Đo Lại Từ Mặt Đất
Tiếng sấm rền vang mở màn cho một trận mưa rào xối xả trút xuống khắp lòng chảo Hạ Khê, gột rửa lớp bụi xám bám trên những mái rạ xơ xác.
Từng vệt chớp bạc ngoằn ngoèo xé toạc bầu trời chì đặc, rạch ngang qua đỉnh non cao ngất của rặng Thanh Lộ trước khi tiếng nổ ùng oàng dội vào vách núi, rung chuyển cả mặt đất cằn cỗi. Những hạt nước to bằng hạt ngô, nặng trĩu và buốt lạnh đập ràn rạt lên vách đá vôi nứt nẻ, gõ dồn dập như gõ trống trên những triền đồi trơ trọi. Nước mưa cuộn tròn lớp đất cát mịn màng bốc khói, xẻ thành hàng trăm ngàn rãnh xói sâu hoắm trên các bờ dốc khô khát rồi đổ ập xuống lòng thung lũng sâu hoắm. Mùi ngai ngái nồng nặc của bùn xỉ quặng lâu ngày bị giam hãm dưới cái nắng hanh hao bỗng chốc gặp nước lạnh liền bung tỏa ra, bốc lên cay sè mũi, sực nức vị tanh của kim loại gỉ và vị ngái nồng của xác mùn rữa. Nhưng sau ròng rã nhiều tháng trời khô hạn đến nứt toác bờ xôi ruộng mật, khi từng thớ đất nẻ toác như mu rùa há hốc mồm chờ chết, cơn mưa dội xuống chẳng khác nào một gáo nước mát trút thẳng vào cổ họng kẻ đang hấp hối giữa sa mạc cát bỏng.
Nước mưa từ trên các triền đá dốc đứng cuồn cuộn trôi xuống, lấp đầy các hố trũng nham nhở tàn dư của những đợt đào quặng năm xưa, rửa trôi lớp váng lưu huỳnh vàng vọt nổi lềnh bềnh trên mặt mương dẫn nước cạn trơ đáy. Cả bãi hoang Thạch Nê rộng lớn phút chốc biến thành một tấm gương nước khổng lồ, loang loáng ánh chì xám dưới vòm trời vần vũ mây đen mịt mùng. Nước len lỏi vào từng kẽ đá nứt, xối sạch những mảng rêu khô mốc thếch, tràn qua những đống xỉ than bị bỏ quên bên bờ rào, làm dịu đi cái ngột ngạt tích tụ bấy lâu trong từng thớ đất lòng chảo.
Trận mưa rào hung hãn ấy kéo dài ròng rã suốt hai ngày hai đêm không ngớt. Mưa như trút nước, như muốn dốc cạn toàn bộ túi nước của trời xanh xuống mảnh đất cằn cỗi này, rồi đến rạng sáng ngày thứ ba thì dứt hẳn.
Khi những vạt mây đen nặng trĩu bắt đầu tản mác trôi về phía rặng núi mù xa, bầu không khí trong trẻo lạ thường. Những tia nắng mỏng manh đầu tiên của buổi sớm xuyên qua lớp sương mù dày đặc còn bảng lảng nơi chân núi, rọi xuống bãi đất bồi phù sa pha đá xỉ. Ngay lúc ấy, khắp các cánh đồng hoang Thạch Nê bỗng xảy ra một dị tượng khiến cho cả làng Hạ Khê ngỡ ngàng, sững sờ không dám tin vào mắt mình.
Từ lớp bùn đất nhão nhoét vốn chỉ toàn vụn đá xỉ sắc nhọn và tro than xám ngắt bấy lâu nay trơ trọi không một cọng cỏ, một lớp mầm xanh non tơ bỗng đua nhau đội đất chui lên. Chỉ sau một đêm ngậm đẫm nước trời, sắc xanh mơn mởn lan nhanh như một vết dầu loang trên mặt nước phẳng, phủ kín những triền ruộng bậc thấp từng bị bỏ hoang, phơi sương phơi nắng suốt hai năm ròng rã. Đó là cỏ mần trầu với những phiến lá mềm mại xòe tròn sát mặt đất, cỏ đuôi phượng vươn cao ngạo nghễ, rau dền gai mập mạp tím thẫm nơi cuống lá, và những vạt cỏ mật hoang dã dập dờn như sóng lượn. Thân non của chúng mọng nước, căng tròn nhựa sống, lá tơ rung rinh đón làn gió sớm trong lành, óng ánh những giọt sương mai tinh khiết lung linh dưới ánh ban mai.
Một màu xanh ngút ngát, tươi mới và ngập tràn nhựa sống phủ lấp hoàn toàn sự cằn cỗi chết chóc của vùng đất chết Thạch Nê chỉ trong chớp mắt.
Tiếng reo hò bùng lên vang dội, truyền từ xóm Trên xôn xao chạy dọc bờ mương xuống tận xóm Dưới.
"Trời cứu rồi! Trời không tuyệt đường sống của dân Hạ Khê chúng ta rồi!"
Trịnh Bách quăng mạnh chiếc cuốc chim mòn vẹt xuống bờ cỏ, không thèm xắn quần, lội ào xuống vạt ruộng xâm xấp nước bùn. Hai bàn tay thô ráp nứt nẻ của người nông phu cả đời gắn bó với đất vội vã bốc từng vốc cỏ non mơn mởn, áp chặt vào mặt, vào mũi mà hít hà mùi thơm thanh khiết của lá tươi, cười ha hả đến mức hai khóe mắt rơm rớm giọt lệ đục ngầu. Cánh đinh tráng từng phồng rộp tay chân vì đập đá, nạy xỉ suốt mấy ngày trước dưới sự đốc thúc nghiêm ngặt của Hội giữ đất cũng đồng loạt buông rơi choòng sắt, hò reo như phát điên. Nhiều cụ già run rẩy ngã quỵ xuống bờ ruộng nhão bùn, chắp hai bàn tay gầy guộc lạy như tế sao lên đỉnh núi Thanh Lộ mù sương bảng lảng phía chân trời xa.
"Đất tự lành rồi! Cần quái gì phải rọc rễ đục đá cho rách việc!" Giọng một nông hộ ở gò đông oang oang vang lên giữa đám đông đang phấn khích tột độ. "Mấy ông thợ thuốc cứ hù dọa túi trọc tức ngầm với chả nốt độc nọ nốt độc kia! Mưa rào trút xuống một cái là rễ cỏ lại bật lên xanh um tùm đây này! Mắt thấy tai nghe, đất trời còn thương xót kẻ nghèo hèn! Cứ cày vỡ lớp cỏ này ra mà tra bắp, tra đỗ, chỉ tháng sau là có cái ấm bụng bỏ vào mồm, việc gì phải còng lưng chở từng gánh bùn đệm với gạch vỡ cho mệt thân!"
Mấy chục con người túm tụm quanh các bờ ruộng ngập nước, hoa chân múa tay bàn tính chuyện chia đất, chia mương tự phát. Tiếng cãi cọ, tiếng tranh giành chen lẫn tiếng cười hỉ hả vang dội cả một góc trời. Có người đã vội vã vác cọc tre, dây gai ra cắm mốc, tranh giành lấy những khoảng đất trũng vừa mới nhú lên lớp cỏ non mỡ màng nhất, mọng nước nhất. Sự hoài nghi bấy lâu đối với những quy trình che chắn độc nghiêm ngặt, những lời răn đe cẩn trọng của Hội giữ đất dường như bị dòng nước mưa xối xả cuốn phăng đi không còn một dấu vết. Người nông dân chất phác chỉ tin vào mắt mình: cỏ mọc xanh nghĩa là đất đã sống lại, trời đã rủ lòng thương ban phát mưa móc thì người phàm cần gì phải nhọc công tính toán từng tấc ẩm, đo đếm từng giọt nước đệm làm chi cho tổn hao tâm lực.
Mộc Tầm đứng lặng trên bờ cao mé đồi tây nam, tay tì vào chiếc gậy tre dùng để gạt bùn, vạt áo chàm bạc phếch bay phần phật trong gió sớm. Ánh mắt anh đăm chiêu, nặng trĩu ưu tư nhìn xuống biển cỏ xanh non đang dập dờn trong nắng sớm như một tấm thảm lụa biếc. Nhưng trong đôi mắt sâu thẳm ấy không hề có lấy một tia vui mừng. Bên cạnh anh, bà giáo Bùi Sương khoác tấm áo tơi đay bạc màu sờn rách, nét mặt già nua phẳng lặng như mặt nước giếng sâu không đáy, không gợn một chút lăn tăn.
Bà cụ khẽ khom lưng, ngón tay xương xẩu ngắt lấy một ngọn cỏ mật tươi tốt đưa lên sát mũi hít nhẹ một hơi, rồi từ từ bóp nát thân cây mọng nước giữa hai đầu ngón tay ráp như vỏ cây thông. Nhựa cỏ ứa ra, trong suốt như hạt ngọc sương, nhưng ngay khi ánh mặt trời rọi thẳng vào, bề mặt giọt nhựa ấy lại ẩn hiện một vệt láng nhờ nhờ, ánh lên sắc biếc mỏng manh tựa như váng dầu nổi trên mặt nước cống rãnh.
"Đừng vội mừng," bà Sương nói, thanh âm trầm lạnh như một tảng đá ngâm dưới đáy suối mùa đông buốt giá. "Rễ nông ăn nước trời, rễ sâu ngậm thuốc độc. Trận mưa này chỉ ép hơi độc lặn tạm xuống tầng đáy sâu, chứ không gột rửa được một mảy may xỉ quặng nào cả. Đất chưa thông, mạch chưa hóa, chỉ là cơn bốc đồng chốc lát của mầm cỏ dại hám nước mà thôi. Nắng lên sẽ biết mặt nhau ngay."
* * *
Lời cảnh báo nghiệt ngã của người dược sư già dạn dày sương gió ứng nghiệm nhanh hơn bất kỳ ai trong làng có thể tưởng tượng nổi.
Bước sang ngày thứ tư, mây mù dày đặc buổi sớm tan biến sạch trơn không để lại một vệt tích, nhường chỗ cho một vòm trời cao vút, trong vắt không một gợn mây, xanh ngắt một cách tàn nhẫn và khô khốc. Ánh mặt trời đầu hạ như trút lửa, quất những luồng sáng chói chang, gay gắt xuống lòng chảo Thạch Nê bốn bề kín gió. Nhiệt độ trong không gian tăng vọt chỉ sau vài canh giờ ngắn ngủi. Không khí bắt đầu oi nồng, hầm hập bốc lên ngột ngạt như thể cả vùng thung lũng bị nhốt chặt dưới một cái vung đồng khổng lồ đang bị nung đỏ trên lò than hồng.
Mặt đất ướt sũng sau hai ngày mưa bắt đầu bốc khói lam nhạt, mờ mờ ảo ảo như sương sớm nhưng lại nồng nặc mùi hôi hám. Nước trên bề mặt bốc hơi dữ dội dưới sức nóng thiêu đốt, kéo theo một phản ứng dây chuyền đáng sợ dưới tầng địa chất sâu thẳm.
Theo nguyên lý mao dẫn nghiệt ngã của thổ nhưỡng, khi lớp ẩm trên bề mặt bị mặt trời hút cạn với tốc độ chóng mặt, nó tạo ra một lực hút áp suất cực lớn từ bên dưới lòng đất hướng thẳng lên trời. Thay vì chỉ bốc hơi nước tinh khiết mà trời xanh vừa ban phát, dòng mao dẫn hung hãn ấy lại kéo ngược toàn bộ trọc tức, cặn xỉ kim loại và axit quặng vốn bị nén chặt dưới tầng đá vôi sâu bốn thước trào ngược lên bề mặt. Những chất độc quặng nặng nề, sau khi bị nước mưa hòa tan một phần ở tầng sâu, nay theo dòng nước ngầm bốc ngược mà dâng lên, xộc thẳng vào vùng rễ của thảm thực vật non nớt.
Đến giữa trưa, khi bóng nắng tròn trịa ngay dưới chân người, một mùi khét lẹt nồng nặc tựa như mùi lưu huỳnh trộn lẫn tóc cháy bắt đầu lan tỏa khắp không gian Thạch Nê, xộc vào từng góc nhà, ngõ xóm.
Những ai đang đứng ngoài đồng, tay cầm cuốc xẻng hăm hở xới đất, đều phải chết lặng chứng kiến một cảnh tượng hãi hùng diễn ra ngay trước mắt: lớp cỏ non mỡ màng xanh biếc ban sáng bỗng run rẩy quăn queo lại dưới ánh nắng chang chang. Không phải chúng héo rũ vì thiếu nước như cỏ cây gặp hạn thông thường; trái lại, mặt đất vẫn còn ẩm ướt lầy lội, nhưng các tế bào mọng nước ở gốc thân cây bỗng chốc sủi bọt lấm tấm, rồi nhanh chóng biến thành màu nâu đen nhờ nhờ như thể bị nhúng thẳng vào chảo mỡ đang sôi sùng sục. Trọc tức trào lên xé toạc màng tế bào mỏng manh của rễ non, biến dòng nhựa sống thanh khiết thành thứ dung dịch độc hại thiêu đốt chính bản thân chúng từ trong ra ngoài.
*Xèo... xèo...*
Những tiếng nổ lép bép li ti vang lên rải rác khắp mặt ruộng ẩm ướt. Từng vạt cỏ dại đổ rạp xuống bùn, thân cây teo tóp, đen quắt lại rồi khô giòn trong nháy mắt. Sắc xanh non mơn mởn của sự sống giả tạo hoàn toàn biến mất chỉ trong vòng một buổi trưa ngắn ngủi, nhường chỗ cho một lớp tro đen xám xịt phủ kín bãi hoang, bốc lên những làn khói nhờ nhờ khét lẹt, cay xè mắt mũi.
Trịnh Bách đứng chết trân bên bờ ruộng, chiếc cuốc chim tuột khỏi tay rơi đánh thõng xuống đất bùn. Đôi mắt người nông phu già mở to bàng hoàng, dại đi vì kinh ngạc. Ông run rẩy quỳ sụp xuống bờ mương, hai bàn tay run rẩy chạm vào một ngọn cỏ mần trầu vừa mới vài canh giờ trước còn xanh biếc, đẫm sương mai; ngón tay thô ráp của ông vừa khẽ chạm vào, ngọn cỏ đã vỡ vụn thành bột tro xám ngoét, vương vãi theo một cơn gió nóng rát vừa thổi thốc qua. Vị đắng ngắt và chua lè từ lớp bột tro bay vào miệng xộc thẳng vào cuống họng khiến ông ôm ngực ho sặc sụa, từng cơn co thắt đau đớn như có ai cào xé trong phế quản.
Những tiếng khóc lóc, than vãn lại rộ lên rải rác khắp các góc ruộng bãi hoang. Nỗi thất vọng ập đến sau ảo ảnh ngọt ngào còn cay đắng gấp mười lần sự thiếu thốn, nhọc nhằn thường nhật. Người ta nhận ra chân lý nghiệt ngã: mảnh đất này không hề tự khỏi. Nó vẫn là một nấm mồ khổng lồ chôn sống mọi hạt mầm, một tử địa ngậm đầy nọc độc quặng mà thiên nhiên hoang dã, dù có đón nhận bao nhiêu ân huệ của mưa trời, cũng không cách nào tự mình hóa giải nổi.
Thế nhưng, giữa khung cảnh tàn lụi đen đúa của bãi hoang Thạch Nê, vẫn có một ngoại lệ sừng sững tồn tại, kiên cường thách thức cái nắng thiêu đốt và nọc độc trào dâng.
Tại hố thử nghiệm số một phía nam cánh đồng—nơi nhánh cây con Tức Căn vừa được hạ thổ mấy ngày trước—và khoảnh đất ba mươi thước vuông quanh miệng Giếng Cạn, một màu xanh ngọc bích phẳng lặng vẫn kiên cường tỏa sáng giữa đất trời.
Khoảnh đất quanh Giếng Cạn không hề bị ngọn lửa vô hình của trọc tức thiêu rụi. Từng luống mạ non và rau cải dại được gieo thử nghiệm vẫn đứng thẳng tắp, lá xanh thẫm dày dặn, mọng nước, bóng bẩy dưới cái nắng như thiêu như đốt của buổi trưa hè. Mặt đất dưới gốc cây không hề nứt nẻ hay đóng váng lưu huỳnh vàng vọt; nó giữ vững cấu trúc mùn màu nâu sẫm, tơi xốp và ẩm mát như thể được che chắn bởi một chiếc lọng vô hình ngăn cách mọi luồng hơi độc từ lòng đất bốc lên.
Dưới hố Thạch Nê, nơi nhánh cây con Tức Căn cắm sâu những sợi rễ tơ vào lớp bùn đệm trộn xơ dừa và gạch non, lớp đất xung quanh cũng duy trì được độ đàn hồi kỳ diệu. Dù trọc tức từ các vỉa đá xỉ xung quanh bốc lên ngùn ngụt, mùi khét đắng xộc lên nồng nặc, nhưng cứ hễ chạm vào phạm vi ba thước quanh tán lá ngọc bích của mầm cây, luồng khí đen xám ấy lập tức bị hút ngược vào cuống rễ, biến mất không để lại một dấu vết. Mặt đất ở đó không sinh ra tro đen. Cỏ chỉ mọc xen kẽ quanh gốc mầm Tức Căn không hề bị cháy sém.
* * *
Ở căn nhà trạm bỏ hoang mé đầu làng Hạ Khê, Kỷ Vân đang ngồi bất động bên chiếc bàn gỗ mọt sứt sẹo, cẩn thận xếp từng chiếc cọc tiêu đồng sáng loáng và cuộn dây đo bọc chỉ gai vào chiếc tráp gỗ lim có khóa ngàm tinh xảo. Gương mặt người địa sư trẻ tuổi mang vẻ hốc hác, đôi quầng mắt thâm quầng sau mấy đêm mất ngủ, đôi lông mày thanh tú nhíu chặt không dãn ra nổi một khắc. Y đã nấn ná ở lại ngôi làng tồi tàn này suốt ba ngày qua, lấy cớ đường đất trơn trượt sau mưa bão chưa thể đánh xe ngựa về huyện đường, nhưng trong thâm tâm sâu kín, hình ảnh nắm đất đen rỉ ra dòng nước ngọt lịm trên tay Mộc Tầm hôm trước vẫn ám ảnh tâm trí y như một câu đố cổ xưa chưa tìm ra lời giải đáp thỏa đáng.
Cánh cửa liếp tre ọp ẹp đột ngột bị đẩy tung ra, va vào vách đất nghe một tiếng "cạch" khô khốc.
Mộc Tầm sải bước bước vào, vạt áo chàm đẫm mồ hôi và bê bết những mảng bùn đất còn chưa kịp khô. Ngay sát sau lưng anh là bà giáo Bùi Sương, tay chống chiếc gậy tre bọc đồng gõ cồm cộp dứt khoát xuống nền đất nện, cùng với thợ đào giếng Lê Cẩn đang khoác chiếc xẻng sắt ngắn bản rộng bên hông, ánh mắt rực lửa.
"Kỷ địa sư," Bùi Sương lên tiếng trước, thanh âm khô khốc, sắc lạnh không mang một chút khách khí đãi bôi. "Đem cái la bàn tinh xảo, đắt giá của anh ra đây. Đã đến lúc anh phải dùng mắt để nhìn, dùng tay để sờ, và dùng chính cái lưỡi của một kẻ biết ăn cơm hạt để nhìn lại mặt đất này một lần cho rõ ràng rồi đấy."
Kỷ Vân giật mình đứng phắt dậy, hai tay vô thức ôm chặt lấy chiếc tráp gỗ lim vào lòng, vẻ phòng thủ và e ngại hiện rõ trên từng đường nét gương mặt: "Bùi dược sư... Mộc Tầm... Biên bản giám định phong thổ của ta đã niêm phong bằng sáp đỏ, gửi ra trạm dịch chờ chuyển về Ty Địa sư rồi. Các người xông vào đây còn muốn gì nữa? Ta đã giải thích rất rõ ràng, quy chuẩn khảo hạch của huyện phủ và tông môn không cho phép ta ghi nhận những thứ mơ hồ ngoài quy định ngũ hành linh mạch..."
"Dẹp cái thứ quy chuẩn giấy má vô tri của anh sang một bên!" Lê Cẩn gắt gắt, giọng nói còn hơi khản đặc sau trận ngộ độc khí quặng mấy hôm trước, nhưng lồng ngực anh phập phồng giận dữ. "Ra đồng ngay! Ra mà mở to mắt nhìn cỏ trời cháy ra tro đen thui, và xem xem mạ non cùng mầm Tức Căn của chúng tôi còn sống hay đã chết! Hôm nay nếu anh không dám bước chân ra bãi hoang, điều đó chỉ chứng minh một điều duy nhất: chiếc la bàn bằng đồng của anh là đồ mù dở, và chính anh cũng là một kẻ hèn nhát không dám nhìn vào sự thật!"
Kỷ Vân biến sắc, mặt khi đỏ bừng khi trắng bệch. Lòng tự trọng nghề nghiệp của một học trò xuất sắc từng đỗ đầu kỳ thi khảo địa phủ Bình Xuyên bị xúc phạm dữ dội. Lồng ngực y phập phồng sau làn áo the xanh, y siết chặt quai tráp gỗ, nghiến răng ken két: "Được! Ta đi với các người! Để xem đất của các người kháng cự được trọc tức bao lâu, hay cũng chỉ là trò mị dân nhất thời!"
Bốn con người sải bước dưới cái nắng trưa hầm hập như thiêu đốt, tiến thẳng ra cánh đồng Thạch Nê đang bốc khói mờ ảo.
Vừa bước chân đến rìa thửa ruộng số ba, Kỷ Vân đã phải khựng lại, bước chân chùn xuống. Dưới đế giày vải của y, một lớp tro đen mịn như muội than đáy nồi bay là là theo từng nhịp bước. Mùi khét lẹt, cay nồng và chua chát của xác thực vật bị trọc tức thiêu rụi xộc thẳng vào cánh mũi khiến y không kìm được phải lấy tay áo rộng che kín miệng mũi. Khắp cánh đồng hoang trải dài trước mắt, nơi mà chỉ hôm qua thôi người ta còn kháo nhau về sự màu mỡ hồi sinh kỳ diệu của đất trời, nay chỉ còn là một bãi tha ma thực vật đen đúa, trơ trọi những gốc cỏ queo quắt rụng gãy tả tơi.
"Nhìn cho thật kỹ," Bùi Sương chỉ đầu gậy tre bọc đồng xuống mặt đất xám xịt dưới chân. "Đây chính là cái thứ 'ơn trời' mà các quan thầy địa sư các người hay dùng bút lông son vẽ vời trong các bản tấu trình đấy. Mưa xuống ép trọc tức lặn tạm xuống đáy sâu, nắng lên hút trọc tức bốc ngược lên bề mặt. Đất không có rễ lọc, nước trời chỉ làm đất chết nhanh hơn, độc ngấm sâu hơn mà thôi."
Bà cụ dừng lại một thoáng, quay sang nhìn Mộc Tầm và Lê Cẩn: "Đào lên!"
Lê Cẩn không nói một lời thừa thãi, tiến lên hai bước, cắm phập lưỡi xẻng sắt xuống mặt ruộng phủ đầy tro đen, dùng sức đạp mạnh chân lên vai xẻng rồi nạy lên một tảng đất lớn sâu đúng năm tấc.
Mộc Tầm bước tới, quỳ một gối xuống lớp tro bụi, bẻ đôi tảng đất vừa đào lên rồi giơ thẳng ra trước mặt Kỷ Vân.
"Kỷ huynh, ngửi đi!" Mộc Tầm trầm giọng nói, thanh âm bình thản nhưng chứa đựng một sức nặng vô hình. "Lần này đừng dùng linh giác hay pháp khí huyền môn nữa. Hãy dùng chính cái mũi thịt của anh!"
Kỷ Vân ngập ngừng một thoáng, nhìn ánh mắt cương nghị của Mộc Tầm rồi từ từ cúi đầu xuống gần tảng đất nứt nẻ.
Một mùi chua lét, nồng nặc mùi kim loại rỉ sét và lưu huỳnh bốc lên gay gắt đến nghẹt thở, khiến hai mắt y cay xè ứa nước mắt. Tầng đất sâu năm tấc không hề giữ được chút hơi ẩm nào của trận mưa rào hai ngày trước; nó bị nhiệt độ và áp suất mao dẫn nung khô thành những thỏi đất sét xám xịt, cứng quắc như đá vụn, ở giữa các khe nứt li ti đọng đầy những tinh thể muối khoáng màu trắng đục lóng lánh—đó chính là dấu vết cô đọng rõ ràng nhất của trọc tức đậm đặc kết tinh thành chất độc giết người.
"Nếm thử một hạt xem," Bùi Sương lạnh lùng thúc giục, giọng bà như một mệnh lệnh không thể chối từ. "Muốn biết đất chết hay đất sống, phải nếm xem nó có vị gì!"
Kỷ Vân nuốt khan, run rẩy chấm một đầu ngón tay trỏ vào lớp bột trắng kết tinh nơi kẽ nứt của tảng đất xám, rồi chầm chậm đặt nhẹ lên đầu lưỡi.
Ngay lập tức, một vị chát đắng kinh hoàng bùng nổ, lan tỏa khắp khoang miệng, đi kèm cảm giác tê rần rần và nóng rát như thể bị hàng trăm mũi kim tẩm vôi cào xé vào niêm mạc lưỡi. Cổ họng y nghẹn ứ lại, một cơn buồn nôn dữ dội cuộn lên từ dạ dày. Y vội vàng nhổ phì phì xuống đất, tay run rẩy giật lấy bầu nước bằng da bò đeo bên hông, súc miệng lia lịa năm sáu lần, mặt cắt không còn một giọt máu.
"Đấy là tầng đất ở nơi không có Tức Căn gột rửa," Mộc Tầm nói, giọng điềm tĩnh nhưng từng lời như búa gõ vào tâm can người nghe. "Nước ngầm ở đây rỉ ra mang theo phèn quặng, cặn xỉ và axit từ các lò luyện quặng bỏ hoang ở thượng nguồn rặng Thanh Lộ trút xuống. Đất ngậm độc ấy, nếu người ăn phải hạt lúa trồng trên đó, lục phủ ngũ tạng sẽ nát bấy chỉ sau ba mùa vụ. Bây giờ, đi theo tôi."
Mộc Tầm xoay người, dẫn đầu đoàn người bước thêm năm mươi bước chân về hướng nam, tiến vào khoảnh đất rào chắn cẩn thận quanh hố thử nghiệm số một.
Sự chuyển biến của không gian diễn ra đột ngột đến mức khiến cả người Kỷ Vân phải rùng mình kinh ngạc.
Vừa bước qua ranh giới hàng cọc tre cắm mốc, cái hơi nóng hầm hập rát mặt của buổi trưa hè dường như dịu hẳn đi như có một luồng gió mát vô hình thổi qua. Mùi khét đắng, chua chát của tro tàn và lưu huỳnh biến mất không còn tăm tích, nhường chỗ cho một hương thơm thanh khiết, ngai ngái dịu ngọt của mùn rừng sau cơn mưa ngâu rả rích. Không khí ở đây ẩm mát, dễ thở, làm dịu đi cảm giác bỏng rát còn sót lại nơi đầu lưỡi của người địa sư trẻ.
Tại trung tâm của hố đất sâu, mầm cây non Tức Căn vẫn kiêu hãnh xòe hai phiến lá ngọc bích bóng mượt, đón nhận ánh mặt trời chói chang mà không hề có lấy một dấu hiệu héo úa hay cháy sém. Quanh gốc nó, những nhánh cỏ chỉ xanh rì và vài khóm mạ non được cấy thử nghiệm vẫn giữ nguyên sắc xanh ngọc mơn mởn, từng giọt nước đọng trên kẽ lá long lanh phản chiếu nền trời, thân cây cứng cáp vươn thẳng kiên cường.
"Đào ở đây," Mộc Tầm cầm lấy chiếc xẻng sắt từ tay Lê Cẩn, trao ngược cán gỗ vào chính tay Kỷ Vân. "Tự tay anh đào xuống năm tấc xem đất ở đây như thế nào."
Kỷ Vân hít một hơi thật sâu, bàn tay vốn chỉ quen cầm bút lông vẽ bản đồ và nâng niu la bàn bát quái run rẩy siết lấy cán xẻng gỗ thô ráp. Y bước xuống mép hố, cắm lưỡi sắt xuống lớp đất quanh vùng rễ non của mầm cây, cách gốc chừng hai gang tay.
Lưỡi xẻng trượt vào lòng đất một cách êm ái đến khó tin. Không hề có tiếng lạo xạo chói tai của đá vụn cọ xát vào kim loại, cũng không có cảm giác dội ngược tức tối của lớp vỉa chai cứng như lúc nãy. Mặt đất ở đây xốp mềm, đàn hồi tựa như một tấm nệm rêu phủ trên đá cổ thụ. Kỷ Vân bẩy nhẹ cổ tay, một tảng đất màu nâu đen sẫm, ẩm ướt và kết dính tự nhiên lật lên theo lưỡi sắt.
Tảng đất vỡ ra thành từng hạt nhỏ tròn trịa, tơi xốp như bột bánh nướng, tỏa ra một làn hơi ẩm mát lạnh mơn man da thịt. Dọc theo thớ đất nâu màu mỡ ấy, hàng ngàn sợi rễ tơ trắng ngà li ti, ẩn hiện những vệt sáng lam nhạt mờ ảo của Tức Căn đan xen chằng chịt vào nhau như một tấm lưới nhung tinh xảo, ôm chặt lấy từng hạt phù sa mịn màng.
Kỷ Vân sững sờ buông rơi chiếc xẻng sắt xuống nền đất ẩm. Y quỳ rạp hai gối xuống bùn, không màng đến vạt áo the lấm lem bụi đất, run rẩy bốc một nắm đất nâu sẫm lên sát mặt mình.
Mùi đất ẩm. Mùi hương ngai ngái, nồng nàn và ngọt ngào của đất rừng nguyên sinh ngàn năm chưa từng bị xâm phạm—thứ mùi vị thanh khiết của sự sống mà suốt hai năm qua chưa từng một lần xuất hiện tại vùng lòng chảo Hạ Khê ngập ngụa ô nhiễm này.
Không cần bất kỳ ai thúc giục hay nhắc nhở, Kỷ Vân như bị mê hoặc, tự tay bốc một nhúm đất nâu ẩm đưa lên miệng, nuốt nhẹ chút nước ngậm bên trong thớ đất.
Vị ngọt mát. Một vị ngọt thanh khiết, mát lành của dòng nước ngầm tự nhiên thẩm thấu qua hàng ngàn lớp màng lọc rễ cây, hoàn toàn không có một mảy may vị chát đắng, chua lét hay cảm giác tê rát kim châm nơi cuống họng. Dưới đáy hố vừa đào, một mạch nước nhỏ li ti đang từ từ rỉ ra qua các kẽ rễ tơ đan cài, trong vắt như mắt mèo, đọng lại thành một vũng nước nhỏ phẳng lặng như gương soi, phản chiếu nền trời xanh ngắt không một gợn mây.
"Thế nào hở Kỷ địa sư?" Bùi Sương đứng sừng sững bên miệng hố, chiếc gậy tre chống thẳng xuống đất, ánh mắt sắc bén như dao găm nhìn xoáy thẳng vào tâm can người địa sư đang quỳ dưới bùn. "Hai mẫu đất này chỉ cách nhau có năm mươi bước chân. Cùng một trận mưa rào trút xuống, cùng một buổi trưa nắng gắt thiêu đốt như nung. Một bên cỏ cháy thành tro đen quắt queo, đất ngậm đầy nọc độc giết người; một bên mạ non xanh ngắt kiêu hãnh, đất ẩm ngọt ngào nuôi sống mầm xanh. Pháp khí tinh xảo của anh có phân biệt được vị đắng cay nghiệt ngã này không? Có đo được mạch nước ngọt ngào rỉ ra từ từng sợi rễ cây này không?!"
Kỷ Vân bàng hoàng, hai bàn tay run rẩy thò vào tráp gỗ lim, lôi chiếc La bàn Tầm Mạch bát quái bằng đồng thau nạm ngọc ra.
Bàn tay y giữ chặt khung đồng thau chạm trổ hoa văn cổ kính, ngón tay điểm nhẹ vào lẫy kích hoạt linh khí. Thế nhưng, cây kim huyền thiết đặt trên đế ngọc bích vẫn không chịu đứng yên một chỗ. Nó dao động hỗn loạn, trôi dạt vô định về phía hố rễ Tức Căn rồi lại lắc lư qua lại thất thường, mũi kim chỉ số tuyệt nhiên không thể nào chạm tới vạch đỏ quy chuẩn của linh mạch thuần dương ngũ hành mà sách vở tông môn đã định sẵn.
"Tại sao chứ..." Kỷ Vân lẩm bẩm, giọng nghẹn lại trong cuống họng, đôi mắt hoang mang cùng cực. "Tại sao kim chỉ vẫn không vượt qua ngưỡng quy chuẩn? Rõ ràng đất đã sống lại... rõ ràng nước ngầm đã ngọt lành thanh khiết... Tại sao pháp bảo tầm mạch lại không ghi nhận linh khí?"
"Vì cái la bàn của anh là đồ chết!" Lê Cẩn bước tới gần miệng hố, tay xách một gáo nước ngọt múc từ chiếc máng gỗ lim dẫn nước từ mó ngầm trên triền núi về. "Để một người thợ đào giếng cục mịch như tôi cho anh thấy sự thật!"
Lê Cẩn nghiêng gáo gỗ, từ từ tưới một dòng nước mát trong veo quanh vùng rễ non đang tỏa rộng của Tức Căn.
Ngay khoảnh khắc giọt nước đầu tiên chạm vào lớp mùn xốp nâu sẫm, một hiện tượng kỳ diệu đã diễn ra ngay trước mắt bốn con người.
Mạng lưới rễ tơ màu lam dưới lòng đất bỗng khẽ rung rinh một nhịp tinh vi. Chúng không hề đứng yên bất động chờ đợi nước ngấm như rễ cây thông thường; từng sợi rễ mảnh như sợi tơ nhện đồng loạt co bóp một cách nhịp nhàng, hút cạn dòng nước ẩm trong tích tắc. Một làn sóng sinh cơ yếu ớt nhưng dập dờn, sống động như nhịp thở của một sinh mệnh sơ sinh lan tỏa ra xung quanh.
Và trên mặt kính trong suốt của chiếc la bàn thau nơi tay Kỷ Vân, cây kim huyền thiết đột ngột giật mạnh một cái theo từng nhịp tưới nước của Lê Cẩn! Cứ mỗi lần rễ cây Tức Căn hút nước và thở ra dòng sinh khí mát lành để thanh lọc trọc tức, mũi kim huyền thiết lại nảy lên một nấc rõ rệt, rồi lại chầm chậm hạ xuống khi đất bắt đầu ngậm ẩm cân bằng.
Nó không phải là một dòng năng lượng tĩnh tại, bất biến và cứng nhắc như một khối linh thạch bị chôn vùi hàng vạn năm trong lòng đá lạnh. Nó là một nhịp đập sinh học sống động! Một mạng lưới động thái liên tục biến thiên theo độ ẩm của đất trời, theo ánh nắng ban trưa, và theo sức khỏe dẻo dai của từng chiếc rễ non đang vươn mình chiến đấu với nọc độc!
Kỷ Vân nhìn chằm chằm vào cây kim huyền thiết đang nhảy múa nhịp nhàng theo hơi thở của rễ cây, cả thân hình y run rẩy dữ dội như vừa bị một đạo sấm sét giáng thẳng vào tâm thức.
Mọi lý thuyết giáo điều về thuật tầm mạch mà y đã dùi mài kinh sử suốt mười năm ở phủ huyện, mọi quy chuẩn xơ cứng, độc đoán mà Thanh Lộ Tông áp đặt lên chiếc la bàn này suốt hàng trăm năm qua để cai trị ruộng đất... hoàn toàn sụp đổ tan tành trong khoảnh khắc này.
"Ta hiểu rồi..." Kỷ Vân thì thào, hai giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má lấm lem bùn đất, rơi xuống lớp mùn xốp dưới chân. "Phương pháp đo điểm tĩnh... cọc đồng cắm sâu để kích hoạt dao động quặng đá... tất cả đều là sai lầm! Chiếc la bàn này vốn chỉ được chế tạo để tìm kiếm những thứ khoáng sản cô đặc, bất động và có thể bị đào bới, khai thác cạn kiệt cho tông môn hưởng lợi. Nó hoàn toàn mù tịt trước một mạng lưới sinh mệnh đang không ngừng vận động và tái sinh!"
Y ngẩng đầu lên nhìn Mộc Tầm, ánh mắt tràn ngập sự bàng hoàng lẫn nỗi ân hận sâu sắc:
"Mạng rễ non này... nó không tích trữ linh khí dư thừa thành khoáng thạch để kim la bàn phát hiện. Nó dùng chính nguồn sinh lực mong manh, quý giá ấy để nghiền nát trọc tức, cải tạo cấu trúc đất, giữ lấy từng giọt hơi ẩm của trời xanh. Đo một điểm tĩnh tại một thời khắc duy nhất... vĩnh viễn muôn đời chỉ nhận được kết quả 'vô mạch khả tầm' mà thôi!"
Bùi Sương khẽ thở dài một tiếng, vẻ nghiêm khắc đến cay nghiệt trên gương mặt nhăn nheo của bà chùng xuống đôi chút, ánh mắt hiện lên nét xót xa cho một tài năng trẻ suýt bị thói giáo điều bóp nghẹt:
"Hiểu ra được điều đó, anh mới xứng đáng được gọi là một địa sư chân chính. Người đi đo đạc đất đai mà không biết phân biệt đất sống với đất chết, không biết nếm vị ngọt vị đắng của bùn đất nuôi dân, chỉ chăm chăm nhìn vào độ lệch của một cây kim sắt do kẻ bề trên ban phát, thì khác nào kẻ mù dắt người câm đi trong đêm tối mịt mùng?"
Kỷ Vân quỳ gối trên bùn đất, run rẩy mở cuốn sổ tay ghi chép phong thổ bằng giấy bổi thô ráp của mình ra. Y nhặt lấy thanh than củi rơi bên cạnh, không một chút do dự, cẩn thận vạch một đường thẳng dứt khoát gạch bỏ dòng chữ "thổ suy mộc kiệt, vô mạch khả tầm" mà chính tay mình đã hạ bút viết xuống ba ngày trước.
"Chúng ta phải đo đạc lại toàn bộ," Kỷ Vân ngước nhìn Bùi Sương và Mộc Tầm, giọng nói đã rũ sạch vẻ trịch thượng, kiêu ngạo ban đầu, thay vào đó là sự kiên định, rắn rỏi của một học giả thực thụ tìm thấy chân lý. "Không thể dùng một chiếc la bàn đơn độc, càng không thể đo đạc vội vã trong một buổi sáng rồi lạnh lùng phán quyết sự sống chết của cả một vùng đất bạt ngàn."
Y lật sang một trang giấy trắng tinh mới toanh, bắt đầu dùng ngòi than phác thảo những sơ đồ địa tầng hoàn toàn mới lạ:
"Ta đề xuất một phương pháp đo lường hoàn toàn mới: Thiết lập mạng lưới đo đa điểm sinh thái. Thứ nhất, chúng ta tuyệt đối không đo năng lượng thuần túy bằng pháp bảo nữa, mà dùng chính các loại cây cỏ bình thường quanh vùng—những cây chỉ thị sinh thái—để làm thước đo sinh cơ cho đất. Tỷ lệ sống sót, độ xanh tươi và khả năng đâm chồi non của chúng quanh vùng rễ Tức Căn sẽ là bằng chứng sống động không ai có thể chối cãi được."
Bùi Sương khẽ gật đầu, ánh mắt lộ vẻ hài lòng hiếm hoi: "Được lắm. Ta sẽ cung cấp hạt giống cải dại và cỏ mật hoang dã. Đó là những giống cây nhạy cảm nhất với trọc tức trong lòng đất, một chút phèn quặng nổi lên là lá chúng quăn queo ngay."
"Thứ hai," Kỷ Vân tiếp tục nói, ngòi than củi vạch những đường nét sắc cạnh, dứt khoát trên mặt giấy, "chúng ta phải tiến hành phân tích mẫu đất đa tầng. Đào sâu từ một tấc bề mặt, xuống ba tấc tầng đệm, đến năm tấc tầng rễ sâu; kiểm tra cấu trúc mùn xốp, hàm lượng muối khoáng kết tinh đóng cặn và đo độ ngọt thanh của nước ngầm rỉ ra ở từng độ sâu riêng biệt. Tuyệt đối không thể chỉ nhìn lớp váng bùn trôi nổi trên mặt mà vội vã kết luận hồ đồ."
"Và điều thứ ba," Mộc Tầm tiếp lời, bàn tay rám nắng của anh siết chặt lấy cán chiếc xẻng sắt cắm sâu trong đất, "chúng ta phải theo dõi độ ẩm liên tục trong suốt ba mươi ngày. Nhịp đập của mạng rễ cây thay đổi theo từng cữ tưới nước và theo chu kỳ ngày đêm, nắng mưa của trời đất. Một chu kỳ ba mươi ngày là thời gian tối thiểu để một mầm Tức Căn non nớt ổn định hoàn toàn tầng đất xung quanh nó, biến đất chết thành đất sống thực sự."
Kỷ Vân ngẩng lên nhìn Mộc Tầm, ánh mắt hai người trẻ tuổi chạm nhau, chất chứa sự thấu hiểu và tin cậy: "Được, ba mươi ngày! Ta sẽ ở lại lòng chảo Hạ Khê này, dựng lều lập trạm quan trắc ngay tại bờ ruộng Thạch Nê này. Báo cáo cuối cùng do chính tay ta gửi lên Ty Địa sư phủ Bình Xuyên sẽ mang đầy đủ dữ liệu đa tầng, có mẫu đất khô, mẫu nước ngầm đóng lọ và nhật ký sinh trưởng chi tiết của cây chỉ thị đi kèm. Lúc đó, dù cho Tống Khuê hay các trưởng lão Thanh Lộ Tông có muốn bẻ cong sự thật để chiếm đất hay bỏ hoang... họ cũng không thể nào chối bỏ được một xấp hồ sơ thực chứng dày cộm, vững như bàn thạch này!"
Một sự hòa giải ngầm, một liên minh chuyên môn bền chặt dựa trên sự thật trần trụi và thiêng liêng của đất đai vừa được xác lập giữa người chăm cây mộc mạc và người địa sư vừa tỉnh ngộ khỏi cơn mê giáo điều.
Thế nhưng, giữa lúc niềm hy vọng mới mẻ vừa nhen nhóm lên trong lòng bốn con người, Bùi Sương bỗng khom người xuống sát gốc cây con Tức Căn dưới đáy hố sâu.
Đôi mắt kèm nhèm sau lớp nếp nhăn nheo của bà cụ nheo lại thật chặt, ngón tay gầy guộc run rẩy gạt nhẹ lớp bùn đệm bọc quanh cuống rễ cái của mầm cây. Sắc mặt người dược sư già đột ngột biến đổi, trở nên trắng bệch một cách bất thường, môi bà mím chặt lại thành một đường chỉ mỏng.
"Tầm... lại đây nhìn xem này," giọng bà khàn đặc đi vì một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng.
Mộc Tầm vội vàng bước xuống đáy hố, ghé sát mắt nhìn theo hướng ngón tay trỏ run rẩy của bà giáo.
Ở sát nách cuống rễ non vừa mới bén đất được vài ngày ngắn ngủi, một khối u xơ xám xịt, xù xì đang phồng to lên một cách dị thường. Khối nốt rễ tích độc ấy đã to gần bằng một quả trứng gà, bề mặt vỏ ngoài căng bóng như một bọc mủ sắp vỡ, nổi rõ những đường gân ngoằn ngoèo màu tím đen chứa đầy thứ dịch thải kim loại nặng đặc quánh.
"Nó... tại sao nó lại lớn nhanh đến mức này?" Mộc Tầm kinh hãi thốt lên, tim anh đập thình thịch trong lồng ngực. "Dưới đáy Giếng Cạn, cây mẹ phải mất tròn ba mươi ngày đêm thanh lọc đất mới tích tụ được một nốt rễ to bằng quả trứng le le! Cây con này mới hạ thổ ở Thạch Nê chưa đầy bốn ngày đêm!"
"Nồng độ trọc tức ở bãi Thạch Nê này quá đậm đặc, vượt xa mọi dự tính của chúng ta," Bùi Sương thì thầm, hơi thở bà trở nên gấp gáp, ngắt quãng. "Cây con hút độc và nén độc nhanh gấp ba lần cây mẹ... Điều này có nghĩa là các bình gốm ủ trọc tức ở Lò Đất Kín sẽ bị lấp đầy nhanh hơn dự kiến rất nhiều lần. Nếu không kịp nung khóa độc, áp suất trong bình sẽ nổ tung..."
Cùng lúc đó, Kỷ Vân đang cúi đầu cắm những chiếc cọc tiêu đồng ở góc ruộng phía bắc bỗng giật mình ngẩng phắt dậy. Ánh mắt y nhìn đăm đăm vào đường nứt địa tầng chạy dọc theo vỉa đá xỉ kéo dài từ chân núi Thanh Lộ ngoằn ngoèo đâm thẳng xuống lòng chảo thung lũng.
"Không chỉ có nồng độ trọc tức cũ tích tụ đâu..." Kỷ Vân chỉ tay về phía mạch ngầm đang rỉ ra dòng nước đục ngầu, sủi bọt trắng xóa dưới chân vách đá dốc đứng. "Các người nhìn dòng nước ngầm rỉ ra sau trận mưa lũ kia đi. Trọc tức ở tầng sâu Thạch Nê... dường như không phải chỉ là lượng độc tích tụ tồn dư từ các lò luyện quặng trong quá khứ."
Y nuốt khan một ngụm nước bọt, giọng nói run rẩy vì một phát hiện kinh hoàng: "Dưới lòng đất này... có một nguồn trọc tức hoàn toàn mới đang liên tục được xả ngầm và bổ sung xuống đây sau mỗi trận mưa lũ từ thượng nguồn trên núi đổ về!"
Lời phán đoán sắc lạnh của người địa sư vừa dứt, một cơn gió quái dị từ hướng tây bắc bỗng thổi thốc qua cánh đồng, cuốn theo mùi nồng nặc, ngột ngạt của bùn sét nung dở và hơi lửa ngún.
*Đoành! Lách tách...*
Từ phía gò cao Lò Đất Kín cách đó nửa dặm, một tiếng nổ lách tách khô khốc vang lên giữa không trung, kèm theo một làn khói đen mỏng hình xoắn ốc lừng lững bốc lên giữa buổi trưa hè oi ả.