Báo Cáo Không Thuận Lòng Ai
Tiếng gậy gỗ bọc sắt nện rầm rầm lên mặt bàn trạm đo làm nghiên mực đá xám nảy bần bật, bắn ra một vệt mực đen nhánh kéo dài qua tấm sơ đồ trắc địa vừa ráo mực.
Trước khi người phụ tá trẻ tuổi của Kỷ Vân kịp kêu lên một tiếng thất thanh, bàn tay hộ pháp mang bao cổ tay bằng da trâu thô dày của gã đệ tử Thanh Lộ Tông đã giật phắt chiếc hộp gỗ tử đàn lót nhung đỏ khỏi giá đỡ ba chân.
Khớp khóa đồng kêu *rắc* một tiếng giòn tan. Chiếc hộp va mạnh xuống mép phản nứt nẻ, nắp bật tung sang một bên, để lộ mặt kính thạch anh trong suốt cùng chiếc kim huyền thiết mảnh như sợi tóc đang chao đảo hoảng loạn giữa các vòng khắc bát quái và độ số li ti.
Gã đệ tử dẫn đầu—khuôn mặt xám ngoét phủ một lớp phấn duyên phấn ngăn độc dịch dày cộm, bên hông lủng lẳng thanh trường kiếm tra vỏ đồng thau khảm phù văn lôi hỏa—dằn mạnh bàn tay gân guốc xuống mặt bàn, đè bẹp xấp giấy can mỏng manh vẽ dở một nửa lưới tọa độ cánh đồng Thạch Nê. Linh áp sắc nhọn của tu vi Luyện Khí tầng sáu từ người gã tỏa ra đặc quánh, cuộn theo luồng hàn khí ẩm ướt của vách núi đá vôi, ép thẳng vào lồng ngực gầy guộc của viên địa sư trẻ tuổi.
"Kỷ Vân, đợt khảo sát quái gở của Ty Địa sư lập tức đình chỉ tại đây!" Gã chấp pháp gằn từng tiếng qua kẽ răng, giọng the thé chói tai như tiếng kim khí cọ xát. "Chấp sự Tống phòng đã có trát lệnh khẩn truyền xuống tận cổng dịch trạm. Chiếc La bàn Tầm Mạch bát quái loại ba này là pháp bảo quan phương của sơn môn, trước đây nể tình Huyện nha Bình Xuyên lập đồn điền mà cho mượn tạm để dò tìm sa khoáng quốc dụng, chứ không phải để bọn quan lại phàm trần các ngươi mang xuống bãi bùn thối này bới lông tìm vết, tiếp tay cho đám tiện dân hạ lưu xé rào ranh giới. Toàn bộ pháp khí thuộc sở hữu tông môn thu hồi ngay trong khắc này!"
Người phụ tá trẻ tuổi run rẩy lùi thụt lại sau lưng Kỷ Vân, hai tay ôm ghì lấy chiếc hòm mực bằng gỗ thông như thể sợ những ống mực nước quý giá cũng bị giật mất. Phía ngoài bậu cửa, Mộc Tầm vẫn đứng im lìm như một thân cây khô cắm sâu bên vách nứa. Đôi mắt thẫm màu của anh không nhìn thanh kiếm sắc lạnh bên hông gã đệ tử, mà dán chặt vào chiếc la bàn đang bị thô bạo nhét vào chiếc bao da thú bốc mùi mỡ cừu hôi nồng.
Gió sớm từ thung lũng đá thốc qua khe liếp, cuốn theo từng đụn tro xỉ quặng bay là là mặt đất, rải một lớp bụi xám lạnh tanh lên gấu áo chàm rách mép của những người có mặt trong căn phòng chật chội.
Kỷ Vân không hề lùi bước lấy nửa tấc. Anh đứng thẳng tắp, ngón tay trỏ và ngón giữa vẫn giữ chặt thân cây bút lông thỏ vừa chấm dở mực tàu, đốt ngón tay trắng bệch vì sức ép vô hình nhưng cổ tay không hề run rẩy. Ánh mắt anh lạnh lẽo như vỉa đá ngầm chìm sâu dưới lòng sông mùa đông:
"Lệnh công văn cứu nạn số bảy mươi hai do đích thân Huyện quan Ngô Trực ấn ký đã giao quyền cho Ty Địa sư đo đạc thực địa trong kỳ hạn tròn ba mươi ngày đêm. Sơn môn đồng ý cho mượn khí cụ đo đạc có giấy giao kết rành rành lưu tại điển tịch phòng của Huyện nha, đến nay thời hạn ba mươi ngày vẫn còn nguyên ba tuần trăng nữa mới mãn. Các người tự tiện phá cửa xông vào trạm đo công quyền, tước đoạt công cụ của quan lại triều đình đang thi hành công vụ cứu đói, liệu Tống Chấp sự có định đứng ra nhận luôn tội cản trở cứu nạn trước mặt quan án sát phủ thành hay không?"
Gã đệ tử chấp pháp ngửa mặt cười khẩy một tràng dài, thanh âm the thé mang theo linh lực làm rung rinh cả những bó rơm rạ lợp trên mái trạm đo. Bàn tay gã siết chặt quai bao da thú, giật mạnh sợi dây thắt nút:
"Phủ thành ở cách đây ba trăm dặm đường núi hiểm trở, còn Thanh Lộ Tông thì ngự ngay trên đỉnh đầu các ngươi! Đất đai dưới lòng chảo này sinh ra một sợi linh khí thanh khiết hay ngập ngụa nước độc xỉ quặng, hết thảy đều do trận hộ sơn và hồ tích thủy của tông môn định đoạt từng khắc từng giờ. Không có pháp bảo của tiên gia dẫn lối, đám người phàm mắt thịt và lũ địa sư quèn các ngươi lấy cái gì ra mà đo, lấy cái gì ra mà đạc? Dùng mắt trần ngửi phân trâu hay cắm mấy que củi mục xuống bãi lầy rồi ngồi đoán mò? Liệu hồn mà cuốn gói mớ giấy lộn này về huyện trước khi van xả đáy Khe Táng Thủy lại vô tình mở lệch lần nữa!"
Dứt lời, gã đệ tử phất mạnh tay áo xám, quay ngoắt người sải bước ra cửa. Ba tên chấp pháp đi sau hung hãn đá lật mấy chồng cọc gỗ tiêu chuẩn đang xếp ngay ngắn bên hiên. Tiếng đế giày đinh nện huỳnh huỵch trên con đường lát đá dăm lởm chởm xa dần, để lại gian trạm đo ngổn ngang giấy má, bụi bặm cùng mùi khói lưu huỳnh nồng nặc bốc ra từ tà áo tu sĩ còn chưa kịp tan biến.
Người phụ tá buông phịch thân mình xuống chiếc ghế đẩu gãy một nan, hai vai sụp xuống, khóe mắt đỏ hoe, giọng mếu máo như sắp khóc:
"Kỷ sư huynh... Mất la bàn tầm mạch bát quái rồi, chúng ta lấy gì định vị đường đi của mạch ngầm dưới đáy bùn đây? Không có số đo phương vị và độ lệch của kim huyền thiết theo quy chuẩn tiên gia, bản đồ địa bạ nộp lên huyện nha sẽ bị bác ngay từ cửa phòng thư lại vì thiếu căn cứ kỹ thuật. Chấp sự Tống cố tình làm vậy... Lão muốn chặt đứt tay chân chúng ta, ép Ty Địa sư phải đặt bút ký vào biên bản kết luận rằng vùng đất này là tử địa, là bùn chết vô mạch..."
"Ai bảo với cậu địa sư chỉ biết nhìn vào cái kim đồng hồ của tiên môn mới thấy được đất?"
Kỷ Vân lạnh lùng ngắt lời người cấp dưới. Anh chậm rãi đặt cây bút lông xuống rãnh nghiên đá, rút từ trong bọc ngực ra một chiếc khăn vải thô đã giặt đến ngả màu vàng ố, cẩn thận lau sạch vệt mực tàu lem trên mu bàn tay. Đôi mắt anh nhìn qua khung cửa sổ trống hoác, hướng thẳng ra bãi hoang Thạch Nê đang trải dài xám xịt dưới ánh bình minh mờ đục.
Ở nơi đó, lớp váng oxit kim loại màu cánh gián vẫn lấp lánh một cách ma quái trên mặt những vũng nước đọng, nhưng thấp thoáng bên mép những rãnh mương thử nghiệm, những đốm màu xanh non đầu tiên của sự sống đang run rẩy vươn lên đón gió.
Kỷ Vân xoay người nhìn sang Mộc Tầm. Người nông dân trẻ tuổi ấy từ đầu đến cuối vẫn không hề thốt ra một lời giận dữ, chỉ có đôi bàn tay thô ráp, chai sạn vì bùn đất và sẹo gai cào là siết chặt lại bên hông:
"Mộc Tầm, anh có sợ bẩn tay không?"
Khóe miệng Mộc Tầm khẽ nhếch lên, tạo thành một đường cong kín đáo nhưng kiên định:
"Tôi làm vườn thuốc từ năm lên mười, bàn tay này bới giun, lội cống, vét phân trâu mục nhiều hơn bưng chén cơm. Chưa bao giờ sạch cả."
"Tốt." Kỷ Vân dứt khoát xắn cao hai ống tay áo chàm lên tận khuỷu, để lộ cánh tay gầy gò nhưng nổi rõ những đường gân xanh rắn rỏi. "Tiên môn ngỡ rằng tước mất chiếc la bàn rỉ sét kia là bịt được hai mắt của chúng ta. Nhưng nghề địa sư của tiền nhân ba trăm năm trước, cái thuở mà các đạo gia còn chưa đem thứ la bàn bát quái chia độ ấy xuống bán cho quan nha, người xưa đo mạch đất bằng hơi thở của rễ cây, bằng độ ấm của bùn lầy và bằng sức vươn của hạt mầm non. Đi, mang cọc gỗ ra đồng!"
***
Suốt ba tuần lễ tiếp theo, một quang cảnh chưa từng có trong lịch sử trắc đạc của huyện Bình Xuyên đã diễn ra trên khắp cánh đồng Thạch Nê.
Nơi đây hoàn toàn vắng bóng những tu sĩ vận đạo bào phiêu dật, tay nâng la bàn đồng sáng loáng, đứng cao cao trên bờ mương bấm đốt ngón tay rồi phán xét sự sống chết của một dải đất bằng những danh xưng huyền bí. Thay vào đó, từ lúc rạng đông le lói cho đến tận khi màn sương muối ban đêm phủ trắng xóa từng ngọn cỏ, người ta chỉ thấy ba bóng người lầm lũi cắm mặt xuống bùn, lấm lem từ đầu đến chân.
Kỷ Vân không dùng cọc đồng khắc phù triện của đạo môn. Anh cùng Mộc Tầm lặn lội lên những sườn đồi phía tây, đốn hạ những thân cây dẻ gai già cỗi, thớ gỗ đanh lại như sừng. Từng khúc gỗ được chẻ đều, dùng dao rựa vót nhọn một đầu, rồi đem vùi vào đống than trấu đang ủ đỏ rực suốt một đêm để làm cháy xém lớp vỏ ngoài, biến chúng thành thứ cọc tiêu có khả năng chống mối mọt và kháng lại chất chua của nước quặng.
Cứ cách đúng mười trượng theo đường dây gai kéo căng, một chiếc cọc mốc gỗ dẻ lại được dùng vồ gỗ nện sâu ba thước xuống tầng đất cứng. Trên thân cọc, Kỷ Vân dùng lưỡi dao trổ cẩn thận từng vạch chia thấu tấc, quét nhựa cây trám đen để vạch đo không bị phai mờ trước mưa nắng. Toàn bộ dải ruộng rộng ba mẫu trải dài quanh hố thử nghiệm số một và số ba của xóm Giếng Cạn được phân chia thành một mạng lưới ô vuông ngay ngắn, chuẩn xác không sai lệch một phân, trông tựa như một bàn cờ khổng lồ được khắc thẳng vào lòng đất mẹ.
Ở mỗi mắt lưới giao nhau, Kỷ Vân không dùng xẻng đào bừa bãi. Anh nhờ Tạ Hạnh rèn một chiếc ống thông lòng bằng sắt mỏng gắn vào đầu một thân tre đực rỗng ruột, mép vót vát sắc lẹm. Ống tre được đóng ngập sâu năm tấc xuống lòng đất, xoay nhẹ nửa vòng rồi cẩn thận rút thẳng lên.
Mỗi thỏi đất mẫu được đẩy nhẹ nhàng ra chiếc máng gỗ khoét rỗng: tầng mặt dày một tấc là lớp đất mùn pha rác mục bắt đầu có mùi ngai ngái của sự hoai mục lành mạnh; tầng giữa sâu ba tấc là nơi mạng lưới rễ tơ Tức Căn đang đan xen chằng chịt như những mạch máu li ti màu trắng ngà; và tầng sâu nhất năm tấc là tầng đá vôi ngậm độc phèn xỉ quặng xám xịt, nhớp nhúa như mỡ bò thối.
Từng thỏi đất được chia cắt chuẩn xác theo từng tầng, bọc kín vào từng manh lá chuối rừng hơ lửa cho dẻo, rồi dùng mực son đánh số thứ tự tỉ mỉ theo ngày, giờ và tọa độ mắt lưới trước khi xếp vào sọt tre lót rơm khô.
"Nhiệt lượng tầng rễ hôm nay biến chuyển ra sao?" Mộc Tầm quỳ một bên gối trên bờ mương trơn trượt, tay giữ chặt một chiếc ống nghiệm bằng gốm thô không tráng men do Tạ Hạnh nung riêng từ đất sét đáy giếng.
Kỷ Vân cúi rạp người xuống hố đất vừa khoét. Anh cẩn thận cắm một thanh đồng đỏ dài hai thước, trên thân có gắn ba viên sáp ong tròn bằng hạt ngô ở ba nấc đo khác nhau, sâu dần vào lòng đất. Anh ghé sát mắt, nín thở đếm từng nhịp đập nơi cổ tay, quan sát viên sáp ong ở nấc thấp nhất:
"Đất bị ngậm trọc tức kim loại nặng luôn luôn ứ đọng một luồng nhiệt cay âm ỉ, bế tắc không thoát ra được, làm sáp ong tan chảy hoàn toàn chỉ sau chưa đầy ba mươi nhịp thở. Nhưng ở những ô đất này—nơi mạng rễ Tức Căn đã vươn qua được mười ngày—viên sáp chỉ hơi mềm mép sau nửa nén hương cháy. Nhiệt độ đất ở đây mát hơn ngoài bãi đá xỉ trơ trọi tới sáu phân nhiệt. Rễ cây không chỉ hút độc, Mộc Tầm ạ, nó đang thực sự làm dịu cơn sốt rét kinh niên của mảnh đất này."
Nhưng đối với Kỷ Vân, những con số về nhiệt độ và các thỏi bùn trong ống tre vẫn chưa phải là bằng chứng thép có sức thuyết phục nhất. Bằng chứng tối thượng của đất đai phải là mầm sống thực tế mà mắt trần có thể nhìn thấy, tay trần có thể chạm vào.
Dưới sự chỉ dẫn tường tận của bà giáo Bùi Sương, người đã dành cả nửa đời người nghiên cứu tập tính của cây cỏ lòng chảo, Kỷ Vân và Mộc Tầm kiên quyết gạt bỏ những loại linh thảo đỏng đảnh đắt tiền mà các tu sĩ hay dùng để thí nghiệm. Họ chọn hạt cải dại và hạt cỏ mật—hai giống cây kiên cường, hoang dại nhất của vùng thung lũng nghèo khó này. Đây là những loài thực vật nhạy cảm đến mức chỉ cần một giọt nước chua từ Khe Táng Thủy ngấm vào rễ, phiến lá non sẽ lập tức cháy xém và rũ gục trong vòng một buổi chợ.
Trên từng ô bàn cờ đã định vị, đúng mười hai hạt cải dại và hai mươi hạt cỏ mật được gieo xuống lớp đất mặt, phủ một lớp rơm băm mỏng để giữ sương.
Mỗi buổi sớm tinh mơ, khi những giọt sương đêm lạnh buốt còn đọng long lanh trên đầu ngọn cỏ, Kỷ Vân lại quỳ gối trên tấm ván gỗ mỏng đặt ngang luống đất, tay cầm chiếc thước gỗ chia li, cặm cụi đo từng phần mười tấc sinh trưởng của từng mầm cây non nớt.
Dữ liệu thực tế không bao giờ biết nói dối, và nó tàn nhẫn hơn bất kỳ lời phán xét cửa quyền nào.
Ở những ô cọc mốc nằm trơ trọi ngoài tầm với của rễ Tức Căn chừng ba mươi bước chân, hạt cải dại dù nảy mầm nhưng vừa nhú được hai phiến lá mầm mỏng manh đã lập tức bị luồng trọc tức bốc lên từ tầng đá vôi thiêu đốt thành những đốm đen quắt queo, rễ non thối rữa thành một sợi chỉ đen nhớp nhúa.
Thế nhưng, ngay trong phạm vi ba mẫu đất có mạng rễ Tức Căn ken dày bên dưới, một điều kỳ diệu lặng lẽ diễn ra: từng mầm cải dại xanh biếc vươn thẳng lên trời, thân mập mạp, mỗi ngày đêm nhích cao đều đặn hai phân. Khi Kỷ Vân dùng thìa tre bới nhẹ một góc đất, anh nhìn thấy chùm rễ cải trắng muốt đâm sâu, bám chặt lấy lớp mùn ẩm màu nâu sẫm, quấn quýt bên những sợi rễ Tức Căn mà không hề có lấy một vết thâm đen hay dấu hiệu sưng cổ rễ do ngộ độc sun-fua.
Từng milimét vươn cao của mầm cải, từng giọt sáp ong tan chảy theo thời gian, từng thỏi đất phân tầng được Kỷ Vân nắn nót ghi chép bằng thứ mực tàu không phai vào cuốn sổ tay dày cộm bọc da dê thô.
Người phụ tá trẻ tuổi giờ đây không còn nhắc một lời nào đến chiếc la bàn bát quái đã bị cướp mất nữa. Đôi bàn tay thư sinh của cậu đã chằng chịt những vết xước rớm máu vì gai dẻ, lưng áo đẫm mồ hôi muối vì gánh nước tưới và nện vồ đóng cọc, nhưng đôi mắt cậu lại rực sáng lên một niềm tin kỳ lạ mỗi khi đối chiếu những bảng số liệu đo lặp qua từng chu kỳ con nước.
***
Đêm thứ ba mươi kể từ ngày toán đệ tử chấp pháp xông vào cướp đoạt trạm đo.
Gian nhà ngói ba gian ọp ẹp của Ty Địa sư sáng rực dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu thông cắm trên đĩa sành. Gió đêm từ các khe đá dựng đứng rít từng hồi liên hồi qua khe liếp nứa, mang theo cái lạnh thấu xương của đợt gió mùa đông bắc đầu tiên, nhưng bên trong phòng, quanh chiếc bàn gỗ mộc thô ráp, bầu không khí lại đặc quánh và căng thẳng đến nghẹt thở.
Kỷ Vân ngồi bất động trên ghế đẩu, hai hốc mắt trũng sâu, thâm quầng vì thiếu ngủ triền miên suốt ba tuần lễ qua, nhưng ánh nhìn của anh lại sắc lẹm và tỉnh táo lạ thường.
Trước mặt anh, trải rộng trên toàn bộ mặt bàn, là bản đồ trắc đạc cánh đồng Thạch Nê khổ lớn được ghép từ sáu tờ giấy bản đại tự. Bằng những nét mực tàu đen nhánh và mực chu sa đỏ thắm, cả một hệ thống địa chất phức tạp hiện lên rõ mồn một: những đường đồng mức biểu thị độ dốc thoai thoải của tầng ngầm, những vòng tròn đồng tâm vẽ ranh giới bán kính ảnh hưởng của mạng rễ Tức Căn, và hàng chục cột biểu đồ so sánh nhiệt lượng, độ ẩm, nồng độ phèn quặng được ghi chú ngay ngắn bên lề.
Mộc Tầm ngồi đối diện với Kỷ Vân, hai bàn tay đan chặt đặt trên mặt bàn gỗ. Cạnh anh là Mộc An, cô gái nhỏ ngồi co ro trong chiếc áo bông chần mép sờn chỉ, tay ôm khư khư cuốn sổ bìa da mộc ghi chép nhật ký công điểm và nhật ký chăm sóc mương đệm của Hội giữ đất.
Kỷ Vân chậm rãi đặt ngọn bút lông cán trúc xuống chiếc gác bút bằng sành, hít một hơi thật sâu lồng ngực đầy mùi dầu thông cay nồng, rồi ngẩng đầu nhìn thẳng vào hai anh em họ Mộc:
"Toàn bộ số liệu trắc đạc độc lập trong ba mươi ngày đêm đã hoàn tất chu kỳ đối chiếu cuối cùng vào giờ Tý đêm nay. Tôi vừa điểm chỉ và đóng dấu triện tạm thời vào bản báo cáo chính thức của Ty Địa sư."
Mộc An bất giác nín thở, ngực thắt lại, ánh mắt dán chặt vào xấp giấy dày cộm nằm phẳng phiu bên cạnh ngọn đèn. Mộc Tầm vẫn giữ vẻ mặt trầm tĩnh thường ngày, nhưng cơ bắp nơi quai hàm anh khẽ giật giật:
"Báo cáo khẳng định những điều gì, Kỷ sư huynh?"
Kỷ Vân xoay nhẹ tờ giấy kết luận tổng tài về phía hai người. Ngón tay trỏ gầy guộc của anh gõ nhẹ, dứt khoát lên từng dòng chữ Hán chân phương, mực đen còn hơi ngai ngái mùi keo da trâu:
"Thứ nhất: Hệ thống Tức Căn tại hố thử nghiệm số một kết hợp với các rãnh mương đệm rải xỉ vôi đã khử độc hoàn toàn lớp đất mặt sâu đúng một thước tây trên toàn bộ diện tích ba mẫu ruộng số ba Thạch Nê. Hàm lượng cặn quặng sun-fua độc hại và các ion kim loại nặng kết tủa giảm hơn tám mươi lăm phần trăm so với khu vực đối chứng ngoài ranh giới. Độ tơi xốp, khả năng giữ nước ngọt và độ thoáng khí đạt mức trung bình của đất phù sa cổ ven sông. Ba mẫu đất này hoàn toàn đủ tiêu chuẩn kỹ thuật để gieo cấy vụ lúa ngắn ngày và trồng các loại thảo dược nông nghiệp chịu phèn."
Mộc An khẽ reo lên một tiếng nghẹn ngào, hai bàn tay run rẩy bưng lấy miệng, đôi mắt ngân ngấn nước.
Đó là sự công nhận chính thức bằng văn bản pháp lý của một viên chức triều đình—điều mà mười hai hộ dân cùng khổ của xóm Giếng Cạn đã phải đánh đổi bằng những ngày dầm mình trong bùn buốt giá, bằng những trận đòn roi đe dọa, bằng mồ hôi và cả những giọt máu rơi xuống rãnh mương để chứng minh với thế gian rằng đất đai của tổ tiên họ không phải là thứ rác rưởi bỏ đi.
"Nhưng..."
Âm sắc của Kỷ Vân đột ngột chùng xuống. Giọng anh trở nên trầm đục, nghiêm nghị và lạnh lùng như một nhát dao chém vào đá tảng:
"Điều thứ hai mới là điều quyết định vận mệnh của bản báo cáo này, và cũng là điều quyết định tính mạng của tất cả những người đang ngồi ở đây."
Anh lật sang trang thứ hai, chỉ ngón tay vào một đồ thị hình sóng lượn nhấp nhô không đều ở góc dưới bản đồ:
"Dòng linh khí sinh ra trong vùng đất này cực kỳ yếu ớt, phân tán và hoàn toàn không có tâm mạch hội tụ. Nó không phải là một dòng khoáng mạch ngầm tĩnh tụ vĩnh cửu như các mỏ linh thạch của tiên gia, mà là một dạng linh cơ sinh học tán mạn, gắn chặt một cách mong manh vào độ ẩm của mùn và sự hô hấp của hệ rễ Tức Căn. Mưa ẩm thì khí tăng nhẹ đôi chút, nắng gắt hoặc khô hạn thì khí lập tức co rút lặn sâu vào lòng đất. Cường độ đo đạc thực tế của nó chưa bằng một phần mười ngưỡng thấp nhất của một linh mạch hạ phẩm theo quy chuẩn phân hạng địa tầng của Ty Địa sư phủ thành."
Kỷ Vân ngước mắt lên, từng lời thốt ra rành rọt, nặng trịch như chì:
"Kết luận kỹ thuật tối hậu của tôi: Ba mẫu đất Thạch Nê là đất canh tác nông nghiệp hồi phục, tuyệt đối KHÔNG THỂ coi là mỏ linh mạch thương mại. Nó hoàn toàn vô giá trị đối với việc cắm trận bàn trích xuất linh khí quy mô lớn, không thể khai thác quặng linh thạch, và dứt khoát không thuộc phạm vi điều chỉnh hay quyền tài phán của các bản khế ước khai thác địa mạch cổ xưa của đạo môn."
Mộc An sững sờ, nụ cười vừa hé nở trên môi vụt tắt ngấm. Mộc Tầm khẽ nhắm mắt lại trong giây lát, thở ra một hơi dài dằng dặc. Là người hiểu rõ nhất bản chất của giống cây Tức Căn, anh biết Kỷ Vân đã nhìn thấu tận gốc rễ của vấn đề. Đó là một sự thật trần trụi, không tô vẽ, nhưng cũng tước đi chiếc áo choàng màu nhiệm lấp lánh mà bấy lâu nay người ta thêu dệt quanh mảnh đất này.
Chưa dừng lại ở đó, ngón tay Kỷ Vân lật mạnh sang trang phụ lục kỹ thuật cuối cùng, nơi có một khung viền đỏ chót đóng dấu mực son cảnh báo nguy hiểm:
"Tôi còn đính kèm một cảnh báo kỹ thuật bắt buộc trình lên quan phủ: Mạng rễ non của Tức Căn là một thực thể sống nhạy cảm cao độ. Nếu phía thượng nguồn bất ngờ xả lũ trọc tức với nồng độ đậm đặc hoặc lưu lượng vượt ngưỡng xả đệm thông thường, toàn bộ ba mẫu rễ non này sẽ bị cháy hoại tử hàng loạt trong vòng sáu canh giờ. Độc chất tích tụ bấy lâu sẽ trào ngược lên bề mặt, biến vùng đất vừa hồi sinh thành một bãi tha ma kịch độc vĩnh viễn không bao giờ có thể cứu vãn được nữa."
Căn phòng lại chìm vào sự im lặng tuyệt đối. Chỉ còn tiếng bấc đèn nổ tí tách làm ngọn lửa chao qua chao lại, hắt bóng ba người lên vách nứa thành những hình thù méo mó, khổng lồ.
"Kỷ sư huynh," Mộc An khẽ cất tiếng, giọng run run đầy vẻ âu lo, "kết luận này... một khi đưa ra công chúng, sẽ khiến cả hai phía nổi trận lôi đình."
"Tôi biết chứ," Kỷ Vân thản nhiên đáp, ánh mắt nhìn thẳng vào ngọn lửa đèn dầu. "Bản báo cáo này không được viết ra để làm vừa lòng bất kỳ ai. Sự thật của đất đai vốn dĩ chưa bao giờ biết nịnh hót kẻ quyền thế, và nó cũng chẳng bao giờ biết bố thí cho những ảo tưởng hão huyền."
***
Đúng như dự cảm đầy lo âu của Mộc An, khi bản tóm tắt kết luận kỹ thuật của Ty Địa sư được niêm yết công khai trên tấm bảng gỗ lim trước cửa đình thôn Thạch Nê vào sáng sớm hôm sau, một cơn chấn động dữ dội lập tức bùng nổ, quét sạch sự bình yên vốn có của cả hai bờ thung lũng.
Trên lầu vọng của trạm gác Bến Tro, tiếng gốm sứ vỡ vụn vang lên chát chúa.
Chấp sự Tống Khuê đập nát chén trà ngọc bích xuống sàn gạch nung khi người phụ tá của Ty Địa sư run rẩy dâng bản sao công văn lên trước án thư. Những mảnh gốm vỡ bắn tung tóe, găm cả vào vạt áo bào màu nguyệt bạch của vị tu sĩ Trúc Cơ trung kỳ.
"Đất canh tác nông nghiệp hồi phục? Không thể coi là linh mạch thương mại?"
Gương mặt gầy gò, xám ngoét của Tống Khuê giật giật từng hồi dữ dội, chòm râu dê rung lên bần bật vì cơn thịnh nộ lôi đình. Linh áp của cảnh giới Trúc Cơ vô thức tràn ra, ép nát bét chiếc chén trà thành bột mịn dưới mũi hài thêu.
Mọi toan tính thâm sâu của lão suốt ba tháng ròng rã qua đều được xây dựng trên một tiền đề duy nhất: quy chụp mảnh đất quanh Giếng Cạn và cánh đồng Thạch Nê là một "chi nhánh linh mạch non mới phát sinh".
Dựa vào tiền đề đó, Thanh Lộ Tông có thể danh chính ngôn thuận lật lại bản *Khế ước Khai thác Địa Mạch* ngàn năm ký từ thời lập quốc, viện dẫn quyền ưu tiên tuyệt đối của tiên môn đối với mọi tài nguyên linh khí để cưỡng đoạt toàn bộ dải đất mà Huyện nha Bình Xuyên không có tư cách can thiệp theo Phủ quy Địa Mạch. Sau đó, lão sẽ cho cắm ba mươi sáu cọc sắt trấn trạch, dựng trận bàn Hấp Khí loại lớn để cưỡng bức rút cạn tám phần mười tinh hoa của mảnh đất, dẫn ngược lên đỉnh núi để gia cố cho hộ sơn đại trận đang rạn nứt từng ngày.
Nhưng bản báo cáo chết tiệt của Kỷ Vân đã giáng một đòn chí mạng, đánh vỡ tan tành cái cớ pháp lý hoàn hảo ấy!
Nó vạch trần một cách tàn nhẫn rằng nơi đó chẳng có mỏ linh thạch nào cả, chỉ có bùn đất ẩm và rễ cây hút độc. Nếu cố tình cưỡng chiếm một mảnh đất nông nghiệp thuần túy đã được triều đình cấp phép khai hoang cứu nạn, hành vi của Thanh Lộ Tông sẽ biến thành tội cướp đoạt đất canh tác dân sự—một điều cấm kỵ mà ngay cả các trưởng lão trên núi cũng không dám công khai gánh vác trước sự dòm ngó của triều đình trung ương.
"Một tên Luyện Khí tầng tư mạt hạng, một con sâu cái kiến ăn lương huyện nha mà dám dùng mấy thanh cọc gỗ mục với mớ mầm cỏ dại để tước đoạt quyền tài phán của Thanh Lộ Tông ta sao?" Tống Khuê nghiến răng kèn kẹt, tay áo phất mạnh một cái xé toạc bản sao công văn thành trăm mảnh bướm bay lả tả. "Kỷ Vân, ngươi tưởng cái mảnh da hổ quan nha Bình Xuyên mà ngươi đang khoác trên mình đủ dày để che được cái đầu lâu của ngươi trước lưỡi kiếm của sơn môn hay sao?"
Thế nhưng, sự đời trớ trêu và cay đắng hơn vạn phần những gì người ta có thể tưởng tượng.
Nếu như trên đỉnh núi cao, tiên môn điên cuồng vì mất đi một miếng mồi béo bở, thì ngay dưới đáy lòng chảo Hạ Khê, bản báo cáo hoàn toàn khách quan và chân thực ấy cũng không hề nhận được những tràng pháo tay hoan nghênh từ chính những người mà nó đang liều mạng che chở.
Đến giữa trưa, một đám đông gồm hơn hai mươi nông hộ của các xóm lân cận, do Trịnh Bách dẫn đầu, đã hằm hằm kéo đến vây kín ngõ vào trạm đo của Kỷ Vân.
Khuôn mặt sạm đen của Trịnh Bách đỏ gay gắt vì sự phẫn nộ xen lẫn nỗi thất vọng cùng cực. Đôi bàn tay ông ta—vốn chằng chịt những vết sẹo mới kéo da non do những ngày đập đá ngăn mương—vung vẩy một mảnh giấy bản chép vội kết luận của trạm đo. Phía sau lưng ông ta, những chủ hộ có ruộng đất giáp ranh kênh Thạch Nê cũng xôn xao gào thét, nét mặt ai nấy đều hằn sâu sự tuyệt vọng uất ức:
"Địa sư đại nhân! Mau ra đây giải thích cho bàn dân thiên hạ rõ ràng! Cớ làm sao ngài lại nỡ hạ bút viết ra những lời tuyệt tình như thế này? Cớ làm sao ngài lại dám bảo đất này không phải là linh mạch?"
Trịnh Bách xộc thẳng qua bậu cửa, gậy tre trong tay nện mạnh xuống nền đất nện, lồng ngực phập phồng dữ dội:
"Ngài ngồi trong nhà mát ăn lương triều đình, ngài có biết cả cái xóm Giếng Cạn khốn khổ này, và cả mấy xóm cùng đinh xung quanh, người ta trông chờ vào cái chữ 'linh mạch' chết tiệt ấy đến thắt ruột thắt gan thế nào không? Suốt ba tháng nay, người ta đồn ầm lên rằng đất Hạ Khê sắp đổi vận, đất chết sắp hóa thành linh điền của thần tiên! Đỗ Chưởng quỹ bên Vạn Thạch Hành tuần trước đã đích thân đánh tiếng, chỉ cần Huyện nha đóng dấu chứng nhận đây là linh điền hạng ba, họ sẵn sàng cho mỗi hộ dân có ruộng thế chấp để vay nóng ba mươi thúng gạo trắng và năm lượng bạc ròng để trang trải qua mùa giáp hạt này!"
Một lão nông lưng còng rạp phía sau chen lấn bước lên, hai khóe mắt rỉ ra thứ nước mắt đùng đục của kẻ cùng đường:
"Đúng đấy đại nhân ơi! Trăm lạy đại nhân ngàn lạy đại nhân! Nếu báo cáo ghi rõ đây là linh điền, đất Thạch Nê chúng tôi dù có bán rẻ mạt cho thương lái ngoài huyện cũng được mười lượng một sào, đủ cho cả nhà già trẻ lớn bé dắt díu nhau vượt núi chạy loạn sang mạn nam tìm đường sống! Giờ ngài phán một câu xanh rờn trên giấy: 'chỉ là đất nông nghiệp xốp ẩm, linh khí yếu ớt biến thiên', thế là đất đai chúng tôi lại hoàn về bãi bùn thối! Vạn Thạch Hành nó vừa nghe tin đã lập tức ép giá xuống còn ba cắc bạc vụn một sào! Bao nhiêu mồ hôi nước mắt chúng tôi đổ xuống lòng mương, bao nhiêu hy vọng đổi đời của cả dòng họ thế là tan thành mây khói hết rồi sao đại nhân?"
Tiếng than khóc, tiếng nguyền rủa, tiếng chì chiết bắt đầu dâng lên như sóng cồn trước hiên trạm đo.
Con người ta khi bị cơn đói hành hạ đến kiệt cùng thường không còn đủ tỉnh táo để nhìn thấy cạm bẫy nằm sau miếng mồi. Họ bấu víu vào bất kỳ ảo tưởng lấp lánh nào có thể đổi ra gạo, ra bạc ngay tức khắc, dẫu cho cái ảo tưởng mang tên "linh mạch tiên môn" ấy chính là thứ đã từng thiêu rụi ruộng vườn, biến cha ông họ thành phu quặng không lối thoát suốt bao nhiêu năm ròng rã.
Kỷ Vân vẫn ngồi yên lặng bên bàn gỗ. Anh không chớp mắt lấy một lần, đôi mắt bình thản đón nhận từng ánh nhìn hằn học, từng lời thóa mạ cay độc đang trút xuống đầu mình.
Mộc Tầm bước nhanh lên phía trước, toan cất giọng giải thích để phân tán đám đông đang kích động, nhưng bàn tay gầy của Kỷ Vân đã nhẹ nhàng vỗ lên cánh tay anh, ra hiệu dừng lại.
Viên địa sư chậm rãi đứng dậy. Dáng người anh thanh mảnh trong bộ quan phục bằng vải thô màu chàm đã sờn rách ở gấu áo vì cọ xát với lau sậy ngoài đồng, nhưng sống lưng anh thẳng tắp, vững chãi như những chiếc cọc mốc gỗ dẻ cắm sâu ba thước dưới tầng đất Thạch Nê.
"Các người muốn tôi viết vào bản báo cáo địa bạ rằng dưới ba mẫu đất Thạch Nê là một mỏ linh mạch sung mãn, màu mỡ, đúng không?"
Kỷ Vân cất tiếng. Giọng anh không quá lớn, nhưng thanh âm đanh thép, lạnh lùng, mang theo uy lực của một người nắm giữ tri thức chân thực, vang vọng khắp gian nhà ngói, át đi toàn bộ những tiếng xôn xao bên ngoài.
Đám đông bỗng nhiên khựng lại trước cái nhìn sắc như dao cạo của anh. Trịnh Bách ngập ngừng, bàn tay nắm cán gậy tre hơi lỏng ra:
"Thì... ngài bớt một tấc, thêm một phân trên trang giấy... Dù sao rễ cây nó cũng phát ra ánh sáng màu lam, nước múc dưới mương lên cũng ngọt mát khác thường... Ngài chỉ việc phóng bút hạ xuống bốn chữ 'Linh Điền Sơ Cấp' thì tổn hại đến ai đâu? Người nghèo chúng tôi nhờ mấy chữ ấy mà có được bát cơm lót dạ qua ngày..."
"Sẽ chết người! Rất nhiều người sẽ phải bỏ mạng vì mấy chữ ấy!"
Kỷ Vân đập mạnh bàn tay xuống mặt bàn gỗ. Tiếng đập dứt khoát, vang dội làm chiếc nghiên đá nảy bần bật, chấm dứt hoàn toàn mọi tiếng xì xào:
"Các người ngây thơ nghĩ rằng chỉ cần viết một chữ 'linh' lên giấy là xong chuyện sao? Các người có biết cái giá phải trả cho một chữ 'linh' giả dối ấy đắt đến mức nào không?"
Anh bước thẳng ra bậu cửa, vung tay chỉ thẳng về phía những đỉnh núi đá xám xịt của Thanh Lộ Tông:
"Nếu ngọn bút này hạ xuống xác nhận nơi đây là mỏ linh mạch, theo điển chế của triều đình và luật lệ Địa Mạch của phủ thành, mảnh đất này lập tức bị tước đoạt toàn bộ quyền canh tác dân sự để chuyển giao thẳng cho Tiên môn Sự vụ ty tiếp quản! Ngày mai, Thanh Lộ Tông sẽ không đem một hạt gạo nào xuống phát chẩn cho các người đâu! Tống Khuê sẽ dẫn theo hàng trăm chấp pháp mang trận bàn thu khí loại lớn xuống đây, đóng cọc sắt sâu mười trượng, dùng bí pháp tàn độc rút sạch từng sợi linh cơ non nớt của Tức Căn để nạp vào hộ sơn trận trên núi!"
Anh quay phắt sang nhìn trừng trừng vào mặt Trịnh Bách, ánh mắt rực lên ngọn lửa giận dữ:
"Và kết quả sẽ là gì? Toàn bộ mạng rễ non Tức Căn sẽ nổ tung dưới lòng đất! Luồng trọc tức sun-fua bị dồn nén bấy lâu sẽ trào ngược lên bề mặt như một cái lò hun độc khổng lồ! Ba mẫu ruộng vừa hồi sinh sẽ vĩnh viễn biến thành một bãi đá xỉ đen kịt, chết chóc như ba mươi mẫu dược viên từng bị thiêu rụi năm năm về trước! Lúc bấy giờ, các người lấy cái gì để cấy lúa? Lấy cái gì cho Đào Nguyệt trồng cây thuốc cứu lấy lá phổi đang ho ra máu của Lê Cẩn và con dâu anh? Vạn Thạch Hành cho các người vay năm lượng bạc, nhưng khi đất đã biến thành tử địa không thể hoàn trả, họ sẽ trói từng đứa con, từng người vợ của các người đem đi gán nợ làm phu đập đá trong lò quặng cho đến chết!"
Từng lời, từng chữ của Kỷ Vân giáng xuống như những nhát búa tạ nện thẳng vào tâm can những người nông dân đang u mê vì túng quẫn. Đám đông bất giác lùi lại nửa bước. Một vài người lớn tuổi bắt đầu cúi gằm mặt xuống đất, bờ vai run rẩy.
Kỷ Vân hít sâu một hơi gió lạnh, giọng anh chùng xuống, nhưng từng âm tiết vẫn nặng trịch như ngàn cân:
"Tôi là một địa sư do triều đình đào tạo. Cả đời tôi học nghề là để nhìn đất, nhìn đá, nhìn dòng nước ngầm chảy trong bóng tối. Tiền nhân dạy tôi rằng đất đai không có mắt, nhưng đất đai có ký ức! Nó nhớ từng giọt mồ hôi mặn chát của người cày cấy, và nó cũng nhớ từng nhát cuốc tham lam của những kẻ bòn rút tài nguyên! Tôi không thể bẻ cong ngòi bút để lấy lòng những kẻ quyền thế như Tống Khuê, và tôi càng không bao giờ vẽ ra một mỏ vàng dối trá trên trang giấy để xoa dịu cơn đói tức thời của các người!"
Anh nhìn thẳng vào mắt từng người nông dân đang đứng chôn chân trước cửa:
"Bởi vì một kết luận dối trá trên trang giấy của địa sư ngày hôm nay có thể giúp các người đổi lấy vài thúng gạo vay nợ, nhưng ngày mai nó sẽ giết chết vụ mùa thật sự! Đất Thạch Nê chưa bao giờ là mỏ ngọc để các người đem bán tháo lấy tiền chạy loạn. Nó là đất sống! Nó sống lại là để người nghèo có hạt lúa bỏ vào nồi, để người bệnh có lá thuốc cứu mạng! Ai muốn bán linh hồn cho ảo tưởng linh mạch, cứ việc bước lên núi mà quỳ lạy dưới chân Tống Khuê! Còn ai muốn có một mùa gặt thật sự bằng chính đôi tay của mình, hãy cầm lấy cây cuốc mà ra đồng giữ lấy từng tấc bùn ẩm!"
Không gian trước hiên trạm đo hoàn toàn tĩnh lặng. Gió núi rít qua rặng tre khô bên ngõ nghe xao xác như tiếng thở dài của đất mẹ.
Trịnh Bách đứng chết trân tại chỗ, bàn tay cầm tờ giấy bản run lên bần bật rồi từ từ hạ xuống. Những người nông dân phía sau đưa mắt nhìn nhau trong bàng hoàng; sự giận dữ mù quáng ban nãy đã hoàn toàn tan biến, nhường chỗ cho nỗi sợ hãi tột cùng khi nhận ra họ vừa suýt tự tay đẩy bản thân vào miệng cọp.
Không một ai dám thốt thêm một lời nào nữa. Từng người một lặng lẽ cúi đầu, xoay gót chân nặng nề bước thụt lùi ra ngõ, rồi lầm lũi tản mác về phía cánh đồng Thạch Nê đang xám xịt trong gió lạnh.
Mộc Tầm bước tới bên cạnh Kỷ Vân. Anh vươn bàn tay thô ráp, đầy vết chai sạn vỗ mạnh lên bờ vai gầy guộc của người địa sư trẻ tuổi. Hai người đàn ông không nói với nhau một câu nào, nhưng trong ánh mắt họ chạm nhau có sự thấu hiểu sâu sắc và kiên định của những kẻ cùng chung một đức tin: rằng sự thật trần trụi của đất đai là thành trì duy nhất có thể bảo vệ mạng sống của con người qua cơn bĩ cực.
***
Hai ngày sau, tại sảnh đường Điền bạ Ty thuộc Huyện nha Bình Xuyên.
Nắng trưa hanh hao chiếu xiên qua khung cửa sổ sổ hoa chạm trổ hình hoa cúc của sảnh đường, rọi thẳng lên chiếc bàn làm việc rộng lớn bằng gỗ mun đen bóng của Huyện quan Ngô Trực.
Bản báo cáo khảo sát thực địa dày hơn bốn mươi trang của Ty Địa sư được đặt ngay ngắn ở chính giữa mặt bàn. Từng trang giấy bản phẳng phiu, chữ viết chân phương bằng mực tàu đen nhánh, kèm theo bản đồ phân vùng chi tiết ba mẫu đất Thạch Nê được vẽ tỉ mỉ đến từng cọc mốc gỗ dẻ. Ở trang cuối cùng, vết triện son vuông vức của Ty Địa sư đè ngay ngắn lên chữ ký sắc sảo, dứt khoát của Kỷ Vân.
Đặt sát cạnh tập hồ sơ dầy cộp là ba chiếc hũ gốm nhỏ tráng men da lươn thô ráp do đích thân Tạ Hạnh nung trong lò than củi. Miệng hũ được niêm phong cẩn mật bằng sáp ong đỏ tươi có đóng dấu mộc trắc đạc của huyện. Bên trong ba chiếc hũ ấy là ba mẫu đất đại diện cho ba tầng địa chất Thạch Nê: đất mặt tơi xốp ngậm mùn nâu, đất tầng rễ đan xen những sợi rễ tơ Tức Căn mang ánh lam nhạt mờ ảo, và đất tầng sâu năm tấc đã được gạn lọc sạch phèn quặng.
Thư lại Lưu Tố đứng nghiêm cẩn bên mép bàn làm việc, hai tay chắp trước bụng, tà áo chàm phẳng phiu không một nếp nhăn, ánh mắt sắc sảo dõi theo từng cử chỉ của vị quan huyện.
Ngô Trực chầm chậm lật từng trang báo cáo. Khuôn mặt tròn trịa, hằn sâu những nếp nhăn của một vị quan đã ngoài ngũ tuần lúc thì nhíu chặt đôi mày rậm rạp, lúc lại giãn ra đầy vẻ suy tư. Ông ta với tay mở nắp chiếc hũ gốm thứ hai, đưa sát lên mũi, nhắm mắt lại và hít một hơi thật sâu.
Mùi đất ẩm. Mùi mục ngấu ngọt lành, thanh khiết của rễ cây và cỏ dại sau cơn mưa rào—thứ mùi hương của sự sống mà đã suốt ba năm nay ông ta chưa từng ngửi thấy trong bất kỳ mẫu đất nào được đệ trình lên từ lòng chảo Hạ Khê đầy độc hại.
"Kỷ Vân viết bản báo cáo này... thật sự là không chừa cho Thanh Lộ Tông lấy một chút thể diện nào," Ngô Trực lẩm bẩm trong cổ họng, giọng trầm đục không lộ rõ là đang khen ngợi hay quở trách.
Lưu Tố khẽ mỉm cười, giọng bà bình thản như mặt nước hồ mùa thu:
"Bẩm Huyện quan, Kỷ Địa sư không chừa thể diện cho tông môn, nhưng đổi lại, cậu ấy đã giữ lại trọn vẹn quyền tài phán sinh tử cho Huyện nha Bình Xuyên chúng ta."
Ngô Trực ngước mắt lên nhìn người nữ thư lại dạn dày kinh nghiệm chốn quan trường:
"Bà nói rõ hơn xem nào."
"Nếu Kỷ Vân bẻ cong ngòi bút mà kết luận vùng đất ấy phát sinh linh mạch, dẫu chỉ là hạ phẩm mạt lưu yếu ớt nhất, thì tập hồ sơ này sáng nay đã không nằm trên bàn của đại nhân. Nó sẽ bị chuyển thẳng lên Tiên môn Sự vụ ty và Chấp sự phòng của Tống Khuê theo điển chế ưu tiên tài nguyên tu chân. Huyện nha chúng ta sẽ hoàn toàn mất quyền can thiệp, mất trắng nguồn thuế ruộng của ba mẫu đất cứu đói, và quan trọng hơn cả..." Lưu Tố hơi nghiêng mình về phía trước, hạ thấp giọng xuống mức vừa đủ nghe: "...chúng ta sẽ bị trói chặt vào vị thế kẻ đồng lõa khi thảm họa vỡ cống xả đáy Khe Táng Thủy xảy ra như cảnh báo khẩn cấp ở trang ba mươi hai."
Ngón tay trỏ của Ngô Trực dừng lại đúng trang ba mươi hai của bản báo cáo—nơi Kỷ Vân dùng mực son khoanh tròn dòng cảnh báo về nguy cơ hoại tử hàng loạt của mạng rễ non nếu hồ tích thủy phía trên thượng nguồn bất thần xả lũ trọc tức.
"Ngược lại, một khi đã xác định đây là đất canh tác nông nghiệp hồi phục," Lưu Tố tiếp tục, từng lời rành rọt đanh thép, "thì theo *Khâm định Điền trạch Luật lệ* của bản triều, toàn bộ quyền quản hạt, phân chia và bảo hộ canh tác đều nằm trọn vẹn trong tay Huyện nha. Tống Khuê không có bất kỳ tư cách pháp lý nào để mang khế ước mỏ cũ ra cưỡng chiếm. Đỗ Kính bên Vạn Thạch Hành không thể vin vào danh nghĩa linh điền để ép giá siết nợ trái luật pháp. Và quan trọng nhất là mười hai hộ dân cùng khổ của Hội giữ đất Hạ Khê... họ sẽ có một chỗ dựa pháp lý vững như bàn thạch để tiến hành gieo cấy vụ lúa cứu nạn đầu tiên."
Ngô Trực đứng dậy khỏi chiếc ghế bọc da cừu. Hai tay chắp sau lưng, ông ta bước chậm rãi ra phía hàng hiên rợp bóng mát của sảnh đường.
Từ bậc thềm đá của Huyện nha nhìn về phương nam, những dãy núi đá vôi xám xịt bao bọc lấy lòng chảo Hạ Khê đang chìm khuất trong một màn sương mờ mờ ảo ảo. Trên đỉnh núi Thanh Lộ sừng sững, những đám mây đen nặng trĩu hơi nước của mùa bão phương bắc đang bắt đầu vần vũ tích tụ, báo hiệu những đợt giông tố dữ dội sắp sửa đổ ập xuống thung lũng đá cằn cỗi.
Viên quan huyện đứng im lặng rất lâu, lắng nghe tiếng gió rít qua những tán cây cổ thụ trong sân nha môn. Cuối cùng, ông ta dứt khoát quay người bước lại bàn làm việc, cầm lấy cây bút lông cán trúc chấm đẫm vào nghiên mực chu sa đỏ chói.
Một nét phê sắc sảo, dứt khoát hạ xuống góc trên cùng của bản báo cáo địa bạ:
*“Chuẩn y toàn bộ kết luận kỹ thuật của Ty Địa sư. Ban hành công văn khẩn hỏa tốc: Giữ nguyên hiện trạng đất canh tác Thạch Nê; nghiêm cấm triệt để mọi hành vi đặt trận pháp cưỡng bức trích xuất địa khí; lệnh cho Hội giữ đất Hạ Khê lập tức chuẩn bị gieo cấy vụ mùa thực nghiệm dưới sự giám sát an toàn của quan nha.”*
Ngô Trực đặt mạnh cây bút lông xuống giá, ngẩng đầu nhìn Lưu Tố, ánh mắt tròn trịa thường ngày giờ đây lóe lên sự sắc sảo của một viên quan cai trị dạn dày phong ba:
"Lưu thư lại, lập tức truyền lệnh chuẩn bị kiệu quan và đội trượng dịch mang đầy đủ đồ nghi trượng. Sáng sớm mai, đích thân ta sẽ xuống lòng chảo Hạ Khê thị sát thực địa cánh đồng Thạch Nê."
Bà Lưu Tố khẽ cúi đầu, hai tay bưng lấy văn bản vừa phê chuẩn:
"Tuân mệnh đại nhân."
***
Sáng sớm ngày hôm sau tại lòng chảo Hạ Khê.
Màn sương mù ẩm ướt, mặn chát của vùng thung lũng đá vẫn còn quấn chặt lấy những triền đồi cằn cỗi và cánh đồng Thạch Nê vừa được cắm mốc tiêu phẳng phiu như bàn cờ.
Bên cạnh miệng Giếng Cạn, Mộc Tầm cùng Lê Cẩn đang lom khom cúi mình kiểm tra từng khay đất ươm mạ non bằng sành. Những mầm lúa giống ngắn ngày được ngâm ủ kỹ lưỡng đang nhú lên những mũi chông trắng muốt, chuẩn bị cho buổi họp bàn phương án xuống giống đồng loạt cùng với Phạm Nghi và bà giáo Bùi Sương vào đầu giờ Thìn.
Bỗng nhiên, từ phía con đường mòn khúc khuỷu dẫn từ trạm dịch Bến Tro đâm thẳng vào lòng chảo, một âm thanh kim khí dồn dập, vang rền phá tan sự tĩnh mịch ngàn đời của thung lũng đá.
*Keng! Keng! Keng!*
Tiếng phèng la mở đường bằng đồng thau gõ vang từng hồi dứt khoát, dội vào các vách đá hoa cương tạo nên những chuỗi âm vang trầm hùng. Theo sau đó là tiếng móng ngựa bọc sắt nện dồn dập, nặng nề trên lớp đá dăm lạo xạo.
Mộc Tầm lập tức thẳng người dậy. Bàn tay còn dính đầy bùn đất ươm mạ đưa lên che ngang trán, đôi mắt anh nheo lại nhìn ngược lên triền dốc đá mờ sương.
Dưới màn sương sớm bảng lảng đang từ từ tan biến dưới ánh bình minh, lá cờ thêu ba chữ lớn *“Bình Xuyên Huyện”* màu đỏ thẫm viền tua rua vàng bay phần phật trong gió núi buốt giá, dẫn đầu một đoàn nha sai trang nghiêm mang theo côn trượng, lọng xanh và tráp đồng công văn đang rầm rộ tiến thẳng vào lòng chảo.