt mẩy loại một để giao trả cho Vạn Thạch Hành cấn trừ ba mươi bao gạo cứu trợ khẩn cấp và đợt trả nợ kỳ một của hộ anh Mộc Tầm theo đúng hợp đồng thương mại đã ký kết với chưởng quỹ Đỗ Kính. Số thóc này được cân riêng, niêm phong ngay tại góc sân trước sự chứng kiến của người đại diện hiệu buôn.

Một gã ký lục của Vạn Thạch Hành mặc áo dài the xanh, tay cầm bàn tính gảy tanh tách, đứng bên cạnh đống bao tải có dấu triện đỏ, khẽ gật đầu xác nhận. Đám đông im lặng lắng nghe, không một tiếng xì xào phản đối. Ai nấy đều hiểu rằng sự sòng phẳng với thương hành là lá chắn giữ cho đường hàng hóa ra chợ Bến Tro được thông suốt, ngăn chặn mọi cái cớ bắt bẻ hay siết nợ sau này. Sòng phẳng bằng hạt thóc thật trên bàn cân công khai chính là cách dập tắt mọi âm mưu siết ruộng mà những kẻ cho vay nặng lãi từng toan tính.

— Khoản thứ hai: Trích mười phần trăm nộp thuế điền tô cứu nạn cho Huyện nha Bình Xuyên theo biên bản thụ lý của Huyện quan Ngô Trực và thư lại Lưu Tố, bảo đảm giá trị pháp lý vĩnh viễn cho điền bạ tư điền của từng hộ gia đình.

Mộc An ngừng lại một nhịp, giơ cao tờ biên lai thu thuế có dấu triện vuông vức màu đỏ tươi của huyện nha. Đó là tấm bùa hộ mệnh bằng giấy mực, chứng minh rằng những mảnh ruộng từng bị coi là hoang phế, vô chủ nay đã chính thức được ghi tên những người cày cấy trên sổ sách triều đình. Không còn một thế lực cường hào nào có thể nhân danh đất vô thừa nhận mà cướp đoạt công sức của họ.

— Khoản thứ ba: Trích một phần mười lăm sản lượng, tương đương tám tạ thóc tốt nhất, đưa vào kho dự trữ giống của xóm, phơi riêng trên phên nứa và niêm phong bằng vôi tôi trộn tro trấu để làm hạt giống gieo cấy cho vụ mùa mở rộng năm sau. Tuyệt đối không ai được xâm phạm hạt giống này vì bất kỳ lý do gì.

Phạm Nghi gật đầu dứt khoát, bước lên một bước, giơ cao cuốn sổ giếng phụ bản. Gương mặt người trưởng xóm đanh lại trong vẻ trang nghiêm:

— Khoản thứ tư, cũng là khoản đền bù thiêng liêng nhất của làng ta: Đúng theo cam kết điểm chỉ máu đêm vỡ cống, trích tròn ba phần mười tổng sản lượng từ ba thửa ruộng này để chia đều bù đắp cho ba hộ đã hy sinh toàn bộ hoa màu ở thửa số bốn làm túi đệm tiêu độc — gồm nhà bác Trịnh Bách, lão Bát và chị Ba!

Một làn sóng xôn xao nhẹ lan qua đám đông, rồi nhanh chóng biến thành những cái gật đầu đồng thuận tuyệt đối. Không có một ánh mắt ghen tị, không có một lời so đo tính toán. Những người nông dân hiểu rằng nếu đêm ấy thửa ruộng số bốn không mở cống đón bùn độc, thì hôm nay cả ba thửa ruộng còn lại cũng chỉ là bãi sình lầy chết chóc, và trên bàn cân này sẽ chẳng có lấy một hạt thóc lép để mà chia.

Trịnh Bách đứng bên cạnh chiếc đòn cân, hai bờ vai vạm vỡ khẽ run lên. Người nông dân từng quỳ gối nhận tội vì hai bao gạo cứu đói cho con dâu thuở nào, nay đưa tay áo thô quẹt ngang khóe mắt đỏ hoe khi thấy từng bao thóc căng tròn được đẩy riêng về phía góc sân của gia đình mình. Những bao thóc no tròn, căng mẩy như minh chứng cho danh dự đã được gột rửa sạch sẽ. Ông bước tới, hai bàn tay chai sần chắp lại trước ngực vái tạ dân làng:

— Ơn làng, ơn Hội... Nhà họ Trịnh này từ nay xin đem hết sức tàn, búa tạ xà beng sẵn sàng đập đá vét mương phụng sự bà con, không dám tơ hào một hạt lúa gian lận!

Tiếng nấc nghẹn của người đàn ông cả đời chỉ biết cúi đầu trước số phận nay tan ra trong tiếng vỗ vai ấm áp của những người hàng xóm láng giềng.

Vũ Liên bước lên phía trước, ngón tay thon dài gõ nhẹ lên mặt bàn gỗ của Mộc An, mỉm cười thanh thản. Đôi mắt phượng của người phụ nữ lăn lộn chốn thương trường và lưu lạc nay dịu lại:

— Về phần Liên hộ Đường Nam chúng tôi, theo đúng Khế ước ủy thác canh tác cứu nạn, một phần ba sản lượng thuộc phần đất của ba hộ vắng mặt đã được cân đủ. Năm hộ di cư ở lại hôm nay nhận thóc tận tay; phần của các hộ còn chưa về kịp sẽ do tôi đứng tên nhận gửi vào kho dự trữ của xóm, ghi rõ trong sổ bạ huyện để họ yên tâm trở về quê cũ khi mùa khô tới. Người Đường Nam xin ghi nhận sự công minh tuyệt đối của Hội giữ đất Hạ Khê!

Tiếng vỗ tay rầm rộ nổi lên khắp sân đình, vang dội cả một góc trời, át đi tiếng rì rào của rặng tre đầu ngõ. Mộc An tiếp tục xướng tên từng người để chia phần còn lại dựa trên bảng chấm công nhật: người phá đá, người khuân vôi nung lò, người thức trắng đêm trên bờ kè mương dẫn... Từng cái tên mộc mạc vang lên, từng dấu điểm chỉ bằng mực đỏ in đậm trên trang giấy trắng.

Cuối cùng là phần trích cố định mười lăm phần trăm vào Quỹ Bảo trợ Cộng đồng để nuôi dưỡng người già cô quả, trẻ nhỏ mồ côi và người mắc chứng phổi tro không còn sức lao động nặng. Từng đấu thóc đổ vào thúng kêu rào rào giòn giã, xua tan hoàn toàn những bóng ma nghi kỵ, những tranh đoạt ti tiện từng suýt xé nát mảnh đất này trước ngưỡng cửa sinh tử. Trong tiếng thóc rơi rào rạt như mưa rào mùa hạ, lòng người tìm lại được sự gắn kết bền chặt hơn cả những tầng địa chất sâu thẳm.

***

Cách sân đình không xa, tại khoảnh đất góc đông nam của thửa ruộng số ba Thạch Nê, không khí lại mang một vẻ tĩnh lặng, thơm ngát mùi thảo mộc vùng sơn cước.

Gió từ khe núi thổi xuống mang theo cái se lạnh của mùa đông sắp tới, nhưng luống đất chuyên canh ở đây dường như có một luồng hơi ấm ngầm tỏa ra từ lòng đất. Đào Nguyệt đang quỳ một bên gối trên bờ đất xốp mềm, hai tay thoăn thoắt dùng một chiếc xẻng sắt nhỏ bứng từng gốc thảo dược lên khỏi mặt luống. Chiếc áo chẽn màu lam nhạt của nàng lấm tấm những vệt đất nâu, mái tóc vén gọn cài chiếc trâm gỗ đơn sơ.

Một sào đất chuyên canh dành riêng cho Nhóm dược hộ Bến Tro nay phủ kín một màu xanh rì mát mắt của bạch chỉ và hoàng cầm. Những thân cây bạch chỉ cao ngang ngực người lớn, phiến lá xẻ lông chim xanh mướt rung rinh trong nắng sớm, mép lá răng cưa còn đọng những giọt nước long lanh. Cạnh đó, những khóm hoàng cầm với thân vuông vức, lá mọc đối thuôn dài đang trổ những chùm hoa màu lam tím li ti cuối mùa.

Mộc Tầm bước tới bên cạnh, ngồi xổm xuống giúp cô giữ chặt phần gốc thân cây để lưỡi xẻng không phạm vào củ. Anh cẩn thận dùng những ngón tay gẩy bớt lớp đất mặt xốp mịn sang hai bên, để lộ phần cổ rễ phình to khỏe khoắn. Khi mũi xẻng của Đào Nguyệt bẩy mạnh một khối đất tơi ẩm lên, phát ra một tiếng "bục" êm tai, lộ ra chùm củ bạch chỉ mập mạp, dài hơn một gang tay, vỏ ngoài màu vàng nhạt phủ một lớp rễ tơ mịn màng.

Đào Nguyệt đón lấy củ thuốc, cẩn thận dùng chiếc chổi lông nhỏ phủi sạch lớp bùn bám quanh thân củ. Móng tay nàng lướt nhẹ dọc theo lớp vỏ củ, rồi dùng con dao con gọt nhẹ một lát mỏng ở phần chóp rễ. Mùi hương cay nồng, the mát đặc trưng của tinh dầu bạch chỉ xộc thẳng vào cánh mũi, thuần khiết và thanh sạch đến mức khiến lồng ngực người ta cảm thấy nhẹ bẫng đi.

— Củ nạc thịt, ruột trắng ngà, không có vòng thâm đen của quặng sun-fua. — Đào Nguyệt khẽ bẻ một mẩu rễ tơ con đưa lên đầu lưỡi nếm thử, vị cay the đượm trên đầu lưỡi rồi lan dần thành vị ngọt thanh nơi cuống họng. Đôi mắt sáng ngời ánh lên niềm mãn nguyện sâu sắc — Hàm lượng tinh dầu rất đậm, tính vị cay ấm quy kinh phế. Toàn bộ sào thuốc này đủ để chúng ta nấu cao thanh phế dưỡng khí cho toàn bộ người mắc chứng phổi tro tại trạm xá Bến Tro và lòng chảo Hạ Khê suốt ba tháng mùa đông tới.

Mộc Tầm nhìn những giọt mồ hôi lấm tấm trên vầng trán thanh tú của người thiếu nữ, nhìn đôi bàn tay vốn quen cầm kim châm cứu nay lấm lem bùn đất nhưng không hề có chút nề hà, anh khẽ mỉm cười:

— Nước tưới lọc qua ba tầng lắng tro trấu quả nhiên không làm đất bị xót. Anh em đội đào giếng của Lê Cẩn đã giữ trọn lời hứa, mỗi sáng đều ưu tiên mở van nước ngọt từ bể lắng số một cho luống thuốc của cô trước tiên. Cả hệ thống mương ngầm đều được lót một lớp gạch xốp để giữ ẩm mà không đọng phèn.

Đào Nguyệt đặt củ bạch chỉ vào chiếc sọt tre lót sẵn lá chuối tươi, ngước mắt nhìn thẳng vào Tầm. Gió đồng thổi bay những lọn tóc mai lòa xòa bên má nàng. Nàng thò tay vào túi áo ngực, rút ra một mảnh giấy hồng điều đã bị gấp mép nhiều lần, đưa cho anh.

Đó là bức thư phúc đáp gửi về Y quán Thọ Nhân ngoài huyện lỵ Bình Xuyên, bên trên có nét chữ thanh mảnh nhưng dứt khoát của nàng: *“Hạ Khê đất đã hồi sinh, người bệnh nơi đáy vực cần bàn tay thầy thuốc hơn chốn lầu son gác tía. Xin tạ từ thịnh tình.”*

Mộc Tầm lướt mắt qua từng dòng chữ, nhận ra dấu niêm phong của y quán danh tiếng bậc nhất vùng đã bị bóc rời. Y quán Thọ Nhân từng đưa ra lời mời hậu hĩnh với bổng lộc mười lượng bạc mỗi tháng, kèm theo một gian nhà riêng trong phố huyện để mời Đào Nguyệt về làm y sư chuyên trách thảo dược.

— Sáng nay, trước khi ra đồng, tôi đã chính thức gửi thư từ chối lời mời của viện chủ Y quán Thọ Nhân. — Đào Nguyệt cất giọng điềm đạm, không chút do dự hay nuối tiếc — Tôi sẽ ở lại Hạ Khê. Trạm xá Bến Tro cần một vườn thuốc độc lập, và người bệnh phổi tro ở đây cần một người thầy thuốc hiểu rõ nguồn gốc từng mạch nước, từng nắm đất đã sinh ra vị thuốc cứu mạng họ. Về phố huyện lầu son gác tía, thuốc dẫu tốt cũng chỉ phục vụ cho người giàu có thừa tiền mua mạng; ở đây, từng củ hoàng cầm, từng nhánh bạch chỉ là sinh mạng của những người dân nghèo đã cùng chúng ta đổ máu giữ đất.

Mộc Tầm cầm bức thư trên tay, trái tim khẽ rung lên một nhịp đập ấm áp. Anh không thốt ra những lời cảm tạ sáo rỗng, cũng không buông những lời hứa hẹn viển vông của một kẻ muốn biến sự hy sinh của nàng thành một món nợ ân tình. Anh hiểu nàng quá rõ: Đào Nguyệt ở lại vì danh dự của nghề y, vì sinh kế tự chủ và vì mảnh đất này xứng đáng để một người thầy thuốc cống hiến trọn đời, chứ không phải để làm phần thưởng cho bất kỳ ai.

— Hội giữ đất đã chuẩn y việc cấp vĩnh viễn sào đất này cho trạm xá. — Tầm nhìn thẳng vào mắt Nguyệt, giọng trầm tĩnh và kiên định — Tôi phụ trách kỹ thuật rễ Tức Căn, cam kết sẽ giữ cho mạch nước ngầm dẫn về luống thuốc của cô luôn đạt chuẩn lọc ba bước, không để một giọt trọc tức nào xâm phạm. Chuyện chăm bệnh, cứu người là quyền tự chủ tuyệt đối của cô; chuyện giữ đất, giữ nước sạch là trách nhiệm của tôi và Tổ kỹ thuật. Chúng ta cùng đi trên một con đường, bình đẳng và sòng phẳng.

Đào Nguyệt khẽ mỉm cười, một nụ cười rạng rỡ hiếm hoi sau bao tháng ngày gian nan vất vả, làm bừng sáng cả gương mặt thanh tú phảng phất nét mệt mỏi. Nàng chìa bàn tay nhỏ nhắn dính đầy bùn đất ra trước mặt anh:

— Được. Một lời đã định. Giữ trọn ranh giới, giữ trọn đất lành.

Mộc Tầm đưa bàn tay thô ráp, chai sần vì cầm cuốc bới đất nắm lấy bàn tay nàng. Cái siết tay nhẹ nhàng nhưng vững chắc như rễ cây bám chặt vào lòng đất mẹ, khép lại những nghi ngại cũ kỹ và mở ra một sự đồng hành bền bỉ của hai tâm hồn cùng chung một lý tưởng sống. Dưới chân họ, những mầm non hoàng cầm rung rinh trong gió thu, như muốn chứng giám cho giao ước thầm lặng giữa hai con người của đất và thuốc.

***

Tại ngã ba bờ mương hồi quy máng nứa chẻ đôi dẫn nước về mương chính, tiếng nước chảy róc rách hòa cùng tiếng lá xào xạc nơi bờ dậu. Bà giáo Bùi Sương đang đứng chống cây gậy trúc quen thuộc, lặng lẽ quan sát dòng nước trong vắt róc rách chảy qua những hộc cát mịn và sỏi cuội.

Mái tóc bạc phơ của bà búi củ hành giản dị, tấm áo nâu vá vai sờn chỉ bay lất phất trong gió. Đôi mắt già nua từng nhìn thấu bao thịnh suy của các tông môn tu tiên nay chăm chú dõi theo từng gợn bọt nước sủi tăm nơi đáy máng nứa. Máng nước được ghép từ những thân nứa già ngâm kỹ, chẻ đôi và khoét rãnh lòng máng, đặt trên những cọc tre đóng sâu xuống bờ đất bùn.

Bên cạnh bà, một bóng người mặc đạo bào màu lam xám của Thanh Lộ Tông đang ngồi thụp xuống bờ cỏ, chăm chú quan sát lớp váng bùn lắng dưới đáy máng. Đó là Lâm Diệp. Trán chàng đệ tử trẻ tuổi lấm tấm bụi đường, chiếc áo bào phủ đầy những vệt bùn khô và tro bếp. Trên lưng chàng vẫn còn đeo chiếc tráp gỗ đựng compa, thước dây bọc đồng và những cuộn sơ đồ dẫn nước vẽ tỉ mỉ bằng mực nho trên giấy da dê.

— Đã đo đạc kỹ chưa? — Bùi Sương cất giọng khàn khàn nhưng sắc sảo, không quay đầu lại nhưng từng biến chuyển nhỏ của dòng nước đều không lọt qua tai bà.

Lâm Diệp ngẩng đầu lên, tay cầm một chiếc ống trúc đựng mẫu bùn vừa múc dưới đáy mương, giọng nói không giấu nổi sự khâm phục:

— Thưa Bùi sư thúc, hàm lượng độc quặng sun-fua và axit hỏa linh trong nước hồi quy sau khi chảy qua mạng rễ Tức Căn đã giảm hơn tám phần mười. Nước này dẫn vào ruộng lúa không những không cháy rễ mà còn mang theo phù sa mịn làm mát đất. Màu nước trong vắt, độ kiềm tính đã cân bằng trở lại, hoàn toàn không còn hiện tượng ăn mòn da tay như hồi đầu tháng.

Chàng đệ tử trẻ thở dài một hơi, giọng chùng xuống khi nhắc đến tình cảnh trên núi:

— Chấp sự Tống Khuê... sau phiên xử ở huyện đường đã giam mình trong tĩnh thất ba ngày liền. Ba mươi mẫu dược viên trên núi của tông môn nay đã suy kiệt tới mức hoàng tinh thối củ, linh chi rụng bào tử vì bị ép linh khí quá tải trên nền đất ngậm độc cũ. Các trận pháp Tụ Linh cứ kích hoạt là mặt đất lại nứt toác, bốc lên mùi hôi nồng nặc của vỉa quặng lưu huỳnh bị nung nóng. Ngài ấy... không còn cách nào khác ngoài việc ngầm đồng ý cho con xuống đây tìm đường cứu vãn.

Bùi Sương hừ lạnh một tiếng, đầu gậy trúc khẽ gõ nhẹ xuống một phiến đá ven bờ mương phát ra tiếng "cốc" đanh gọn. Trong ánh mắt bà thoáng hiện lên vẻ xót xa cho những luống dược thảo quý giá từng một thời do chính tay bà chăm bẵm trên sườn núi đông nam, trước khi bà dứt áo rời khỏi tông môn vì bất đồng quan điểm:

— Lũ người chỉ biết dùng trận pháp ép cạn tủy đất rồi cũng có ngày phải cúi đầu trước quy luật tự nhiên. Linh khí trong đất cũng như máu trong huyết mạch con người, cứ dùng bùa chú cưỡng ép rút tỉa, không bồi hoàn mùn bã, không nuôi dưỡng vi sinh, thì gốc rễ nào chịu nổi? Nhưng đất đai không có lỗi, cây cỏ trên núi cũng không có tội. Tông môn muốn cứu dược viên, tuyệt đối không được mang trận bàn hay bùa chú cưỡng ép xuống đây nữa.

Lâm Diệp vội vã đứng dậy, phủi vội vạt áo lấm lem, vòng tay cung kính cúi người trước vị sư thúc tiền bối:

— Con hiểu rõ điều đó. Con đến đây không phải với tư cách đệ tử chấp sự đến đòi hỏi quyền lợi, mà là một người làm vườn đến học hỏi kỹ thuật. Con muốn xin chuyển giao kỹ thuật làm bầu đất sét ẩm pha tro bồ hòn và ủ mùn lá mục của Hội giữ đất, để thử nghiệm cô lập và khử độc trên một khoảnh nhỏ nửa mẫu tại góc hoang của dược viên Thanh Lộ Tông. Mọi nguồn nước thử nghiệm sẽ do con tự tay kiểm soát qua quy trình ba bước lọc mà sư thúc và anh Mộc Tầm đã đặt ra.

Chàng mở tráp gỗ, lấy ra một cuốn sổ tay nhỏ ghi chép chi tiết các thông số đo đạc về độ chua của đất, lưu lượng nước rỉ và các tầng sỏi lọc mà chàng đã âm thầm quan sát mấy ngày qua. Bùi Sương liếc nhìn những dòng ghi chép tỉ mỉ, thấy trong đó sự chân thành và lòng trắc ẩn của một người gắn bó với mầm xanh thực thụ chứ không phải lòng tham quyền lực của kẻ cầm quyền.

Bà gật đầu chậm rãi, nét mặt nghiêm nghị hơi chùng xuống:

— Được. Chiều nay, Tầm sẽ đưa cho con mười bầu đất sét ủ sẵn khuẩn rễ cộng sinh từ đất Thạch Nê đã được thanh lọc. Đổi lại, Thanh Lộ Tông phải duy trì vô điều kiện việc mở van nước ngọt nhánh nam ba canh giờ mỗi ngày theo đúng Biên bản liên tịch, và tuyệt đối không được can thiệp vào các trạm quan trắc ngầm của Ty Địa sư. Chúng ta bắt đầu từ một khoảnh đất nhỏ. Nếu nửa mẫu dược viên đó sống lại được nhờ cách chăm đất thuận tự nhiên, đó sẽ là bài học lớn nhất cho cả sơn môn của các người.

Lâm Diệp cúi đầu thật sâu, hai tay run run nhận lấy chiếc túi vải nhỏ đựng đất mẫu từ tay bà giáo già:

— Đệ tử xin ghi lòng tạc dạ lời dạy của sư thúc. Cây cối thuận đất mà sinh, người tu thuận đạo mà sống. Con nhất định sẽ không phụ sự tin tưởng của người và bà con Hạ Khê.

Một cánh cửa mới của sự hợp tác cải tạo, gỡ bỏ nút thắt đối đầu nghẹt thở bấy lâu giữa sơn môn tu sĩ và nông dân hạ du, vừa được mở ra bên bờ mương hồi quy róc rách chảy. Dòng nước sau khi trút bỏ gánh nặng độc chất tiếp tục lượn lờ chảy xuôi về phía hạ lưu, tưới mát cho những mầm xanh vừa mới nhú.

***

Trong khi đó, trên gò đất cao phía tây lòng chảo, nơi tọa lạc xưởng gốm Lò Đất Kín, tiếng còi trúc vang lên từng hồi dứt khoát, nhịp nhàng.

Gió trên gò lộng thổi, mang theo hơi nóng âm ỉ từ những vách lò nung gốm hòa lẫn mùi thơm hắc của nhựa thông và rơm rạ khô. Lê Cẩn đứng trên bục đất cao đắp bằng đá hộc, chiếc đồng hồ cát nhỏ bằng đồng cầm lỏng trong tay trái, những hạt cát mịn màu đỏ sẫm đang chảy chầm chậm qua eo thắt hẹp. Tay phải anh cầm chiếc còi trúc chỉ huy toán thợ đào giếng và dân đinh đang kiểm tra tuyến rãnh thoát nước bao quanh khu hầm ngầm.

Vạt áo vải thô màu chàm của Lê Cẩn bay phần phật trong gió. Khuôn mặt anh gầy rộc đi sau trận ngộ độc khí ngầm kinh hoàng, đôi gò má nhô cao nhưng ánh mắt vẫn rực sáng vẻ kiên nghị, sắc sảo. Vâng lời dặn nghiêm ngặt của Đào Nguyệt, anh tuyệt đối không đụng tay vào xẻng sắt hay khiêng vác đất đá nặng để bảo vệ buồng phổi đang dần hồi phục sau đợt ngộ độc, chỉ thuần túy đóng vai trò người giám sát an toàn địa tầng. Mỗi bước đi của anh đều thong thả, giữ cho nhịp thở luôn đều đặn, không để những cơn ho khan tái phát.

— Hầm phía Đông, kiểm tra lớp đệm tro trấu vôi tôi! — Cẩn hô to qua chiếc ống trúc dài ba thước dùng để truyền thanh.

Dưới cửa hầm ngầm xây bằng gạch chịu lửa dày hai tấc, Tạ Hạnh bước ra, trên tay cầm chiếc đèn lồng dầu hạt cải rọi sáng. Khói đèn lượn lờ trong bóng râm của cửa vòm cuốn. Người phụ nữ góa bụa lau mồ hôi trên trán bằng chiếc khăn vải gai vắt ngang vai, đưa ngón tay cái lên làm dấu hiệu an toàn:

— Sàn gạch khô ráo, không có vệt rỉ nước! Cả mười hai chum gốm men kép chứa hai mươi tư nốt rễ độc bão hòa thu gom sau đêm mưa lũ đều nguyên vẹn, niêm phong bùn sét lá bồ hòn vẫn cứng như đá, nhiệt độ trong hầm ổn định ở mức mát lạnh!

Lê Cẩn bước xuống bậc tam cấp bằng đá, bước chân vững vàng nhưng cẩn trọng. Anh tiến lại gần cửa vòm hầm ngầm, rút chùm chìa khóa sắt từ thắt lưng ra đối chiếu với chùm chìa khóa trên tay Tạ Hạnh. Cả hai ổ khóa độc lập của ba gian hầm ngầm — hầm nốt rễ thô phía Đông, hầm ổn định phía Tây và hầm sự cố Trung tâm — đều khớp lệnh hoàn hảo.

Đây là quy trình bảo an nghiêm ngặt mà chính Lê Cẩn đã đặt ra: không một cá nhân đơn lẻ nào được phép tự ý mở cửa hầm chứa nốt rễ độc. Mỗi cánh cửa đều có hai ổ khóa riêng biệt, một do đội trưởng giám sát giữ, một do thủ kho xưởng gốm quản lý.

Cánh cửa gỗ lim bọc tôn dày mở ra một khe hẹp. Bên trong, luồng không khí mát lạnh phả ra, thoang thoảng mùi tro vôi khô ráo. Mười hai chiếc chum gốm khổng lồ tráng men nâu bóng đứng sừng sững như những hộ pháp canh giữ bóng đêm. Miệng mỗi chum đều được bịt kín bằng ba lớp vải bạt dầu, trát kín bằng một lớp bùn sét mịn nhào tro bồ hòn dày nửa tấc, bên trên dán giấy niêm phong có dấu mộc của Hội giữ đất. Hai mươi tư nốt rễ độc — những "túi bom" sinh học từng hút trọn nọc độc của dòng lũ bùn — nay nằm yên bất động trong bóng tối, được cách ly hoàn toàn khỏi mạch nước ngầm và không khí bên ngoài.

Mộc An từ ngoài cổng bước vào, chiếc nón lá treo sau lưng, tay cầm cuốn sổ kiểm kê kép bìa bọc vải xanh. Nàng bước tới cạnh bàn kiểm soát, nhanh nhẹn đối chiếu từng con số, ghi nhận vào cuốn sổ kiểm kê kép: toàn bộ hai mươi tư nốt rễ độc lưu kho an toàn, không thiếu một bình, không rò rỉ một giọt độc dịch, hệ thống rãnh thoát nước mặt sau cơn bão lớn vận hành trơn tru không để nước tràn vào chân móng lò.

Lê Cẩn tra chìa vào ổ, cùng Tạ Hạnh khóa chặt then sắt nặng trịch. Tiếng "cạch" khô khốc vang lên giòn giã trong lòng đất, khóa chặt mối hiểm họa cuối cùng của mùa lũ.

Bước lên mặt đất, Lê Cẩn đứng nhìn quanh khu lò gốm kiên cố. Những ống khói lò vươn cao lên bầu trời xanh ngắt, nhả ra những làn khói trắng mỏng manh của mẻ gạch chịu lửa đang nung dở. Anh hít một hơi thật sâu làn gió mát rượi từ cánh đồng Thạch Nê thổi lên gò cao. Lồng ngực anh dù vẫn còn chút gợn đau âm ỉ của chứng phổi tro, từng phế nang dường như vẫn còn lưu giữ ký ức về làn khói độc nghẹt thở dưới lòng giếng sâu, nhưng chưa bao giờ cảm thấy thanh thản và kiêu hãnh đến thế.

Vụ mùa nhọc nhằn, khốc liệt kéo dài suốt bao tháng ngày ròng rã — vượt qua bao cạm bẫy giấy nợ của Vạn Thạch Hành, sự phong tỏa tàn bạo của Thanh Lộ Tông, tai nạn túi khí ngầm và cả cơn lũ bùn độc suýt chôn vùi cả xóm — cuối cùng đã về đích trọn vẹn. Không một ai phải bỏ mạng, không một mảnh đất nào bị bán đứt trong tủi nhục, và quan trọng nhất, họ đã giữ được đất quê hương bằng sự minh bạch, đoàn kết và lòng quả cảm, chứ không phải bằng sự lừa dối hay thỏa hiệp hèn hạ. Nhìn xuống thung lũng, nơi những mái nhà tranh đang bình yên đón khói lam chiều, Lê Cẩn khẽ mỉm cười, một nụ cười nhẹ nhõm hiếm hoi nở trên gương mặt người thợ đào giếng gan dạ.

***

Hoàng hôn dần buông xuống thung lũng Hạ Khê. Mặt trời như một quả cầu lửa đỏ ối từ từ lặn sau rặng núi đá vôi phía tây, nhuộm đỏ rực những ngọn núi xa xa, rải một lớp bụi vàng lấp lánh lên những mái nhà tranh xóm Giếng Cạn.

Bóng tối chầm chậm lan tỏa từ các hốc đá, nhưng không mang lại vẻ âm u, chết chóc như những ngày u ám trước đây. Thay vào đó là một sự ấm áp, rộn rã của cuộc sống hồi sinh. Tiếng chày giã gạo rộn rã vang lên từ các góc sân đình, tiếng cối đá nghiền ngô lục cục, tiếng nói cười râm ran của những người phụ nữ đang vo gạo bên bể nước công cộng. Mùi khói lam chiều quyện chặt với hương cơm gạo mới thơm ngào ngạt lan tỏa khắp các ngõ ngách, len lỏi qua từng bờ rào dâm bụt, báo hiệu một đêm no ấm đầu tiên sau chuỗi ngày dài đói kém triền miên.

Những ngọn đèn dầu bắt đầu được thắp lên sau những ô cửa sổ liếp tre, tỏa ra ánh sáng vàng vọt nhưng ấm cúng. Tiếng bát đũa khua lách cách, tiếng trẻ con bi bô đòi ăn, tiếng người già trầm ngâm kể lại chuyện ngày xưa... tất cả dệt nên một bản hòa ca bình dị của làng quê mà ngỡ như đã có lúc vĩnh viễn biến mất dưới lớp bùn độc.

Mộc Tầm lẳng lặng rời khỏi đám đông đang liên hoan mừng vụ gặt tại sân đình. Anh không uống rượu, chỉ nhấp một ngụm nước chè xanh rồi lặng lẽ bước theo con đường mòn quen thuộc dẫn về phía mảnh vườn thuốc thân thuộc sau nhà. Tiếng ồn ào, tiếng reo hò chúc tụng từ phía sân đình cứ nhỏ dần, nhỏ dần sau lưng anh, nhường chỗ cho tiếng dế mèn rỉ rả trong bờ cỏ và tiếng gió xào xạc qua rặng chuối tiêu.

Mảnh vườn thuốc sau nhà nay đã xanh tươi trở lại. Dưới ánh hoàng hôn nhập nhoạng, những luống rau cải ngắn ngày xanh mơn mởn, những khóm hoàng liên non đang vươn mình đón gió chiều ẩm mát. Những rãnh nước dẫn quanh vườn được nạo vét sạch sẽ, dòng nước ngọt lành từ bể lắng chảy qua róc rách như một dải lụa bạc.

Anh bước tới miệng Giếng Cạn. Thành giếng xây bằng đá ong rêu phong quen thuộc vẫn đứng đó, sừng sững qua bao biến động của đất trời. Mộc Tầm đặt tay lên phiến đá miệng giếng, cảm nhận bề mặt đá ráp mịn, mát lạnh dưới lòng bàn tay. Anh tháo đôi guốc mộc để trên bờ cỏ, rồi nhẹ nhàng bám vào những mấu đá khoét sẵn bên thành vách, trượt mình xuống đáy giếng sâu.

Bóng râm mát rượi lập tức bao bọc lấy anh như một vòng tay che chở. Không gian bên ngoài dường như bị ngăn cách hoàn toàn bởi bốn bức tường đá sâu thẳm. Dưới đáy giếng, không khí ẩm lành mang theo mùi bùn non ngọt ngào, mát lạnh như chạm vào một tấm thạch bích thiên nhiên. Mùi hăng nồng của khoáng chất độc hại đã biến mất hoàn toàn, thay vào đó là mùi hương thanh khiết của rêu xanh và hơi nước tinh khôi.

Mạch nước ngầm sau khi đi qua các tầng lọc tự nhiên rỉ ra từ kẽ vách đá vôi, phát ra những tiếng róc rách tí tách êm đềm như một khúc ca thầm lặng của lòng đất. Từng giọt nước trong vắt rơi xuống vũng nước nông dưới chân giếng, tạo nên những vòng tròn sóng gợn lăn tăn phản chiếu chút ánh sáng le lói còn sót lại từ vòm trời tròn xoe phía trên miệng giếng.

Mộc Tầm ngồi xổm trên gờ đá ẩm, đưa bàn tay trần gạt nhẹ lớp mùn ủ bằng tro trấu và lá bồ hòn mục bao quanh gốc cây mẹ Tức Căn. Lớp mùn xốp mềm, ấm áp, lưu giữ độ ẩm hoàn hảo cho bộ rễ.

Cây mẹ nằm đó, tĩnh lặng và vững chãi giữa lòng đá sâu.

Sau một chu kỳ dốc cạn kiệt toàn bộ sinh cơ để gồng mình nuốt trọn cơn lũ bùn độc từ Khe Táng Thủy, chống chọi với sức ép phá hủy của Trận Bàn Thu Khí và nuôi dưỡng mạng rễ dài nửa dặm nối thông ra đồng Thạch Nê, thân rễ cái nay đã thu nhỏ lại đôi chút, vỏ ngoài chuyển sang màu nâu xám sần sùi của sự trưởng thành dạn dày sương gió. Những vết thương cũ do dao tre cắt tách nhánh con nay đã se miệng hoàn toàn, kết thành những lớp sẹo hóa sừng bóng láng như ngọc mộc, không còn rỉ một giọt mủ nhựa nào.

Thân cây như một vị chiến tướng vừa trải qua trăm trận tử sinh, rũ bỏ lớp giáp ngoài hoa mỹ để thu mình lại trong vẻ đẹp trầm mặc của sự từng trải. Từng thớ gỗ ngầm dưới lớp vỏ dày dặn như đang ngủ yên, tích tụ tinh hoa của trời đất sau những ngày gồng mình chống chọi bão giông.

Mộc Tầm cúi sát xuống, định kiểm tra nhiệt độ của lớp đất nền quanh rễ cái như thói quen hằng ngày. Ngón tay anh khẽ lướt qua lớp vỏ sần sùi, tìm kiếm những mạch đập quen thuộc của dòng nhựa luyện.

Nhưng bất chợt, hơi thở anh khựng lại giữa lồng ngực. Ngón tay anh khẽ run lên, dừng sững lại trên một gờ rễ nổi. Đôi mắt anh mở to trong sự kinh ngạc tột cùng.

Ngay tại các nách cuống rễ cái to nhất — nơi những vết sẹo nốt rễ cũ từng khô cứng sau trận chiến bảo vệ nguồn nước làng — không phải là những mắt sinh phân cành thông thường mà anh từng biết. Đó không phải là những chồi non xanh xao nhú lên để rồi phải cưa cắt, chiết cành đau đớn như bao lần trước.

Nhô lên từ lớp vỏ rễ sần sùi là những chùm bao noãn nhỏ xíu, mịn màng và căng mọng như những hạt ngọc non li ti kết lại thành từng chuỗi dày đặc. Từng chùm, từng chùm bao noãn kết tụ tinh xảo như những chuỗi hạt ngọc trai tí hon, nép mình e ấp dưới nách rễ cái. Chúng không mang hình hài thô ráp của các mầm sinh dưỡng vô tính, mà mang cấu trúc hoàn mỹ của những đài hoa kết hạt tự nhiên đầu tiên.

Giữa bóng tối thăm thẳm của đáy giếng sâu, những chùm bao noãn ấy đang khẽ run rẩy theo từng nhịp thở nhịp nhàng của mạch nước ngầm. Và kỳ diệu thay, từ sâu bên trong lớp vỏ mỏng trong suốt của từng hạt noãn, một làn ánh sáng màu lam mờ ảo bắt đầu tỏa ra. Ánh sáng ấy không chói lòa như ngọn lửa của bùa chú, không ma mị như quặng độc lưu huỳnh, mà huyền bí, dịu nhẹ và thuần khiết vô ngần. Nó như gom tụ toàn bộ tinh túy của bầu trời đêm thu gom lại trong lòng đất mẹ, phập phồng đập theo nhịp đập của sự sống sơ khai.

Đó là sự kết hạt.

Một chu kỳ sinh sản hữu tính hoàn toàn mới của Tức Căn đã chính thức bắt đầu.

Mộc Tầm nín thở, hai mắt dán chặt vào những chuỗi hạt sáng màu lam lung linh. Trí óc anh bàng hoàng nhận ra ý nghĩa vĩ đại của điều kỳ diệu đang diễn ra ngay trước mắt. Giống cây kỳ diệu này không còn chỉ dựa vào việc bẻ rễ chiết cành đau đớn làm suy kiệt cây mẹ, không còn bị giam hãm trong vòng luẩn quẩn của việc nhân giống vô tính đầy rủi ro và hao tổn sinh lực. Nó đang tự mình thai nghén những hạt giống thực thụ — những hạt giống mang trọn vẹn bản lĩnh sinh tồn của cây mẹ sau khi đã chiến thắng độc chất và bão lũ.

Những hạt giống này, khi chín muồi, có thể thu hoạch, phơi khô, cất giữ trong túi vải gai và mang đi gieo rắc khắp muôn ngả đất trời. Chúng có thể bay theo gió, theo dòng nước, theo bước chân của những người giữ đất đi tới những thung lũng xa xôi, hồi sinh những cánh đồng chết chóc bị tàn phá bởi mỏ quặng hay trận pháp tu tiên, mà không cần đánh đổi bằng sinh mạng hay sự tàn phế của cây mẹ nơi đáy giếng này nữa. Tức Căn đã thực sự tìm ra con đường tự do của chính mình để hòa nhập vào dòng chảy bất tận của tự nhiên.

Trái tim Mộc Tầm đập rộn ràng trong lồng ngực, từng nhịp đập dội vang bên tai như tiếng trống hội làng. Nước mắt anh khẽ ứa ra, lăn dài trên đôi gò má sạm đen vì nắng gió vụ mùa, rơi xuống lớp mùn tro ấm áp dưới chân rễ cái. Đó là giọt nước mắt của sự giải thoát, của niềm xúc động vô bờ bến dâng trào từ tận đáy lòng.

Mọi nhọc nhằn, máu, mồ hôi, những vết sẹo bỏng rát trên da thịt và những đêm dài thức trắng cùng dân làng trong cơn tuyệt vọng bên bờ kè sạt lở... tất cả cay đắng của một kiếp người bám đất nay đã được đền đáp bằng món quà vĩ đại nhất của sự sống. Đất đai đã không phụ lòng người, và cây cỏ đã đáp lại lòng kiên trinh bằng sự tái sinh kỳ diệu nhất.

Gió đêm từ miệng giếng lướt qua, mang theo tiếng cười nói vọng lại từ sân đình Hạ Khê và hương cơm mới ngào ngạt của xóm làng no ấm. Mộc Tầm nhẹ nhàng, nâng niu đưa ngón tay chạm khẽ vào chùm hạt non đang tỏa ánh sáng lam mờ ảo dưới đáy giếng sâu, nơi đất chết vừa bắt đầu một vòng đời mới.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn