Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtC.24 / 36
Chương 24

Lệnh Tạm, Ruộng Thật

Chiếc kiệu bốn người khiêng phủ vải chàm của Huyện quan Ngô Trực chầm chậm hạ xuống ngay đầu bờ ruộng Thạch Nê giữa hàng rào chức dịch bưng tráp giữ sổ.

Màn sương lạnh bảng lảng sớm mai của lòng chảo Hạ Khê bị tiếng phèng la đồng thau xé rách vụn. Từng hồi phèng la đanh thép, trầm đục dội vào vách đá tai mèo, lay động cả những vạt sậy xơ xác đang rũ rượi dọc theo mép rãnh hoang. Tám trượng dịch mặc áo nẹp đỏ viền đen, tay lăm lăm thủy hỏa côn đứng dạt sang hai bên mép đường mòn, tạo thành một hành lang ngăn đám đông xóm giếng đang túa ra bờ ruộng. Gió từ vách núi Khe Táng Thủy thổi luồn qua những triền đồi cằn cỗi, mang theo mùi tanh nồng của quặng vôi cháy khét và vị hăng cay cố hữu của trọc tức chưa bao giờ tan hết dưới đáy thung lũng. Hơi lạnh buổi sớm quyện chặt lấy thứ khói xám bốc lên từ các lò nung xỉ phía xa, đọng thành những giọt sương đục ngầu trên đầu ngọn cỏ mật khô cháy.

Rèm kiệu bằng vải chàm thô vén lên. Ngô Trực không bước ra với vẻ hách dịch của một mệnh quan triều đình đi tuần du chốn thảo dã. Ông mặc bộ thường phục màu huyền sam sẫm màu, vạt áo vén cao găm chặt vào đai lưng da thú đã bạc màu năm tháng, ống quần bó chặt bằng vải thô gập nếp như thể một lão nông tri điền chuẩn bị lội xuống đầm lầy cấy lúa. Đôi mắt tròn sâu hoắm dưới hàng mày rậm đảo một lượt qua rặng dâm bụt khô cháy xơ xác, quét qua những cọc gỗ dẻ gai nướng than trấu mà Kỷ Vân vừa cắm định vị ba mẫu đất, rồi dừng lại thật lâu ở khay sành đựng mạ non trên tay Mộc Tầm.

Lưu Tố từ phía sau kiệu bước lên, tay ôm chiếc tráp sơn đen bọc góc đồng sáng loáng, tà áo xanh xám của bậc nữ thư lại khẽ lay động trong ngọn gió bấc. Bà khẽ nghiêng mình, ghé sát tai quan huyện:

"Đại nhân, trạm trắc đạc của Kỷ Địa sư ở ngay gò đất phía trước. Nhưng theo lịch trình đã định, người nên ngồi nghỉ ở điếm canh dã chiến, để nha dịch mang mẫu đất và sổ mục triệt lên bẩm báo..."

"Khỏi cần." Ngô Trực giơ bàn tay to bè, đốt ngón tay thô ráp xù xì ngăn lại. Giọng ông khàn đặc vì sương lạnh dặm trường và bụi đá bám vào cổ họng: "Giấy mực của nha môn các người có thể viết hươu viết vượn, vẽ rồng vẽ phượng tùy ý bút son, nhưng bùn dưới chân thì không biết nói dối. Đưa ta xuống mép mương Giếng Cạn."

Không đợi ai dìu dắt, viên quan huyện bước phăm phăm qua dải bờ đất gồ ghề lởm chởm mảnh vôi vỡ. Đôi ủng da bò dày cộp nện xuống lớp đá dăm lạo xạo, hướng thẳng về phía rãnh dẫn nước ngọt nối từ hố thử nghiệm số một sang thửa ruộng số hai Thạch Nê.

Mộc Tầm vội đặt khay sành đựng những ngọn mạ non óng ả xuống bờ cỏ mật, cùng Lê Cẩn bước nhanh theo sau. Tim anh đập dồn từng nhịp dưới lồng ngực gầy guộc, lớp áo vải gai ướt đẫm mồ hôi lạnh dù sương sớm vẫn đang bay mù mịt. Đây là lần đầu tiên sau bao năm tháng lòng chảo Hạ Khê bị bỏ rơi như một bãi phế thải vô chủ, một vị quan phụ mẫu thực sự đặt chân xuống lớp đất chết này mà không mang theo lọng che hay kiệu rước cách biệt.

Ngô Trực dừng lại ngay mép mương ranh giới. Trước mặt ông, vạt đá vôi màu xám chì của bãi hoang Thạch Nê nứt toác thành từng kẽ hở ngoằn ngoèo, phủ đầy lớp váng trắng xốp của muối khoáng độc hại bốc mùi hăng hắc. Những mảng đá vôi chết chóc ấy đã nằm trơ trọi qua hàng chục mùa khô hạn, nghẹn ứ phèn chua và dịch quặng từ trên núi cao dội xuống. Nhưng ngay sát vệt nứt ấy, một cảnh tượng kỳ dị mở ra: một dải bùn nâu sẫm, ẩm ướt và mịn màng như bột bánh đang lặng lẽ trải dài dọc theo con mương nhỏ dẫn nước từ mó Giếng Cạn.

Viên quan huyện không ngần ngại quỳ một gối xuống lớp cỏ mật đẫm sương đêm. Trước con mắt kinh ngạc của hàng chục nha dịch và dân xóm giếng, ông tháo phăng đôi bao tay da, chìa bàn tay trần vục sâu vào lớp bùn mùn tơi xốp cạnh mép rãnh.

Bàn tay to bè của ông bóp mạnh. Bùn dẻo quánh ép qua các kẽ ngón tay, mềm mượt và mát lạnh, không hề để lại cảm giác bỏng rát hay mùi khét lẹt của dịch xút quặng lửa thường thấy ở vùng thung lũng đá vôi này. Ngô Trực đưa nắm đất ướt lên sát mũi, nhắm nghiền hai mắt lại, hít một hơi thật sâu.

Đó không phải là mùi lưu huỳnh nồng nặc từng khiến các đoàn sai dịch của huyện nha phải bịt mũi tháo chạy hai năm trước mỗi lần bước chân tới ranh giới lòng chảo. Đó là mùi ngai ngái, nồng ấm và ngòn ngọt của lá cây mục rữa, của mùn rơm ủ ngấu, của rễ thảo mộc đang thở—mùi hương của sự sống đích thực vừa trỗi dậy từ đáy mồ đá vôi tưởng chừng đã vĩnh viễn hóa thạch.

Khi ông từ từ buông ngón tay, để những vụn bùn rơi lả tả xuống mặt rãnh, một mạng lưới tơ mảnh màu lam nhạt bất ngờ lộ ra dưới ánh sáng tờ mờ của buổi sớm. Những đầu rễ Tức Căn nhỏ như sợi tóc, mềm mại nhưng dẻo dai phi thường, đang ôm chặt lấy từng mẩu sỏi vụn, quấn quanh lớp đá vụn như một tấm lưới sống bằng ngọc bích. Sát nách các nhánh rễ cái to bằng đầu đũa, những nốt sần màu xám tro chai cứng phình to bằng hạt đậu nành, lớp vỏ ngoài kết vảy sừng sần sùi như muốn phong tỏa tuyệt đối thứ trọc tức đen ngòm đang bị giam cầm bên trong ruột rễ.

Rễ cây khẽ co giật một nhịp rất khẽ khi tiếp xúc với hơi ấm từ da thịt con người, một phản ứng sinh học tinh tế và nhạy cảm vô cùng, rồi lại nhẫn nại luồn sâu vào kẽ đá xám nứt nẻ, tiếp tục công việc thầm lặng của mình dưới tầng bùn sâu.

"Đây là thứ mà Tống Khuê gọi là 'mầm họa dị chủng gây ô nhiễm sơn môn' sao?" Ngô Trực thì thầm, ngón tay trỏ khẽ chạm vào một sợi rễ tơ màu lam mỏng manh. Dòng linh khí mong manh, yếu ớt như hơi thở của trẻ sơ sinh khẽ gợn qua đầu ngón tay ông, run rẩy nhưng bền bỉ khôn cùng. "Nó đang ăn độc để nhả đất. Đất này... mềm hơn cả phù sa ven sông Bình Xuyên sau mùa lũ lớn."

Kỷ Vân từ bờ ruộng bước xuống, hai ống tay áo bết đầy bùn đất từ đợt quan trắc đêm qua, mắt thâm quầng vì thiếu ngủ nhưng ánh lên vẻ rạng rỡ kỳ lạ. Y cúi đầu thi lễ thật sâu:

"Bẩm Huyện quan, ba mươi ngày qua, ty chức đã cắm mốc, lấy mẫu đất ba tầng ở một trăm hai mươi điểm cọc mốc dọc theo tuyến dẫn nước. Lớp đất mặt sâu một thước tây này đã được mạng rễ Tức Căn khử sạch hơn tám mươi lăm phần trăm dư lượng axit và sun-fua kim loại nặng. Nó không còn là tử địa độc hại nữa. Nếu được dẫn đủ nước ngọt lắng lọc từ mó ngầm, nó hoàn toàn đủ chuẩn để gieo cấy lúa ngắn ngày theo đúng quy chế canh tác của triều đình."

Ngô Trực đứng dậy, phủi những vệt bùn nâu còn dính trên đầu gối chiếc quần huyền sam thô ráp. Gương mặt vuông vức đầy nếp nhăn của ông đanh lại, ánh mắt sắc như chim ưng nhìn thẳng vào Mộc Tầm:

"Ngươi là Mộc Tầm?"

"Thảo dân là Mộc Tầm, người chăm vườn thuốc họ Mộc tại xóm giếng." Tầm chắp tay cung kính, giọng trầm tĩnh nhưng rõ ràng từng tiếng một.

"Ngươi chăm thứ này thế nào mà để nó không nổ tung như những lời đồn đại ngoài chợ Bến Tro? Tống Khuê từng dâng sớ lên phủ đường nói rằng loài rễ này hút địa khí, tích trữ độc hỏa, chỉ cần chạm phải tàn lửa là nổ tung thiêu rụi cả sơn cốc."

"Bẩm đại nhân, Tức Căn kỵ lửa, kỵ linh khí cưỡng ép và kỵ nước đục ngậm quặng," Mộc Tầm ngẩng đầu đáp, ánh mắt hướng về dòng mương nhỏ đang róc rách chảy qua lớp sỏi lọc. "Nó không phải linh dược quý hiếm để tu sĩ bòn rút thăng tiến cảnh giới, cũng không phải thứ hung mầm có thể dùng bạo lực hay chú pháp để ép lớn. Người chăm nó chỉ có thể làm một việc duy nhất: che chở cho nó bằng bùn mát, cho nó uống thứ nước đã lọc sạch ba tầng cặn thô qua bể cát sỏi, và nhẫn nại dùng dao tre dọn dẹp các nốt rễ tích độc trước khi chúng bão hòa. Nó sống được vì người xóm giếng chịu nhổ từng mảnh đá vôi bằng tay trần, gom từng gáo bùn mục về đắp luống, chứ không có phép thuật thần thông hay tà thuật nào cả."

Ngô Trực gật đầu chậm rãi, ngón tay cái khẽ miết lên lớp da sần sùi của bàn tay mình. Ông quay người nhìn về phía điếm canh dã chiến dựng bằng tre nứa và bạt rách trên gò đất cao Thạch Nê, nơi ngọn cờ đuôi nheo của huyện nha đang phần phật bay trong gió bấc:

"Vào điếm canh. Đã đến lúc nói chuyện bằng sổ bạ và công pháp triều đình."

***

Điếm canh dã chiến vốn là nơi đội thợ đập đá của Trịnh Bách dùng để nghỉ trưa, tránh nắng và cất giấu búa tạ xà beng, nay được dọn dẹp cấp tốc trong đêm. Mùi tre nứa mới quyện lẫn mùi đất ẩm và khói trấu hun muỗi tạo nên một bầu không khí ngột ngạt nhưng căng thẳng tột cùng. Một chiếc bàn gỗ thô ráp ghép từ những tấm ván xẻ vụn kê ở chính giữa gian lán, trên phủ tấm chiếu cói đã sờn mép, bốn góc chặn bằng bốn viên đá cuội mài nhẵn.

Ngô Trực ngồi ở vị trí chủ tọa, phong thái ung dung nhưng toát ra uy nghiêm sắt đá của bậc phụ mẫu chi dân nắm giữ sinh sát một huyện. Lưu Tố ngồi bên tay trái ông, cẩn thận mở chiếc tráp đồng, bày ra nghiên mực chu sa đỏ thẫm, các cuộn địa bạ niêm phong bằng dây gai và chồng hồ sơ khiếu nại dày cộp được sắp xếp theo từng mục rõ ràng. Kỷ Vân đứng nghiêm trang bên cạnh, hai tay ôm chặt tập báo cáo trắc đạc độc lập ba mươi ngày với những biểu đồ vẽ chi tiết từng tầng đất.

Về phía người dân, Mộc Tầm, Mộc An và Phạm Nghi ngồi trên chiếc ghế băng dài bằng gỗ mộc đối diện. Mộc An đặt cuốn sổ bìa da mộc đã ố vàng lên mặt bàn, bàn tay nhỏ nhắn khẽ siết chặt mép áo thô để giấu đi sự run rẩy, trong khi Phạm Nghi ngồi thẳng lưng, hai bàn tay chai sần đặt lên gối, đôi mắt đăm đăm nhìn vào chiếc nghiên mực chu sa.

Ngồi ở phía góc phải điếm canh là một nhân vật mặc cẩm bào màu xanh ngọc bích viền bạc, khuôn mặt xương xẩu toát lên vẻ ngạo mạn lạnh lùng. Đó là Chu Chấp sự—đại diện do Chấp sự phòng của Tống Khuê phái xuống sau khi nhận được công văn khẩn của huyện nha yêu cầu đối chất thực địa. Phía sau lưng y, hai đệ tử Thanh Lộ Tông mặc thanh sam, tay đặt hờ lên chuôi thanh kiếm lệnh nẹp vỏ đồng, ánh mắt quét qua những người nông dân bằng vẻ khinh miệt không thèm che giấu, như thể họ chỉ là lũ sâu bọ bò dưới chân thềm đá sơn môn.

"Hôm nay, bản quan hạ cố tới tận thực địa Hạ Khê để chủ trì phiên điều trần sơ bộ về ba lá đơn khiếu nại của Hội giữ đất," Ngô Trực gõ nhẹ ngón tay to bè lên mặt bàn gỗ thô ráp, giọng nói vang rền phá tan sự ngột ngạt trong căn lán chật hẹp, khiến bụi tro trên xà tre khẽ rung rinh. "Vụ việc liên quan đến ba vấn đề cốt tử: ranh giới đất canh tác, tranh chấp quyền khai thác địa mạch và hành vi xả thải gây ô nhiễm nguồn nước ngầm. Hai bên nguyên bị đã có mặt đầy đủ, Lưu thư lại, tuyên đọc các chứng cứ bước đầu."

Lưu Tố đứng dậy, thân hình mảnh khảnh nhưng giọng nói sang sảng, từng âm tiết rơi xuống mặt bàn như những nhát búa gõ vào tâm can người nghe:

"Thứ nhất: Căn cứ theo báo cáo trắc đạc độc lập số bốn mươi hai của Ty Địa sư do Kỷ Vân thực hiện dưới sự giám sát của huyện nha, ba mẫu đất tại thửa số một, số hai và số ba cánh đồng Thạch Nê đã được cải tạo đạt tiêu chuẩn đất nông nghiệp loại bốn theo luật điền địa. Độ kiềm và độc tố kim loại nặng trong tầng đất canh tác đã giảm tám mươi lăm phần trăm so với mẫu đất gốc lấy tại chân vách đá Khe Táng Thủy. Toàn bộ dòng linh khí đo đạc được tại khu vực này hoàn toàn mang tính chất sinh học phân tán, biến thiên phụ thuộc vào độ ẩm và rễ thực vật, cường độ dao động chưa bằng một phần mười ngưỡng linh mạch hạ phẩm mạt lưu. Do đó, chiếu theo *Khâm định Địa quan Điển lệ*, khu vực này không cấu thành mỏ linh mạch tự nhiên, không phải khoáng sản phụ thuộc và không cấu thành công trình phục vụ tu chân."

Chu Chấp sự khẽ nhếch mép, cất giọng the thé chua chát cắt ngang lời nữ thư lại:

"Nực cười! Kỷ Vân chỉ là một tên tạp dịch đệ tử Luyện Khí tầng tư của một ty địa phương rách nát, học đòi dăm ba thuật trắc đạc phàm trần. Pháp khí đo đạc trước đây còn phải đi mượn của sơn môn chúng ta, sau khi bị Ty Chấp sự tịch thu vì hết hạn mượn thì chỉ biết dùng cọc gỗ với ống tre đục lỗ mà dám to gan kết luận về địa mạch ngàn năm của tiên gia? Thanh Lộ Tông chúng ta nắm giữ Khế ước Khai thác Địa Mạch từ năm Cảnh Hưng thứ mười lăm do chính phủ Bình Xuyên tiền triều cấp bằng khoán sắt. Mọi biến dị mạch khí, mọi thảo mộc hấp thu linh khí trong phạm vi mười dặm quanh chân núi đều thuộc quyền tài phán tuyệt đối của Tiên môn Sự vụ ty! Quan huyện các người chỉ quản hạt lương đinh, dám vượt quyền can thiệp vào công vụ của sơn môn sao?"

"Chu Chấp sự, chớ vội đem Tiên môn Sự vụ ty ra dọa nạt bản quan," Ngô Trực lạnh lùng ngắt lời, ánh mắt sắc như dao cau găm thẳng vào viên chấp sự áo xanh, không hề chớp lấy một lần. "Tiên môn quản mạch, nhưng huyện nha quản đất và dân đinh của Hoàng triều! Nếu lòng đất Thạch Nê là linh mạch phát lộ, bản quan tự khắc lập tờ trình chuyển giao theo đúng lệ. Nhưng Kỷ Vân với tư cách Địa sư triều đình đã khẳng định đây là đất nông nghiệp phục hồi bằng sức người. Và điều quan trọng hơn cả..."

Ngô Trực khẽ đưa mắt ra hiệu cho Lưu Tố. Người nữ thư lại lập tức mở lớp sáp niêm phong màu cánh gián của tệp hồ sơ thứ hai—tập chứng từ bằng da dê mỏng mang dấu triện mẻ góc màu đỏ thẫm của chính Hỏa Linh Phong.

"Thứ hai," Lưu Tố tiếp tục, ánh mắt bà lóe lên vẻ đanh thép nhìn thẳng vào hai đệ tử Thanh Lộ Tông, "đây là bản trích lục nhật trình điều tiết hồ chứa Khe Táng Thủy và chứng từ xuất kho lưu huỳnh, xỉ xích thiết của chính Thanh Lộ Tông trong ba năm qua, do người cung cấp chứng cứ nộp lên huyện nha. Hồ sơ chứng minh rõ ràng: trong đợt mưa rào tháng tư vừa qua, Chấp sự phòng của các người đã tự ý mở van xả đáy số ba, tống hơn hai mươi vạn khối trọc dịch chứa xút và bột quặng chưa qua bể lắng chảy thẳng xuống lòng chảo Hạ Khê trong vòng hai canh giờ. Lượng xả độc hại này vượt gấp bốn lần quy chuẩn tối đa cho phép của phủ thành!"

Chu Chấp sự biến sắc, sống lưng y hơi cứng lại, ngón tay đang mân mê chiếc nhẫn ngọc bỗng khựng giữa không trung. Y không ngờ tập tài liệu mật ghi chép nội bộ của phong Hỏa Linh lại có thể lọt ra ngoài, rồi rơi thẳng vào tay nha môn nhanh đến thế.

"Chưa hết đâu," Lưu Tố lật tiếp một trang da dê có chữ ký điểm chỉ son của Tiên môn Sự vụ ty tiền nhiệm, giọng bà rành rọt từng chữ: "Phụ lục Giáp-Tý đính kèm Khế ước Địa Mạch ngàn năm quy định rất rõ: Thanh Lộ Tông có nghĩa vụ bắt buộc phải duy trì tối thiểu ba phân nước ngọt mỗi ngày đêm qua các van xả tự nhiên cho sáu xóm hạ du Hạ Khê để bảo đảm sinh kế nông tang của bách tính. Nhưng suốt mười lăm năm qua, các người đã đơn phương dùng then sắt khóa chặt hai van cấp nước ngọt chính, dồn toàn bộ nước sạch làm mát lò luyện đan và hộ sơn đại trận, đẩy hàng ngàn dân đinh vào cảnh đói khát, bần cùng lưu tán! Lượng trọc dịch xả trộm vừa qua không chỉ đầu độc ruộng đồng xóm giếng, mà dòng bọt đen rỉ ra từ cống ngầm Khe Táng Thủy đang ăn mòn nghiêm trọng chân bờ kè của con đường quan vận tải huyết mạch nối chợ Bến Tro với phủ lỵ Bình Xuyên. Nếu đường quan sụt lún trong mùa mưa tới, ảnh hưởng đến việc chuyển vận lương thuế và quân nhu của triều đình, Chu Chấp sự, cái đầu trên cổ ngươi hay của Chấp sự Tống Khuê gánh nổi tội này trước mặt Binh bộ?"

Hai đệ tử đứng sau lưng Chu Chấp sự nghe nhắc tới "Binh bộ" và "lương thuế" thì bất giác run rẩy, tay bất giác rời khỏi chuôi kiếm, mặt mày tái mét. Chu Chấp sự nuốt khan một ngụm nước bọt, cổ họng nghẹn đắng, trán rịn ra một lớp mồ hôi mỏng dưới vành mũ mãng bào, giọng y chùng xuống thấy rõ nhưng vẫn cố viện cớ gỡ gạc:

"Chuyện xả nước... đó là do hồ chứa quá tải trong cơn bão bất thường, Chấp sự phòng phải ưu tiên bảo vệ an toàn cho trận hộ sơn, đó là việc khẩn cấp của bản tông..."

"Bảo vệ sơn môn bằng cách dìm chết dân lành và phá hủy quan đạo của triều đình sao?" Ngô Trực đập mạnh bàn tay hộ pháp xuống mặt chiếu, tiếng nẹp đồng trên tráp công văn vang lên một tiếng rền rĩ đanh gọn khiến chiếc cốc nước trên bàn nảy lên. "Bản quan không ngồi ở đây để nghe các người biện bạch chuyện đã rồi. Nhưng trước mắt, bằng chứng xả thải trái phép hủy hoại môi sinh rành rành trên giấy trắng mực đen, báo cáo khoa học của Ty Địa sư xác nhận đất hoang đang sống lại là sự thật hiển nhiên. Huyện nha Bình Xuyên không thể để mặc một thảm họa nhân tạo tiếp tục đe dọa trực tiếp đến bờ cõi và tô thuế của Hoàng triều!"

Ngô Trực thu bàn tay lại, ánh mắt nghiêm nghị chuyển sang cô gái trẻ ngồi đối diện:

"Người giữ sổ của Hội giữ đất, mang sổ công bạ ra đây."

Mộc An hít sâu một hơi để trấn tĩnh lồng ngực đang phập phồng, hai tay nâng cuốn sổ bìa da mộc bước lên trước bàn quan. Cô cẩn thận mở từng trang giấy bổi ngả vàng viết bằng thứ mực đen tự chế từ bồ hóng bếp lò, nhưng từng nét chữ, từng con số đều ngay ngắn, sạch sẽ và rõ ràng đến kinh ngạc:

"Bẩm Huyện quan, đây là sổ phân phối công điểm và nguồn nước của Hội giữ đất Hạ Khê. Mười hai hộ dân chúng thảo dân không hề mưu đồ tư lợi, không tích trữ làm giàu. Toàn bộ lượng nước ngọt lấy từ Giếng Cạn mỗi ngày được chia làm hai phần minh bạch: một phần chia đều theo miệng ăn cho người già, trẻ nhỏ và những phu đá mắc bệnh phổi tro không còn sức lao động; phần còn lại tính theo công điểm quai búa phá đá, nạo vét mương dẫn nước và đắp bờ giữ đất của các tráng đinh. Chúng thảo dân đã đập vỡ lớp váng đá vôi trên bốn thửa ruộng Thạch Nê, dùng mương đệm xỉ vôi nắn dòng độc, dùng chính giống Tức Căn này để rửa sạch phèn chua và độc chất kim loại. Thảo dân chỉ xin quan lớn một con đường sống: cho phép chúng thảo dân được chính thức gieo cấy vụ lúa cứu đói đầu tiên trên chính mảnh đất thấm đẫm mồ hôi và máu của cha ông!"

Phạm Nghi cũng bước lên, vạt áo rách bươm quỳ sụp xuống nền đất điếm canh, dập đầu chạm trán xuống lớp đá sỏi:

"Xin Huyện quan đèn trời soi xét! Đỗ Kính bên Vạn Thạch Hành cấu kết với tay chân Chấp sự phòng, dùng nợ phạt trùng lặp trái luật huyện để cắm cọc rào mương, đòi siết sạch những giọt nước cuối cùng. Còn Tống Chấp sự bên Thanh Lộ Tông thì đem trận thu khí dọa thiêu cháy rễ cây, biến ruộng thành bãi tro tàn. Dân xóm giếng cùng đường chỉ muốn hạt thóc nảy mầm để vượt qua mùa giáp hạt chết đói năm nay, tuyệt không có nửa ý dám trái nghịch phép nước triều đình!"

Ngô Trực cúi xuống nhìn lướt qua từng trang sổ bạ, ánh mắt ông dừng lại thật lâu ở các cột phân chia công điểm tỉ mỉ, sòng phẳng đến từng gáo nước, từng vụn than trấu, không hề có sự thiên vị cho riêng gia đình họ Mộc hay bất kỳ ai. Sự kiên cường, trật tự tự giác và phẩm giá không chịu khuất phục của những con người bám đất cùng khổ này khiến một viên quan đã chai sạn qua mấy mươi năm chốn quan trường hiểm ác như ông cũng phải khẽ chấn động trong lòng.

"Được lắm," Ngô Trực vươn tay cầm lấy cây bút lông cán trúc do Lưu Tố cung kính dâng lên, chấm đẫm ngòi bút vào nghiên mực chu sa đỏ thắm. Giọng ông đanh thép vang vọng khắp điếm canh dã chiến, lọt qua khe nứa bay ra tận bờ ruộng nơi hàng trăm người dân đang nín thở lắng nghe: "Căn cứ vào *Khâm định Điền trạch Luật lệ* bản triều, xét thấy hành vi xả thải trái quy chuẩn đe dọa sinh mạng bách tính và có dấu hiệu xâm phạm nghiêm trọng đến an toàn đường quan vận tải; đồng thời ghi nhận nỗ lực khai hoang, phục hồi đất nông nghiệp thực tế tại cánh đồng Thạch Nê: Bản quan nhân danh Tri huyện Bình Xuyên quyết định ký Lệnh hành chính khẩn cấp!"

Tất cả mọi người trong điếm canh đều nín thở, bầu không khí đặc quánh lại như trước một cơn dông. Mộc Tầm cảm thấy các khớp ngón tay mình tê buốt vì siết chặt, mồ hôi ướt đẫm lòng bàn tay.

Ngô Trực vung bút, từng dòng chữ son sắc sảo, dứt khoát hiện lên trên nền giấy điệp vàng mang dấu quốc huy triều đình:

"Điều thứ nhất: Ban hành Lệnh bảo toàn hiện trạng có hiệu lực trong vòng sáu mươi ngày kể từ giờ khắc này đối với toàn bộ khu vực Giếng Cạn và cánh đồng Thạch Nê.

Điều thứ hai: Nghiêm cấm triệt để Thanh Lộ Tông tự ý bứng dời, đào bới giống cây Tức Căn dưới mọi hình thức; cấm thiết lập bất kỳ trận pháp thu khí hay cưỡng bức trích xuất địa khí nào tại khu vực được bảo hộ. Đồng thời, đình chỉ vô thời hạn mọi trát siết đất, nghiêm cấm Vạn Thạch Hành của Đỗ Kính phong tỏa đường sá, mương rãnh hay cưỡng chế tài sản thế chấp đang có tranh chấp dân sự chưa qua xét xử.

Điều thứ ba: Hội giữ đất Hạ Khê phải chịu sự thanh tra, giám sát sổ sách phân phối định kỳ mười ngày một lần của Điền bạ Ty huyện nha Bình Xuyên. Tuyệt đối nghiêm cấm việc tự ý mở rộng diện tích canh tác ra ngoài ranh giới bốn thửa ruộng Thạch Nê đã được cắm mốc tiêu; cấm đem mầm giống Tức Căn mua bán, trao đổi hoặc chuyển nhượng ra khỏi địa hạt huyện khi chưa có sự chuẩn y bằng văn bản của nha môn."

Ngô Trực dừng bút một nhịp, ngẩng đầu nhìn Mộc Tầm và Phạm Nghi, giọng ông hạ thấp xuống một bậc nhưng nặng tựa ngàn cân rơi xuống đá tảng:

"Và điều cuối cùng: Huyện nha Bình Xuyên chính thức cấp Giấy phép tạm canh tác cứu nạn cho Hội giữ đất Hạ Khê trên bốn thửa ruộng Thạch Nê số một, số hai, số ba và số tư—những nơi đã được rễ Tức Căn rửa độc hoàn toàn. Thời hạn cấp phép là một vụ mùa lúa ngắn ngày!"

*Cộp!*

Con dấu đồng hình vuông khắc bốn chữ triện lớn *“Bình Xuyên Huyện Ấn”* dập mạnh xuống mặt giấy điệp vàng, để lại một dấu triện son tươi rói, đỏ rực như máu, trang nghiêm và bất khả xâm phạm.

Lưu Tố trịnh trọng dùng hai tay nâng hai bản công văn điệp vàng đưa ra: một bản trao thẳng cho Chu Chấp sự đang tái mét mặt mày, một bản trao tận tay Mộc An và Mộc Tầm.

"Đa tạ Huyện quan minh xét! Đa tạ đại nhân đã mở lượng hải hà cứu mạng dân đen!" Phạm Nghi nghẹn ngào dập đầu sát đất, hai bờ vai gầy guộc run lên bần bật. Những giọt nước mắt nóng hổi của người đàn ông cả đời quai búa lam lũ rơi lã chã xuống nền đất đá điếm canh.

Chu Chấp sự run rẩy cầm lấy tờ trát hành chính đóng dấu đỏ lựng, mép giấy rung lên theo từng nhịp thở dồn dập. Hàm răng y nghiến chặt vào nhau phát ra những tiếng ken két khô khốc. Y trừng mắt nhìn Ngô Trực, ánh mắt đầy vẻ oán độc, giọng nói lạnh như băng tuyết đầu mùa:

"Ngô Huyện quan, ngài thật sự muốn vì đám tiện dân bùn đất này mà đối đầu trực diện với Thanh Lộ Tông chúng ta sao? Ngài nên nhớ, chức quan của ngài do triều đình bổ nhiệm, nhưng ngọn núi này... ngọn núi này thuộc về ai!"

Ngô Trực không thèm chớp mắt lấy một lần trước ánh nhìn đe dọa của tên tu sĩ. Khóe môi ông khẽ nhếch lên một nụ cười lạnh lùng đầy uy quyền của một bậc quan cai trị đã kinh qua muôn trùng sóng gió:

"Bản quan không đối đầu với ai cả. Bản quan chỉ đang bảo vệ tô thuế của triều đình, bảo vệ con đường quan lộ huyết mạch của phủ Bình Xuyên, và bảo vệ những người nông dân biết làm ra hạt thóc thật sự để nuôi sống cõi trần này! Chu Chấp sự, cầm lấy trát lệnh mà về báo lại nguyên văn với Tống Khuê: Trong sáu mươi ngày tới, nếu có nửa tên tu sĩ hay một tên đệ tử nào dám bước qua mốc cọc gỗ dẻ gai phá hoại ruộng lúa, bản quan sẽ đích thân dâng sớ lên Phủ đường và Binh bộ tố cáo Thanh Lộ Tông mưu toan cản trở vận lương làm loạn biên cương!"

Chu Chấp sự cắn môi đến bật máu, tức tối đến mức không thể thốt thêm được nửa lời. Y phất mạnh tà áo cẩm bào xanh biếc, hậm hực dẫn hai tên đệ tử quay ngoắt người bước rầm rập ra khỏi điếm canh dã chiến.

Trước khi bước ra ngoài để lên kiệu quan trở về huyện lỵ, Ngô Trực dừng lại bên cạnh Mộc Tầm. Ông đặt bàn tay to bè, ấm áp và chai sần lên bờ vai gầy guộc của chàng thanh niên chăm vườn thuốc, nghiêng đầu dặn nhỏ bằng một thanh âm trầm thấp chỉ có hai người nghe thấy:

"Mộc Tầm, tờ giấy phép này và ấn tín son của ta chỉ có thể che chở cho các ngươi được sáu mươi ngày. Quan phủ có thể giữ đất trên giấy tờ sổ bạ, nhưng sống chết của cái xóm này rốt cuộc nằm ở hạt thóc dưới lớp bùn kia. Nếu sáu mươi ngày sau, các ngươi không gặt được lúa, để ruộng mất trắng hay để rễ cây nổ tung vì độc tính bão hòa... thì khi ấy, chính ta cũng không còn lý do gì để ngăn Tống Khuê và Đỗ Kính kéo cày sắt xuống san phẳng cái Giếng Cạn này đâu. Nhớ kỹ lấy lời ta!"

Mộc Tầm nhìn thẳng vào đôi mắt sâu hoắm của viên quan huyện, ánh mắt kiên định, tĩnh lặng như nước giếng sâu không hề né tránh:

"Thảo dân hiểu. Đất sống thì người sống. Thảo dân xin lấy cả tính mạng ra bảo đảm vụ lúa này trước công đường."

Ngô Trực nhìn sâu vào mắt anh một thoáng, khóe miệng khẽ giãn ra trong một cái gật đầu kín đáo, rồi quay lưng sải những bước dài dứt khoát ra kiệu.

Tiếng phèng la đồng thau lại vang lên, xé tan không gian tĩnh mịch. Đoàn nghi trượng nha môn mang theo cờ hiệu đuôi nheo và những chiếc gậy thủy hỏa sơn son rầm rộ rời khỏi cánh đồng Thạch Nê, khuất dần sau khúc quanh của con đường cái dẫn về huyện lỵ. Để lại sau lưng họ là một sự tĩnh lặng thiêng liêng nhưng tràn đầy một luồng sinh khí mới mẻ, ấm áp vừa nhen nhóm bao trùm lên khắp thung lũng đá xám xịt.

***

Trong khi đó, ở bờ kênh phía bắc nằm tít ngoài ranh giới cắm mốc thị sát—nơi con lạch dẫn nước từ Khe Táng Thủy bắt đầu len lỏi chảy vào lòng chảo Hạ Khê—một bóng người vận trường bào màu xanh lam viền chỉ xám tro đang đứng sừng sững trên mỏm đá hoa cương nhô ra mép vực.

Tống Khuê chắp hai tay sau lưng, mái tóc hoa râm bay phần phật trong từng cơn gió núi buốt giá rít qua kẽ đá. Đôi mắt sắc lẹm, u tối của một tu sĩ Trúc Cơ trung kỳ nhìn chăm chú vào đoàn kiệu quan phủ vải chàm của Ngô Trực đang khuất dần ở khúc quanh đường cái, rồi từ từ chuyển hướng nhìn xuống bốn thửa ruộng Thạch Nê phẳng phiu vừa được bao bọc bởi hàng cọc gỗ dẻ gai nướng than trấu.

Chu Chấp sự thở không ra hơi, vạt áo cẩm bào rách một mảng vì vấp phải gai góc, hớt hải chạy ngược con dốc đá lởm chởm lên tới nơi, run rẩy quỳ sụp xuống sau lưng viên chấp sự:

"Bẩm... bẩm Tống Chấp sự! Thằng già Ngô Trực đã bị con tiện tỳ Lưu Tố và đám dân xóm giếng mê hoặc hoàn toàn. Lão dám cả gan ký lệnh bảo toàn hiện trạng sáu mươi ngày, lại còn cấp giấy phép tạm canh tác cho bốn thửa ruộng Thạch Nê! Lão dọa nếu tông môn chúng ta can thiệp bạo lực, lão sẽ dâng sớ lên Phủ đường và Binh bộ tố cáo việc cống ngầm Khe Táng Thủy uy hiếp an toàn đường quan vận tải lương thực..."

Tống Khuê không hề quay đầu lại. Gương mặt xương xẩu, lạnh lùng của y vẫn bình thản đến rợn người, chỉ có khóe môi mỏng khẽ cong lên thành một nụ cười mỉa mai, cay độc đến tận xương tủy:

"Ngô Trực tưởng một tờ giấy điệp vàng đóng dấu củ khoai của huyện nha phàm trần có thể làm lá chắn vĩnh viễn cho đám cỏ rác dưới đáy bùn sao? Thật là ngu xuẩn và thiển cận."

"Chấp sự... vậy chúng ta phải làm sao bây giờ?" Chu Chấp sự ngẩng đầu lên, ánh mắt đầy vẻ lo lắng và sốt ruột. "Trận hộ sơn của chúng ta đang rạn nứt từng ngày vì thiếu linh khí bổ khuyết. Các trưởng lão bên Đan phòng thúc giục liên tục. Nếu không sớm thu nạp được mầm Tức Căn biến dị kia để trích xuất mộc linh khí tinh thuần lấp vào mắt trận, một khi tà tu phương bắc nhân cơ hội đánh tới..."

"Ai bảo ngươi ta cần phải dùng đến gươm giáo hay đạo pháp để cướp một đám rễ cây bẩn thỉu?" Tống Khuê lạnh lùng ngắt lời, giọng nói của y trầm đục, buốt giá như tiếng băng nứt dưới đáy vực sâu thăm thẳm. "Ngô Trực cấm ta bứng cây, cấm ta đặt trận thu khí, cấm đệ tử bản tông dùng vũ lực bước qua mốc cọc dẻ gai... Được thôi, ta tôn trọng luật pháp của triều đình thế tục. Nhưng thử hỏi trát lệnh của huyện nha có điều khoản nào cấm Thanh Lộ Tông duy tu, sửa chữa hệ thống thủy lợi nội bộ của sơn môn không?"

Chu Chấp sự ngơ ngác chớp mắt, hai hàng lông mày nhíu chặt lại:

"Dạ... trong luật lệ và cả trong trát lệnh khẩn cấp vừa rồi, không có điều khoản nào cấm việc sửa chữa, gia cố công trình dẫn nước của tông môn..."

Tống Khuê chậm rãi xoay người lại, ánh mắt lóe lên những tia hàn quang tàn nhẫn, sắc lạnh như lưỡi dao cạo:

"Mầm Tức Căn kia muốn sống sót và lọc sạch độc chất thì cần thứ gì nhất? Nó cần nước ngọt. Bốn thửa ruộng Thạch Nê muốn gieo cấy trổ bông thì cần gì? Cần dòng nước rỉ rả từ các mó ngầm tự nhiên chảy tràn xuống. Truyền lệnh của ta về Phòng Thủy công ngay trong đêm nay: Lấy cớ đập chứa nước thượng nguồn Khe Táng Thủy bị rò rỉ nứt chân khẩn cấp trước mùa bão, đóng chặt toàn bộ các cửa xả tràn nhánh phía nam. Chuyển toàn bộ dòng nước làm mát đan lò về hồ chứa trung tâm trên đỉnh núi. Còn đối với các rãnh dẫn nước tự nhiên chảy xuống lòng chảo Hạ Khê... hãy cho thợ đắp đập đá ngăn dòng, chỉ cho rỉ ra đúng ba phân nước mỗi ngày đêm theo đúng quy định tối thiểu ghi trong Phụ lục Giáp-Tý không thiếu một ly."

Tống Khuê khẽ hừ lạnh một tiếng qua kẽ răng, ánh mắt y nhìn xuống những vạt bùn Thạch Nê bên dưới như nhìn một bầy kiến đang giãy giụa trong chậu nước sôi:

"Ba phân nước rỉ ấy, chảy qua mấy dặm mương đá nung dưới nắng gắt đầu hè sẽ bốc hơi sạch sành sanh trước khi kịp chạm tới mép ruộng đầu tiên của chúng. Để xem, không có nước ngọt để hòa loãng cặn quặng, cái thứ rễ cây quái quỷ kia sẽ chịu đựng được mấy ngày nắng hạn trước khi nốt độc bão hòa rồi tự bốc cháy thành tro tàn! Khi lúa chết khô trên đồng nứt toác, khi ruộng Thạch Nê trở lại thành bãi tử địa ngập ngụa phèn độc... chính Ngô Trực sẽ phải đích thân quỳ gối dâng sớ xin ta kéo cày thu hồi mảnh đất hoang tàn này về cho sơn môn."

Nói xong, tà áo lam của viên Chấp sự tung bay phần phật trong gió núi. Thân hình y hóa thành một vệt thanh quang xé rách màn sương lạnh, lướt thẳng ngược lên những tầng mây u ám trên đỉnh núi Thanh Lộ mù sương.

***

Dưới cánh đồng Thạch Nê, không khí lại ngập tràn một thứ cảm xúc hoàn toàn trái ngược.

Tờ giấy phép tạm canh tác bằng giấy điệp vàng óng ánh, đóng dấu triện son đỏ chói của huyện nha được Mộc An cẩn thận dán lên tấm bảng gỗ dẻ gai dựng ngay đầu bờ thửa ruộng số ba. Đám đông mười hai hộ dân xóm Giếng Cạn, từ những cụ già lưng còng tóc bạc phơ đến những đứa trẻ trần truồng lấm lem bùn đất, đều vây quanh tấm bảng gỗ, mắt rưng rưng nhìn từng dòng chữ mực đen nẹp son tươi rói.

Lần đầu tiên sau hàng chục năm chịu thân phận cùng đinh tha phương cầu thực, bị quan phủ xua đuổi, bị tiệm nợ siết nhà, mảnh đất cằn cỗi dưới chân họ đã được quan nha chính thức thừa nhận quyền được gieo trồng, quyền được đổ mồ hôi để mưu cầu sự sống.

"Bà con ơi!" Phạm Nghi đứng trên bờ mương dẫn nước, hai cánh tay gầy guộc vung mạnh lên trời, giọng khàn đặc vì nghẹn ngào nhưng vang rền át cả tiếng gió bấc thổi qua triền đồi. "Quan huyện đã cho phép! Trời đất đã mở đường sống cho xóm giếng chúng ta rồi! Đội đập đá của Trịnh Bách đâu, vứt búa tạ đi, chuyển hết sang cào bùn! Phụ nữ và người già xuống mương nạo vét luống, khơi rãnh dẫn nước! Hôm nay, xóm Giếng Cạn chúng ta... chính thức xuống giống vụ lúa đầu tiên!"

Một tiếng reo hò dậy đất vang lên khắp thung lũng đá Thạch Nê, xé toang bầu không khí tang thương ảm đạm đã đè nặng nơi đây suốt bao năm tháng.

Trịnh Bách quệt ngang vệt mồ hôi và bụi đá trên trán, nhe răng cười để lộ hàm răng sún vì những trận ốm đói, tay vác chiếc bừa gỗ đóng bằng đinh tre nhảy tót xuống mép ruộng số một. Bùn bắn tung tóe lên vạt áo nâu rách, nhưng nụ cười của người thợ đập đá rạng rỡ như ánh mặt trời vừa ló rạng qua tầng mây mù.

Bác Cả Thợ và chú Hai Mộc cùng nhóm thợ mộc trong xóm hối hả chạy dọc theo bờ rãnh, kiểm tra lại từng khớp nối của những chiếc máng gỗ lim dẫn nước từ mó Giếng Cạn. Họ cẩn thận chèn thêm rơm mùn và đất sét vào các khe hở, nắn từng dòng nước trong vắt đã qua ba tầng bể lắng cát sỏi chảy êm ả, róc rách vào từng luống ruộng vừa cày xới. Nước ngọt mát lành trườn qua lớp bùn nâu, làm dịu đi những vết nứt nẻ cuối cùng của lớp đá vôi cằn cỗi.

Đào Nguyệt đứng bên bờ thửa ruộng số ba, nơi luống bạch chỉ và hoàng cầm của nhóm dược hộ Bến Tro đã bắt đầu nhú lên những mầm xanh mướt mát sau bao ngày được che chắn. Đôi mắt trong veo của cô gái bán thuốc lấp lánh niềm hy vọng, cô khẽ mỉm cười nhìn sang phía Mộc Tầm đang cẩn thận bưng khay sành đựng mạ non bước từng bước vững chãi xuống mép ruộng.

Mộc Tầm xắn ống quần thô qua đầu gối, bàn chân trần ngập sâu vào lớp bùn mùn tơi xốp, mát rượi của thửa ruộng số hai Thạch Nê. Cảm giác bùn mịn luồn qua các kẽ ngón chân mang lại một sự gắn kết thiêng liêng và kỳ diệu giữa cơ thể anh với lòng đất mẹ.

Dưới đáy bùn sâu nửa thước, nơi mắt thường không thể nhìn thấy, Mộc Tầm nhắm mắt lại và cảm nhận được rõ ràng từng nhịp đập sinh học quen thuộc đang rộn rã truyền qua da thịt. Mạng lưới rễ non Tức Căn từ hố thử nghiệm số một đã âm thầm đan cài, kết nối chặt chẽ với nhánh rễ cái bắt nguồn từ mó nước Giếng Cạn, tạo thành một mạng rễ non đầu tiên trải dài khắp bốn thửa ruộng Thạch Nê. Chúng như một mạng lưới huyết mạch ngầm của đất, đang khẽ cựa mình sau giấc ngủ đông dài dằng dặc, vươn những chiếc vòi tơ mềm mại màu lam nhạt đón lấy dòng nước mát lành vừa tràn tới.

Mộc Tầm mở chiếc bọc vải thô buộc ngang hông ra.

Bên trong là những hạt thóc giống ngắn ngày màu vàng óng như những hạt vàng ròng của đất trời. Hạt nào hạt nấy mẩy căng, vỏ trấu bóng bẩy, đã nứt nanh nhú ra những chiếc mầm trắng nhỏ xíu như đầu tăm. Chúng đã được Mộc An và anh cẩn thận ngâm ủ suốt ba ngày ba đêm bằng chính dòng nước ngọt lành chắt chiu từ tận đáy sâu của Giếng Cạn.

Gió núi thổi lồng lộng qua thung lũng, mang theo hơi thở ấm áp của mùa vụ mới đang bắt đầu.

Mộc Tầm quỳ một gối xuống lớp bùn mềm, cẩn thận vốc một nắm thóc giống đầy ắp trong lòng bàn tay chai sạn. Anh ngước nhìn lên bầu trời Hạ Khê—nơi những đám mây xám xịt đang dần tan biến dưới ánh bình minh rực rỡ, rồi từ từ mở rộng năm ngón tay.

Từng hạt thóc giống ngâm nước giếng ngọt ngào rơi xuống bùn Thạch Nê, nơi các đầu rễ Tức Căn đang khẽ cựa mình đón nhận.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn