Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtC.1 / 36
Chương 1

Giếng Còn Một Hơi Thở

Tiếng róc rách của rãnh nước dẫn từ triền núi Thanh Lộ đã tắt ngấm từ ba ngày trước, để lại lòng chảo Hạ Khê dưới một lớp bụi xám quánh đặc như tro bếp mới cời.

Gió từ mỏm đá phía bắc tràn xuống thung lũng không còn mang theo hơi sương lạnh ngậm mùi lá mục của rừng thông già như mọi năm. Nó chỉ cuộn theo từng đợt khí hanh khô, nồng nặc mùi quặng nung dở lẫn với cái vị khen khét của đá vôi nung quá lửa. Mộc Tầm ngồi xổm bên bờ luống phân ranh, hai ống quần chàm buộc túm nơi cổ chân đã bám một lớp bụi mịn màu chì. Hai đầu ngón tay trần của anh cắm sâu xuống ba tấc đất khô khốc, chậm rãi bới từng mẩu đất vụn. Dưới móng tay anh, đất không còn cái độ xốp mịn, ngậm nước và phảng phất linh dịch ấm áp của những mùa mưa thuận gió hòa thuở trước; nó vỡ vụn thành từng mảng giòn sần sật, lạo xạo như vỏ trấu mục bị phơi dưới nắng nỏ nhiều ngày.

Những gốc hoàng liên ba năm tuổi nằm rạp trên mặt luống, ủ rũ như những túm cỏ dại sắp tàn. Phiến lá của chúng, vốn dĩ vào độ này phải mang sắc xanh thẫm dày dặn cùng những đường viền răng cưa bóng bẩy óng ánh linh quang, nay quăn queo lại, đầu lá cháy xém rồi ngả sang màu vàng vôi chết chóc. Tệ hại hơn cả không chỉ là sự thiếu nước thông thường, mà là mặt đất xung quanh từng gốc cây: một lớp váng xám nhờ nhợt, nhờn nhẫy như mỡ cá chết đã bắt đầu đóng kết lại thành từng mảng vảy cứng, bít kín mọi lỗ thở li ti của mặt luống.

Đó là dấu vết không thể lầm lẫn của thứ nước thải quặng và trọc tức lắng đọng sau khi dòng linh khí tự nhiên từ thượng nguồn bị chặn đứng hoàn toàn. Khi các tiên môn trên đỉnh núi Thanh Lộ hạ rào chắn, đóng chặt các cửa đập dẫn thủy để gom toàn bộ linh mạch vào duy trì đại trận hộ sơn và cung cấp cho các lò luyện đan tầng cao, những gì tràn xuống hạ lưu chỉ còn là cặn bã của quặng thải, xỉ lò và nước rửa trận bàn. Thứ nước bẩn thỉu ấy ngấm qua lòng đất, để lại một lớp trầm tích độc hại bóp nghẹt mọi sinh linh nằm ngoài sự che chở của tiên tông.

Tầm khẽ thở hắt ra một hơi, chậm rãi nhắm mắt lại. Anh điều động tia chân khí mỏng manh đang lưu chuyển trong đan điền của mình.

Tu vi Dẫn Khí tầng ba của anh quá đỗi nhỏ bé trong thế giới tu hành rộng lớn ngoài kia. Nó chẳng đủ để anh thi triển một đạo phù chú tấn công ra hồn, càng không thể giúp anh ngự kiếm phi hành hay thi triển pháp thuật khai sơn phá thạch để dời non lấp bể. Thế nhưng, qua mười mấy năm lặn lội với nghề làm vườn thuốc của gia đình, chút cảm ứng linh lực ít ỏi ấy lại biến lòng bàn tay anh thành một chiếc cân đo độ ẩm và sinh khí vô cùng mẫn cảm. Anh áp trọn lòng bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì sương gió xuống lớp váng đá vôi xám xịt đang đông kết quanh một gốc hoàng liên còi cọc.

Lạnh buốt, khô khốc và trơ trọi.

Không có lấy một gợn sóng linh khí nhỏ nhoi nào dội ngược lại lòng bàn tay anh. Tuyệt nhiên không. Dưới lớp vỏ vôi kết cứng như đá tảng ấy, bộ rễ của những cây hoàng liên quý giá đang ngạt thở từng khắc từng giờ. Chúng bị giam hãm trong thứ đất chết đang dần hóa đá, các đầu rễ tơ mềm mại đã bắt đầu thối rữa dưới sức ép của thứ trọc tức vô hình nhưng nặng trịch tích tụ dưới đáy lòng chảo. Đất không thở được, rễ không vươn ra được. Nếu không có nước sạch tưới rửa, tháo sạch lớp cặn quặng này trong vòng mười ngày tới, cả nửa mẫu dược thảo này—vốn liếng gom góp, chắt bóp qua hai đời người của Mộc gia—sẽ biến thành một đống rơm khô vô giá trị rải rác trên nền đất chết.

"Anh Cả!"

Một tiếng gọi khàn đặc vì khói bụi vang lên từ phía con đường mòn đắp bằng đất thó dẫn ra ngõ. Tầm rút tay khỏi mặt đất, phủi vội lớp bụi xám bám chặt quanh các kẽ móng tay rồi đứng dậy. Khớp gối anh kêu răng rắc sau một buổi sáng dài ngồi bất động bên luống thuốc.

