Mùa Vụ Trên Mạng Non
Những búp mạ non màu xanh đọt chuối đồng loạt xé toạc lớp bùn ẩm Thạch Nê vươn lên đón nắng mai, phập phồng thở theo nhịp ẩm của mạng rễ ngầm vừa kết nối.
Dưới tầng đất sâu hơn bốn thước, nơi bóng tối và hơi lạnh đá vôi bao phủ quanh năm, một cuộc giao hòa thầm lặng đã diễn ra suốt đêm qua mà mắt thường không thể thấy. Rễ nhánh của cây mẹ dưới đáy Giếng Cạn—sau nhiều ngày bền bỉ trườn qua kẽ nứt địa tầng vừa được Lê Cẩn cùng tổ thợ nạo vét, chêm đá chống sụt—đã chạm tới chóp rễ tơ đầu tiên của cụm cây con duy nhất đang cắm rễ tại hố số một ngoài đồng Thạch Nê.
Khoảnh khắc hai đầu rễ chạm nhau không có sấm sét hay dị tượng long trời lở đất của các bảo vật tiên gia, chỉ có một luồng sáng lam mờ nhạt như lân tinh khẽ lóe lên trong kẽ đá ẩm. Những tế bào mô xơ co bóp nhẹ, lớp dịch nhựa mang vị chát đặc trưng của đất mùn trao đổi qua lại giữa hai thân thể vốn cùng một nguồn gốc. Tiếp đó, từ điểm giao thoa ấy, hàng trăm nhánh rễ phụ mảnh như sợi chỉ bắt đầu đâm tủa sang các hố đất lân cận dọc theo triền mương số hai và số ba. Chúng luồn lách qua lớp xỉ quặng đã được làm tơi xốp, bám chặt vào các khối đất mùn đệm pha tro trấu ngâm bồ hòn, đan kết tầng tầng lớp lớp.
Một mạng lưới lưu chuyển linh khí non đầu tiên dài gần nửa dặm ngầm dưới lòng đất Hạ Khê chính thức thành hình. Nó không dồi dào, cuồn cuộn như những dòng linh mạch ngàn năm mà các tông môn chiếm cứ, mà mỏng manh, ngập ngừng trôi như mạch máu của một hài nhi vừa lọt lòng, tuần hoàn nhịp thở ẩm ướt giữa lòng giếng và bốn thửa ruộng thử nghiệm.
Chính luồng sinh cơ yếu ớt ấy đã đánh thức hàng vạn hạt thóc giống ngắn ngày vùi trong bùn. Chỉ sau một đêm thấm đẫm thứ nước ngầm đã được Tức Căn lọc bớt độc tính, những mầm thóc nứt nanh đội bùn nhú lên, biến dải đất xám ngoét cằn cỗi của Thạch Nê thành một tấm thảm xanh biếc lạ lùng giữa thung lũng đá chết.
Thế nhưng, sắc xanh ấy chưa kịp mang lại sự thanh thản thì đã kéo theo một cơn sóng gió dữ dội từ mặt đất.
"Mạ lên rồi! Trời phật ơi, đất đá Thạch Nê mọc được lúa thật rồi!"
Tiếng hò hét thất thanh xé toạc màn sương sớm còn vương trên ngọn cỏ gai. Ban đầu chỉ là vài tiếng gọi nhau đứt quãng của mấy người đi nhặt củi ven đồi trọc, nhưng chỉ sau nửa buổi sáng, tin tức đã lan truyền như lửa bén qua đụn rơm khô giữa mùa gió chướng. Dọc theo con đường mòn dẫn từ Chợ Bến Tro và dốc Đường Nam, bóng người lũ lượt kéo về, dẫm nát cỏ dại, bụi đất cuộn lên mù mịt dưới gót chân trần nứt nẻ.
Đó là hàng chục hộ dân từng bỏ hoang nhà cửa, gồng gánh chạy trốn khỏi Hạ Khê từ ba năm trước khi linh mạch khô cạn, nay nghe ngóng tin tức bèn hớt hải quay về; đó là những gia đình còn bám trụ ở các xóm lân cận nhưng ruộng đất đã biến thành bãi xỉ quặng trơ khấc, nứt toác như mai rùa. Họ mang theo cuốc xẻng sứt mẻ, quang gánh rách nát, tay bồng bế con dại đói lả quấn trong những manh bao tải gai, mắt đỏ ngầu vì thiếu ngủ, vì bụi đá và vì nỗi cùng quẫn kéo dài qua bao mùa giáp hạt.
Đám đông tràn qua bờ mương dẫn nước, giày xéo lên lớp cỏ chỉ vừa mới bén rễ ven bờ, ùa vào con ngõ đất dẫn tới căn lán tạm của Hội giữ đất Hạ Khê dựng bên cạnh vườn thuốc Mộc gia. Tiếng bước chân thình thịch dộng xuống mặt đất cằn, tiếng thở dốc hôi hám của những lồng ngực lép kẹp, tiếng trẻ con khóc ngằn ngặt vì khát và tiếng người lớn gào thét tạo thành một mớ âm thanh hỗn độn, đinh tai nhức óc.
"Bác Nghi đâu! Mộc Tầm đâu rồi! Cho chúng tôi vào!"
"Nhà tôi có sáu sào ruộng ngay cạnh thửa số một của Thạch Nê! Mau đào rãnh đưa rễ cây sang cứu ruộng nhà tôi với!"
"Đúng đấy! Nước giếng là của chung cả sáu xóm! Cây mọc từ giếng làng thì ruộng của ai cũng phải được cứu! Ruộng nhà thằng Trịnh Bách cày cấy được thì ruộng nhà tôi cũng phải có mạ xanh! Đều là dân Hạ Khê chết dở như nhau, cớ sao bên được sống bên phải chết rục?"
Một người đàn ông trung niên gầy trơ xương sườn, chiếc áo cộc rách tả tơi để lộ làn da sần sùi những nốt ghẻ lở do tắm nước nhiễm phèn, chen lấn xô đẩy đám đinh tráng bảo vệ cổng lán, giơ cao một xấp giấy tờ rách mép đã ố vàng vì nước mưa: "Tôi có trích lục điền bạ đây! Dấu triện đỏ của quan huyện ba mươi năm trước vẫn còn rành rành! Ruộng tổ phụ để lại ba đời! Chỉ cần Hội đào một rãnh dẫn rễ cây và xả cho tôi ba gàu nước ngâm rễ, cả nhà tôi sẽ quỳ lạy tạ ơn họ Mộc suốt đời! Bằng không... bằng không hôm nay cả nhà tôi chết đói ngay trước cửa lán này cho các người vừa lòng!"
Hàng chục cánh tay gầy guộc lập tức giơ những lá đơn viết vội trên giấy bổi thô ráp, trên lá chuối khô xơ xác, thậm chí khắc nguệch ngoạc bằng than củi trên mảnh ván vỡ ép sát vào hàng rào tre. Ánh mắt họ không hẳn là lòng tham lam, mà là nỗi tuyệt vọng tột cùng của những kẻ sắp chìm nghỉm nhìn thấy một khúc gỗ mục giữa dòng nước xiết. Khi nạn đói cận kề, khi bữa cơm hằng ngày chỉ là cháo loãng nấu với vỏ cây sau sau và củ chuối chát xít, sự sống mơn mởn của thửa ruộng bên cạnh bỗng chốc trở thành một sự tra tấn tàn nhẫn đối với những kẻ còn trắng tay.
Phạm Nghi đứng chắn trước cánh cổng tre kết bằng thân nứa dại, chiếc gậy mây trong tay ông run lên bần bật theo từng nhịp thở dồn dập. Ông đưa mắt nhìn quanh đám đông, nhận ra không ít khuôn mặt từng là hàng xóm tắt lửa tối đèn có nhau, những người từng chia nhau từng củ mài lùi tro, từng ngụm nước trong trong những ngày đầu đại hạn giáng xuống thung lũng. Nhưng lúc này, ánh mắt họ hoang dại, đục ngầu và căng thẳng đến mức chỉ cần một mồi lửa nhỏ là sẵn sàng giẫm đạp lên nhau để xông vào cướp giật sự sống.
"Bà con trật tự! Hãy nghe tôi nói một lời đã!" Phạm Nghi gân cổ quát lớn, giọng khàn đặc vì gió bụi. "Hội không giấu giếm, không tư lợi cái gì của bà con cả! Nhưng cái thứ rễ cây dưới đất kia không phải là sợi dây thừng muốn kéo đi đâu thì kéo, muốn xẻ bao nhiêu nhánh cũng được—"
"Ông Nghi nói láo!" Một giọng phụ nữ the thé vang lên từ phía sau đống củi khô, the thé mà buốt óc. "Hôm qua chính mắt tôi thấy mạ mọc xanh rờn khắp bốn thửa! Bốn thửa ruộng rộng cả mẫu đất mà cứu được, cớ sao thêm vài ba sào của chúng tôi lại tiếc? Hay là các người tính ủ mầm thảo dược quý của giếng làng để bán riêng cho lái buôn ngoài Bến Tro lấy bạc trắng? Ruộng của nhà họ Mộc thì xanh mướt, còn con cái chúng tôi thì bụng ỏng đít teo ăn đất sét cầm hơi à?"
Lời nghi kỵ độc địa như một gáo dầu rưới thẳng vào đống than hồng. Đám đông bắt đầu gầm gồ, hàng rào tre ken dày kêu răng rắc dưới sức ép của hàng trăm lồng ngực đang chen lấn xô đẩy. Mấy người đàn ông phía ngoài đã bắt đầu rút những chiếc cọc rào phụ, giơ cuốc xẻng lên hoa chân múa tay trong cơn quẫn trí.
Trong gian lán đất phía sau, Mộc Tầm vừa từ dưới hố kiểm tra rễ bước lên.
Ống quần thô của anh xắn cao quá gối, hai bắp chân phủ đầy bùn xám nhờn nhợt và tro trấu dính bết. Trên hai bàn tay anh, những vệt bùn lạnh vẫn chưa kịp khô, móng tay cắm sâu vào lớp đất sét xám để lại những vệt đen sì. Nhưng vẻ mặt anh trầm trọng đến mức khiến Mộc An—vừa ôm chồng sổ bạ chạy thốc từ nhà kho vào—phải sững người dừng bước ngay ngưỡng cửa liếp.
"Anh hai... ngoài kia đông lắm," Mộc An khẽ thở dốc, lọn tóc mai dính bết bên trán vì mồ hôi hột. "Đã có hơn bốn mươi hộ nộp đơn đòi đào mương rẽ rễ sang ruộng của họ. Người ta mang cả con đỏ ra đặt trước cổng rào rồi. Nếu chúng ta không cho họ một câu trả lời dứt khoát, họ sẽ tràn qua bờ rào xới tung nền đất để tìm rễ mất thôi!"
"Không thể đào rãnh rẽ rễ được. Tuyệt đối không thể." Mộc Tầm ngắt lời em gái, giọng trầm thấp nhưng dứt khoát như nhát búa nện xuống đe sắt.
Anh giơ bàn tay còn dính bùn ra trước mặt. Giữa lòng bàn tay chai sần là một đoạn rễ tơ vừa được anh bới nhẹ từ hố quan sát số hai để kiểm tra lúc rạng sáng. Trên đoạn rễ màu lam nhạt vốn dẻo dai ấy, một nốt rễ to bằng quả trứng chim cút đang căng phồng lên một cách bất thường, lớp vỏ ngoài màu xám chì sần sùi đã chuyển sang một màu đen sẫm đáng sợ, bóng nhờn như mỡ trăn. Khi Mộc Tầm dùng móng tay ấn nhẹ vào rìa nốt sần, một giọt dịch nhờn rỉ ra, kéo theo mùi hăng nồng nghẹt mũi của lưu huỳnh và kim loại rỉ sét lập tức bốc lên, cay xè nơi khóe mắt khiến Mộc An phải vô thức lùi lại một bước, đưa tay áo che mũi.
"Nhìn cho kỹ đi," Tầm nói, ánh mắt trĩu nặng âu lo, nhìn thẳng vào nốt sần đen kịt. "Rễ mẹ ở giếng và rễ con ở Thạch Nê vừa nối mạch đêm qua. Chúng hút nước bùn để cứu bốn thửa ruộng thử nghiệm, nhưng đất ở Thạch Nê tích trọc tức sâu hơn chúng ta tưởng tượng rất nhiều. Mấy mươi năm phèn quặng lắng đọng, nay gặp nước ẩm bốc lên, toàn bộ các nốt rễ trên tuyến mương chính đều đang phình to trước thời hạn và chuyển màu xám sẫm đồng loạt. Công suất hấp thu của mầm non đã tiệm cận mức tối đa rồi."
Anh quệt vội mu bàn tay vào vạt áo chàm đã sờn rách, ngón tay run nhẹ vì căng thẳng, chỉ thẳng xuống lớp đất nện dưới chân lán:
"Hệ thống lọc sinh thái này còn quá non nớt, An à. Nó giống như một đứa trẻ con vừa mới chập chững tập đi, gánh bốn thửa ruộng này đã là quá tải, là phải dùng toàn bộ sinh khí mẹ con để chống chọi. Nếu bây giờ vì chiều lòng bà con, vì sợ hãi sức ép ngoài kia mà xẻ thêm mương, ép rễ vươn sang các thửa đất đã hóa đá lân cận, lượng trọc tức từ tầng sâu tràn vào sẽ vượt quá ngưỡng phân giải của tế bào thực vật. Khi ấy, nốt rễ sẽ bị bão hòa cấp tính, lớp biểu bì căng quá mức sẽ nứt toác ra và xả ngược toàn bộ chất độc tích tụ bấy lâu vào mạch nước ngầm. Đến lúc đó, không những ruộng của họ không cứu được, mà cả bốn thửa mạ non ngoài kia lẫn gốc cây mẹ dưới Giếng Cạn cũng sẽ cháy rụi thành tro xám trong vòng ba canh giờ. Tất cả sẽ chết chùm!"
"Nhưng ngoài kia người ta không hiểu sinh thái rễ là cái gì đâu!" Mộc An cắn chặt môi đến rướm máu, mắt nhìn trừng trừng ra phía cổng rào đang rung chuyển bần bật dưới từng đợt xô đẩy. "Họ chỉ thấy lúa nhà người khác xanh, còn nồi cám của con cái họ thì trơ đáy. Họ sẽ nghĩ anh có mầm thần thảo tiên gia mà giữ khư khư để trục lợi, để mưu đồ việc riêng! Cơn đói làm mờ mắt người ta rồi, anh giải thích chữ nghĩa chuyên môn ai mà nghe?"
"Nghĩ gì cũng phải chịu." Mộc Tầm hít một hơi dài, lồng ngực căng lên, bước nhanh ra cửa lán. "Thà để họ chửi tôi một lúc, thà để họ nguyền rủa tôi là kẻ độc ác ích kỷ, còn hơn để cả vùng đất này mất đi cơ hội sống sót duy nhất. Mất mầm Tức Căn này, Hạ Khê sẽ thành bãi tha ma thật sự."
Khi Mộc Tầm bước ra trước cổng rào, xuất hiện trên gờ đá cao bên cạnh Phạm Nghi, tiếng ồn ào hỗn tạp ngoài ngõ bỗng chốc lặng đi trong thoáng chốc. Hàng trăm ánh mắt lập tức dồn cả vào anh. Nhưng khoảng lặng ấy chỉ kéo dài chừng vài nhịp thở rồi ngay lập tức bùng nổ dữ dội hơn gấp bội, tựa như một con đê đất bị dòng nước lũ chọc thủng.
"Mộc Tầm ra rồi!"
"Mộc Tầm! Mau mở mương dẫn rễ sang xóm Đông đi! Ruộng nhà bác sát nách mương dẫn, chỉ cần tháo một bờ be thôi!"
"Mộc Tầm, mày đừng có làm bộ làm tịch! Mau mở cổng!"
Mộc Tầm đứng thẳng người trên bờ đá cao cạnh cổng rào, gió sớm thổi bay những sợi tóc mai lòa xòa trước trán. Ánh mắt anh bình tĩnh nhưng lạnh lùng quét qua từng khuôn mặt hốc hác, từng đôi mắt trũng sâu đang rực lên tia hy vọng quằn quại xen lẫn giận dữ mù quáng. Anh hít sâu một hơi không khí nồng mùi bùn tanh, dồn khí lực cất giọng rõ ràng, vang dội khắp khoảnh đất trống:
"Thưa bà con cô bác! Xin hãy lắng nghe tôi nói! Tôi vừa đích thân lội xuống kiểm tra toàn bộ mười hai hố quan sát dưới lòng ruộng Thạch Nê. Mạng rễ Tức Căn vừa kết nối đêm qua, hiện tại đang chạy hết toàn bộ công suất để lọc phèn quặng cho bốn thửa đất thử nghiệm. Nốt tích độc đã chuyển sang màu đen sẫm, căng cứng đến mức rỉ nhựa độc. Nó không thể tiếp nhận thêm bất kỳ một tấc đất nào nữa vào lúc này. Ban điều hành Hội giữ đất quyết định: Giữ nguyên hiện trạng bốn thửa ruộng đã được huyện cấp phép và khoanh vùng kiểm soát. Tuyệt đối không mở thêm rãnh, không xẻ mương, không ép rễ sang ruộng mới trong vụ mùa này!"
Một sự im lặng ngột ngạt bao trùm trong chớp mắt. Lời tuyên bố như một xô nước đá dội thẳng vào hy vọng đang bốc cháy hừng hực của hàng trăm con người. Nhưng rồi, sự im lặng ấy lập tức nổ tung thành một làn sóng phẫn nộ tột cùng, cuồng bạo hơn cả lúc trước.
"Đồ khốn nạn! Mày nói cái giống gì thế?"
"Bốn thửa ruộng đó là của nhà mày, của nhà thằng Bách thợ đá, của người Đường Nam! Chúng mày liên kết với nhau để chiếm trọn giống cây của trời đất chứ gì?"
"Mộc Tầm, cả cái làng Hạ Khê này từng cưu mang mày, ngày bố mày chết cả xóm xúm vào đưa ma, mẹ mày ốm đau dân xóm cũng từng chạy vạy từng bọc thuốc nam! Nay mày tìm được mầm cây sống dưới giếng làng, giếng của tổ tiên để lại, mày lại tư túi ích kỷ, muốn dồn cả sáu xóm vào chỗ chết đói hả đồ lòng lang dạ thú?"
"Đập rào xông vào! Tự chúng ta đào rãnh! Ai có sức người nấy hưởng!"
Một người đàn ông quá khích ở hàng đầu nhặt một hòn đá vôi sắc cạnh ném thẳng về phía bờ rào. Hòn đá xé gió bay vút qua, sượt qua vai Mộc Tầm làm rách một mảng áo thô, cào xước da thịt khiến một vệt máu đỏ tươi rỉ ra. Mộc Tầm không hề né tránh, cũng không lùi lại nửa bước. Anh đứng sừng sững như một thân cây khô cắm sâu vào đất đá cằn, hai bàn tay nắm chặt lại bên hông, im lặng chịu đựng những lời nguyền rủa cay nghiệt nhất trút xuống đầu mình. Anh hiểu nỗi đau đớn và sự phẫn nộ đến mất trí của họ, anh hiểu cái đói có thể biến một người lương thiện thành cầm thú, nhưng anh biết một cái gật đầu yếu lòng lúc này sẽ đồng nghĩa với một bản án tử hình vĩnh viễn cho toàn bộ thung lũng Thạch Nê.
"Dừng tay lại hết cho tôi!"
Một tiếng quát lanh lảnh, đanh thép vang lên át cả tiếng chửi bới ầm ĩ.
Mộc An từ trong lán bước phăm phăm ra, hai tay ôm một tấm bảng gỗ dẻ gai lớn đã được bào nhẵn mặt, nách kẹp chặt một xấp giấy bổi dày cộp. Cô gái nhỏ nhắn không hề tỏ ra nao núng trước đám đông đang sôi sục gậy gộc, nhanh nhẹn bước tới chiếc cọc gỗ lim lớn chôn trước cổng xóm. Rút chiếc búa gỗ bên hông, cô giơ cao tay đóng mạnh ba phát chát chúa, ghim chặt tấm bảng gỗ vào thân cọc: *Thình! Thình! Thình!*
Âm thanh khô khốc vang dội khiến đám đông giật mình khựng lại.
Trên mặt tấm bảng gỗ dẻ gai, những dòng chữ mực tàu đen nhánh nẹp viền son đỏ hiện ra rõ ràng, thẳng tắp từng hàng từng cột, các con số được viết to và sắc sảo như những nhát khắc.
Đám đông tò mò dạt ra một chút. Mấy bác nho học già trong xóm và những người biết chữ bắt đầu nghển cổ, nheo mắt đọc lớn từng dòng cho người xung quanh nghe:
"Bảng tính tải trọng lọc độc của mạng rễ Tức Căn — Vụ hè thu năm Cảnh Hưng thứ hai mươi mốt!"
Mộc An quay ngoắt người lại, hai mắt sáng quắc nhìn thẳng vào những khuôn mặt đang hầm hầm giận dữ, giọng cô rành rọt, vang xa:
"Bà con bảo anh tôi tư túi? Bảo Hội giữ đất ém nhẹm mầm cây để vơ vét làm giàu? Vậy thì xin các vị mở to mắt ra mà nhìn từng con số, từng dòng đo đạc ở đây!"
Cô rút chiếc que tre vót nhọn từ thắt lưng, gõ mạnh vào dòng chữ đầu tiên trên bảng:
"Cây mẹ nằm dưới đáy Giếng Cạn ở độ sâu bốn trượng, nuôi một cụm cây con ở Thạch Nê qua một đường mạch ngầm dài tròn hai trăm trượng. Hiện tại, bốn thửa ruộng thử nghiệm có diện tích tổng cộng một mẫu hai sào đất bùn. Để lọc sạch lớp độc quặng tích tụ ba mươi năm qua cho ngần ấy diện tích, mạng rễ đang phải gồng mình gánh ba mươi nốt độc bão hòa! Mỗi ngày một đêm, ba mươi nốt độc ấy gom về gần hai đấu cặn chì xám và phèn lưu huỳnh đậm đặc!"
Mộc An hít một hơi sâu, ngón tay trỏ hướng về phía ngọn đồi phía tây:
"Số cặn độc khủng khiếp đó không thể vứt bừa bãi ra mương, mà phải do chính tay thợ gốm Tạ Hạnh ở Lò Đất Kín niêm phong trong các hũ sành tráng men kép, chôn cách ly dưới móng gạch chịu lửa sâu mười thước! Nếu bây giờ mở thêm dù chỉ một thửa ruộng nữa thôi, lượng cặn độc tràn về sẽ tăng lên gấp rưỡi! Lò gốm không làm kịp hũ chứa, mạng rễ non dưới đất sẽ quá tải mà vỡ tung từng đoạn! Khi rễ nổ tung, toàn bộ chất độc tích tụ bấy lâu sẽ trào ngược lên mặt ruộng, thiêu chết toàn bộ mạ non của bốn thửa đang lên, và trôi thẳng vào mạch nước ngầm của Giếng Cạn! Khi ấy, nước giếng ăn của cả sáu xóm sẽ thành thuốc độc giết người! Ai trong số các người đứng đây dám bước ra bước tới, lấy tính mạng cả nhà mình ra cam đoan chịu trách nhiệm cho nguồn nước sinh tồn của cả vùng này?"
Đám đông im bặt. Tiếng gậy gộc va quệt vào nhau thưa dần rồi ngưng hẳn.
Những lời lẽ đanh thép gắn liền với những con số đo đạc chuẩn xác, với cái tên Lò Đất Kín và hiểm họa ngộ độc rành rành khiến những cái đầu đang bốc hỏa bắt đầu chững lại. Người nông dân vùng Hạ Khê dù ít học nhưng sống cả đời với bùn đất, họ hiểu cái lẽ "nước ngập bờ thì vỡ đê", hiểu rằng một cái rễ cây dù kỳ diệu đến đâu cũng chỉ là loài thảo mộc, không thể gánh vác cả một ngọn núi đá đè lên lưng.
Thấy đám đông đã chùng xuống, Mộc An hạ chiếc que tre, giọng cô dịu lại nhưng từng lời nói ra vẫn rành rọt, minh bạch:
"Hội giữ đất lập ra không phải để chiếm đoạt đất đai hay cướp miếng cơm của ai cả! Tiêu chí lựa chọn bốn thửa đất thử nghiệm vừa rồi đã được niêm yết công khai tại cổng đình từ nửa tháng trước, có chữ ký của hương lý và đại diện các họ: Thửa số một là nơi đặt hố rễ gốc, tiếp nhận nhựa sống trực tiếp từ Giếng Cạn; thửa số hai nằm sát mó nước ngọt tự nhiên để cấp nước điều hòa cho mạng rễ; thửa số ba là đất ủy thác canh tác của bà con Liên hộ Đường Nam để đổi lấy lương thực khô cứu đói khẩn cấp cho đội đập đá; thửa số tư là vùng đệm chắn dòng trọc tức độc hại chảy tràn từ Khe Táng Thủy xuống! Không có lấy một tấc đất nào là tư túi của nhà họ Mộc chúng tôi!"
Nói đoạn, cô lật giở sang tờ giấy bổi thứ hai đã được chuẩn bị sẵn, dùng đinh tre đóng tiếp vào bên cạnh bảng gỗ:
"Bà con muốn cứu ruộng nhà mình? Muốn con cái có hạt lúa ăn để sống qua mùa giáp hạt tới? Được! Hội giữ đất không bao giờ bỏ rơi một người dân nào của Hạ Khê! Kể từ giờ phút này, Hội chính thức ban hành Quy chế tích lũy ngày công luân phiên!"
Ánh mắt của đám đông lập tức đổ dồn vào tờ giấy mới. Những tiếng xì xào bắt đầu nổi lên, nhưng lần này không còn là tiếng thóa mạ gầm gừ, mà là sự tò mò và trông đợi.
"Quy chế này quy định rõ," Mộc An dõng dạc giải thích, "mọi hộ dân có ruộng tại Thạch Nê và các xóm lân cận, nếu muốn đưa nhánh rễ Tức Căn sang cứu đất vào vụ mùa sau, hãy đăng ký tham gia đội lao động công ích của Hội ngay từ hôm nay! Ai có sức góp sức, ai có của góp của: Người khỏe mạnh thì đập đá mở rộng mương lắng, người già yếu thì đan sọt tre gánh cát sỏi làm bể lọc sinh học, người khéo tay thì lên Lò Đất Kín phụ thợ gốm đóng gạch chịu lửa xây tường ngăn cách ly... Toàn bộ công sức đóng góp sẽ được ghi điểm công minh bạch vào cuốn sổ da mộc này, có người đối chiếu, có người làm chứng!"
Cô giơ cao cuốn sổ dày cộp bọc da bò thô màu nâu sẫm:
"Đến vụ sau, khi cụm cây con ở Thạch Nê đủ cứng cáp, đẻ thêm các mắt nhánh rễ mới, Hội sẽ căn cứ vào số ngày công tích lũy của từng gia đình và vị trí địa tầng an toàn để luân phiên đưa rễ sang cứu từng thửa ruộng một! Ai làm nhiều hưởng trước, ai làm ít hưởng sau, người có công khai phá mương máng sẽ được ưu tiên dẫn dòng sinh khí vào đồng ruộng nhà mình! Tuyệt đối không ai được chen ngang, không ai được cậy quyền cậy thế cướp đoạt công sức của người khác!"
Những người nông dân đứng phía trước đưa mắt nhìn nhau. Cơn giận dữ mù quáng ban nãy dần nhường chỗ cho sự tính toán thực tế của những kẻ lam lũ. Họ nghèo, họ đói, họ quẫn bách, nhưng họ không ngốc. Họ hiểu rằng một thứ rễ cây hút độc quặng nguy hiểm như thế không thể tùy tiện cắm bừa như cắm cành dâm bụt ven rào. Việc đưa ra một quy chế tích lũy ngày công luân phiên mở ra cho họ một con đường sống có trật tự. Dù phải chờ đợi thêm một vụ lúa, nhưng đó là sự chờ đợi có hy vọng, có căn cứ rõ ràng và quan trọng nhất là công bằng cho tất cả những ai chịu bỏ mồ hôi nước mắt.
Thế nhưng, giữa đám đông vẫn còn những kẻ bực dọc vì không đạt được mục đích tức thì, những kẻ vốn quen thói chọc gậy bánh xe hoặc sợ bị lừa gạt bởi những lời hứa hẹn trên giấy tờ. Một vài thanh niên lực lưỡng xóm Giữa, tay lăm lăm đòn xóc, bắt đầu càu nhàu kích động:
"Nói thì hay lắm! Chữ nghĩa vẽ trên gỗ thì ai chẳng vẽ được! Đợi đến vụ sau thì con cái chúng tao chết rũ xương hết rồi! Ai biết được đến vụ sau chúng mày có nuốt trọn số lúa gặt được trên bốn thửa kia rồi ôm bạc phủi tay chạy trốn khỏi Hạ Khê hay không?"
"Đúng đấy! Đói giáp hạt thì chết ngay trước mắt, bánh vẽ vụ sau ai mà nuốt trôi! Giấy trắng mực đen biết đường nào mà lần!"
Không khí vừa lắng xuống bỗng có nguy cơ chùng chình căng thẳng trở lại.
Đúng lúc ấy, một bóng người vạm vỡ, cao lớn mang theo một chiếc búa tạ nặng trịch sải từng bước chân nặng nề tiến lên, chắn ngang giữa đám thanh niên và tấm bảng gỗ.
Là Trịnh Bách.
Bộ ngực trần vạm vỡ của người thợ đập đá đen nhẻm vì dãi dầu nắng gió, chằng chịt những vết sẹo lồi lõm do đá dăm bắn vào trong suốt bao năm ròng rã quai búa. Ông không nói không rằng, đặt mạnh chiếc cán búa tạ bằng gỗ nghiến xuống mặt đá tảng dưới chân.
*Thình!*
Một tiếng động trầm đục, nặng nề vang lên khiến mặt đất dường như rung rinh, bụi đá bay mù mờ quanh đế búa. Đám thanh niên đang hung hăng bất giác giật thót mình, vô thức lùi lại nửa bước.
Trịnh Bách quét cặp mắt hùm đục ngầu nhìn quanh một lượt, gân cổ nổi lên cuồn cuộn, cất giọng ồm ồm như chuông đồng nứt:
"Đứa nào bảo Hội giữ đất lừa gạt? Đứa nào bảo người ta vẽ bánh? Bước ra đây nói chuyện với cái búa tạ này!"
Đám đông im phăng phắc, không một ai dám ho he. Cả cái đất Hạ Khê này, từ già đến trẻ không ai là không biết đến tính khí nóng như lửa và sức vóc hộ pháp của Trịnh Bách—người từng một mình quai búa phá đá ròng rã cả tháng trời ở Thạch Nê mà không cần nghỉ ngơi.
"Các người mở to mắt ra mà nhìn cho kỹ đi!" Trịnh Bách giơ bàn tay thô ráp, chai sần như vỏ cây chỉ thẳng vào ngực mình. "Tao—Trịnh Bách đây! Tao từng vì hai bao gạo mục của lão Đỗ Kính mà mờ mắt, suýt nữa làm chứng gian để quan huyện tịch thu đất mương, suýt nữa phá nát cái xóm Giếng Cạn này! Tao là thằng có tội với dân làng! Tao bị Hội phạt một trăm ngày công đập đá xây kè, không được chia một hạt thóc hoa lợi nào trong vụ này!"
Ông thở dốc một hơi, lồng ngực phập phồng dữ dội:
"Nhưng con dâu tao đẻ non, cháu nội tao đói lả suýt chết vì cạn sữa, chính bát cháo cứu đói của Hội giữ đất mang sang, chính củ mài và nắm lá thuốc của cô Nguyệt đã cứu sống mạng mẹ con nó! Mộc Tầm, Mộc An không đuổi cùng giết tận một thằng súc sinh như tao, mà cho tao cơ hội lấy mồ hôi, lấy máu đập đá để chuộc lại cái danh dự làm người!"
Trịnh Bách trỏ chiếc búa tạ về phía cánh đồng Thạch Nê xa xa:
"Tao là thằng cục súc, dốt nát, tao không biết chữ nghĩa cao siêu viết trên bảng kia là gì. Nhưng chính mắt tao thấy thằng Tầm nửa đêm nhảy xuống cái hố sâu bốn thước ngập trọc tức nồng nặc để kéo thằng Cẩn đang ngạt thở lên! Chính tay tao vừa khiêng những xọt đá chêm vào kẽ nứt địa tầng, tận mắt thấy rễ cây ngoài đồng phình to nứt vỏ, rỉ ra thứ độc đen sì như mật cá trê! Đất này muốn sống thì rễ cây phải sống! Nếu chúng mày cố đấm ăn xôi xông vào xới đất ép rễ, làm vỡ nốt độc, làm chết cây mẹ dưới giếng... thì đừng nói là vụ sau, đến ngay cả ngụm nước trong để húp cháo cầm hơi ngày mai chúng mày cũng đừng hòng có mà uống! Thằng nào muốn phá mạng rễ, thằng nào muốn cướp đất lúc này, bước qua xác Trịnh Bách này trước đã!"
Lời nói mộc mạc, thô ráp nhưng chứa đầy sự hối lỗi cay đắng và trải nghiệm xương máu của người thợ đá có sức nặng ngàn cân, giáng thẳng vào tâm can từng người đang đứng trước cổng rào. Những kẻ vừa la lối om sòm cúi gầm mặt xuống, lén lút giấu chiếc đòn xóc ra sau lưng.
Ngay lúc đó, từ phía con đường mòn dẫn sang dốc Đường Nam, một toán người gánh gồng bước tới. Đi đầu là Vũ Liên. Người phụ nữ điều phối Liên hộ Đường Nam khoác chiếc áo vải chàm sẫm màu, tóc vấn gọn gàng sau gáy, phong thái đĩnh đạc, sắc sảo và tự tin. Cô rảo bước đến bên cạnh Mộc An, hướng mắt nhìn đám đông bằng ánh nhìn kiên định, thấu suốt:
"Bà con xóm giềng! Tôi là Vũ Liên, đại diện cho những gia đình đã dứt áo rời quê sang Đường Nam kiếm sống tha hương ba năm nay. Thửa ruộng số ba ở Thạch Nê kia chính là đất hương hỏa của dòng tộc nhà tôi để lại. Chúng tôi có quyền đòi lại đất để bán lấy tiền rời đi vĩnh viễn không? Có chứ! Thương hành Vạn Thạch từng mang cả nén bạc trắng đến tận cửa nhà tôi ở Đường Nam, gạ mua đứt giấy điền bạ của thửa ruộng đó. Chúng còn xúi giục chúng tôi đem người về chặn mó nước ngọt tự nhiên ở thửa số hai để ép xóm Giếng Cạn phải quỳ gối đầu hàng, phải dâng nốt khu đất mương cho chúng!"
Đám đông xôn xao kinh ngạc. Những ánh mắt ngơ ngác nhìn nhau, dường như lúc này họ mới lờ mờ hiểu ra những mưu mô hiểm độc đang bủa vây lấy vùng đất này từ phía các thương gia ngoài thị trấn.
Vũ Liên cất giọng dõng dạc, từng lời từng chữ đanh thép:
"Nhưng chúng tôi đã thẳng thừng từ chối! Chúng tôi mang lương thực khô tích cóp được về đây, mang thợ mộc, mang gỗ lim về tiếp sức cho Hội giữ đất, tình nguyện ký khế ước ủy thác canh tác để đất đai của tổ tiên được hồi sinh! Tại sao chúng tôi làm vậy? Vì chúng tôi hiểu rất rõ một điều: Rời bỏ quê hương, tha phương cầu thực chỉ là bước đường cùng của kẻ cùng khốn! Giữ được cái gốc đất đai, giữ được mạng rễ Tức Căn dưới lòng đất thì con cháu chúng ta mới còn đường quay về dựng lại mái nhà! Quy luật của trời đất, của cây cỏ là không thể đốt cháy giai đoạn. Mạng rễ non vừa mới nối mạch đêm qua, nó cần thời gian để thở, cần công sức của muôn người để chăm bẵm, che chở. Đừng vì một cơn đói trước mắt mà nhẫn tâm bức tử nguồn sống duy nhất của cả vùng lòng chảo Hạ Khê này!"
Sự xuất hiện và tiếng nói đồng lòng của cả Trịnh Bách—đại diện cho những người lao động thô bộc tại chỗ—lẫn Vũ Liên—đại diện cho những người hồi hương và tầng lớp chủ đất cũ—đã hoàn toàn đập tan những mầm mống kích động cuối cùng. Lý lẽ đã rõ ràng, tình nghĩa đã phân minh, con đường sống đã mở ra trước mắt.
Những cánh tay đang giơ cao tờ đơn từ từ hạ xuống. Một lão nông râu tóc bạc phơ, lưng còng rạp, run rẩy chống chiếc gậy tre bước lên phía trước. Ông ngước nhìn tấm bảng gỗ rồi nhìn Mộc An bằng đôi mắt đục ngầu rớm lệ:
"Cô An... vậy... vậy lão già này gối mỏi chân run, không còn sức quai búa đập đá như chú Bách, chỉ biết đan sọt tre và gánh từng thúng mùn nhẹ... Hội có nhận ghi công điểm cho lão không?"
Mộc An mỉm cười, ánh mắt ấm áp cúi xuống, hai tay đỡ lấy bàn tay khẳng khiu của ông lão:
"Nhận hết chứ cụ! Cụ đan sọt tre đựng đá, các bà các chị nạo vét mương cát, trẻ con nhặt sạch cỏ dại ven bờ... mỗi một việc làm, dù nhỏ bé đến đâu, miễn là có ích cho đồng ruộng đều được quy đổi thành ngày công tích lũy phân minh! Tên của từng người, từng dòng họ sẽ được ghi trang trọng vào sổ da mộc này, không thiếu một nét mực nào của bà con đâu ạ!"
"Tôi đăng ký!"
"Cho nhà tôi đăng ký hai suất đinh tráng gánh đất mở mương!"
"Tôi có nghề xây lò, tôi xin đăng ký chân nạo vét và phụ thợ gốm xây tường cách ly ở Lò Đất Kín!"
Không khí ngột ngạt, căng thẳng nghẹt thở ban nãy nhanh chóng chuyển hóa thành một làn sóng đăng ký lao động trật tự và sôi nổi. Mộc An vội vã trải cuốn sổ da mộc lên chiếc bàn gỗ kê tạm dưới bóng râm của mái hiên lán, cặm cụi mài mực, cẩn thận ghi chép từng cái tên, từng phần việc, từng dấu điểm chỉ bằng mực đỏ. Đám đông không còn chen lấn đòi xới đất phá rào nữa, mà tự giác xếp thành hai hàng dài kiên nhẫn chờ đến lượt mình nhận việc.
Mộc Tầm đứng bên bờ rào, khẽ thở phào một hơi dài dường như trút bỏ được tảng đá tảng đè nặng trong lồng ngực suốt từ sáng sớm. Anh quay sang nhìn Trịnh Bách và Vũ Liên, ánh mắt tràn đầy sự cảm kích thầm lặng. Người thợ đá khẽ gật đầu, vác chiếc búa tạ lên vai quay người đi về phía bãi đá vụn, trong khi Vũ Liên mỉm cười khích lệ rồi cùng các phụ nữ khác bắt tay vào việc sắp xếp các gánh lương thực cứu đói.
Giữa chốn bùn lầy gió cát và phèn độc này, sự thấu hiểu và sẻ chia trách nhiệm giữa những con người cùng khổ chính là lớp thành trì vững chắc nhất che chở cho mầm sống non nớt vừa mới cựa mình dưới lòng đất.
Thế nhưng, Mộc Tầm hiểu rất rõ: Giữ được lòng dân trước cửa lán mới chỉ là bước vượt qua cửa ải đầu tiên. Thử thách thực sự đối với sự sống còn của mạng rễ Tức Căn lúc này mới thực sự bắt đầu.
Ngay buổi trưa hôm ấy, Ban điều hành Hội giữ đất Hạ Khê đã họp khẩn dưới bóng râm của giàn mướp đắng bên lán và quyết định thành lập Tổ tuần tra bảo vệ nước ngầm và đo áp suất rễ.
Đội ngũ nòng cốt gồm sáu người: Mộc Tầm phụ trách kỹ thuật chung và theo dõi tình trạng rễ; Lê Cẩn dù bệnh phổi chưa dứt, thỉnh thoảng vẫn ho rút ruột, nhưng với kinh nghiệm thợ đào giếng am hiểu từng mạch đá ngầm và túi khí độc, đảm nhận việc quan sát vỉa khí và độ sụt lún địa tầng; Trịnh Bách dẫn đầu bốn tráng đinh khỏe mạnh nhất xóm, mang theo gậy gộc, kẻng đồng và đèn bão luân phiên tuần tra ngày đêm dọc theo tuyến mương dẫn dài nửa dặm từ Giếng Cạn ra Thạch Nê.
Quy trình tuần tra được Mộc Tầm đặt ra vô cùng nghiêm ngặt:
Cứ tròn một canh giờ, tổ tuần tra phải chia nhau cắm que tre có khắc vạch đo độ ẩm và nhiệt độ đất tại mười hai hố mốc cố định dọc tuyến rễ; dùng gáo dừa múc nước kiểm tra độ trong và nếm thử vị phèn tại các bể lắng; quan sát kỹ lưỡng màu sắc và độ trương nở của các nốt rễ nổi tại ba hố kiểm tra trung tâm. Tuyệt đối ngăn chặn bất kỳ hành vi lén lút đào bới, trích nước trộm từ mương lắng hoặc xả rác thải bừa bãi vào hệ thống lọc ba bước.
Cả cánh đồng Thạch Nê bước vào giai đoạn chăm sóc lúa non trong một bầu không khí căng thẳng cực độ, chẳng khác nào một chiến trường không tiếng súng.
Dưới cái nắng gay gắt, chói chang của những ngày đầu hè, bốn thửa ruộng thử nghiệm xanh mướt nổi bật lên giữa thung lũng đá xám như một hòn đảo ngọc cô độc giữa biển cát cháy. Hàng vạn búp mạ non vươn lên mơn mởn, thân mạ mập mạp, rễ lúa ôm chặt lấy lớp bùn mùn đã được Tức Căn thanh lọc độc tố. Từng làn gió thoảng qua làm rập rờn những sóng lúa non xanh biếc, mang theo hương thơm ngai ngái của bùn mới và phù sa non.
Nhưng ngay bên dưới vẻ đẹp thanh bình, no ấm đầy hứa hẹn ấy là một cuộc gồng mình sinh tử đến nghẹt thở.
Mộc Tầm gần như không chợp mắt suốt hai ngày đêm. Anh túc trực thường trực bên bờ thửa ruộng số hai—nơi đặt điểm giao nhau quan trọng nhất của mạng rễ. Đôi mắt anh thâm quầng vì mệt mỏi nhưng ánh nhìn thì sắc bén lạ thường. Cứ cách hai canh giờ, anh lại quỳ gối trên bờ ruộng, cúi người áp sát tai vào lớp đất bùn lạnh, nhắm mắt lại để lắng nghe nhịp thở ngầm của Tức Căn.
Tiếng nhựa cây chuyển dịch trong các ống xơ rỗng nghe róc rách, thì thầm như tiếng một con suối nhỏ chảy ngầm trong lòng núi. Nhưng xen lẫn trong cái âm thanh êm dịu ấy là những nhịp giật cục bộ, những tiếng rên khẽ đầy âu lo của các mô thực vật đang căng phồng. Các nốt rễ dọc tuyến mương chính tiếp tục sưng to từng ngày; lớp vỏ xơ màu chì đã căng cứng như mặt trống láng bóng, sờ vào thấy nóng ran như có hòn than vùi bên trong.
Mạng lưới non nớt đang phải vận hành hết hai trăm phần trăm công suất sinh học để vừa giữ ẩm, cấp dưỡng chất cho mạ non, vừa phải gồng mình ngăn chặn lượng trọc tức khổng lồ từ các túi khí sâu không ngừng thẩm thấu qua các kẽ nứt đá vôi sau những biến động địa tầng gần đây.
Đào Nguyệt cũng túc trực không rời luống thuốc giống tại thửa số ba. Với đôi bàn tay khéo léo và hiểu biết sâu sắc về dược tính thảo mộc, cô liên tục nổi lửa sắc những vò nước lá bồ hòn đặc quánh pha tro trấu loãng mang ra cho đội tuần tra. Từng gáo nước thảo dược nguội được tưới đệm nhẹ nhàng vào quanh các hố mốc có rễ đang bốc nhiệt để hạ hỏa, làm mát lớp biểu bì đang căng tức.
Sự căng thẳng hiện rõ trên từng khuôn mặt hốc hác, từng bước chân tuần tra chậm rãi trong đêm tối dưới ánh đèn bão leo lét chập chờn theo bóng người. Mỗi tiếng động lạ dưới lòng đất, mỗi tiếng nứt nhỏ của lớp đất mặt đều khiến tim họ thắt lại.
Đến ngày thứ ba sau khi mạ non lên xanh, một điềm gở bất ngờ giáng xuống vùng thung lũng.
Đó là một buổi trưa oi nồng đến nghẹt thở. Không khí đặc quánh lại như keo dán, gió núi bỗng nhiên ngừng bặt không một ngọn cỏ lay động. Mặt trời bị che khuất sau một lớp sương mù màu vàng đục kỳ quái. Bầu trời phía đỉnh Thanh Lộ sầm sì những dải mây xám nặng trĩu, cuồn cuộn dâng lên từ phía tây bắc, báo hiệu chu kỳ mưa giông thất thường và dữ dội của cuối mùa hè đang cận kề đổ xuống.
Mộc Tầm đang ngồi bới nhẹ một lớp bùn kiểm tra đầu rễ tơ ở thửa số một thì nghe thấy tiếng bước chân dồn dập, loạng choạng từ phía bờ mương dẫn nước chính.
Lê Cẩn tập tễnh chạy dọc theo triền đá từ sườn đồi phía bắc xuống. Anh không kịp dùng gậy, một tay ôm chặt lấy ngực, mặt mày tái mét không còn một giọt máu, mồ hôi vã ra như tắm ướt đẫm manh áo rách. Anh ngã quỵ xuống bờ ruộng, vịn chặt lấy bả vai Mộc Tầm, lồng ngực thở dốc từng cơn đau đớn, ho sặc sụa:
"Tầm... Tầm ơi! Nguy to rồi... nguy thật rồi!"
Mộc Tầm giật mình, buông vội nắm bùn ẩm trên tay xuống, đỡ lấy bạn: "Có chuyện gì thế Cẩn? Túi khí dưới hang đá lại bục ra à? Hay rễ cây bị nứt?"
"Không... không phải túi khí!" Lê Cẩn run rẩy đưa bàn tay đầy vết trầy xước chỉ ngược lên con mương đá dẫn nước ngọt từ triền núi Thanh Lộ về mó Giếng Cạn. "Dòng nước... dòng nước ngọt trên mương dẫn từ núi... bỗng nhiên sụt giảm nghiêm trọng! Mới nửa ngày trước nước còn ngập mắt cá chân, chảy đều vào bể lắng... thế mà bây giờ... bây giờ bùn đáy mương trên dốc đã cạn trơ ra, nứt toác hết cả rồi!"
Mộc Tầm bàng hoàng đứng bật dậy. Không kịp xỏ lại đôi dép cói, anh lao vút lên bờ đá, chạy thốc về phía đầu con mương dẫn nước.
Trước mắt anh, con mương đá xẻ dọc sườn đồi—vốn là huyết mạch duy nhất dẫn dòng nước ngọt tối thiểu ba phân theo quy định bất di bất dịch của huyện nha từ thượng nguồn về xóm Giếng Cạn—nay đã cạn kiệt trơ đáy một cách tàn nhẫn. Dòng nước ngọt róc rách thường ngày đã biến mất hoàn toàn, chỉ còn lại những vũng nước tù đọng lóng lánh váng dầu xám xịt. Lớp bùn quặng đọng lại dưới lòng mương bắt đầu se cứng lại dưới cái nắng oi bức, nứt nẻ thành từng mảng và bốc lên mùi hăng nồng nghẹt thở của lưu huỳnh thối rữa.
Mộc Tầm đứng như chôn chân bên bờ mương cạn, hai bàn tay siết chặt lại đến mức móng tay găm sâu vào da thịt ứa máu.
Tống Khuê đã ra tay. Lời đe dọa siết nước, bóp nghẹt nguồn sống của Thanh Lộ Tông đã biến thành hiện thực tàn khốc, sớm hơn bất kỳ ai trong Hội giữ đất có thể dự liệu. Chúng không cần dùng gươm giáo, không cần xua đệ tử xuống đốt phá ruộng mạ; chúng chỉ cần đóng chiếc van đá trên thượng nguồn là đủ để bức tử toàn bộ sự sống non nớt vừa mới nhen nhóm ở Thạch Nê.
Không có nguồn nước ngọt hòa loãng và giải nhiệt, mạng rễ non Tức Căn đang chạy hết hai trăm phần trăm công suất kia sẽ lấy gì để làm mát các tế bào đang bốc hỏa? Những nốt rễ đang căng phồng sẫm màu, chứa đầy cặn độc dưới lòng đất Thạch Nê sẽ cầm cự được bao lâu trước khi áp suất độc tố tích tụ xé toạc lớp vỏ xơ mỏng manh?