Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtC.3 / 36
Chương 3

Đất Chung, Chuyện Riêng

Tiếng xà beng sắt gõ cong cong vào vách đá giếng báo hiệu người bạn đào giếng Lê Cẩn đã chui vào lòng đất cùng Tầm từ lúc tờ mờ sáng.

Dưới đáy sâu bốn trượng, bóng tối quánh đặc như một thứ nhựa lỏng đã lắng cặn qua nhiều đời người, chỉ bị xé rách bởi một quầng sáng tù mù phát ra từ ngọn đèn dầu lạc leo lét treo trên chiếc đinh sắt han rỉ cắm vào thành đá. Không khí nồng nặc mùi hăng hắc của đá vôi ẩm mục, thứ mùi lưu huỳnh ngai ngái, chát đắng vốn dĩ đã ám chặt vào từng thớ đất, từng kẽ móng tay của dân làng Hạ Khê suốt nửa năm dài đằng đẵng kể từ ngày mỏ quặng trên thượng nguồn bắt đầu súc rửa lò luyện. Nhưng sáng hôm nay, khi Tầm ngồi thụp xuống bên phiến đá vôi dẹt dùng để che chắn cho mầm Tức Căn, một luồng sinh khí khác thường đã khẽ chạm vào cánh mũi anh, mát rượi và thanh nhẹ như giọt sương đọng trên lá cỏ sau cơn mưa rào đầu hạ.

Mùi chua nồng xộc thẳng lên cuống họng mọi bận dường như đã nhạt đi phân nửa.

Lê Cẩn quỳ một chân trên nền đá lởm chởm sắc nhọn, chiếc áo cộc tay bằng vải thô nâu đã ướt đẫm mồ hôi, bết chặt vào vòm lưng vạm vỡ, quyện lấy lớp bụi đá xám ngoét thành từng vệt loang lổ như da báo. Anh cẩn thận rút chiếc que trúc có khắc từng vạch ngón tay khỏi chiếc đai lưng bện bằng dây gai rừng, nheo một bên mắt đo cự ly rồi cắm thẳng que xuống vũng bùn nhỏ ngay sát vách giếng phía tây, nơi mạch ngầm rỉ ra từng giọt lờ đờ. Đầu que trúc chìm sâu hơn ba đốt ngón tay vào lớp bùn nhão, khi rút lên chầm chậm, một vệt nước mỏng tanh lấp lánh phản chiếu ánh đèn dầu vàng vọt.

“Nước rỉ nhanh hơn hôm kia nửa khắc dâng một lóng,” Cẩn thì thào, giọng khàn đặc và đùng đục vì hít phải quá nhiều bụi đá qua năm tháng. Anh đưa đầu ngón tay cái thô ráp, chai sạn quệt lấy một mẩu bùn bám dưới chân phiến đá che, đưa lên sát mũi ngửi một hơi dài, rồi miết mạnh vào lòng bàn tay còn vằn vện những vết sẹo do mảnh đá vỡ cứa vào. Đôi lông mày rậm rạp như hai con sâu róm của người thợ đào giếng nhíu chặt lại, đôi mắt vốn đục ngầu vì khói đèn bỗng mở to kinh ngạc: “Kỳ lạ thật đấy, Tầm. Mùi chua gắt của quặng phế phẩm... hình như bớt rồi. Bình thường bùn ngậm trọc tức ở đáy giếng này dính như nhựa trám, dẻo quánh lại, quệt vào da thịt trần là xót buốt buốt tận tủy sống, vậy mà lớp này lại xôm xốp, tơi xốp rời ra từng mảnh nhỏ như đất bãi bồi ven sông sau mùa nước lũ.”

Tầm không đáp ngay. Lồng ngực anh khẽ phập phồng theo từng nhịp thở dè dặt. Anh lẳng lặng lật cuốn sổ giấy bổi thô ráp có bìa bọc bằng bao tải mục mà bà giáo Bùi Sương đã lén đưa cho hôm trước nơi góc đình vắng. Bằng mẩu than củi ngắn ngủn kẹp chặt giữa hai ngón tay gầy guộc, ngón tay trỏ còn bọc lớp vải thô tẩm nước bồ hòn hơi gượng gạo rê từng nét chữ xiêu vẹo nhưng rắn rỏi trên mặt giấy xơ xác: *Đáy giếng giờ Thìn, sương tan. Bùn ẩm mềm ba phân, trọc khí giảm ba phần, rễ con không còn phát nhiệt.*

Ghi xong, Tầm cẩn thận kẹp mẩu than vào gáy sổ rồi cúi rạp đầu nhìn qua khe hở hẹp của phiến đá che.

Dưới ánh sáng vàng bệch của ngọn đèn dầu, mầm Tức Căn nhỏ bé chỉ nhỉnh hơn ngón tay út vẫn kiên cường cắm rễ vào khe nứt đá vôi xám xịt. Hai phiến lá xanh biếc tựa như ngọc bích non tơ rung rinh nhè nhẹ trong làn gió ngầm mong manh luồn qua kẽ đá. Nốt sần xám tro nơi nhánh rễ từng bị luồng linh lực cuồng bạo của đan hỏa thiêu đốt hồi đầu tháng nay đã hoàn toàn hóa sừng, kết thành một lớp vỏ dày màu xám nâu bảo vệ vững chắc cho phần lõi non nớt bên trong. Và kỳ diệu hơn cả, từ ngay bên dưới nốt sần khô khốc ấy, hai sợi rễ tơ mảnh dẻ như sợi tóc tơ của trẻ sơ sinh vừa nhú thêm một đoạn chừng nửa đốt tay, đầu rễ lấp lánh ánh lam quang nhàn nhạt, mềm mại luồn lách chui sâu vào tầng đá nứt nẻ, như thể đá tảng ngàn năm đối với nó chỉ là lớp đất mùn tơi xốp.

Lê Cẩn tò mò đưa bàn tay chai sạn sờ vào mảng vách đá xung quanh chỗ mầm cây bám trụ. Những ngón tay thợ đá vốn đã quen đục đẽo những khối đá xanh cứng như sắt nguội bỗng run lên bần bật:

“Lớp đá vôi kết tầng này... mềm xốp ra rồi.” Cẩn dùng móng tay cái bấm thử vào một gờ đá xám vốn đanh chắc. Một mảng vụn đá mủn ra, rơi lả tả xuống vũng bùn dưới chân như vôi quét tường mục gặp mưa dầm ngấm lâu ngày. “Đá Thạch Nê ngậm độc xưa nay nổi tiếng trơ lỳ, đến xà beng thép tôi nước muối của thợ đá xóm Ngoài thúc cật lực cũng chỉ bật ra tia lửa tóe khói chứ không mẻ nổi một góc. Sao tự dưng chỗ này lại mủn ra như bánh khảo thế này?”

“Vì nó đang ăn chất độc trong đá,” Tầm khẽ nói, ánh mắt dán chặt vào những sợi rễ tơ màu lam đang khẽ cựa quậy rất chậm. “Bà Sương nói đúng. Loài cây này không hút linh khí thanh khiết từ trời cao, nó sống nhờ chính thứ cặn bã trọc tức mà các lò luyện đan của tiên môn xả xuống lòng đất. Càng nhiều trọc tức ứ đọng, rễ của nó càng đâm sâu, cắn nuốt chất độc để tự nuôi thân, đồng thời nhả ra chất lỏng làm phân rã kết cấu quặng.”

Gương mặt dầm dề bụi bặm của Lê Cẩn thoáng chốc giãn ra trong một cơn phấn khích tột cùng, hai mắt sáng rực lên. Nhưng ngay sau khoảnh khắc bốc đồng ấy, sự từng trải của một kẻ đã hơn mười năm chui rúc dưới các tầng đất chết, quen mùi đất sập và khí độc bốc hỏa, lập tức kéo người thợ giếng trở lại với thực tại lạnh lùng, tàn nhẫn.

Cẩn cầm lấy chiếc xà beng ngắn bằng sắt tôi rèn thủ công, thận trọng nhích từng bước chân trên nền đá trơn trượt sang bên mép nứt chếch về phía bắc của đáy giếng—hướng nứt ăn thông thẳng ra dải đồng Thạch Nê cằn cỗi, nơi ngàn mẫu ruộng của làng đang biến thành hoang mạc màu xám tro.

Anh giơ xà beng, dùng đuôi sắt gõ nhẹ ba tiếng *cắc, cắc, cắc* vào khe nứt sâu hoắm đang phả ra từng luồng khí lành lạnh mang theo hơi đất ẩm hôi hôi.

Âm thanh vọng lại từ sâu thẳm trong lòng vách đá không hề đanh chắc giòn giã như đá sống, mà trầm đục, nghẹn ngào, nghe bức bối như tiếng dùi gõ vào một chiếc trống da trâu bị bọc kín dưới tầng bùn ngập nước.

“Tầm, đừng vội mừng,” Cẩn quay phắt lại, sắc mặt nghiêm nghị, từng nếp nhăn trên trán hằn sâu thành những rãnh tối tăm. Anh giơ mũi sắt hoen rỉ chỉ thẳng vào kẽ nứt đen ngòm hun hút: “Khe này ăn thông thẳng với vỉa ngầm Thạch Nê. Mầm cây của mày lọc được một góc bùn con con này không có nghĩa là cả cái túi đất này đã an toàn. Dưới lớp đá vôi mủn này là cả một túi trọc tức khổng lồ tích tụ từ mỏ thải của tông môn suốt nửa năm qua, đang bị nén chặt dưới áp lực của tầng đá vôi trên mặt. Mày nhìn xem, đá xung quanh nứt theo thớ dọc chứ không phải thớ ngang. Nếu rễ cây đâm thủng lớp vỏ đá giữ vỉa quá nhanh trước khi nó kịp nuốt hết độc, hoặc nếu có kẻ nào nông nổi cầm cuốc chim bổ mạnh một nhát vào đây... túi khí độc dưới tầng Thạch Nê sẽ bùng lên như hỏa mù. Khi đó, cả cái đáy giếng sâu bốn trượng này sẽ biến thành một cái lò hun độc, không một ai ngoi lên nổi mặt đất đâu.”

Tầm lặng lẽ gật đầu, cõi lòng đang dâng tràn hy vọng bỗng chốc chùng xuống trĩu nặng. Lời cảnh báo của Cẩn rành rọt và chuẩn xác như một nhát búa gõ thẳng vào tâm trí anh. Sự sống sót kỳ diệu của mầm cây là một tia hy vọng mong manh cho cả gia đình anh, cho mảnh vườn hoàng liên đang hấp hối trên kia, nhưng ranh giới giữa sự cứu rỗi và thảm họa diệt vong dưới đáy sâu tăm tối này chỉ cách nhau một lớp đá mỏng chưa đầy nửa gang tay. Chỉ một sơ suất nhỏ, một chuyển động kiến tạo bất cẩn, vỉa độc sẽ xé toạc tất cả thành tro bụi.

Chưa kịp nói thêm lời nào để bàn tính việc che chắn cho khe nứt phía bắc, lồng ngực vạm vỡ của Lê Cẩn bỗng giật thót lên một cái dữ dội.

Chiếc xà beng sắt trượt khỏi tay Cẩn, rơi đánh *keng* một tiếng xuống phiến đá rồi chìm nghỉm vào vũng bùn xám. Người thợ đào giếng vội vã đưa cả hai tay ôm chặt lấy ngực trái, lưng còng rạp xuống như một thân cây khô bị bão quật. Một tràng ho khan khô khốc, nghẹn ứ bật ra từ sâu trong cuống họng anh, âm thanh xé rách, rát buốt như tiếng hai mảnh đá nhám cọ xát vào nhau giữa trưa hè bỏng rát. Cẩn quay ngoắt mặt về phía góc tối nhất của vách giếng, bờ vai run rẩy bần bật. Anh thọc tay vào túi áo cộc, lôi ra một mảnh khăn vải thô đã ngả màu ố vàng, vội vàng áp chặt vào miệng để kìm giữ tiếng ho đang chực bùng lên xé toạc thanh quản.

Tầm hoảng hốt bước vội tới, hai tay giơ ra định đỡ lấy bờ vai đang co giật của bạn: “Cẩn, mày sao thế? Hít phải khí độc từ khe nứt à?”

“Không... khụ... khụ... không sao!”

Cẩn gạt phắt tay Tầm ra bằng một phản xạ gấp gáp đến thô bạo. Bằng một động tác nhanh như chớp lén lút, anh vội vàng vo tròn mảnh khăn vải thô nhét thụt sâu vào đáy túi quần trước khi Tầm kịp nhìn thấy vệt dịch xám đen quánh đặc lẫn những đốm máu tươi đỏ bầm vừa thấm ướt sũng mặt vải.

Hơi thở của Cẩn dồn dập, đứt quãng, trán lấm tấm những hạt mồ hôi lạnh toát dù dưới đáy giếng không khí vô cùng ngột ngạt. Anh cố gượng cười xua tay, nuốt ực một ngụm đờm mặn chát xuống cổ họng để che giấu cơn đau nhói buốt như hàng ngàn mũi kim châm đang cào xé màng phổi:

“Bụi đá khô bay vào cổ họng thôi mà. Mày biết đấy, cái nghề gõ đá đào giếng ăn cơm dưới âm ty này thì thằng thợ nào phổi chả dính chút bụi quặng. Hít phải bụi đá vôi thì ho khục khặc vài tiếng là chuyện thường ngày ở huyện. Lên... lên miệng giếng thôi, dưới này ngột ngạt quá rồi, đèn dầu cũng sắp cạn bấc rồi đấy.”

Tầm nhìn sâu vào đôi mắt đỏ ngầu, vằn vện những tia máu của bạn mình. Anh cảm nhận được sự né tránh rõ rệt trong ánh nhìn lấm lét ấy. Vết tích tàn độc của chứng bệnh phế tro—thứ quái bệnh quái ác sinh ra từ bụi đá ngậm trọc tức, thứ đang gặm nhấm từng tấc thịt, từng hơi thở của mẹ anh trong căn buồng tối tăm suốt mấy tháng qua—dường như đã bắt đầu đặt móng vuốt lạnh lẽo lên cơ thể người thợ đào giếng trẻ tuổi này. Một nỗi xót xa dâng lên nghẹn đắng nơi cổ họng, nhưng Tầm hiểu tính nết của Lê Cẩn: gã là đứa con của đá, kiêu hãnh và lì lợm, thà cắn răng chịu đau đớn đến chết chứ nhất quyết không để người khác nhìn mình bằng ánh mắt thương hại hay coi mình là kẻ tàn phế ăn nhờ cậy lòng trắc ẩn của xóm giềng.

“Được rồi, thu dọn đồ rồi lên.” Tầm nén tiếng thở dài vào trong lòng, nhặt chiếc xà beng dưới bùn lên lau vào vạt áo, rồi cẩn thận buộc chặt cuốn sổ giấy bổi vào dải rút quanh bụng.

Hai người bám vào sợi dây thừng bện bằng vỏ cây gai rừng to bằng cổ tay, lần lượt đạp mũi chân trần vào các hốc đá được khoét sẵn trên thành giếng tròn trịa để leo lên từng nấc một.

Khi đỉnh đầu bù xù của Tầm vừa nhô ra khỏi miệng giếng đón lấy những tia nắng ban mai hanh hao, lạnh lẽo của vùng lòng chảo Hạ Khê, một bóng người cao gầy, khẳng khiu đứng sừng sững bên bờ rào râm bụt đã lập tức đập ngay vào mắt anh.

Đó là ông Phạm Nghi.

Người quản sổ giếng làng Hạ Khê đứng chống chiếc gậy tre đực bóng loáng nước thời gian, đầu đội chiếc nón mê rách mép tả tơi để lộ chỏm tóc bạc lơ thơ búi củ hành. Khuôn mặt già nua với những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh cày trên ruộng hạn đang đanh lại, đôi mắt kèm nhem nhưng quắc thước nhìn chòng chọc, không chớp, xuống chân bờ rào ngăn cách giữa khoảng đất giếng công của xóm và góc vườn thuốc của Mộc gia.

Dưới chân ông Nghi, một con rãnh nhỏ sâu chừng nửa gang tay, rộng bằng hai ngón tay vừa được Tầm lén lút xới lên từ chiều muộn hôm qua bằng mũi mai sắt. Con rãnh đất ẩm ướt ấy dẫn thẳng dòng nước ẩm rỉ ra từ kẽ đá miệng giếng luồn qua bờ rào râm bụt, chảy tạt vào góc vườn thuốc—nơi những gốc hoàng liên quý giá đang rũ rượi, lá quăn queo, héo úa vì khát khô suốt cả tuần không có lấy một gáo nước tưới.

“Mộc Tầm!”

Tiếng gậy tre của ông Phạm Nghi nện cộc một nhát khô khốc, vang dội xuống nền đất cứng như đá cuội trước miệng giếng. “Mày giải thích cho tao xem, cái rãnh này là cái giống gì đây?”

Tầm vội vàng trèo hẳn lên mặt đất, hai bàn tay dính đầy bùn xám và bụi đá đáy giếng khẽ co rúm lại sau lưng. Lê Cẩn cũng vừa bám miệng giếng ngoi lên, thấy không khí căng thẳng đến nghẹt thở liền lẳng lặng đứng lùi về phía sau một bước, bàn tay cầm chiếc xà beng sắt giấu hờ sau ống chân lấm lem bùn đất.

“Thưa bác Nghi,” Tầm cất giọng trầm tĩnh, cố nén lồng ngực đang phập phồng để giữ cho nhịp thở đều đặn sau chặng leo bốn trượng dốc đứng. “Đáy giếng có chút nước ẩm rỉ ra từ kẽ nứt vách đá. Cháu chỉ nắn dòng cho lớp bùn ẩm ấy chảy tạt qua góc vườn một chút, để giữ ẩm cho mấy luống hoàng liên sắp chết cháy ngoài kia thôi ạ...”

“Nắn dòng?”

Ông Phạm Nghi cất giọng the thé, từng ngón tay gầy guộc như cành củi khô nắm chặt lấy đầu gậy tre, chiếc gậy rung lên bần bật rồi chỉ thẳng vào mặt Tầm. “Mày ăn nói nghe nhẹ tênh như không nhỉ! Cả cái làng Hạ Khê này, từ đời cha ông mày khai hoang lập ấp đến giờ, ai cấp cho mày cái quyền tự ý khoét đất giếng làng để dẫn nước về tưới vườn nhà mày? Giếng Cạn dẫu có kiệt mạch, dẫu có ngậm trọc khí nửa năm nay khiến người ta không uống được thì tên của nó vẫn nằm sờ sờ trên trang đầu cuốn sổ giếng công do chính tay tao gìn giữ! Từng tấc đá, từng giọt nước rỉ ra ở đây là mồ hôi, là của chung sáu xóm làng này! Ai cho phép thằng nhóc miệng còn hôi sữa như mày lén lút đục rãnh tư lợi, khoét vách chia chác nguồn nước của xóm?”

“Bác Nghi, bác bình tĩnh nghe cháu nói đã,” Tầm bước tới nửa bước, giơ bàn tay chai sần chỉ về phía luống hoàng liên lá đã cháy sém vàng vọt: “Nửa mẫu thuốc này là sinh mạng của cả nhà cháu. Nước dưới giếng trọc khí nồng nặc, mùi chua như dấm thối, dân làng chẳng ai dám múc về dùng nấu nướng hay tắm giặt vì sợ lở loét da thịt. Cháu chỉ mượn chút hơi ẩm rỉ ra từ lớp bùn thải bỏ đi...”

“Mượn à? Hôm nay mày mượn hơi ẩm, ngày mai mạch nước hồi lại một chút thì mày mượn luôn cả cái giếng này chắc?” Ông Nghi gay gắt ngắt lời, đôi chân gầy guộc bước tới đạp sạt một mảng bờ rãnh đất, lấp kín dòng ẩm vừa rịn ra từ kẽ đá. “Làng này đang đói, nhà nào cũng khát khô cả cổ họng, rát cả ruột gan! Mày nhìn ra ngoài kia xem, nhà bác Trịnh Bách ngoài dải đồng Thạch Nê, lúa chết trắng đồng trơ gốc rạ, người ta phải nhịn từng bát cháo loãng, uống từng gáo nước váng phèn mà còn chưa dám động một ngón tay vào đất giếng công! Mày cậy có mảnh vườn nằm sát vách giếng rồi muốn làm gì thì làm đấy phỏng? Tao mà không đi tuần sớm một chuyến thì cái rãnh con này ngày mai đã biến thành cái mương nuốt trọn giếng làng rồi!”

Không khí ngột ngạt và căng thẳng bao trùm lấy góc vườn xơ xác. Mùi đất bị lấp phả lên nồng tanh. Lê Cẩn sốt ruột định bước lên đỡ lời cho bạn, nhưng đúng lúc anh vừa há miệng thì một tiếng quát chói gắt, sắc nhọn như dao cứa bất ngờ vang lên từ phía gian nhà ngang Mộc gia.

“Anh Tầm! Rốt cuộc anh còn muốn giấu tôi đến bao giờ nữa hả?!”

Cả ba người đàn ông ngoài miệng giếng giật mình quay phắt lại.

Mộc An đang đứng ngay bậc thềm đất dẫn ra vườn thuốc. Cây chổi đót trên tay cô đã rơi tuột xuống đất từ lúc nào, nằm chỏng chơ bên đôi dép cói rách quai. Đôi mắt thường ngày vốn lanh lợi, sắc sảo và điềm đạm của cô gái làm nghề ghi chép sổ sách thuê ngoài chợ nay đỏ hoe, ngập tràn sự phẫn uất, bàng hoàng và cay đắng. Trong bàn tay khẳng khiu đang run rẩy dữ dội của An là hai mảnh giấy ố vàng gấp mép cẩu thả, góc trên cùng của mỗi tờ giấy in hằn một dấu triện sáp đỏ lòm hình ba đỉnh núi đá lởm chởm—con dấu đòi mạng khét tiếng của Vạn Thạch Hành.

Tầm chết lặng tại chỗ. Toàn thân anh cứng đờ như bị một khối đá ngàn cân từ trên trời giáng thẳng xuống đỉnh đầu. Hơi thở anh nghẽn lại nơi lồng ngực.

“An... cái đó... sao em lại...”

“Tôi vào quét góc buồng mẹ, dọn cái kẹp liếp nứa sau bàn thuốc thì hai tờ giấy này rơi thẳng xuống mặt!” Giọng An lạc đi, nước mắt trào ra nơi khóe mi nhưng cô lập tức giơ ống tay áo cũ rách quẹt phắt đi một cách dứt khoát. Cô sải từng bước chân thoăn thoắt tiến thẳng về phía ba người đàn ông bên miệng giếng, xòe mạnh hai mảnh giấy nợ ra trước mắt anh trai mình: “Mười hai lượng bạc trắng! Ba viên linh thạch hạ phẩm! Hạn chót chỉ còn chưa đầy bốn tuần nữa! Anh Tầm, anh điên rồi sao?! Anh ký giấy nhận nợ siết vườn thuốc từ bao giờ mà dám giấu biệt cả tôi lẫn mẹ hả?!”

Ông Phạm Nghi khựng lại, đôi mắt ti hí kèm nhem trố tròn nhìn trừng trừng vào dấu triện đỏ chót như máu trên tờ giấy. Ngay cả một người thợ giếng chất phác, quen chịu đựng gian khó như Lê Cẩn cũng há hốc mồm kinh ngạc, sắc mặt tái nhợt không còn một giọt máu.

“Chưa hết đâu!”

Mộc An quay sang nhìn xoáy vào ông Phạm Nghi rồi lại dí sát tờ giấy thứ hai vào sát ngực Tầm, giọng cô đanh lại, từng con chữ thốt ra sắc bén và lạnh lẽo:

“Tôi làm nghề chép sổ, soát hóa đơn thuê ở chợ Bến Tro ba năm nay, từng nét chữ ngoằn ngoèo, từng mánh lới lãi mẹ đẻ lãi con của đám con buôn Vạn Thạch Hành tôi lạ gì! Anh nhìn vào đây! Mở to mắt ra mà nhìn cho rõ vào cái biên nhận phạt này xem!”

Ngón tay trỏ thon dài của An đâm mạnh vào dòng mực đen nhánh, khô khốc được viết bằng lối chữ thảo hiểm hóc ngay bên dưới khoản tiền nợ gốc:

“Tháng trước, khi Đỗ Kính sai người đưa ba thang thuốc cắt cơn ho phế tro cho mẹ, hắn đã tiện tay cộng thêm một lượng hai tiền bạc tiền phạt chậm trả vào nợ gốc với lý do anh nộp thiếu hạn định mười ngày! Thế mà sang tờ biên nhận phạt thứ hai này, hắn lại trắng trợn tính tiếp một đợt phạt hai phần mười dựa trên tổng số tiền đã bao gồm cả tiền phạt cũ! Đây là trò phạt chồng phạt, lãi mẹ cõng lãi con hoàn toàn trái với quy ước buôn bán và luật lệ của phủ huyện! Anh không biết chữ của bọn tu thương, anh sợ hãi khi thấy mẹ hộc máu nên cứ thế cắm đầu ấn điểm chỉ tay vào! Bọn chúng đang giăng bẫy để cướp trắng nửa mẫu đất hương hỏa màu mỡ này của nhà mình, anh có hiểu không hả Mộc Tầm?!”

Mộc An gào lên, lồng ngực cô phập phồng kịch liệt dưới manh áo vá chằng vá đụp. Sự giận dữ tột cùng của cô gái trẻ không chỉ bắt nguồn từ món nợ khổng lồ như núi đá đang treo lơ lửng trên nóc nhà, mà còn vì nỗi uất ức cay đắng khi bị chính người anh trai duy nhất gạt ra ngoài rìa, coi cô như một đứa trẻ con vô dụng, biến cô thành kẻ mù lòa câm điếc ngay trong chính căn nhà mà cô đang dốc từng giọt sức lực để vun vén.

Tầm đứng chôn chân giữa bùn đất nhão nhoét. Ngón tay trỏ bị thương bọc giẻ thô của anh nhức nhối buốt giá như có hàng ngàn mũi kim sắt cắm sâu vào thớ thịt. Gió từ dải đồng Thạch Nê thổi thốc vào khu vườn, mang theo vị mặn chát của đất chết và hơi nóng oi ả của buổi trưa đang tới gần.

Trước mặt anh là ông Phạm Nghi đang trợn trừng mắt vì quyền lợi giếng công của làng bị xâm phạm; ngay bên cạnh là người em gái ruột thịt đang run lên từng hồi vì bế tắc, uất ức và tổn thương; phía sau lưng là người bạn nối khố Lê Cẩn đang thở dốc từng cơn vì chứng bệnh phổi tro âm ỉ gặm nhấm.

Tất cả những bí mật tăm tối nhất, những gánh nặng đè trĩu vai mà anh cắn răng chịu đựng, âm thầm gánh vác suốt những ngày đêm vừa qua rốt cuộc đã vỡ toang ra thành từng mảnh vụn trần trụi.

Không còn đường lùi nào nữa. Cửa đã khép chặt sau lưng anh.

Tầm hít một hơi thật sâu, luồng không khí khô khốc và khen khét tràn vào phổi như ngọn lửa xua tan đi nỗi do dự, sợ hãi cuối cùng. Anh từ từ ngẩng đầu lên, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào đôi mắt già nua của ông Phạm Nghi, rồi chuyển sang gương mặt giàn giụa nước mắt của Mộc An:

“Phải. Tôi nợ Vạn Thạch Hành. Hạn trả nợ chỉ còn hai mươi mấy ngày nữa thôi. Nếu không có bạc nộp, thằng Đỗ Kính sẽ mang khế ước đất có điểm chỉ đỏ này đến, xua tuần đinh san phẳng mảnh vườn này, dỡ mái nhà này và đuổi mẹ con chúng ta ra ngoài đường cái làm dân lưu tán nhặt rác kiếm ăn.”

Mộc An cắn chặt môi dưới đến mức bật ra một vệt máu tươi, hai bàn tay siết chặt lấy hai tờ giấy nợ nhăn nhúm như muốn bóp nát chúng thành bột.

Tầm quay sang phía ông Phạm Nghi, giọng nói hạ thấp xuống nhưng mang một sức nặng đanh thép, vang vọng trong không gian tĩnh lặng của góc vườn:

“Và cháu đào rãnh dẫn nước không phải để tư lợi cho riêng mình đâu, bác Nghi ạ. Cháu làm thế, cháu dám đụng vào cái Giếng Cạn này là vì dưới đáy sâu bốn trượng kia... đang có một mầm cây lạ.”

Lời nói vừa dứt, khoảng sân đất bên miệng giếng bỗng chốc rơi vào một sự im lặng chết chóc. Chỉ có tiếng gió lào thổi ràn rạt qua rặng tre khô khốc nơi bờ rào, làm những chiếc lá tre vàng úa rơi lả tả xuống mặt đất nứt nẻ.

“Mày... mày vừa nói cái giống gì?” Ông Phạm Nghi hạ cây gậy tre xuống nửa tấc, trán nhăn tít lại thành một búi, vẻ hoài nghi hiện rõ trên khuôn mặt nhăn nheo. “Mầm cây lạ? Dưới cái đáy Giếng Cạn ngậm đầy trọc độc, bùn tanh tưởi đến mức chuột bọ chui vào còn thối rữa xương thịt mà lại sống được cây cỏ gì? Mày định bịp bợm một lão già trông giếng như tao để trốn tội khoét đất công à?”

“Nó sống được. Và nó đang sống rất khỏe mạnh,” Lê Cẩn bước dứt khoát lên một bước, đứng ngang hàng với Tầm, cất giọng trầm đục và chắc nịch làm chứng cho bạn. Anh xòe bàn tay dính đầy bụi đá vôi mủn trắng và bùn xám ra ngay trước mặt ông già giữ sổ: “Chính mắt cháu vừa xem xét dưới đó xong. Bùn dưới đáy giếng đang bớt mùi chua gắt, đá vôi Thạch Nê cứng như sắt tôi nay đang xốp mủn ra như bột bánh. Mầm cây đó đang hút trọc tức từ tầng quặng để làm sạch đất và rỉ nước ẩm ra ngoài. Bác Nghi, bác trông giếng làng mấy chục năm nay, qua bao đời khô hạn, bác đã từng thấy cái giếng cạn trơ đáy nào bỗng dưng rỉ nước ẩm trở lại sau nửa năm chết khô ngậm độc chưa?”

Ông Phạm Nghi bàng hoàng nhìn sang Lê Cẩn, rồi lại nhìn đăm đăm xuống mảng bụi đá mủn trắng trong lòng bàn tay chai sạn của người thợ giếng.

Là người cả đời giữ cuốn sổ ghi chép từng mạch nước, từng mức dâng hạ của sáu cái giếng trong làng, ông hiểu rõ từng thớ đá, từng tầng đất của cái lòng chảo Hạ Khê này hơn bất kỳ ai. Nước rỉ lại ở Giếng Cạn... đó là chuyện hoang đường chỉ có thể xuất hiện trong những câu chuyện cổ tích ngàn năm trước, nhất là giữa lúc các tông môn trên đỉnh núi thượng nguồn đang ngày đêm xả bã luyện đan, xiết chặt từng nguồn sống của cả vùng hạ lưu cằn cỗi này.

Thế nhưng, sự kinh ngạc chỉ vừa lóe lên đã lập tức bị dập tắt bởi bản năng phòng thủ và quyền uy thâm căn cố đế của một người đại diện cho hương ước cộng đồng. Ông Nghi chống mạnh đầu gậy tre xuống đất, mặt đỏ bừng lên vì tức giận và cảnh giác:

“Nếu... nếu quả thực có thứ cây thần kỳ giải được độc quặng ấy, thì nó mọc ở đâu? Nó mọc dưới đáy Giếng Cạn! Mà Giếng Cạn là tài sản công của sáu xóm làng Hạ Khê này từ thời mở cõi! Tấc đất, tấc đá, từng giọt nước cho đến cái mầm cây mọc ra từ đáy giếng đó đều thuộc quyền kiểm soát của làng xã! Mộc gia chúng mày lấy cái quyền gì mà dám giấu giếm riêng tư, càng không có quyền tự ý dùng nước hay đụng chạm vào nó! Tao là người giữ sổ, tao phải có trách nhiệm báo ngay cho tuần đinh, phải khóa miệng giếng lại bằng xích sắt để các cụ và dân làng cùng ra định đoạt!”

“Bác định đoạt thế nào?!”

Mộc An bất ngờ bước vọt lên, đứng chắn ngay trước mặt ông Phạm Nghi, đôi mắt sắc sảo bừng lên ngọn lửa tranh đấu gay gắt đến nghẹt thở.

Cô không còn vẻ bối rối, hoang mang của một người em gái vừa phát hiện ra món nợ ngập đầu, mà hoàn toàn lột xác thành một người chép sổ sắc sảo, đanh thép—người từng đối mặt và cãi lý với đám lại dịch, sai nha hống hách ngoài cửa chợ Bến Tro:

“Bác Nghi! Sáu tháng trước khi giếng bắt đầu bốc mùi trọc khí nồng nặc, ai là người cầm cuốn sổ giếng công đến tận cổng nhà tôi tuyên bố đây là giếng phế thải, giếng bỏ hoang? Ai là người đứng giữa ngã ba xóm rêu rao rằng nước dưới giếng này có độc, đứa nào gánh về uống chỉ tổ rữa ruột nát gan, rồi vứt mặc cái giếng này cho cỏ dại và gai góc phủ kín miệng suốt nửa năm trời? Lúc ấy có ai trong sáu cái xóm của bác đoái hoài đến nó không, hay người ta chỉ coi nó là một cái hố rác chôn trọc khí của tiên môn, ai đi qua cũng phải bịt mũi nhổ bọt xua đuổi?!”

Ông Nghi nghẹn ứ nơi cổ họng, chòm râu bạc rung rinh bần bật: “Đó... đó là vì lúc bấy giờ giếng có độc, không ai dùng được thì phải tránh...”

“Đúng! Không ai dùng được thì các người coi là đất chết, phủi tay bỏ mặc cho Mộc gia chúng tôi ngày đêm chịu hơi độc xộc thẳng vào buồng mẹ tôi, làm bệnh phế tro của bà phát nặng đến mức hộc máu suýt chết!”

An vung mạnh cánh tay mảnh khảnh vào không trung, từng lý lẽ tuôn ra đanh thép như búa gõ vào đe:

“Bây giờ anh trai tôi liều mạng trèo xuống đáy sâu bốn trượng, ngửi khí độc đến mòn mỏi lá phổi, chịu trọc khí rữa nát cả ngón tay trỏ, dùng mồ hôi nước mắt để chăm bẵm cho mầm cây ấy sống lại, thì bác lại vác gậy đến đây lớn tiếng đòi quyền sở hữu công? Bác bảo giếng là của xóm, nhưng hỏi bác xem lúc gặp hiểm nguy thì ai là người đứng ra chịu rủi ro? Nếu sáng hôm nay cái mầm cây đó phát nổ trọc tức làm anh Tầm chết tan xác dưới đáy giếng sâu bốn trượng kia, xóm của bác có trích ra một đồng kẽm nào trong cuốn sổ công kia để đền mạng cho nhà tôi không? Hay các người sẽ vội vã vác xẻng xúc đất lấp kín miệng giếng lại, chôn sống anh tôi dưới đó để tránh cho trọc khí không bay vào làng, tránh cho làng không bị vạ lây?!”

Từng câu, từng chữ của Mộc An như những nhát roi quất thẳng vào lương tâm và sự tự tôn của người quản sổ già.

Ông Phạm Nghi loạng choạng lùi lại nửa bước, khuôn mặt già nua lúc đỏ bừng vì xấu hổ, lúc lại tái mét đi vì đuối lý. Ông thở dốc từng cơn, bàn tay nắm chặt lấy đầu gậy tre muốn giơ lên để giữ lấy cái uy nghiêm của một bậc kỳ hào, nhưng trước ánh mắt rực lửa, sự phẫn nộ chính đáng và những lý lẽ không thể chối cãi của cô gái trẻ, cánh tay ông run rẩy dữ dội mà không sao nhấc lên nổi.

Lê Cẩn đứng bên cạnh khẽ huých cùi chỏ vào mạn sườn Tầm, trong đôi mắt người thợ giếng ánh lên một vẻ thán phục kín đáo và tự hào dành cho sự bộc trực, can trường của Mộc An.

“An nói không sai một chữ nào đâu, bác Nghi,” Tầm bước lên đứng sát bên cạnh em gái, giọng anh dịu lại đôi chút nhưng vẫn giữ nguyên sự kiên quyết không thể lay chuyển:

“Mầm cây lạ này cực kỳ mẫn cảm với môi trường xung quanh. Chỉ cần một luồng linh lực hỗn tạp của tu sĩ đi ngang qua, hay một nhát cuốc của kẻ nông nổi xới sai chỗ trên vách đá, nó sẽ kích nổ cả cái túi trọc tức khổng lồ đang bị nén chặt dưới vỉa Thạch Nê ngay lập tức. Bác mà kéo cả xóm đến nhòm ngó, người này đòi múc gáo nước về xem thử, người kia đòi bứng cây mang về chia phần cho công bằng, thì cháu cam đoan với bác: chưa đầy nửa ngày sau, hoặc là cái mầm cây giải độc duy nhất này sẽ chết rũ mục nát, hoặc là cả túi khí độc dưới kia sẽ bùng lên san phẳng khu vườn này và biến cả cái làng Hạ Khê thành bãi tha ma.”

Ông Phạm Nghi đứng chết lặng hồi lâu giữa khoảng sân hanh nắng. Gió cuốn theo từng vệt bụi tro xám ngoét bay là là dưới chân ông, vướng vào gấu quần vải thô rách rưới.

Là một người cả đời gắn bó với đất đai, bùn lầy và những mạch nước ngầm, ông thừa hiểu tính khí của đám nông phu trong làng khi cơn cùng quẫn, đói khát bủa vây: họ có thể lao vào cấu xé, tranh giành một gáo nước sạch đến mức đổ máu, vỡ đầu mẻ trán. Nếu tin tức về một mầm cây có khả năng lọc trọc khí dưới đáy Giếng Cạn bị lộ ra lúc này, chẳng những đám con buôn hiểm độc của Vạn Thạch Hành và các chấp sự của Thanh Lộ Tông sẽ lập tức kéo quân xuống thu hồi, biến nó thành tài sản riêng của phường tu thương, mà nội bộ cái xóm Hạ Khê nghèo khổ này cũng sẽ tự tan nát vì sự tranh giành, nghi kỵ lẫn nhau.

“Vậy... vậy rốt cuộc chúng mày tính thế nào?”

Giọng ông Nghi chùng hẳn xuống, vẻ hách dịch, trịch thượng ban nãy đã hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại sự bất an, bối rối và mệt mỏi của một ông lão đang phải oằn mình gánh vác sự sống còn của cả một xóm làng bên bờ vực diệt vong.

“Mày giấu được sáng nay, liệu có giấu được cả đời không? Món nợ của Vạn Thạch Hành rành rành ra đó trên giấy trắng mực đen, hai mươi ngày nữa thằng Đỗ Kính kéo người đến xiết vườn thuốc, thì cái Giếng Cạn này nằm sát sạt vách đất nhà mày cũng sẽ bị bọn chúng cướp trắng tay nốt!”

“Mười ngày.”

Mộc An dứt khoát cất lời, giọng cô rành rọt như tiếng đếm tiền đồng trên mặt bàn gỗ. Ánh mắt cô nhìn thẳng vào ông Nghi rồi quay sang nhìn sâu vào mắt anh trai mình:

“Bác Nghi, chúng ta lập một thỏa thuận miệng ngay tại đây. Giữ kín như bưng chuyện này đúng mười ngày. Trong mười ngày này, anh Tầm và anh Cẩn sẽ tiếp tục chui xuống đáy giếng chăm sóc mầm cây và theo dõi sát sao từng biến chuyển của dòng nước ngầm. Bác có toàn quyền đứng trên miệng giếng này để giám sát mỗi ngày vào buổi sớm và chiều muộn, nhưng tuyệt đối không được ghi chép một dòng nào vào cuốn sổ công kia, càng không được hé răng nửa lời với bất kỳ ai trong sáu xóm.”

“Để làm gì? Giấu mười ngày thì giải quyết được cái gì?” Ông Nghi nhíu mày tra hỏi.

“Để xem sau mười ngày, nước rỉ ra từ vách đá có thực sự trong sạch trở lại, có thể dùng để ăn uống và cứu sống cây cối được hay không!”

An giơ cao hai tờ giấy nợ có dấu triện đỏ lên ngang tầm mắt ông già:

“Còn về phần tôi, trong mười ngày này, tôi sẽ mang bản sao chép các khoản nợ này ra đối chiếu kỹ lưỡng với các khế ước khác ngoài chợ Bến Tro. Tôi sẽ tìm cho ra kẽ hở trong việc Đỗ Kính tính phạt lãi trùng lặp, dùng luật lệ của phủ huyện để ép hắn phải lùi thời hạn hoãn nợ lại ít nhất một mùa vụ. Nếu sau mười ngày mà nước giếng thực sự hồi phục, khi ấy bác Nghi đứng ra làm chứng cho Mộc gia, chúng ta mới ngồi lại bàn bạc đàng hoàng chuyện chia nước và công chăm sóc thế nào cho thấu tình đạt lý giữa dân xóm và gia đình tôi!”

Tầm nhìn em gái, trong lòng trào dâng một niềm cảm phục và biết ơn sâu sắc. Sự quyết đoán, bản lĩnh và đầu óc tính toán rành mạch đến từng chi tiết của An đã lập tức xoay chuyển tình thế, biến một cuộc xung đột gay gắt có nguy cơ dẫn đến đổ máu và bại lộ bí mật thành một thỏa thuận tạm thời có ranh giới rõ ràng, giữ lại cho họ một khoảng không gian sống còn vô giá.

Lê Cẩn cũng gật đầu lia lịa, bước lên phụ họa thêm: “Cháu thấy con An nó tính toán quá chí lý đấy bác Nghi. Cho chúng cháu đúng mười ngày đi. Dù sao thì suốt sáu tháng qua cái giếng này cũng đã bỏ không cho rêu mọc rồi, thêm mười ngày nữa thì cả cái xóm này cũng chẳng mất mát thêm một giọt nước nào cả. Nhưng nếu thành công... nếu mầm cây lọc sạch được mạch ngầm... thì cả cái lòng chảo Hạ Khê này có lối thoát rồi bác ạ.”

Ông Phạm Nghi đưa mắt nhìn quanh một lượt.

Ông nhìn xuống đáy giếng sâu hun hút nơi mầm cây kỳ lạ đang bám rễ mà Cẩn vừa miêu tả, nhìn vẻ mặt kiên định, lì lợm và không hề biết khuất phục của hai anh em họ Mộc, rồi lại phóng tầm mắt ra xa—nơi những luống đất nứt nẻ, khô cháy ngoài đồng Thạch Nê đang oằn mình dưới ánh nắng gắt gao.

Cuối cùng, lồng ngực người quản sổ già khẽ xẹp xuống trong một tiếng thở dài thượt sườn sượt, cây gậy tre đực buông thõng xuống bên hông:

“Được rồi. Mười ngày. Đúng mười ngày sau, nếu nước giếng không trong lại và trọc khí không tan hết, tao sẽ đích thân mang dây xích sắt đến khóa chặt miệng giếng lại nộp về cho xóm định đoạt.”

Ông Nghi quay lưng, lê từng bước chân nặng nề, tập tễnh ra phía bờ rào râm bụt. Nhưng trước khi bóng dáng còng còng của ông khuất hẳn sau rặng tre cằn cỗi nơi ngõ xóm, ông bỗng dừng bước, ngoái đầu lại, ánh mắt già nua đùng đục thoáng qua một tia hy vọng mờ nhạt như đốm tàn tro gặp gió:

“Liệu mà chăm bẵm nó cho cẩn thận... đừng để nó chết oan uổng dưới đáy đất.”

Bóng dáng người quản sổ già hoàn toàn biến mất sau rặng tre xơ xác.

Khoảng sân nhỏ trước miệng giếng chỉ còn lại ba người trẻ tuổi đứng chơ vơ giữa cái nắng trưa bắt đầu rọi xuống gay gắt và oi ả. Mộc An thở hắt ra một hơi dài, toàn thân như mềm nhũn ra, bờ vai gầy khẽ run rẩy sau những phút giây căng thẳng tột độ. Cô từ từ quay sang nhìn Tầm, ánh mắt sắc sảo ban nãy đã dịu đi phần nào nhưng vẫn còn nguyên nét giận hờn, trách móc và nỗi lo âu thắt ruột:

“Vào nhà đi. Bây giờ thì anh phải kể hết mọi chuyện cho tôi nghe, từng chân tơ kẽ tóc, không được phép giấu giếm hay bỏ sót một chữ nào nữa.”

Tầm vừa hé môi định gật đầu đáp lời em gái thì từ gian nhà ngang phía trong, một âm thanh xé lòng bất ngờ dội thẳng ra ngoài sân.

*Khụ... khụ khụ... ặc...*

Tiếng ho khan ngắt quãng, khô khốc và nghẹn ứ của mẹ từ trong buồng tối vọng ra, kéo theo mùi thuốc bắc sắc cạn khét lẹt xộc qua khe liếp vì nồi thuốc trên bếp đã cạn kiệt mà không có lấy một bát nước sạch để châm thêm.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn