Cách Chăm Sai
Mùi khét ngọt lợ bốc lên từ kẽ phiến đá dưới đáy giếng làm Mộc Tầm giật thót khi vừa trèo xuống kiểm tra vào sáng sớm.
Không khí dưới đáy sâu bốn trượng sau một đêm dài dằng dặc không hề loãng đi mà quánh lại, nằng nặng như lớp váng dầu bám chặt lấy cuống họng, mỗi nhịp thở hít vào đều để lại vị chan chát nơi đầu lưỡi. Tầm quỳ rạp trên lớp bùn đen dẻo quánh, chiếc đèn dầu hạt sở đặt bên mép đá hắt ra quầng sáng vàng vọt, chập chờn run rẩy theo từng hơi thở dốc còn chưa kịp bình ổn sau chặng tụt dây. Mái đá vôi dẹt hôm qua anh tỉ mẩn nhặt nhạnh, gọt đẽo từng cạnh sắc rồi kê nghiêng đúng góc ba mươi độ vẫn nằm nguyên chỗ cũ, nhưng lớp đất vụn bên sườn kẽ nứt do ngấm chút ẩm đêm đã trượt xuống một mảng nhỏ bằng miệng chén.
Chính mảng đất sụt tai hại ấy đã kéo theo một mảnh đá dăm.
Mảnh đá vôi xám sắc như mảnh gốm vỡ, to bằng móng tay cái, chẳng biết từ thành vách trên cao bong ra từ bao giờ hay ẩn trong lớp mùn khô co ngót, đã cắm phập vào một nhánh rễ tơ vừa mới nhú của mầm non.
Nhánh rễ non màu trắng ngà, vốn chỉ mỏng manh tựa sợi cước câu cá đồng, bị cạnh đá sắc lẹm cứa rách một vệt dài chừng nửa đốt ngón tay. Vết rách tứa ra chất dịch trong suốt như giọt sương mai, phập phồng co thắt trong bóng tối ẩm thấp. Tệ hơn cả, ngay tại mép vết rách hở hoác, lớp biểu bì mỏng manh đang dần sẫm lại sang màu tím thẫm của máu tụ, run rẩy từng nhịp yếu ớt dưới sức ép tì đè của khối đá dăm bẩn thỉu.
Lồng ngực Tầm thắt nghẹn lại, buốt nhói như có ai nắm lấy bó gân tim mà giật mạnh.
Trong khoang óc đặc quánh mồ hôi lạnh, hình ảnh nửa mẫu hoàng liên đang héo rũ, cháy lá từng luống trên mặt đất nứt nẻ ngoài kia lập tức dội về. Rồi tiếng ho sù sù thấu phổi của mẹ trong buồng kín tối tăm, mùi đờm lẫn tro quặng tanh nồng, và trên hết là tờ văn tự nợ đóng dấu sáp đỏ chót của Vạn Thạch Hành giấu dưới đáy hòm gỗ—tất cả đan cài vào nhau thành một tảng đá ngàn cân đè nghến lên chấn thủy. Mầm cây này là chiếc phao cứu sinh duy nhất còn sót lại giữa một Hạ Khê đang chết dần chết mòn trong bùn cặn và tuyệt vọng. Nếu nó lụi tàn ngay từ sớm nay, mọi hy vọng bám trụ lại mảnh đất tổ tiên, mọi cơ hội mua nổi thang thuốc ma hoàng cho mẹ coi như tan thành tro bụi.
"Đừng chết... ráng lên... mày không được chết..."
Tầm lẩm bẩm trong miệng, hơi thở phả ra nóng ran. Hai ngón tay anh run rẩy đến mức phải tì cùi chỏ xuống đùi để lấy điểm tựa, khẽ khàng lùa móng tay vào chân mảnh đá dăm, gạt nhẹ nó ra ngoài.
*Bẹp.*
Mảnh đá rơi xuống lớp bùn nhão bên dưới, phát ra một âm thanh nhỏ nhoi nhưng nhức buốt. Vết rách trên nhánh rễ lập tức toác rộng hơn một chút, tứa thêm một giọt nước dịch óng ánh, trong veo tựa hồ giọt lệ của loài cỏ cây không biết cất tiếng khóc.
Nhìn giọt dịch ấy rỉ ra, bản năng của một kẻ mang danh tu sĩ—dù chỉ là tầng thứ ba của Dẫn Khí kỳ nghèo nàn, vụng về và chắp vá—bỗng chốc bùng lên, lấn át hoàn toàn sự cẩn trọng thường nhật của một gã nông phu quanh năm bầu bạn với cuốc cày.
Xưa nay, trong những cuốn điển tịch mộc đạo chép tay rách nát lưu truyền vụn vặt ở Chợ Bến Tro, lũ tu sĩ lang bạt vẫn thường rỉ tai nhau rằng linh khí của người tu hành chính là thứ nước cam lộ tẩm bổ màu mỡ nhất cho cây cỏ. Mộc linh khí có thể sinh cơ dưỡng mạch, làm liền da thịt, thúc đẩy hoa lá đâm chồi chỉ trong vài hơi thở. Mọi giáo điều chắp vá ấy bỗng ùa về, che mờ lý trí của Tầm. Nhìn nhánh rễ non nớt đang oằn mình run rẩy vì đau đớn, anh không còn tâm trí đâu để suy xét sâu xa. Anh chỉ muốn vết rách ấy khép miệng lại ngay lập tức, muốn nhánh rễ trắng ngà kia hồi sinh, tiếp tục cắm sâu xuống lòng bùn đen để hút cạn thứ trọc tức đang ngột ngạt bao quanh đáy giếng hoang này.
Nghĩ là làm, Tầm nhắm nghiền mắt, cắn chặt quai hàm, cố gắng trấn định tâm thần để điều động khí hải.
Trong đan điền khô cạn và đau nhức như ruộng hạn nứt nẻ của anh, một sợi linh khí Dẫn Khí mỏng manh như tơ nhện chầm chậm trồi lên. Đó là chút mộc khí yếu ớt mang sắc xanh lơ nhạt nhòa, thứ linh lực tạp nham mà anh đã phải nhịn ăn nhịn ngủ, chắt chiu từ những sớm tinh sương hiếm hoi còn sót lại chút hơi ẩm mong manh trên đỉnh đồi hoang. Sợi khí men theo đường kinh mạch gồ ghề, trườn qua bả vai khô khốc, chảy dọc cánh tay rồi dồn hết về đầu ngón tay trỏ bên phải.
Đầu ngón tay Tầm hơi ấm lên, phát ra một quầng sáng xanh lơ mờ mịt, chập chờn như ánh đom đóm sắp tàn.
Anh nín thở, cẩn thận hạ thấp bàn tay, chạm thật nhẹ đầu ngón trỏ vào mép vết thương đang rỉ dịch của nhánh rễ.
"Hút vào đi... lành lại đi..." Tầm thầm thì, khẽ khàng rót sợi mộc linh khí ấy vào thớ thịt mỏng manh của mầm cây.
Thế nhưng, biến cố kinh hoàng đã nổ ra ngay trong chớp mắt, hoàn toàn xé nát mọi ảo tưởng ngây thơ của anh.
Ngay khoảnh khắc sợi linh khí nhân tạo vừa chạm vào biểu bì, nhánh rễ tơ không hề dịu lại, cũng chẳng có phép màu sinh cơ nào diễn ra. Ngược lại, toàn bộ thân rễ bỗng cong vút lên một góc kỳ dị, giãy giụa dữ dội như một con trùng đất trúng phải than hồng!
*Xèo!*
Một luồng nhiệt nóng rực bất thình lình bùng phát từ tận sâu bên trong lõi rễ. Màu trắng ngà tinh khiết biến mất với tốc độ mắt thường cũng thấy được, thay thế bằng một sắc tím đen u uất, giãy giụa quằn quại giữa lớp bùn lỏng. Vỏ rễ phồng rộp lên từng mảng, các mạch dẫn li ti bên trong căng phồng như những sợi dây cung bị kéo căng quá mức, chực chờ nổ tung.
Từ vết rách bị cứa ban nãy, thay vì dòng dịch trong suốt, một giọt chất lỏng đen kịt, đặc quánh như hắc ín bắt đầu ứa ra. Vừa trồi lên bề mặt tiếp xúc với không khí, giọt dịch liền sôi lục bục, bốc lên một làn khói mỏng màu xám tro mang theo thứ mùi hôi nồng nặc—đó là mùi khét lẹt của tro quặng bị nung cháy, cay xè đến nghẹt thở và buốt nhói tận chân răng.
"Á!"
Tầm giật bắn người, theo phản xạ toan rụt tay lại nhưng đã quá muộn.
Một tia dịch đen sôi sùng sục từ vết nứt bắn thẳng vào đầu ngón tay trỏ của anh. Cảm giác nóng rát như bị thanh sắt nung đỏ dí thẳng vào da thịt lập tức truyền thẳng lên cánh tay, xộc thẳng vào tận thái dương, kéo theo một cơn tê dại buốt óc. Vùng da quanh đầu ngón tay Tầm lập tức thâm sì, chuyển sang màu xám ngoét của thịt chết, toàn bộ cảm giác xúc giác biến mất trong tích tắc, tựa hồ như huyết mạch nơi ấy đã bị một luồng hàn khí căm độc đóng băng vĩnh viễn.
Đó tuyệt đối không phải là độc thảo thông thường. Đó là trọc tức thuần túy—thứ cặn bã ô uế, hung bạo tích tụ ngàn vạn năm dưới lòng đất sâu, bị rễ của loài cây này cô đọng lại thành một túi độc ngầm. Khi gặp phải luồng linh khí ngoại lai mang tính dương kích thích, trọc tức liền nổi cơn thịnh nộ, phát nổ và giải phóng ra toàn bộ sự hủy diệt nguyên sơ nhất của nó!
Dưới kẽ đá, nhánh rễ non vẫn không ngừng run rẩy kịch liệt. Nhiệt độ bốc lên từ kẽ nứt hun nóng cả phiến đá vôi, làm khô cong lớp bùn ẩm xung quanh trong phạm vi nửa gang tay chỉ sau vài nhịp thở.
*Tách!*
Một tiếng gãy giòn tan, nhỏ nhoi nhưng sắc lạnh vang lên trong khoảng không chật hẹp. Đầu mút của một nhánh rễ con phụ gần đó, do không chịu nổi áp lực nhiệt độ và độc khí trào ngược từ bên trong, đã khô quắt lại như sợi rơm cháy rồi gãy lìa ra, rơi trơ trọi xuống mặt đá vôi.
*Nó sắp nổ tung! Toàn bộ mầm cây sắp nổ tung!*
Ý nghĩ ấy giáng mạnh vào tâm trí Tầm như một tiếng sét giữa trời quang.
Nếu nhánh rễ chính này phát nổ, không chỉ mầm cây non nớt tan xương nát thịt, mà toàn bộ lượng trọc tức cô đặc tích tụ bấy lâu sẽ bung tỏa ra ngoài, biến đáy giếng sâu bốn trượng này thành một chiếc hầm mộ chứa đầy độc khí. Dưới không gian kín mít này, với kinh mạch đang nghẽn đặc và một ngón tay phế liệt, bản thân anh cũng đừng hòng trèo sống sót lên miệng giếng bằng sợi dây thừng mục kia!
Nỗi kinh hoàng tột độ xua tan cơn đau buốt nơi đầu ngón tay. Trong khoảnh khắc sinh tử ấy, đôi bàn tay vốn quen xới đất, làm cỏ của một gã nông phu chất phác đã hành động nhanh hơn mọi suy tính của đầu óc.
Không thể dùng thêm bất kỳ chút linh lực nào nữa! Linh khí chỉ tổ châm ngòi cho ngọn lửa độc này thiêu rụi tất cả! Đất—chỉ có đất mẹ nguyên sơ mới ghìm được thứ quái vật này!
Tầm quỳ sụp cả hai đầu gối xuống bùn, mặc kệ ngón tay trỏ đang tím tái mất cảm giác, điên cuồng dùng cả hai bàn tay cào bới lớp bùn mùn ẩm ướt ở góc sâu nhất của kẽ đá—nơi bóng râm che phủ quanh năm, nơi chưa từng bị ánh đèn dầu hay luồng khí nóng ban nãy hun khô. Lớp mùn đen lạnh ngắt, nhão nhoét và bốc mùi ngai ngái của rêu mục lọt qua từng kẽ ngón tay thô ráp. Anh vốc từng nắm lớn, nén chặt sự hoảng loạn, nhẹ nhàng nhưng dứt khoát ấp phủ lên nhánh rễ đang sôi sục.
"Nguội đi... làm ơn nguội đi... xin mày đấy..."
Tầm lẩm bẩm như kẻ mê sảng, đôi môi khô khốc nứt nẻ mấp máy liên hồi. Anh đắp bùn thành một ụ tròn nhỏ, mịn màng bao quanh gốc rễ, cẩn thận chừa lại hai phiến lá non hình tim màu ngọc bích bên trên mặt bùn.
Bùn lạnh tiếp xúc với thân rễ nóng ran phát ra những tiếng *xì xì* rợn người. Từng làn khói xám tro mỏng manh cố ngoi lên nhưng lập tức bị lớp bùn đặc quánh, nặng trịch bịt kín, ép ngược trở lại lòng đất, không cho độc khí thoát tự do vào không gian giếng.
Đúng lúc ngọn lửa độc ngầm vừa tạm thời bị khống chế, từ miệng giếng cao vút bên trên, một luồng ánh sáng ban mai bắt đầu rọi thẳng xuống.
Đó không phải là ánh nắng dịu dàng của buổi sớm mùa thu, mà là luồng sáng khô khốc, chói gắt và tàn nhẫn của những ngày đại hạn. Luồng sáng ấy chiếu thẳng tắp như một mũi kiếm bạc cắm phập vào đáy vực sâu. Ánh nắng rọi tới đâu, chút hơi ẩm hiếm hoi còn sót lại trên vách đá lập tức bốc hơi nghi ngút tới đó, khiến phiến đá vôi dẹt bắt đầu ấm dần lên một cách nguy hiểm.
Dưới đáy bùn, hai phiến lá ngọc bích vừa thoát khỏi cơn bạo phát bỗng khẽ run lên, mép lá hơi quăn lại trước sức nóng gắt gỏng từ trên cao dội xuống.
Nhận thấy mầm non đang co cụm lại trong sợ hãi, Tầm không kịp lau mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán, vội vã với tay chộp lấy tấm liếp tre đan vụn vỡ mà hôm qua anh để tạm bên vách đá. Anh cẩn thận kê nghiêng tấm liếp tựa vào thành giếng, tạo thành một mái che nhân tạo, chắn ngang hoàn toàn tia nắng gắt gỏng đang chiếu xuống, chỉ để lại một khoảng râm mát, tù mù và ẩm ướt bao bọc lấy ụ bùn non.
Thời gian chầm chậm trôi qua trong sự im lặng căng như dây đàn.
Mất gần nửa tuần nhang, những tiếng *xèo xèo* âm ỉ dưới lớp bùn mới tắt hẳn. Nhiệt độ xung quanh kẽ đá dần hạ xuống, trả lại cái lạnh lẽo vốn có của đáy giếng.
Nhánh rễ trong kẽ đá dường như đã vắt kiệt chút tàn lực cuối cùng. Khi Tầm run rẩy gạt nhẹ một góc bùn trên mặt ra để xem xét, vỏ rễ đã nguội hẳn, nhưng sắc trắng ngà tinh khôi ban đầu đã biến mất vĩnh viễn. Ngay sát chỗ vết rách bị cứa, một nốt sần màu xám tro, xù xì, chai cứng cỡ hạt kê đã hình thành tự bao giờ, tựa như một vết sẹo xấu xí, thô kệch phong kín lấy miệng vết thương.
Mầm cây vẫn còn sống. Hai phiến lá ngọc bích khẽ rung rinh trong bóng râm của tấm liếp tre, nhưng màu xanh của chúng đã tái đi trông thấy, sức sống rõ ràng đã sụt giảm nghiêm trọng sau cú sốc kinh hoàng vừa rồi.
Tầm buông thõng hai tay, ngồi bệt xuống lớp bùn nhão nhoét dưới đáy giếng, lưng tựa vào vách đá lạnh ngắt. Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm manh áo vải thô rách vai, dính bết vào da thịt anh nhớp nháp. Bàn tay phải của anh vẫn run lên bần bật theo từng cơn giật cục, ngón tay trỏ tím ngắt như quả mồng tơi chín, cứng đờ và mất hoàn toàn cảm giác tựa như một mẩu củi mục cắm vào bàn tay.
Ánh mắt Tầm trượt qua phiến đá, dừng lại ở mẩu rễ con bị gãy lìa nằm trơ trọi bên mép kẽ nứt.
Nó chỉ dài chừng nửa lóng tay, mỏng manh như một chiếc râu dế. Nhưng một nửa thân rễ con ấy đã hóa thành màu than đen kịt, giòn rụm, tỏa ra thứ mùi khét lẹt quen thuộc của những bãi xỉ quặng bị thiêu đốt ngày đêm trên đỉnh núi Thanh Lộ.
Tầm cẩn thận vươn bàn tay trái còn lành lặn nhặt mẩu rễ khô đó lên. Anh rút từ trong túi áo ra một mảnh lá chuối khô đã chuẩn bị sẵn từ trước, gói ghém mẩu rễ con lại từng lớp, từng lớp thật kín kẽ, rồi nhét sâu vào trong dải thắt lưng vải gai thô.
Anh phải tìm người hiểu chuyện này ngay lập tức. Một mình anh, với chút kiến thức nông cạn của một kẻ chỉ biết quanh năm cúi mặt xới đất trồng hoàng liên và ba mẩu khẩu quyết Dẫn Khí lượm lặt đầu đường xó chợ, suýt chút nữa đã tự tay bóp chết sinh linh này, tự tay chôn vùi lối thoát duy nhất của cả gia đình.
Nén cơn đau buốt đang râm ran truyền dọc cánh tay, Tầm bám vào sợi dây thừng kết bằng vỏ cây gai, dùng sức của đôi chân chai sần đạp vào từng hõm đá trên vách giếng, khó nhọc đu người trèo lên.
Lên đến miệng giếng, anh không dám nghỉ ngơi lấy một nhịp thở. Bàn tay run rẩy kéo tấm phên tre mục đậy kín miệng giếng lại, cẩn thận rải thêm một lớp cành gai khô và lá rụng xung quanh để ngụy trang từng li từng tí, sao cho không một kẻ tò mò nào có thể nhận ra dấu vết người vừa trèo xuống.
Mặt trời đã lên cao quá ngọn tre đầu làng, nhuộm một màu vàng quạch, ngột ngạt và ảm đạm lên lòng chảo Hạ Khê. Bụi xám quáng quàng bay theo từng cơn gió khô rang quét qua những thửa ruộng nứt toác như mai rùa. Đất đai khô cằn đến mức cây cỏ ven đường cũng phải rũ lá, bạc phếch đi vì khát nước.
Xa xa nơi triền dốc Thạch Nê, vài bóng người gầy guộc như những bộ xương di động đang còng lưng dùng cuốc chim bổ xuống nền đất đá xám ngoét. Tiếng kim loại va vào đá vang lên từng nhịp "chát... chát..." khô khốc, nặng nề, dội lại giữa không gian tĩnh mịch tựa như tiếng gõ cửa của tử thần. Cứ cách một quãng, tiếng ho sù sù xé ruột xé gan của những người mắc chứng phổi tro lại rộ lên từ các mái nhà tranh xiêu vẹo ven chân đồi, nghe thê lương và bi đát như tiếng thở dài của chính mảnh đất cằn cỗi này.
Tầm cúi gầm mặt, kéo sụp vành nón mê rách rưới xuống trán, rảo bước thật nhanh men theo con đường mòn phủ đầy bụi tro mịn màng, hướng thẳng về phía xóm dược hộ Bến Tro.
***
Nhà của bà giáo Bùi Sương nằm tách biệt hẳn ở rìa ngoài xóm Bến Tro, nép mình khiêm nhường dưới chân một mỏm đá vôi râm mát quanh năm.
Khác hẳn với cảnh tượng điêu tàn, xơ xác và ngổn ngang của những hộ dân chung quanh, khoảnh sân nhỏ trước cửa nhà bà được quét dọn sạch sẽ đến mức không thấy nổi một cọng rác thừa. Dưới bóng râm của vách đá, hàng chục chiếc nong tre, nia gỗ lớn nhỏ phơi đủ loại rễ cây, vỏ bồ hòn, thảo dược bình dân được kê ngay ngắn trên các giàn tre thấp. Mùi thuốc nam đắng ngắt, cay nồng hòa lẫn với mùi ngai ngái của đất mùn ủ mục từ những chậu sành méo mó tạo nên một bầu không khí tĩnh mịch, trầm lắng lạ thường.
Bùi Sương năm nay đã ngoài sáu mươi tuổi. Bà từng có hơn hai mươi năm ròng rã làm việc tại các dược viên lớn của Thanh Lộ Tông trên núi cao trước khi dứt áo trở về sống ẩn dật dưới chân lòng chảo nghèo nàn này.
Dân làm thuốc khắp vùng Bến Tro nể sợ bà không chỉ bởi tài bốc thuốc cứu người hay tay nghề chữa bệnh rễ cho cây cỏ đến mức xuất quỷ nhập thần, mà còn vì cái tính khí sắc sảo, nghiêm khắc đến mức cay nghiệt của bà. Suốt mấy mươi năm dạy dỗ đám con em trong làng nghề, bà chưa từng khen ngợi học trò lấy nửa câu khi chúng làm đúng; nhưng chỉ cần một đứa lơ là, cẩu thả hay làm sai lệch một bước nhỏ trong việc chăm sóc dược liệu, những lời quở trách của bà sắc lẻm như dao cạo sẽ trút xuống, đủ sức khiến kẻ mặt dày mày dạn nhất cũng phải cúi đầu hổ thẹn đến đỏ bừng mặt tía tai.
Khi bước chân Tầm chạm qua bờ rào dâm bụt khô héo trước ngõ, Bùi Sương đang ngồi một mình trên chiếc chõng tre cũ kỹ đặt trước hiên nhà. Trên tay bà là một con dao tre mỏng dính, bóng loáng nước thuốc, đang tỉ mẩn gọt từng lớp vỏ xù xí bên ngoài của củ thổ phục linh to bằng bắp tay. Mái tóc bà đã hoa râm quá nửa, búi gọn gàng sau gáy bằng một chiếc trâm gỗ trơn mộc mạc. Đôi mắt bà đã hơi kèm nhèm vì tuổi tác, nhưng mỗi khi ngước lên nhìn ai, con ngươi đen sẫm ấy tựa hồ có thể đâm xuyên qua da thịt, soi thấu tận ruột gan người đối diện.
"Đứng ngập ngừng ở cổng làm cái gì?"
Tiếng bà Sương cất lên, khô khốc và lạnh lẽo như tiếng lá khô cọ vào vách đá. Lưỡi dao tre trên tay bà vẫn thoăn thoắt lướt trên thân củ thuốc, không hề chệch đi nửa phân:
"Mộc gia dạo này phong lưu quá nhỉ, rảnh rỗi đến mức sáng sớm vác mặt sang đây đứng nhìn bà già này gọt vỏ thuốc à? Nửa mẫu hoàng liên cháy lá của anh ngoài bãi đã tưới xong chưa? Hay là định để mặc cho nó chết khô rồi dắt mẹ đi ăn mày?"
Tầm khẽ nuốt một ngụm nước bọt cay đắng, bước vội qua cổng đất, đi vào giữa sân rồi chắp hai tay cúi đầu thật thấp:
"Thưa bà giáo... con... con sang có chút việc muốn thỉnh giáo bà."
"Việc gì?" Bà Sương vẫn không ngẩng đầu lên, nhịp dao đều đặn gọt ra từng dải vỏ mỏng tang rơi xuống chiếc mẹt tre. "Hỏi xin nước thì cút ngay. Nước trong chum nhà này chỉ đủ nấu thuốc cho đám trẻ ho ra máu, không có thừa cho anh vãi ra đất. Hỏi vay bạc để nộp địa tô cho thằng chó Đỗ Kính thì càng không có cửa. Còn nếu hỏi thuốc cho mẹ anh thì lát nữa bảo con Nguyệt nó bốc cho nửa thang ma hoàng hãm với cát cánh mà uống dằn cơn ho qua ngày. Cứ đứng như trời trồng ở đấy làm gì?"
"Dạ không... con không dám xin nước, cũng không dám vay tiền của bà."
Tầm bước lên bậc thềm hiên nhà, cẩn thận đưa mắt ngó nghiêng ra phía bờ rào xem có ai lai vãng qua con đường mòn hay không. Thấy xung quanh vắng tanh chỉ có tiếng gió rít qua rặng tre khô, anh mới run rẩy thò bàn tay trái vào dải thắt lưng, rút gói lá chuối khô ra.
"Con... sáng nay đi xới lại mảng đất sụt ở chân vách đá sau nhà, tình cờ đào được một mẩu rễ thảo mộc mọc kẹt trong kẽ đá nứt. Nhìn hình dạng nó lạ lùng quá, mùi vị cũng chẳng giống bất cứ thứ gì trong sách thuốc của xóm mình, nên con mạo muội mang sang nhờ bà xem giúp xem nó là giống gì..."
Bùi Sương dừng tay dao. Đôi lông mày bạc khẽ nhíu lại thành một đường rãnh sâu hoắm trên trán.
Bà đặt củ phục linh còn gọt dở xuống mẹt, chầm chậm ngẩng đầu lên nhìn Tầm. Ánh mắt già nua quét qua nét mặt căng thẳng tột độ của anh, rồi dừng lại ở bàn tay phải đang giấu giếm sau vạt áo thô. Bà không nói gì, chỉ đưa một bàn tay gầy guộc đầy những vết sẹo sần sùi do nhựa độc ăn mòn ra phía trước:
"Đưa đây."
Tầm cẩn thận quỳ một gối xuống bên chõng tre, dùng các ngón tay mở từng lớp lá chuối khô đã giòn vụn. Mẩu rễ con dài nửa lóng tay lộ ra—một nửa thân mang sắc trắng ngà vỡ vụn, nửa còn lại đen cháy như than củi—được anh nhẹ nhàng đặt vào lòng bàn tay chai sạn của bà lão.
Vừa nhìn thấy mẩu rễ, con ngươi của Bùi Sương bỗng co rút lại trong tích tắc.
Bà không dùng ngón tay chạm trực tiếp vào phần màu đen kịt kia. Với kinh nghiệm hàng chục năm tiếp xúc với độc thảo, bà v với lấy con dao tre trên mẹt thuốc, dùng mũi dao nhọn khẽ lật nhẹ mẩu rễ qua lại.
Bà cúi sát mặt xuống, cánh mũi hơi phập phồng, hít một hơi thật sâu.
Sắc mặt Bùi Sương lập tức biến đổi hoàn toàn. Đôi mắt kèm nhèm bỗng quắc lên, hằn lên những tia giận dữ lạnh buốt xương tủy. Mùi khét ngọt lợ, nồng nặc mùi tro quặng và trọc khí bị thiêu đốt bốc lên từ mẩu rễ khiến bà không thể nhầm lẫn vào đâu được.
Bà dùng mũi dao tre sắc lẹm, ấn mạnh rồi rạch một đường dứt khoát dọc theo thân rễ—ngay tại điểm ranh giới giữa phần màu trắng ngà và phần đen cháy.
*Xoẹt.*
Một vệt dịch đen quánh, dẫu đã nguội và khô bớt phần nào nhưng vẫn còn ánh lên sắc tím độc hại ghê rợn, dính chặt vào đầu lưỡi dao tre.
"Cây mọc dại?"
Bùi Sương ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt sắc như hai mũi dùi găm thẳng vào mặt Tầm, khiến anh lạnh toát cả sống lưng:
"Anh lừa một bà già sắp xuống lỗ này đấy à Mộc Tầm? Thứ này mà là rễ cây mọc dại tự nhiên trong kẽ đá à?"
Tầm giật thót mình, cả người run lên bần bật, lùi lại nửa bước: "Bà... con..."
"Mày tưởng bà già này mù mắt, điếc tai, rụng hết mũi rồi nên không ngửi ra cái mùi tởm lợm này sao hả?"
Giọng Bùi Sương bỗng đanh lại, không còn vẻ mỉa mai, gắt gỏng thường ngày nữa mà thay vào đó là một sự thịnh nộ ngập tràn uy áp, khiến không khí trong gian hiên nhà như chùng hẳn xuống:
"Mùi tro nồng của trọc tức bị ninh chín trong lửa lò! Thớ rễ vỡ nát toác hoác từ trong ruột vỡ ra, vỏ ngoài thì phồng rộp mưng mủ, lõi trong thì cháy thành than xỉ! Đây là dấu vết của việc bị linh lực cưỡng ép rót vào một cách man rợ! Nói! Có phải mày vừa dùng cái thứ linh khí Dẫn Khí ba xu cặn bã của mày tọng thẳng vào cái rễ này không? HẢ?!"
Tiếng quát cuối cùng của bà như một hồi chuông giáng thẳng vào màng nhĩ Tầm.
Trước ánh mắt rực lửa và sắc sảo như muốn lột trần từng thớ thịt của người thầy cũ, mọi lời dối trá vụng về đều trở nên nực cười. Tầm tái mét mặt mày, hai chân mềm nhũn quỳ rạp hẳn xuống nền đất sân. Anh cúi gầm mặt, hai bàn tay siết chặt lấy vạt áo rách, giọng run rẩy ngắt quãng:
"Dạ... con lỡ dại... Con... con thấy nhánh rễ bị mảnh đá dăm cứa rách toác... dịch chảy ra nhiều quá... Con sợ nó héo chết mất, nên mới... mới đánh liều rót một chút mộc linh khí vào kinh mạch nó, định bụng làm liền vết thương..."
"Ngu xuẩn! Hỗn xược! Đồ làm vườn vô học! Đồ súc sinh cậy chút tài mọn!"
Bùi Sương đập mạnh cán dao tre xuống mặt chõng phát ra một tiếng "chát" chói tai, khiến chiếc mẹt thuốc nảy tung lên. Bà đứng phắt dậy, lồng ngực gầy guộc phập phồng dữ dội dưới lớp áo nâu sồng vá chằng vá đụp. Ngón tay gầy guộc, khẳng khiu như cành củi khô của bà chỉ thẳng vào trán Tầm, từng lời thốt ra như những nhát búa nện vào tâm can anh:
"Mày học đòi cái thói kiêu ngạo, hống hách, tự cao tự đại của cái đám tu sĩ thượng lưu trên đỉnh Thanh Lộ từ bao giờ thế hả? Hít thở được dăm ba sợi linh khí cặn bã lượm lặt trong trời đất, mở được ba cái khiếu huyệt Dẫn Khí rách nát là tưởng mình hóa thành thần tiên cứu thế rồi chắc? Mày nghĩ linh khí của mày là tiên dược vạn năng của Đạo Tổ ban xuống à? Cứ thấy cây héo là đổ vào, thấy rễ rách là nhét vào, tưởng thế là cứu vớt, tưởng thế là ban ơn sao?"
Tầm cắn chặt môi đến ứa máu, không dám ngẩng đầu lên, cũng không dám cãi lại nửa lời. Cơn đau nhức nhối nơi ngón tay trỏ dường như lại giật lên từng cơn buốt nhói theo từng câu mắng nhiếc của bà giáo già.
"Mày có biết tại sao ba mươi mẫu dược viên thượng đẳng trên đỉnh Thanh Lộ hai năm trước bị cháy rụi sạch bách, biến thành bãi tha ma đá xỉ không?"
Bùi Sương thở dốc, giọng bà run lên, không chỉ vì tức giận mà còn vì một nỗi đau đớn, cay đắng và phẫn uất chôn giấu suốt bao năm qua bỗng bị xới lộn lại. Đôi mắt già nua của bà nhìn đăm đăm vào khoảng không vô định trên đỉnh núi xa mờ bụi xám:
"Năm đó, khi các linh mạch ngầm bắt đầu suy kiệt, nước thải từ các lò luyện đan và các trận pháp thu gom linh khí cạn kiệt bắt đầu ngấm sâu vào tầng đất đáy. Những luống bạch chỉ ngàn năm, những vạt tử sâm quý giá bắt đầu có dấu hiệu thối rễ, héo ngọn. Đáng lẽ ra phải hạ đài nước, phải bón mùn ủ tro để lọc bỏ độc chất, phải để đất nghỉ ngơi dưỡng sức... thì cái đám chấp sự, cái đám đan sư cậy mình có tu vi Trúc Cơ, Kim Đan trên núi đã làm gì? Chúng nó lập đại trận! Chúng nó thi nhau vận chuyển chân nguyên cuồn cuộn ép thẳng xuống lòng đất, bắt cây cỏ phải nuốt lấy nuốt để thứ linh khí nhân tạo hung bạo ấy để mau đơm hoa kết hạt, để kịp cống nạp đan dược cho tông môn!"
Bà quay phắt lại, mũi dao tre run rẩy chỉ thẳng vào mẩu rễ cháy đen trên chõng:
"Kết quả là gì? Toàn bộ rễ cây nổ tung! Toàn bộ độc chất tích tụ dưới đáy đất gặp phải linh khí thuần dương bị kích động kịch liệt, biến thành một biển lửa ngầm thiêu rụi toàn bộ gốc rễ từ trong lòng đất! Ba mươi mẫu dược viên chỉ sau một đêm biến thành tro tàn! Đất đai chai cứng lại như sắt nung, biến thành vùng đất chết không một cọng cỏ nào mọc nổi cho đến tận ngày hôm nay! Bọn chúng tưởng tu vi là tất cả, tưởng linh lực có thể xoay chuyển càn khôn, nhưng bọn chúng ngu xuẩn không hiểu nổi một đạo lý sơ đẳng nhất của trời đất: Cây cỏ sống nhờ đất, nương tựa vào nhịp thở của đất, chứ không sống nhờ cái thói ngạo mạn, áp đặt của lũ tu sĩ chúng mày!"
Từng lời nói của Bùi Sương như những gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt Tầm, bóc trần toàn bộ sự dốt nát, mù quáng và nông nổi của anh dưới đáy giếng sáng nay. Lưng áo anh ướt đẫm mồ hôi lạnh, từng khớp xương run rẩy.
"Bà giáo..." Tầm nuốt nước bọt, lí nhí cất tiếng hỏi, giọng nghẹn ngào: "Rễ này... rốt cuộc tại sao lại phản ứng dữ dội đến mức ấy? Con... con thực sự chỉ rót vào một sợi linh khí rất nhỏ, mỏng manh như sợi tơ thôi..."
"Một sợi tơ cũng là thuốc độc giết chết nó!"
Bùi Sương trừng mắt nhìn anh, nhưng cơn thịnh nộ dường như đã lắng xuống đôi chút, nhường chỗ cho sự nghiêm cẩn, sắc lạnh của một người đã dành cả đời để thấu hiểu từng mạch rễ cây cỏ. Bà ngồi thụp xuống chõng, cầm mẩu rễ lên sát mắt:
"Mày tự mở mắt ra mà nhìn cho kỹ mẩu rễ này xem. Vỏ ngoài của nó dày gấp ba lần rễ cây thông thường, các sợi lông hút li ti bám chặt lấy từng hạt khoáng chất xám xịt, cấu trúc bên trong dày đặc những túi giữ độc tự nhiên. Bản thân cái giống cây này—dẫu đời tao chưa từng thấy giống loài nào quái đản như thế—sinh ra không phải để hưởng thụ linh khí thanh khiết. Nó sinh ra là để ngậm lấy cặn bã, sống chung với trọc tức của bùn lầy! Nó có quy luật tuần hoàn, có kinh mạch và nhịp thở riêng biệt của nó!"
Bà gõ nhẹ sống dao tre vào mặt bàn:
"Khi rễ nó bị rách, các túi độc đang hở miệng, mày lại tống thứ linh khí nhân tạo thuần dương của mày vào, khác nào mày châm mồi lửa vào đống bổi khô? Khác nào mày đổ nước sôi vào tổ kiến đang vỡ? Dòng linh khí ngoại lai của mày làm đảo lộn hoàn toàn dòng chảy bên trong, ép các túi trọc tức phải xả ngược ra ngoài để tự vệ! Nó không nổ tung băm nát xác mày tại chỗ là tiên tổ nhà họ Mộc mày còn tích đức đấy!"
Tầm nghe mà sởn gai ốc. Anh bất giác đưa bàn tay phải lên, nhìn chằm chằm vào ngón tay trỏ đang thâm sì, bất động.
Đúng là nó đã suýt nổ tung. Nếu sáng nay anh không nhanh tay bốc bùn đắp lại, nếu anh cố chấp rót thêm một sợi linh khí nữa, thì cái chết dưới đáy giếng hoang là điều chắc chắn đã xảy ra.
"Thế... thế sau khi nó phát nhiệt..." Tầm ngập ngừng, giọng run run nhớ lại khoảnh khắc kinh hoàng: "Con hoảng quá, vội lấy bùn mùn ẩm ở góc tối phủ kín lên gốc rễ, rồi lấy phên tre che bớt ánh nắng gay gắt từ miệng giếng rọi xuống... Sau đó một lát thì nó dịu đi, tiếng xì xì tắt hẳn, và chỗ vết rách kết lại thành một nốt sần màu xám tro chai cứng..."
Bùi Sương liếc xéo anh một cái thật sâu. Sắc mặt bà khẽ giãn ra đôi chút, tia giận dữ trong mắt dần tan biến, thay vào đó là một tia ngạc nhiên kín đáo:
"Cũng may là cái bản năng làm vườn của tổ tiên nhà họ Mộc mày chưa bị mấy câu khẩu quyết tu tiên ba xu làm cho thối rữa hoàn toàn. Phủ bùn ẩm để giải nhiệt độc, che bóng râm để tránh hỏa khí của ánh nắng hun đốt... đó là cách xử lý duy nhất giữ lại mạng sống cho nó trong tình huống đó."
Bà khẽ thở dài một tiếng, đặt mẩu rễ khô xuống mặt chõng:
"Cái nốt sần xám tro mà mày thấy, chính là lớp vỏ bảo vệ tạm thời mà nó tự ép nhựa cây và khoáng chất tiết ra để phong tỏa túi độc sau cú sốc do mày gây ra. Nó tự tạo một cái kén để tự chữa trị. Nhưng mày phải nhớ cho kỹ vào đầu: mỗi một lần bị sốc như thế, sinh cơ của nó sẽ tổn hao nghiêm trọng. Nếu mày còn ngu xuẩn làm thế một lần thứ hai, rễ cái của nó sẽ thối rữa từ tận tim rễ, và lúc đó thì dù có rước thần tiên phương nào về, vốc thứ bùn quý nào đắp lên cũng không cứu nổi đâu!"
Dứt lời, Bùi Sương đứng dậy, quay lưng bước thẳng vào gian nhà thuốc tối om phía sau.
Bên trong nhà vang lên tiếng lục lọi lạch cạch của những ngăn kéo gỗ cũ kỹ, tiếng sột soạt của giấy bản khô giòn. Tầm quỳ nguyên tại chỗ, tim đập thình thịch, không dám cử động hay thở mạnh.
Một lát sau, bà giáo bước trở ra. Trên tay bà là một cuốn sổ mỏng được khâu tay vụng về bằng chỉ gai thô, bìa làm bằng thứ giấy bổi màu vàng xỉn, mép giấy đã sờn rách và ố vàng theo năm tháng. Cùng với cuốn sổ là một mẩu than củi ngắn bằng ngón tay út, đã được gọt nhọn một đầu.
Bùi Sương bước đến mép chõng, thẳng tay ném cuốn sổ và thanh than xuống mặt tre, ngay trước đầu gối của Tầm.
*Bộp.*
"Cầm lấy." Giọng bà đanh thép, lạnh lùng như gang thép, không cho phép bất kỳ sự thoái thác nào.
Tầm ngơ ngác nhìn cuốn sổ giấy bổi thô ráp nằm trên nền tre, rồi ngước lên nhìn bà:
"Thưa bà giáo... đây là..."
"Sổ ghi chép."
Bùi Sương khoanh hai tay trước ngực, đứng sừng sững như một pho tượng đá, đôi mắt sắc lẹm nhìn thẳng vào mắt anh:
"Tao không cần biết mày tìm thấy cái giống cây quái đản này ở xó xỉnh nào dưới lòng đất, và tao cũng chẳng thèm quan tâm mày đang giấu giếm cái gì dưới đáy giếng hay sau vách núi. Nhưng nếu mày thực sự muốn giữ cho cái mầm cây ấy sống sót—thay vì tự biến bản thân thành một kẻ đồ tể vô tri như cái lũ tu sĩ trên núi Thanh Lộ—thì từ ngày hôm nay, mày phải học lại từ đầu cách làm một người trồng cây chân chính!"
Bà đưa ngón tay gầy guộc chỉ thẳng vào những trang giấy bổi còn để trống:
"Mỗi một ngày, chia làm ba cữ: sáng sớm khi sương chưa tan, giữa trưa khi mặt trời đứng bóng, và chiều tà khi nắng vừa tắt. Mày phải dùng chính đôi mắt, cái mũi và từng đầu ngón tay của mày để quan sát, kiểm tra cho tao ba điều sau đây:
Điều thứ nhất: Độ ẩm của đất quanh rễ. Đất đang se mặt lại hay lớp bùn vẫn còn nhão quánh? Vắt thử một nắm đất nhỏ trong lòng bàn tay xem có rỉ ra được giọt nước nào không? Nước rỉ ra trong suốt hay có váng tro quặng xám xịt?
Điều thứ hai: Màu sắc của đất và sắc diện của vỏ rễ. Lớp đất quanh gốc giữ nguyên màu nâu đen của mùn mục hay bắt đầu ngả sang màu xám tro khô khốc? Vỏ rễ cây giữ sắc trắng ngà, xanh biếc, hay bắt đầu xuất hiện những vệt tím tái, những nốt sần sẫm màu?
Điều thứ ba: Nhiệt độ trong từng kẽ nứt của đất. Không được dùng linh lực để dò xét! Mày phải áp mu bàn tay trần của mày vào lớp đất sát gốc rễ. Cảm nhận xem đất mát lạnh bình thường hay bắt đầu hâm hấp sốt? Có luồng nhiệt ngầm nào đang âm ỉ sôi dưới kẽ đá hay không?
Tất cả những thứ đó, từng ngày, từng khắc, từng biến chuyển nhỏ nhất, mày phải dùng thanh than này ghi chép rành rẽ từng chữ vào cuốn sổ này cho tao! Không được bỏ sót một dấu hiệu nào, dù là nhỏ bằng hạt cát!"
Tầm run rẩy vươn hai bàn tay ra, nâng cuốn sổ giấy bổi lên ngang ngực.
Bề mặt giấy ráp nhám, thô mộc, vương vấn mùi rơm rạ mục nát và mùi khói bếp thân thuộc. Cuốn sổ mỏng manh, nhẹ bẫng chẳng đáng mấy đồng tiền kẽm, nhưng khi cầm trên tay, Tầm lại cảm thấy nó nặng trĩu tựa hồ vạn cân.
Đó không phải là một cuốn bí kíp công pháp tu tiên rực rỡ hào quang mà lũ tu sĩ tranh giành đến đổ máu ngoài kia. Đó là sự đúc kết đắng cay, là bài học xương máu của những thế hệ nông phu, dược hộ đã từng tận mắt chứng kiến đất đai tổ tiên, quê hương bản quán bị tàn phá rụi tàn bởi sự thiển cận và lòng tham ngạo mạn.
"Cây cỏ không bao giờ biết nói dối,"
Bùi Sương hạ thấp giọng xuống. Ánh mắt già nua của bà rời khỏi người Tầm, nhìn xa xăm ra khoảng sân nắng chói chang, nơi những luống đất nứt nẻ ngoài đồng đang oằn mình rên xiết dưới cơn đại hạn:
"Nó là thứ chân thật nhất của trời đất. Nó chỉ đối đãi với mày bằng đúng cái cách mà mày đối xử với nó. Mày tôn trọng nhịp thở của nó, mày kiên nhẫn cho nó thời gian, mày giữ ẩm cho nó trong bóng râm mát mẻ, thì nó sẽ sống, sẽ lớn lên và cứu lấy mạng sống của mày. Còn nếu mày nôn nóng, mày tham lam, mày muốn cậy sức mạnh linh lực để cưỡng ép nó phải lớn nhanh theo ý muốn của mày... thì chính thứ độc khí tích tụ trong rễ nó sẽ quay ngược lại cắn xé, chôn sống cả mày lẫn mảnh đất Hạ Khê này!"
Bà lão phẩy nhẹ tay áo thô, dứt khoát quay lưng bước về phía giàn thuốc đang phơi nắng:
"Cầm lấy đồ đạc rồi xéo đi. Về nhà lấy dao tre cạo sạch lớp da chết tím ngắt trên ngón tay trỏ đi, rồi ra bờ rào hái một nắm lá bồ hòn tươi giã nát với muối hạt mà đắp vào, để nó hút bớt trọc khí ra ngoài. Nếu để trọc tức ăn sâu vào tận xương tủy, thì chặt ngón tay đi là vừa. Lần sau còn vác cái bộ mặt ngạo mạn của một kẻ tu tiên nửa mùa đến đây hỏi tao những câu ngu xuẩn như thế, tao sẽ lấy chổi đót quét thẳng cổ ra khỏi ngõ!"
Tầm ôm chặt cuốn sổ giấy bổi và thanh than củi vào lòng, dập đầu chạm trán xuống bậc thềm hiên nhà:
"Con... con tạ ơn bà giáo chỉ điểm. Ơn cứu mạng này, Mộc Tầm con khắc cốt ghi tâm suốt đời không dám quên."
Anh không dám nán lại thêm một khắc nào nữa để làm phiền bà lão.
Tầm đứng dậy, cẩn thận gói mẩu rễ khô cháy đen vào lại lớp lá chuối khô, nhét sâu vào trong bọc vải cùng với cuốn sổ và thanh than, rồi cúi đầu bước nhanh ra khỏi cổng ngõ nhà Bùi Sương.
Con đường mòn dẫn trở về lòng chảo Hạ Khê lúc giữa trưa nắng như trút lửa xuống đầu.
Bụi xám quặng bốc lên cuồn cuộn theo từng bước chân vội vã của Tầm. Gió lào thổi rát rạt qua mặt, mang theo hơi nóng hầm hập của đất đá nung. Cơn đau buốt nơi ngón tay trỏ vẫn âm ỉ nhức nhối theo từng nhịp đập của mạch máu, da thịt cứng đờ nhắc nhở anh về cái giá đắt đỏ của sự liều lĩnh suýt phải trả bằng cả mạng sống sáng nay.
Nhưng trong tâm trí Tầm lúc này, sự hoảng loạn mù quáng, cảm giác bất lực đến nghẹt thở lúc bình minh đã hoàn toàn biến mất.
Thay vào đó là một sự tỉnh táo lạnh lùng, sắc bén và chuẩn xác đến kỳ lạ.
Anh đã hiểu ra rồi.
Mầm Tức Căn ẩn mình dưới đáy giếng hoang sâu bốn trượng kia tuyệt đối không phải là một món linh thảo thần kỳ trong truyền thuyết, càng không phải là thứ để một kẻ mang chút mộc linh khí sơ cấp như anh có thể tùy tiện thúc ép, cưỡng cầu nó sinh sôi nảy nở chỉ sau một đêm. Nó là một sinh mệnh quật cường sinh ra từ chính vùng đất chết này. Nó đang âm thầm, nhẫn nại dùng từng sợi rễ tơ mong manh gánh vác thứ bùn độc, thứ trọc tức tàn bạo của cả một vùng đất bị tàn phá vào sâu trong lòng nó.
Muốn nó sống sót, muốn nó lớn lên để trở thành chỗ dựa cho gia đình, anh phải học cách vứt bỏ cái ảo tưởng ngạo mạn của một kẻ tu tiên Dẫn Khí. Anh phải học cách làm một người nông phu thuần thành: biết cúi mình trước đất mẹ, biết lắng nghe từng nhịp thở của rễ cây, biết kiên nhẫn nâng niu từng giọt nước và từng bóng râm mát lành.
Bàn chân trần của Tầm rảo bước nhanh hơn, đạp lên lớp đá dăm lởm chởm trên bờ rào tre xơ xác dẫn vào vườn thuốc Mộc gia.
Thế nhưng, khi vừa bước chân qua cánh cổng tre xiêu vẹo, bàn tay trái của anh vô tình chạm nhẹ vào ngực áo.
*Soạt.*
Một vật cứng ngắc, thô ráp cọ xát vào da thịt anh qua lớp vải áo mỏng manh.
Đó là tờ giấy nợ dán sáp đỏ chót của Vạn Thạch Hành giấu kín trong túi trong. Vết sáp niêm phong cứng đờ như một chiếc gai nhọn đâm thẳng vào lồng ngực anh, mang theo một cơn đau nhói buốt lạnh lùng.
Tầm khựng lại giữa sân đất nứt nẻ.
Thời gian... tàn nhẫn thay, thời gian lại không hề đứng về phía anh.
Dưới đáy Giếng Cạn tăm tối, mầm cây non nớt vừa trải qua một cơn thập tử nhất sinh, mang trên mình vết sẹo xám tro co thắt, đang cần từng ngày, từng tháng bình yên trong bóng râm ẩm ướt để thở, để dưỡng thương và hồi phục sinh cơ. Nó cần sự nhẫn nại vô bờ bến của một người làm vườn.
Nhưng mảnh giấy nợ vô tình nơi ngực áo lại rành rành nhắc nhở Tầm một sự thật nghiệt ngã: Đỗ Kính và đám tay sai hung hãn của Vạn Thạch Hành sẽ không cho anh thời gian.
Anh chỉ còn chưa đầy bốn tuần ngắn ngủi trước ngày kỳ hạn cuối cùng điểm xuống. Bốn tuần nữa, nếu không có bạc nộp tô, bọn chúng sẽ xông vào cướp trắng mảnh vườn này, đuổi mẹ con anh ra đường chết đói.
Tầm siết chặt cuốn sổ giấy bổi trong tay, ánh mắt nhìn sâu vào vạt hoàng liên héo rũ, rồi hướng về phía miệng giếng hoang đang phủ kín cành gai khô nơi góc vườn. Giữa nhịp thở chậm rãi của đất trời và lưỡi gươm thời gian đang kề sát cổ, anh biết mình sắp phải bước vào một canh bạc sinh tử mà không một bước chân nào được phép sai lầm.