Mộc An đang bước vội qua cổng rào tre xiêu vẹo. Cô em gái mười bảy tuổi của anh quấn chặt một chiếc khăn vải thô quanh cổ để che kín mũi và miệng, nhưng vạt áo chàm cũ kỹ của cô vẫn bạc phếch đi vì bụi đường bám dày. Đôi vai gầy gộc của cô lệch hẳn sang một bên dưới sức nặng của nửa bao cám thô vác trên lưng; dây thừng bện bằng vỏ chuối xiết chặt vào bờ vai khiến từng bước chân trên nền đất nứt nẻ có phần lảo đảo. Đôi mắt vốn sáng và lanh lợi của An hôm nay hoe đỏ, mí mắt sưng mọng vì gió cát dọc chặng đường dài từ Chợ Bến Tro trở về.

Tầm bước nhanh tới, vươn hai tay đỡ lấy bao tải trên vai em gái rồi đặt xuống thềm đá trước hiên:

"Đã dặn là bao cám này cứ gửi lại ở quán trà, nhờ xe bò của bác Trịnh chở về cùng chuyến hàng chiều, sao lại tự vác bộ hơn mười dặm đường nắng nôi thế này?"

"Xe bò nhà bác Trịnh bị người ta giữ lại ở trạm thu phí ngoài lối rẽ rồi anh," An thở dốc, hai tay run run kéo chiếc khăn che mặt xuống, để lộ gương mặt lem luốc những vệt mồ hôi quyện chặt với tro xám bám thành từng mảng nơi gò má. Cô rút từ trong tay áo ra một chiếc bầu nước rỗng không bằng quả bầu khô, lắc lắc vài cái nghe lạo xạo khô khốc. "Tiên môn lập thêm rào chắn bằng gỗ thiết mộc, lính canh đồn trú đòi mỗi chuyến xe chở hàng qua trạm phải nộp hai mươi tiền đồng hoặc một mẩu vụn linh thạch. Bác Trịnh không có tiền nộp thêm, cãi cọ một hồi không xong đành phải quay đầu xe lại chợ. Em sợ trễ bữa cháo trưa của mẹ nên mượn cái đòn xóc, đi bộ đường tắt luồn qua Khe Táng Thủy mới về được đến đây."

An đưa ống tay áo quệt vội mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán, rồi ngập ngừng nhìn anh trai. Ánh mắt cô dao động, vẻ mệt mỏi trên gương mặt đột ngột nhường chỗ cho sự bất an sâu sắc. Bàn tay gầy guộc của cô luồn sâu vào trong ngực áo chần bông cũ kỹ, ngón tay run rẩy chạm vào một góc giấy cứng cáp giấu kín bên trong.

"Còn chuyện này nữa..." An hạ thấp giọng xuống mức tối thiểu, dường như sợ âm thanh của mình có thể lọt qua khe vách đất nứt nẻ mà bay vào tận buồng trong. "Người của Vạn Thạch Hành... họ không chịu chờ đến cuối tháng như đã hứa. Sáng nay chưởng quỹ Đỗ Kính sai người đứng ngay đầu chợ Bến Tro chặn đường em."

Cô run rẩy rút ra một tờ giấy gấp làm tư. Giấy xuyến dày màu vàng ngà, loại giấy thượng hạng của các hiệu buôn lớn trên trấn, mép giấy dán kín bằng sáp niêm màu huyết dụ, nổi rõ hình con dấu triện hình vuông khắc bốn chữ "Vạn Thạch Thông Thương" sắc cạnh.

Tầm không nói một lời, vươn bàn tay thô ráp đón lấy tờ giấy. Đầu ngón tay anh chạm vào con dấu sáp đỏ; vết sáp còn mới tinh, thậm chí mùi chu sa hăng hắc xen lẫn mùi xạ hương đặc trưng của phường buôn vẫn xộc thẳng vào cánh mũi anh, gay gắt và bức bối.

"Họ nói gì với em?" Tầm hỏi, giọng bình thản đến mức chính anh cũng cảm thấy ngạc nhiên, dẫu cho từng thớ thịt nơi lồng ngực đang thắt lại từng cơn.

"Họ bảo đưa tận tay cho anh, không được để lọt vào tay người ngoài. Họ nói mẹ uống thuốc của hành quán suốt nửa năm qua, tiền nợ thuốc thang cộng với tiền lãi phát sinh đã vượt quá số bạc cọc ghi trong văn tự nhận vườn mùa trước. Họ bảo..." An cắn chặt môi dưới, ánh mắt vô thức nhìn về phía những luống hoàng liên úa vàng đang nằm thoi thóp sau lưng Tầm, "họ bảo nếu trong vòng..."

"Được rồi, để anh xem."

Tầm ngắt lời em gái bằng một động tác dứt khoát nhưng không hề thô bạo. Anh khẽ xoay nghiêng người, vờ như muốn dùng lưng che chắn luồng gió bụi vừa thốc tới từ phía đầu ngõ, rồi nhanh tay lật mép giấy ra một khoảng vừa đủ dưới tầm mắt mình. Dưới ánh sáng đùng đục của buổi trưa oi ả, ánh mắt anh lướt nhanh qua những dòng mực đen viết bằng lối chữ chân phương nhưng sắc nhọn như dao cạo:

*...Gia hạn đến ngày ba mươi tháng này. Quá hạn không thanh toán đủ mười hai lượng bạc trắng và ba viên linh thạch hạ phẩm tiền thuốc trị chứng phế tro, khế ước thế chấp lập vào ngày rằm tháng Chạp lập tức có hiệu lực. Vạn Thạch Hành sẽ tiếp quản toàn bộ nửa mẫu vườn thuốc cùng quyền trích nước tại địa phận Hạ Khê để trừ nợ...*

Ba mươi ngày.

Tầm siết chặt ngón tay, mép giấy xuyến nhăn nhúm lại dưới áp lực của các khớp xương đang trắng bệch ra vì kìm nén.

Thời hạn trong khế ước gốc ký vào mùa đông năm ngoái vốn dĩ là sau vụ thu hoạch mùa thu năm nay, khi lứa hoàng liên này có thể đào củ đem bán cho các dược phường ngoài phủ. Nhưng Đỗ Kính là kẻ lọc lõi. Hắn nhận ra dòng chảy linh khí từ núi Thanh Lộ đã cạn kiệt, biết đất đai vùng lòng chảo đang chết dần và giá trị vườn tược sẽ rơi thẳng xuống đáy vực trong vài tháng tới. Hắn muốn siết nợ ngay lúc này, khi mảnh đất vẫn còn vớt vát được chút giá trị pháp lý về quyền trích nước ngầm, trước khi toàn bộ biến thành đá vụn vô giá trị. Hắn muốn dồn nhà họ Mộc vào bước đường cùng.

Trước khi An kịp nhón chân nhìn qua bờ vai anh để đọc phần thời hạn chết tiệt ấy, Tầm đã gập phắt tờ giấy lại, nhét gọn vào túi trong của vạt áo chần bông, sát ngay cạnh lồng ngực đang đập từng nhịp dồn dập và nặng trĩu.

"Không có gì nghiêm trọng đâu," Tầm nhìn thẳng vào mắt em gái, gượng nở một nụ cười khô khốc trên đôi môi nứt nẻ. "Họ chỉ gửi bản kê đối chiếu số thang thuốc của tháng trước thôi, sợ bên mình tính nhầm sổ sách ấy mà. Vào nhà uống ngụm nước rồi nghỉ đi, bao cám này để anh vác vào bếp cho."

An nhìn anh, đôi mày thanh tú chau lại đầy vẻ nghi hoặc và hoang mang:

"Anh gạt em. Nếu chỉ là đối chiếu thang thuốc, sao Đỗ chưởng quỹ lại cử hai tên võ phu mang đao đứng canh ở chợ? Em biết món nợ đó lớn thế nào. Mẹ uống mỗi thang đan dược pha bột tuyết ngọc đều tốn kém bằng cả tháng tiền bán rau của hai anh em gộp lại..."

"Khụ! Khụ khụ... khụ..."

Một tràng ho dữ dội, khô khốc và kéo dài từ trong gian buồng tối phía sau tấm rèm vải bố xé toạc bầu không khí ngột ngạt ngoài sân. Tiếng ho ấy nghe rợn người, như tiếng hai mảnh ngói vỡ chà xát vào nhau trong một ống bễ rách nát; nó nghẹn ứ, tuyệt vọng, giằng xé từng tấc phế quản, rồi kết thúc bằng một tiếng thở rên rỉ kéo dài vì không tài nào hít đủ dưỡng khí vào lồng ngực. Đó là tiếng ho của mẹ họ—cơn đau đớn quen thuộc của những người mắc phải chứng bệnh "phế tro", hậu quả của nhiều năm trời làm thuê trong các hầm đãi quặng và hít thở thứ bụi đá lẫn trọc tức độc hại bay lơ lửng khắp thung lũng.

Cả hai anh em cùng sững sờ. Mộc An tái mét mặt mày, lập tức quên bẵng tờ trát nợ vừa đưa, vội vã nhấc vạt áo chạy bổ vào trong nhà:

"Mẹ! Đỡ mẹ ngồi dậy, đừng để mẹ nằm gập người kẻo tắc đờm..."

Tầm đứng chôn chân giữa sân, hai bàn tay buông thõng bên sườn dần siết chặt lại thành nắm đấm đến mức móng tay găm sâu vào da thịt. Qua khung cửa sổ dán giấy gió rách bươm từng mảng, anh nhìn thấy bóng lưng gầy guộc của em gái đang cuống cuồng vỗ nhẹ lưng cho mẹ, bàn tay cô run rẩy bưng lấy một chiếc bát mẻ. Tiếng ho sau một hồi giằng xé thì dịu đi đôi chút, nhưng thay vào đó là tiếng thở rít khè khè như tiếng bễ rèn thủng gió, từng nhịp, từng nhịp đều đặn dội thẳng vào màng nhĩ anh như những nhát búa đập.

Nhà đã không còn một giọt nước sạch nào.

Chiếc lu sành đặt dưới máng xối bên hông nhà đã trơ đáy từ trưa hôm qua. Khi Tầm cúi nhìn vào đó sáng nay, anh chỉ thấy một lớp cặn vôi màu trắng đục pha xám bám chặt lấy đáy lu như một lớp vảy nến cáu bẩn. Không có nước sạch để đun sôi sắc thuốc, mẹ anh sẽ không tài nào nuốt trôi nửa viên đan dược giảm đau còn sót lại từ tuần trước; mà không có nước để tưới rửa nửa mẫu hoàng liên ngoài kia, đúng ba mươi ngày nữa, cả gia đình sẽ bị người của Vạn Thạch Hành tống cổ ra khỏi căn nhà vách đất này, trở thành những kẻ lưu dân chết đói chết khát dọc đường vượt núi sang biên giới phía nam.

Tầm quay ngoắt người, bước những bước sải dài về phía góc chuồng lợn bỏ hoang ở mé tây mảnh vườn.

Dưới đống rơm khô phủ đầy mạng nhện, anh lôi ra một chiếc thùng gỗ ghép bằng đai mây đã cũ mòn, gỗ đã ngả màu xám bạc vì sương gió nhưng các mối ghép vẫn còn khít khao. Bên cạnh đó là một cuộn dây thừng bện bằng vỏ cây gai rừng dài hơn năm trượng, dày bằng ngón tay cái, dẻo dai và chắc chắn.

Mục tiêu duy nhất còn lại trong toàn bộ cái xóm Hạ Khê kiệt quệ này là Giếng Cạn.

***

Giếng Cạn nằm trơ trọi ngay tại ranh giới mong manh giữa bờ rào phía nam vườn thuốc nhà họ Mộc và lối đi chung dẫn xuống xóm dưới.

Miệng giếng được ghép bằng những tảng đá xanh thô ráp, xám xịt và nứt nẻ, bao quanh bởi một gò đất nhô cao nơi cỏ dại đã chết khô từ lâu, chỉ còn trơ lại những gốc gai nhọn hoắt đâm tua tủa lên nền trời mờ đục. Từ hơn nửa năm trước, khi mực nước ngầm của toàn vùng tụt sâu xuống mức chưa từng thấy trong vòng năm mươi năm qua, người trong xóm đã hoàn toàn ngừng kéo dây ở đây. Bác Phạm Nghi—người lớn tuổi nhất xóm và cũng là người trông nom sổ giếng chung—đã chính thức tuyên bố cái giếng này "hết hơi", mạch ngầm đã đứt gãy, chỉ còn lại trọc khí độc hại bốc lên gây váng đầu hoa mắt cho bất kỳ ai đứng gần miệng giếng quá lâu.

Dân làng đành phải dắt díu nhau đi vét từng gáo nước đục ngầu ở những vũng bùn xa tít tắp tận chân đồi đá phía nam, mặc cho lòng giếng sâu hoắm này bị bỏ quên dưới lớp bụi tro và những mảnh phên tre mục nát.

Tầm đặt chiếc thùng gỗ xuống mép đá, quỳ một gối tựa sát vào thành giếng rồi cúi đầu nhìn xuống.

Một màu đen đặc quánh như mực nho phủ kín lòng giếng sâu hơn bốn trượng. Bình thường, ở những giếng nước còn sống, dù sâu đến đâu đáy giếng cũng sẽ phản chiếu le lói chút ánh sáng của vòm trời xanh hay mây trắng trôi qua. Nhưng lúc này, bên dưới lòng sâu tăm tối ấy tuyệt nhiên không có lấy một tia phản quang nào. Thay vào đó, một luồng dưỡng khí nghẹt thở, ẩm ướt một cách kỳ dị đang cuộn trào ngược lên miệng giếng theo từng đợt gió ngầm.

Đó là mùi lưu huỳnh nồng nặc quyện chặt với mùi tanh lợm của kim loại rỉ sét và rêu thối rữa lâu ngày—mùi vị đặc trưng của thứ trọc tức bị đè nén hàng trăm năm dưới tầng địa chất sâu thẳm, nay bốc lên khi không còn dòng linh thủy thuần khiết của trời đất đẩy lùi.

Chỉ vừa hít phải một ngụm ngắn, cổ họng Tầm đã bỏng rát như có tàn lửa rớt vào. Lồng ngực anh nhói lên một cơn đau âm ỉ, tức tối, hệt như những triệu chứng ban đầu của những người phu mỏ mắc bệnh phế tro mà anh từng chứng kiến.

Tầm ho sặc sụa, vội vã kéo vạt áo chần bông lên bịt chặt lấy mũi và miệng, lùi lại nửa bước để lấy lại nhịp thở.

Anh không thể quay về tay không được. Vườn hoàng liên đang héo úa từng khắc dưới nắng trưa, và mẹ anh thì đang cần nước để nuốt trôi nửa viên thuốc cầm cự qua ngày. Dưới tầng sâu kia, dù các mạch nước chính đã cạn kiệt, chắc chắn vẫn còn sót lại chút bùn ướt hay những giọt nước rỉ ra từ các khe nứt ngầm chưa bị ánh mặt trời thiêu đốt. Chỉ cần múc được một gáo bùn ẩm, đem về lọc qua lớp than củi và cát mịn lắng ra được nửa bát nước trong, cũng đủ để cứu lấy một mạng người trong buổi chiều định mệnh này.

Tầm gạt phắt nỗi sợ hãi sang một bên. Anh buộc chặt một đầu dây thừng vào cây cột gỗ lim cắm sâu bên thành giếng—thứ cọc néo ngày xưa vốn dùng để treo hệ thống ròng rọc kéo nước của cả xóm. Anh dùng cả hai tay kéo mạnh vài lần để thử độ chắc chắn của mối nối. Cây cột lim rung rinh nhẹ nhưng chân cọc cắm sâu vào nền đá tảng vẫn vững như bàn thạch.

Quấn đầu dây còn lại hai vòng quanh cổ tay trái để làm điểm tựa hãm đà, Tầm thả chiếc thùng gỗ rỗng xuống trước. Tiếng chiếc thùng va đập vào vách đá vang lên những tiếng *cộp... cộp...* trầm đục vọng lại từ cõi u minh.

Anh bám chặt hai tay vào sợi dây thừng sần sùi, từ từ trượt chân qua mép đá nham nhở, buông mình tụt sâu vào lòng giếng tối tăm.

Không gian xung quanh lập tức thu hẹp lại thành một ống trụ tròn lạnh lẽo và cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Ánh sáng chói chang của buổi trưa nhanh chóng biến thành một vòng tròn màu bạc nhỏ bé, xa vời vợi phía trên đỉnh đầu. Gót giày cỏ của Tầm đạp vào thành đá xanh, tạo ra những âm thanh lộp cộp khô khốc vang vọng giữa bốn bề vách giếng. Những mảng rêu khô bám trên vách đá từ bao năm qua nay đã hóa thành một lớp vảy giòn, vỡ vụn ra dưới sức nặng và ma sát của gót chân anh, rào rào rơi xuống khoảng không thăm thẳm bên dưới như một trận mưa tro.

Càng xuống sâu, không khí càng đặc quánh lại, cảm giác như đang bơi trong một thứ bùn khí vô hình.

Nhiệt độ không hề giảm đi theo độ sâu như lẽ thường tình của những hang sâu giếng cạn; trái lại, nó bắt đầu hầm hập nóng. Thứ nhiệt lượng này không mang lại chút ấm áp nào của ánh dương quang, mà là cái nóng bức bối, nhớp nháp sinh ra từ sự ứ đọng và mục ruỗng của đất đá bị ngâm quá lâu trong uế khí. Mùi lưu huỳnh hăng nồng bóp nghẹt khí quản của Tầm, khiến từng hơi thở hít vào đều trở thành một cực hình. Đan điền của anh co thắt dữ dội; chút chân khí Dẫn Khí tầng ba ít ỏi trong kinh mạch tự động co cụm lại thành một màng chắn mỏng manh bao bọc lấy tim và phổi, chống chọi một cách chật vật trước sự xâm thực của thứ khí độc đang lăm le len lỏi qua từng lỗ chân lông.

*Bốn trượng... hơn bốn trượng rồi...*

Chân Tầm bỗng chạm phải một bề mặt mềm lún.

Bùn dưới đáy giếng không hề nhão nhoẹt hay lỏng bỏng nước như anh từng hy vọng. Nó đặc quánh, dẻo quẹo như hắc ín nguội, dính chặt lấy đế giày cỏ và mút chặt lấy bàn chân anh như muốn kéo chìm xuống. Đáy giếng hẹp đến ngột ngạt, đường kính chỉ chừng năm thước, vừa đủ cho hai người đứng chen chúc. Ánh sáng từ miệng giếng rọi xuống đến đây chỉ còn là một vệt mờ nhờ nhợt màu xám tro, vừa đủ để Tầm lờ mờ nhận ra hình thù lởm chởm của những tảng đá vôi ngầm bị nứt toác ra—dấu tích của sự co rút đột ngột khi mạch nước ngầm bị rút kiệt từ bên trên.

Tầm quỳ sụp xuống, mặc cho lớp bùn đen hôi hám bám dính vào đầu gối và vạt áo. Anh mò mẫm bên hông lấy chiếc gáo gỗ nhỏ mang theo, cào mạnh thử lên mặt bùn đáy giếng.

Cát sỏi thô ráp cọ vào thành gáo gỗ ken két. Không có nước. Lớp bùn mặt đã bị trọc tức và khí nóng đáy giếng hun khô thành một lớp màng dẻo quánh, nứt nẻ chân chim, chẳng thể vắt ra nổi lấy một giọt chất lỏng nào dù là đục ngầu nhất.

Tầm nghiến chặt răng, cảm giác tuyệt vọng lạnh ngắt dâng lên tận cổ họng. Anh hạ thấp trọng tâm người hơn nữa, bỏ mặc chiếc gáo gỗ sang một bên, đưa cả hai bàn tay trần thọc sâu vào những kẽ nứt lớn chạy dọc theo chân vách đá nơi đáy giếng.

Bàn tay anh ngập sâu trong thứ bùn nhớt đen ngòm. Cảm giác lạnh buốt thấu xương lập tức truyền qua da thịt, nhưng ngay sau đó là cảm giác râm ran kim chích vô cùng khó chịu—trọc tức nồng nặc đang cắn phá làn da của anh, ăn mòn từng lớp biểu bì non nơi kẽ móng tay.

Anh cắn răng chịu đựng cơn đau rát, lần mò từng tấc một, tìm kiếm điểm trũng sâu nhất nơi mạch nước ngầm có thể rỉ ra những giọt cuối cùng trước khi biến mất vĩnh viễn.

Bỗng nhiên, đầu ngón tay giữa của anh chạm phải một vật gì đó hoàn toàn khác lạ.

Nó không hề cứng sắc như đá sỏi vôi, cũng không trơn nhớt như bùn cặn hay mục nát như rễ cây chết. Nó mềm mại, dẻo dai và mang theo một độ đàn hồi kỳ lạ đến kinh ngạc.

Tầm giật mình rụt tay lại theo phản xạ tự nhiên của một người làm vườn lâu năm, vốn luôn cảnh giác với rắn rết hay các loài bò sát độc hại ẩn nấp trong bóng tối dưới lòng đất. Nhưng ngay trong khoảnh khắc ngón tay anh vừa rời khỏi vật thể đó, một luồng cảm giác mát rượi vô cùng mỏng manh lướt qua da thịt anh—một luồng sinh cơ nhỏ nhoi, thanh khiết đến mức nếu không phải là một người cả ngày lẫn đêm ngụp lặn với đất thuốc và thảo mộc, anh tuyệt đối sẽ không thể nào nhận ra được giữa cái nôi độc đặc quánh này.

Tầm nín thở. Trái tim anh đập thình thịch trong lồng ngực.

Bất chấp mùi hôi thối nồng nặc đang bốc lên từ kẽ đá nứt, anh cúi rạp người xuống sát đáy bùn, dùng hai bàn tay run rẩy nhẹ nhàng gạt lớp đất nhão đen kịt sang hai bên, từng chút một, cẩn trọng như một người thợ gốm đang bóc tách lớp khuôn đất nung.

Hiện ra trong kẽ nứt sâu nhất của phiến đá vôi đáy giếng—nơi trọc tức cô đọng thành từng mảng đen sì như váng dầu hắc—là một mầm cây nhỏ bé đang lặng lẽ vươn mình.

Nó chỉ cao chưa đầy hai lóng tay trỏ. Thân cây mảnh mai như một sợi chỉ đồng, nhưng thế đứng lại vững chãi đến lạ thường giữa làn bùn độc. Trên đỉnh thân, hai chiếc lá non hình bầu dục xòe ra đối xứng nhau, mang một màu xanh lục sẫm bóng bẩy, mọng nước như được tạc ra từ một khối ngọc bích thượng hảo hạng không chút tì vết.

Điều kỳ dị và đáng kinh ngạc nhất là mặt lá của nó hoàn toàn trơn láng, tinh khiết tuyệt đối. Không hề có lấy một hạt bụi xám, một vết cặn vôi hay một giọt bùn độc nào có thể bám dính lên bề mặt phiến lá; thứ bùn đen bao quanh nó dường như bị một lực đẩy vô hình đẩy dạt ra ngoài rìa, tạo thành một khoảng trống nhỏ li ti không nhiễm chút bụi trần xung quanh mầm non.

Tầm ngây người nhìn chằm chằm vào mầm cây tí hon ấy.

Anh đưa mu bàn tay lên dụi mắt thật mạnh, ngỡ rằng mình bị trọc tức hun đến mức sinh ra ảo giác trong bóng tối mịt mùng. Nhưng không, mầm cây vẫn ở đó, kiêu hãnh và sống động. Khi anh lấy hết can đảm, run rẩy áp ngón tay trần chạm nhẹ vào mép phiến lá non, một cảm giác mát lành, thuần khiết và tràn đầy sức sống lập tức truyền thẳng qua lớp biểu bì, xua tan ngay tức khắc cảm giác bỏng rát do khí lưu huỳnh gây ra trên đầu ngón tay anh.

Anh nhẹ nhàng lần ngón tay xuống sát gốc cây, luồn sâu vào kẽ đá để cảm nhận phần rễ.

Bộ rễ của mầm cây không hề dài, chỉ gồm ba nhánh rễ tơ màu trắng ngà pha chút ánh lam mờ nhạt như ánh lân tinh. Nhưng điều khiến Tầm chấn động tận đáy lòng—một cơn chấn động làm sụp đổ toàn bộ những hiểu biết nông cạn của anh về trời đất—chính là hướng đi và bản chất của những sợi rễ ấy.

Chúng không hề né tránh lớp đất kết vôi cằn cỗi hay mảng bùn ngậm đầy trọc tức đen ngòm đang bốc mùi tử khí xung quanh. Ngược lại, hoàn toàn ngược lại! Những đầu rễ non nớt, mảnh như sợi tơ ấy đang cắm phập xuyên qua lớp đá vôi kết cứng, tham lam hút lấy thứ bùn độc quánh đặc kia để nuôi dưỡng hai phiến lá xanh biếc bên trên!

*Làm sao... làm sao có thể tồn tại một thứ như thế này trên đời?* Tầm thảng thốt tự hỏi, lồng ngực anh phập phồng dữ dội.

Tất cả những gì anh từng được người cha quá cố truyền dạy, tất cả những lời giáo huấn của các dược sư lão thành trong vùng, và cả những cuốn sách đồng nát ghi chép về linh thảo mà anh từng chắt chiu từng đồng bạc vụn để mua lại ở chợ phiên, đều khẳng định một chân lý sắt đá không thể đảo ngược: Dược thảo hay bất kỳ mầm sống linh mộc nào muốn đâm chồi nảy lộc đều phải nương tựa vào linh khí trời đất thuần khiết. Linh mạch suy tàn thì vạn vật héo úa. Đất nhiễm trọc tức là đất chết. Nước ngậm uế khí là độc dược tuyệt mạng. Nơi nào trọc tức tích tụ, nơi đó cỏ mục rễ tan, sinh linh tuyệt diệt, ngàn năm không thể sinh sôi.

Thế nhưng, mầm cây này lại đang sống sờ sờ ngay trước mắt anh.

Nó không những sống sót kiên cường giữa rốn độc u ám nhất của lòng chảo Hạ Khê, mà nó còn biến chính thứ cặn bã ô uế đang bóp chết cả vùng đất này thành nguồn dinh dưỡng bồi đắp cho sinh mệnh của riêng mình.

Cúi sát hơn nữa, nheo mắt nhìn qua ánh sáng lờ mờ, Tầm nhận thấy trên thân rễ màu trắng ngà của nó có những nốt sần li ti màu xám sẫm—những nốt rễ kỳ diệu đang cô lập, gom giữ thứ độc chất đen ngòm lại thành từng khối nhỏ bất động, để cho dòng nhựa sống dẫn ngược lên hai phiến lá bên trên vẫn giữ nguyên được màu xanh tươi rói và dòng sinh cơ thuần khiết.

Một ý nghĩ táo bạo, điên rồ nhưng mãnh liệt bùng lên trong tâm trí Tầm như một tia sét xé toạc màn đêm u tối đang bủa vây lấy số phận anh:

Nó không cần linh mạch của Thanh Lộ Tông!

Nó hoàn toàn không cần đến những dòng nước tưới đắt đỏ, ngậm đầy ân huệ trịch thượng mà các tiên môn dùng để ban phát hay ép buộc dân làng phải nộp tô nộp thuế đến kiệt quệ!

Đây là một mầm sống của đất chết. Một giống loài sinh ra để tồn tại khi trời đất đã cạn kiệt linh khí và thế gian chỉ còn lại trọc tức suy tàn!

Tầm vô thức vươn cả hai bàn tay ra, định bụng sẽ cẩn thận đào sâu xuống kẽ đá, bứng cả mầm cây lẫn khối đất bao quanh gốc mang lên mặt đất đem về nhà giấu kín.

Thế nhưng, ngay khi đầu ngón tay anh vừa chạm vào lớp bùn bao quanh cổ rễ, toàn thân anh bỗng khựng lại.

Không được. Tuyệt đối không thể làm như vậy.

Tu vi Dẫn Khí tầng ba tuy yếu ớt nhưng đủ nhạy bén để giúp anh cảm nhận được sợi dây liên kết vô cùng mong manh, tinh tế giữa bộ rễ của mầm cây và mạch đá ngầm bên dưới kẽ nứt. Rễ của nó tuy còn non nhưng đã đâm xuyên, bám rễ sâu vào tầng đá nứt nẻ; cấu trúc địa tầng ở đây chính là chiếc nôi bảo vệ tự nhiên của nó. Nếu anh hấp tấp bứng nó lên bằng đôi bàn tay phàm tục thô lỗ này, lớp biểu bì non nớt của rễ cây chắc chắn sẽ đứt đoạn, và mầm sống kỳ diệu này sẽ chết yểu trước khi anh kịp đưa nó ra khỏi miệng giếng.

Hơn thế nữa, ngoài kia là cái gì?

Ngoài kia là ánh mặt trời gay gắt như thiêu như đốt, là lớp bụi tro khô khốc có thể hút cạn sinh khí của bất kỳ mầm non nào trong chớp mắt. Và ngoài kia còn là tai mắt dòm ngó của cả xóm giềng đang cùng đường vì khát nước.

Nếu bác Phạm Nghi biết cái giếng cạn này mọc lên một thứ cây kỳ dị không rõ nguồn gốc, bác ấy—với tư cách người trông sổ giếng—sẽ lập tức báo lên hội đồng bô lão của xóm để kéo người tới tranh chấp quyền sở hữu, đào xới tung cả đáy giếng lên để tìm kiếm "điềm lành".

Nếu Đỗ Kính hay những tên tay sai mang đao của Vạn Thạch Hành đánh hơi thấy mùi vị của một giống linh dược mới có khả năng sống trong đất chết, bọn chúng sẽ không ngần ngại dùng ngay tờ trát nợ có dấu triện đỏ kia để cưỡng chế, tịch thu toàn bộ mảnh vườn cùng cái giếng này trước khi mầm cây kịp đâm thêm một chiếc lá non thứ ba.

Còn nếu tệ hơn nữa, tin tức này lọt đến tai các chấp sự hay đệ tử tuần tra trên đỉnh núi Thanh Lộ... Những kẻ tu tiên cao cao tại thượng ấy sẽ coi đây là một thứ "nghiệt chủng" sinh ra từ trọc tức, một dị vật làm ô uế thanh danh tiên môn, và họ sẽ không ngần ngại giáng xuống một đạo lôi hỏa để tiêu hủy toàn bộ lòng giếng, hoặc gom nó vào danh mục cấm vật đem về phong bế trong mật thất tông môn để nghiên cứu.

Một mầm cây non nớt chưa đầy hai lóng tay thì làm được gì? Nó chưa đủ sức cứu sống mẹ anh trong chiều nay, càng không thể cứu vãn một vùng đất đang chết mòn từng ngày.

Nó cần thời gian. Nó cần một chốn dung thân tuyệt đối an toàn để bám rễ sâu hơn nữa vào lòng đất mẹ.

Tầm hít một hơi thật sâu qua lớp vải áo bịt miệng, cố gắng đè nén cơn sóng lòng đang cuộn trào dữ dội trong ngực. Anh chậm rãi rút tay lại, bắt đầu cẩn thận thu dọn xung quanh kẽ nứt của phiến đá.

Anh dùng chiếc gáo gỗ nhỏ, tỉ mỉ gạt bớt những mảnh đá dăm nhọn hoắt có nguy cơ sạt lở đè bẹp mầm non nếu chẳng may có chấn động bên trên. Động tác của anh nhẹ nhàng, chuẩn xác như động tác của một người mẹ đang dọn dẹp nôi cho đứa con thơ mới lọt lòng.

Sau một hồi tìm kiếm dưới đáy bùn, anh tìm thấy một phiến đá vôi dẹt, mỏng chừng nửa ngón tay, mặt dưới phiến đá vẫn còn vương chút hơi ẩm mát lạnh của mạch ngầm rỉ ra. Tầm nâng niu phiến đá, nhẹ nhàng dựng nó nghiêng một góc ba mươi độ ngay phía trên kẽ nứt nơi mầm cây đang ẩn mình. Phiến đá tạo thành một mái che tự nhiên hoàn hảo, đủ để che chắn cho mầm non khỏi bất kỳ mảng đất đá hay bụi rác nào có thể rơi rụng từ thành giếng bên trên xuống, nhưng vẫn khéo léo chừa ra một khe hở nhỏ bên sườn để dòng trọc tức mát lạnh dưới lòng đất có thể tự do lưu thông nuôi dưỡng rễ cây.

Tiếp đó, anh vốc từng nắm bùn đen còn giữ được độ ẩm ở sâu trong hốc đá phía xa, cẩn thận đắp xung quanh chân phiến đá để cố định vị trí, tuyệt đối không để bùn đè nén hay chạm vào thân rễ non nớt của mầm cây.

Làm xong tất cả những việc ấy, mồ hôi trên trán Tầm đã vã ra như tắm, hòa lẫn với bụi than đen nhẻm chảy ròng ròng xuống cằm.

Lúc này, anh mới quay người về phía chiếc thùng gỗ của mình.

Thời gian không còn nhiều, anh không thể nán lại dưới đáy giếng quá lâu khi trọc tức đang bắt đầu thẩm thấu qua lớp hộ thể chân khí mong manh. Tầm cầm chiếc gáo gỗ, dùng hết sức bình sinh cào vét từng lớp bùn đen ở phía đối diện đáy giếng—nơi xa mầm cây nhất—đổ vào thùng. Bùn ở đây tuy không có nước trong, nhưng ít ra vẫn còn độ ẩm quánh đặc của tầng sâu, chứa đựng một lượng nước ngầm ít ỏi chưa bốc hơi hết. Nếu đem số bùn này về nhà, đổ vào chậu sành rồi dùng vải thô lọc ép thật chặt, anh vẫn có thể chắt ra được nửa bát nước đục; sau đó thả vào một mẩu than củi khô để lắng qua đêm, may ra sáng mai sẽ có được chút nước sạch để sắc thuốc cho mẹ.

Khi thùng gỗ đã đầy được khoảng nửa thùng bùn sền sệt, đen kịt và nồng nặc mùi lưu huỳnh, Tầm dừng tay. Anh dùng vạt áo lau thật sạch hai bàn tay còn dính đầy bùn đất, rồi vươn tay nắm chặt lấy sợi dây thừng bện bằng vỏ gai rừng.

Tầm ngẩng đầu nhìn lên.

Vòm trời phía trên miệng giếng vẫn là một vòng tròn màu bạc nhỏ bé, lạnh lùng và xa xăm. Nhưng kỳ lạ thay, trong đáy mắt của người thanh niên Dẫn Khí tầng ba lúc này, bóng tối mịt mùng và thứ tử khí ngột ngạt dưới đáy giếng sâu dường như không còn đáng sợ như khoảnh khắc anh mới đặt chân xuống đây nữa.

Bóng tối này không chỉ có cái chết. Nó đang che giấu một sự sống.

Tầm đạp chân vào vách đá xanh, hai tay siết chặt sợi dây thừng, từng bước một dùng sức đu người leo ngược lên miệng giếng. Chiếc thùng gỗ nặng trĩu buộc sau lưng kéo ghì vai anh xuống, từng thớ cơ bắp trên cánh tay và bắp chân anh căng cứng, run rẩy theo từng nhịp trèo. Mỗi một nhịp vươn người lên cao, tờ giấy nợ dán sáp đỏ của Vạn Thạch Hành giấu trong túi áo ngực lại cọ xát vào da thịt anh, nhức nhối như một vết thương hở, không ngừng nhắc nhở anh về kỳ hạn ba mươi ngày đang đếm ngược từng khắc.

Nhưng lần này, trong lồng ngực đang phập phồng của anh không chỉ có nỗi tuyệt vọng cùng cực hay sự sợ hãi bị dồn vào chân tường.

Nơi đó đã nhen nhóm hơi ấm của một bí mật sống sót dưới đáy mồ.

*Cố lên... chỉ ba mươi ngày thôi...* Tầm nghiến răng, dồn hết chút chân khí cuối cùng vào đôi bàn chân, đạp mạnh lên gờ đá sắc nhọn.

Khi bàn tay thô ráp của Tầm bám được vào phiến đá xanh nơi miệng giếng, ánh hoàng hôn đỏ quạch như máu của thung lũng Hạ Khê đã bắt đầu buông xuống. Anh dùng hết sức bình sinh kéo chiếc thùng gỗ đầy bùn lên khỏi miệng giếng, đặt nó khuất sau bờ đá rậm rạp cỏ gai khô héo, rồi cẩn thận kéo tấm phên tre mục nát đậy kín miệng giếng lại như cũ. Anh còn cẩn thận rải thêm vài cành gai khô lên trên tấm phên để ngụy trang, xóa sạch mọi dấu vết của một cuộc thăm dò đáy giếng.

Tầm đứng thẳng người dậy trên gò đất cao, hai tay chống vào đầu gối, hít một hơi dài luồng không khí khô khốc, buốt lạnh của buổi chiều tà đang tràn qua thung lũng.

Phía xa xa, trên đỉnh núi Thanh Lộ, những tòa lầu các nguy nga của tiên môn bắt đầu sáng rực lên bởi ánh sáng của dạ minh châu và các trận pháp phòng hộ lộng lẫy, tách biệt hoàn toàn với màn đêm đen đúa đang nuốt chửng những mái nhà tranh rách nát dưới chân núi.

Dưới đáy giếng tối tăm sâu hơn bốn trượng, nơi không một tia sáng tiên gia nào có thể chạm tới, phiến đá vôi che chắn cho mầm cây khẽ rung lên một nhịp ngắn ngủi khi giọt bùn độc đầu tiên chầm chậm trượt qua kẽ nứt, thấm sâu vào lớp vỏ của bộ rễ non màu trắng ngà.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn