Một Bình Bị Rò
Mùi trứng thối nồng nặc kèm theo cảm giác cay xè sống mũi cuộn theo làn gió trưa thổi từ gò cao Lò Đất Kín tạt thẳng xuống xóm giếng.
Không khí giữa trưa hè vốn đã hanh hao rát bỏng, nay lại bị bóp nghẹt bởi một làn khói màu xám tro nhờ nhờ lẩn khuất giữa những rặng duối cằn cỗi và bờ rào đá xếp khan. Dưới bóng râm chật hẹp của mái hiên nhà kho đội đập đá, đám phu phen đang bưng bát cháo ngô loãng thấu đáy bỗng đồng loạt sặc sụa. Từng cơn ho quặn thắt bốc lên từ lồng ngực lép kẹp, làm văng tung tóe những hạt ngô xay vụn xuống nền đất khô nứt nẻ. Lũ trẻ con ngồi bới đất bên chân hàng rào đá đưa mu bàn tay cáu bẩn rụi mắt khóc thét; nước mắt giàn giụa cuốn trôi những vệt bụi quặng xám ngoét bám lem nhem trên gò má tóp teo, để lộ những lằn da non tấy đỏ vì hơi độc. Tiếng chó sủa ran khắp ngõ xóm rồi nhanh chóng nghẹn lại thành những tiếng ăng ẳng cụt ngủn khi lũ vật nuôi cúp đuôi chui tọt vào gầm sàn tránh thứ khí lạ.
Cách đó chừng nửa dặm, trên mỏm gò đất sét đỏ hắt bóng trơ trọi về hướng tây bắc, xưởng gốm của Tạ Hạnh đang chìm trong một mớ hỗn loạn đặc quánh tiếng la hét, tiếng bước chân giẫm đạp và tiếng đồ gốm va đập vỡ vụn loảng xoảng.
Nguyên cớ bắt nguồn từ sự hấp tấp của A Bình, một thợ gốm trẻ mới vào xưởng chưa đầy nửa tháng. Đợt nốt rễ bão hòa cắt tỉa khẩn cấp từ cụm rễ non ngoài cánh đồng Thạch Nê được chuyển về lò lúc mờ sáng, chất đầy ba chiếc sọt tre đan mắt cáo lót lá chuối héo. Những nốt rễ ấy căng tròn, trơn nhẫy và bốc mùi tanh nồng của quặng kim loại bị ủ kín dưới bùn chua. Theo quy trình nghiêm ngặt mà Tạ Hạnh đích thân dùng than củi vạch rõ từng nét chữ vuông vức trên tấm bảng gỗ sồi treo ngay trước cửa vòm nung, mỗi nốt rễ to bằng quả trứng gà ngậm đầy trọc tức kim loại nặng sau khi cắt phải trải qua từng bước chuẩn xác. Đầu tiên, chúng phải được nhúng ngập qua nước vôi trong để trung hòa lớp màng dịch a-xít tiết ra ngoài biểu bì, sau đó bọc cẩn thận ba lớp bùn sét mịn ngậm bột sắt đã qua sàng lọc, rồi mới được nhẹ nhàng đặt vào lòng chum men kép. Khi đậy nắp, lớp men sét lót quanh gờ cổ bình và vôi tôi quét ngoài mép tiếp giáp phải để hong gió cho se quánh tự nhiên ít nhất trọn hai canh giờ. Khoảng thời gian ấy là bắt buộc để hơi ẩm dư thừa thoát bớt, cho men bám chặt vào cốt gốm mộc, rồi mới được trát lớp vữa vôi bột trộn xỉ than để khóa kín vĩnh viễn trước khi đưa vào hầm chứa.
Thế nhưng chỉ tiêu ba mươi chiếc bình hoàn thiện mà Hội đồng ý giao khoán cho xưởng để đổi lấy mười đấu bột ngô cứu đói đã đè nặng lên vai đám thợ trẻ. Mười đấu bột ngô ấy là khẩu phần ăn cầm hơi của cả chục miệng ăn trong gia đình họ suốt nửa tháng tới. Nhìn trời đứng bóng bỗng kéo mây đen vần vũ ở mé chân trời phía đông nam — dấu hiệu báo trước một cơn dông buổi trưa bất chợt có thể trút nước làm nhão nhoét mẻ đồ gốm đang phơi dở ngoài sân gạch — A Bình đã tự ý đốt cháy giai đoạn.
Gã vội vã nhét những nốt rễ còn đẫm dịch nhờn vào lòng chiếc chum số bảy. Bỏ qua bước hong gió hai canh giờ, gã dùng chiếc bay sắt quệt vội một vòng men sét còn nhão nhoét quanh miệng chum, chụp mạnh nắp gốm xuống rồi trát ngay một lớp vữa vôi tôi dày cộp còn đang bốc hơi ấm hầm hập. Lớp vữa vôi tươi gặp men ướt chưa kịp khô kiệt đã bị bít kín mít, hơi ẩm và nhiệt lượng từ phản ứng tỏa nhiệt của vôi tôi không có bất kỳ khe hở nào để thoát ra ngoài. Sức nóng hầm hập ấy lập tức truyền thẳng qua thành gốm mộc, hun nóng khối dịch độc đậm đặc bên trong các nốt rễ vừa bị giam cầm. Dưới tác động của nhiệt độ tăng đột ngột, trọc tức kim loại nặng bị ép nhiệt bắt đầu sôi sùng sục và giãn nở dữ dội. Áp suất khí bên trong lòng chum men kép tăng vọt đến mức khủng khiếp chỉ trong vòng chưa đầy nửa khắc đồng hồ.
Rắc! Đoành!
Tiếng nổ đanh gọn và chát chúa xé toạc bầu không khí ngột ngạt của gian chòi chứa đất. Vỏ bình gốm dày một tấc tráng hai lớp men khoáng nung già không chịu nổi áp lực khủng khiếp từ bên trong đã nứt toác thành ba mảnh lớn, bắn tung tóe những mảnh gốm sắc nhọn như dao cạo găm vào vách ván gỗ. Một cột khí trọc tức màu xám đen, đậm đặc và nhớp nháp như dầu quặng bốc cháy âm ỉ lập tức xì mạnh ra từ vết rách xé toang thành chum. Cột khí bốc cao chạm tới mái nứa rồi tản ra bốn phía, cuốn theo mùi tanh nồng lợm giọng của lưu huỳnh, a-xít quặng cháy khét lẹt và mùi hữu cơ thối rữa bị nung nấu.
"Cứu... cứu mắt tôi với! Trời đất ơi, mắt tôi!"
"Khét quá... không thở được! Cửa lò ở đâu! Lối ra ở đâu!"
Tiếng kêu la thảm thiết và hoảng loạn vang lên từ phía dãy bàn xoay gốm. Ba thợ phụ đang ngồi cúi lom khom bọc bùn cho các nốt rễ kế bên không kịp có lấy một giây bịt mũi che miệng. Luồng khí độc áp suất cao thoát ra từ vụ nổ quét ngang qua mặt họ như một luồng lửa vô hình mang theo hơi nóng rát bỏng. Bụi men sét vụn lẫn hơi trọc tức đậm đặc táp thẳng vào mắt, xộc thẳng vào khoang mũi và cuống họng, khiến toàn bộ niêm mạc của họ bị thiêu đốt dữ dội. Cả ba người ngã nhào khỏi ghế đẩu xuống sàn đất nung, hai tay ôm chặt lấy khuôn mặt bê bết bụi tro, gào thét quằn quại trong đau đớn cùng cực. Chất lỏng mặn chát của nước mắt và dịch mũi trào ra khi tiếp xúc với hơi a-xít quặng càng làm phản ứng ăn mòn thêm khốc liệt, cắn sâu vào từng thớ thịt non nớt trên mí mắt.
Đám thợ còn lại trong xưởng hồn xiêu phách lạc, giẫm đạp lên những chậu men vỡ và đống bùn sét nhão tháo chạy tán loạn ra phía cổng rào, vừa chạy vừa nôn thốc nôn tháo.
Giữa lúc cảnh hỗn loạn tưởng chừng không thể cứu vãn, một bóng người gầy guộc nhưng vững chãi từ phía lò nung phụ phía sau bất thần lao vụt tới.
Đó là Tạ Hạnh. Trên tay người đàn bà góa đã thủ sẵn một tấm chăn chiên thô dày sũng nước đầm đìa, trùm kín mít từ đỉnh đầu xuống ngang ngực, chỉ để lộ đôi mắt sắc lạnh và quầng thâm sâu hoắm qua một khe hở hẹp của nếp vải ướt. Bà không hề hét lên một tiếng vô ích nào giữa đám đông đang hoảng loạn. Từng chứng kiến người chồng quá cố bỏ mạng vì hít phải khí độc tích tụ dưới hầm nung năm xưa, bà hiểu rõ hơn ai hết rằng sự sợ hãi và tiếng la hét chỉ làm nhịp tim đập nhanh hơn, hơi thở dồn dập hơn và vô tình hút thứ khí chết người ấy vào sâu tận phế nang nhanh hơn.
Bà giật phắt chiếc xẻng sắt cán dài tra gỗ nghiến treo bên vách tường vôi, dùng mũi chân đạp tung cánh cửa gỗ đang đung đưa kẽo kẹt của gian chòi. Bên trong lúc này mù mịt một làn sương xám quánh đặc quện, lơ lửng cách mặt đất chừng ba thước, mặt sàn bốc khói cay xè làm mắt bà nhói buốt dù đã che chắn kỹ càng. Chiếc chum số bảy vỡ toác nằm lăn lóc ở góc tường gạch, vết nứt dài bằng gang tay vẫn đang phì phì nhả ra từng đợt trọc tức bốc khói đen kịt, ăn mòn vệt vôi trắng trên tường thành những mảng ố vàng sủi bọt tanh bành.
Nín chặt hơi thở trong lồng ngực, Tạ Hạnh lao bổ tới góc xưởng, nơi đặt chiếc hố ủ bùn sét pha vôi tôi đặc quánh dùng để trát vá lò. Chiếc xẻng sắt trong tay bà cắm ngập vào lòng hố, xúc mạnh một tảng bùn dẻo quánh, nặng trịch đến trĩu cả hai cánh tay gân guốc.
Bẹp!
Tảng bùn đầu tiên giáng thẳng xuống sống lưng chiếc chum nứt, dán chặt vào khe hở đang phì khói. Luồng khói độc bị chặn đứng đột ngột liền rít lên the thé, xì mạnh sang hai bên mép nứt hở. Tạ Hạnh không hề lùi lại nửa bước dù hơi nóng phả rát cả cổ chân. Chiếc xẻng sắt vung lên thoăn thoắt, dứt khoát và chuẩn xác như một cỗ máy đã được định sẵn nhịp điệu từ hàng chục năm rèn giũa bên bàn xoay. Nhát thứ hai, nhát thứ ba, nhát thứ tư... Từng mảng bùn sét dày cộp pha lẫn vôi sống và bột than xỉ liên tiếp phủ chụp lên toàn bộ thân bình rạn vỡ. Hơi lạnh và tính kiềm quánh đặc của bùn ướt lập tức phong tỏa lấy khối gốm vỡ, hấp thu nhiệt lượng dư thừa và đè nén luồng khí độc đang chực trào tung ra ngoài.
Bà liên tục xúc thêm bảy tám xẻng bùn nữa, đầm mạnh lưỡi xẻng xuống để nén chặt khối đất. Cho đến khi chiếc chum số bảy bị trùm kín hoàn toàn dưới một khối bùn tròn trịa như một nấm mồ đất sét xám xịt dày hơn nửa thước, không còn một sợi khói xám nào có thể len lỏi ra ngoài không khí, Tạ Hạnh mới buông rơi chiếc xẻng sắt xuống nền gạch nung phát ra một tiếng "keng" khô khốc.
Bà lảo đảo lùi lại hai bước, tựa lưng vào cột gỗ run rẩy giật phắt tấm chăn ướt khỏi mặt, gập người xuống ho sặc sụa. Từng cơn ho khan xé rách cổ họng tống ra những ngụm đờm đen ngòm bám đầy muội than. Hai hốc mắt bà đỏ hoe, những giọt mồ hôi túa ra trên trán hòa lẫn với bụi tro xám chảy dài thành từng vệt lem luốc trên đôi gò má hóp. Nhưng ánh mắt của người đàn bà góa ấy không hề có lấy một tia sợ hãi hay mềm yếu; nó chỉ rực lên một ngọn lửa giận dữ lạnh băng đến tàn nhẫn.
Bà bước những bước xiêu vẹo nhưng dứt khoát ra khỏi gian chòi, nhìn ba người thợ trẻ đang nằm lăn lộn quằn quại ngoài sân đất nung. Vài người dân xóm giếng nghe tiếng nổ vừa chạy tới, hoảng hốt múc từng gàu nước giếng khoan lạnh ngắt định dội xối xả vào mặt nạn nhân.
"Dừng tay lại! Đừng có dội nước giếng thường!" Giọng Tạ Hạnh khàn đặc, nghẹt mũi nhưng vang lên đanh thép như tiếng đe gõ búa giữa sân lò. "Mù mắt hết bây giờ! Chạy ngay vào chái bếp, lấy cái vò sành đựng nước sắc bồ kết pha muối hạt đặc góc cột ra đây mà rửa! Nước giếng thường gặp vôi sống còn đọng trong hốc mắt chúng nó thì sôi lên, thiêu mù cả tròng đen lẫn tròng trắng đấy, lũ ngu độn!"
Mộc Tầm và Đào Nguyệt chạy hớt hải từ mé ruộng Thạch Nê lên đến cổng gò vừa kịp lúc nghe thấy mệnh lệnh sắc lạnh ấy. Cả hai người thở không ra hơi, vạt áo ướt đẫm mồ hôi và bùn non bám tới tận bắp chân. Đào Nguyệt không chần chừ dù chỉ nửa khắc, nàng lập tức tháo chiếc hòm thuốc bằng mây đan đeo bên sườn, chạy ào tới bên ba người thợ đang rên rỉ nghẹn ngào. Đôi tay thon nhỏ của nàng thoăn thoắt mở nắp hòm, lấy ra những vuông khăn sạch đã tẩm sẵn nước thuốc thanh lương chiết xuất từ rễ thảo dược mát mang theo, cẩn thận chấm rửa lớp vôi và bụi quặng quanh mi mắt của từng người, miệng không ngừng trấn an họ giữ chặt tay không được dụi.
Trong khi đó, Tạ Hạnh đứng sừng sững giữa sân, không thèm nhìn Mộc Tầm lấy một cái dù anh đang bước nhanh về phía bà với vẻ mặt đầy lo lắng. Bà quay ngoắt người, sầm sập bước tới cánh cổng sắt hoen gỉ dựng bằng những chấn song sắt thô ráp ngăn cách Lò Đất Kín với con đường mòn đất đỏ dẫn xuống thung lũng xóm giếng.
Rầm! Loảng xoảng!
Cánh cổng sắt nặng nề bị bà dùng hai tay giật mạnh đóng sập lại, chấn động làm rơi rụng từng mảng rỉ sét nâu đỏ xuống mặt đất. Một sợi dây xích sắt to bằng ngón chân cái được bà quấn ba vòng siết chặt quanh hai then cửa, và ổ khóa đồng thau nặng trịch bấm sập lại với một tiếng "tách" dứt khoát đến lạnh gáy.
Tạ Hạnh quay lưng lại cánh cổng sắt, đứng sừng sững trên bậc thềm đá xanh rêu phong, chiếc xẻng sắt vẫn còn dính bùn đen cắm ngập nửa lưỡi xuống nền đất cứng trước mặt bà như một cột mốc ranh giới bất khả xâm phạm.
"Từ giờ khắc này, Lò Đất Kín đóng cửa," Tạ Hạnh nhìn thẳng vào mắt Mộc Tầm, từng chữ nhả ra nặng trịch và sắc nhọn như đá tảng va vào nhau. "Hội giữ đất các người đừng hòng mang thêm một mẩu rễ độc nào đặt chân lên cái gò đất này nữa. Muốn lò mở lại? Trừ phi Hội trích quỹ lương thực chi trả đủ tiền gạch chịu lửa hai tấc, tiền vôi tôi loại một, và trả đủ công thợ để đào sâu gia cố toàn bộ nền móng cách ly cho cái kho này. Bằng không, các người tự mang đống độc ấy về mà chôn dưới gầm giường nhà mình!"
Bà dứt lời, không thèm đợi Mộc Tầm phân trần hay đáp lại một câu nào, quay gót bước thẳng vào trong sân lò, để lại sau lưng cánh cổng sắt khóa chặt và bầu không khí ngột ngạt bao trùm cả sườn đồi.
***
Cuộc họp khẩn cấp của Hội giữ đất Hạ Khê diễn ra vào đầu giờ chiều tại gian nhà kho dựng tạm ven bờ ruộng Thạch Nê. Bầu không khí bên trong gian nhà kho lợp mái nứa ngột ngạt đến mức tưởng chừng chỉ cần một tàn lửa nhỏ rơi xuống cũng đủ kích nổ toàn bộ sự uất ức đang dồn nén của căn phòng.
Gió từ ô cửa sổ không cánh thốc vào từng cơn ngắt quãng, mang theo mùi ngô bột ẩm mốc từ các góc kho và mùi thảo dược khen khét bốc lên từ chiếc hòm cứu thương của Đào Nguyệt. Mùi vị của sự bế tắc hòa lẫn với nét căng thẳng tột độ đang hằn sâu trên từng gương mặt đen sạm, gầy hốc hác của mười hai chủ hộ đại diện cho các cụm dân cư quanh vùng.
"Đập bàn cái rầm! Vớ vẩn! Thật là quá quắt!"
Trịnh Bách đứng phắt dậy khỏi chiếc ghế tre ọp ẹp. Lòng bàn tay hộ pháp thô ráp, chai sạn như vỏ cây rừng của ông đập mạnh xuống mặt bàn gỗ mộc làm chiếc bát gốm đựng mực của Mộc An nảy lên, bắn ra vài giọt mực đen lem nhem trên mép trang giấy bổi đang mở dở. Mặt ông đỏ gay như gấc chín, từng đường gân xanh nổi cuồn cuộn trên thái dương và cổ, ngón tay trỏ run rẩy vì tức giận chỉ thẳng qua khung cửa sổ về phía mỏm gò Lò Đất Kín xa xa.
"Mười lăm bao bột ngô! Bà ta mở mồm ra đòi mười lăm bao bột ngô và năm trăm tiền đồng để mua gạch chịu lửa với thuê thợ đầm móng lò! Các người có biết mười lăm bao bột ngô đó là mạng sống của bao nhiêu con người không?" Trịnh Bách gầm lên, lồng ngực phập phồng dữ dội, giọng khàn đặc run rẩy vì phẫn uất. "Đội đập đá của tôi có mười lăm tráng đinh! Mười lăm con người ấy phơi lưng trần ra giữa nắng rát từ tờ mờ sáng cho đến khi tắt mặt trời, dùng búa tạ quai nát từng vỉa đá quặng sắc như dao cạo để mở thửa ruộng số tư. Mỗi ngày mỗi người chỉ được chia đúng một bát cháo ngô loãng thấu đáy, đói đến mức hoa cả mắt, run cả tay mà vẫn phải ráng sức quai búa xuống nền đá! Bây giờ lại đòi bớt khẩu phần của chúng tôi để ném vào một cái lò gốm bỏ hoang tít trên đỉnh gò?"
Trịnh Bách thở hồng hộc, quay ngoắt sang nhìn trừng trừng vào Phạm Nghi đang ngồi trầm ngâm ở đầu bàn, rồi lia ánh mắt rực lửa sang Mộc Tầm:
"Thời vụ gieo lúa cứu đói chỉ còn đúng mười hai ngày nữa! Mười hai ngày! Các người có hiểu mười hai ngày nghĩa là gì không? Nếu không kịp đập vỡ lớp váng đá ở thửa số tư trước khi mùa mưa lớn trút xuống, bùn chua ngậm quặng từ trên đồi sẽ lại tràn xuống đóng cứng thành một lớp đá mới, và cả cái xóm này sẽ chết đói nhăn răng vào mùa đông tới! Lương thực phải dồn hết cho người cầm búa quai đá, dồn cho người trực tiếp đổ mồ hôi làm ra hạt thóc! Một cái chum nứt thì lấy bùn mà trét lại, việc quái gì phải lãng phí gạch chịu lửa với nền móng kép cao sang? Chẳng lẽ mạng của mấy cái bình đất sét đựng rác độc còn quý hơn mạng sống của những con người đang đổ máu ngoài đồng ruộng hay sao?"
Lời nói đanh thép và đầy phẫn nộ của Trịnh Bách như tạt thêm một gáo dầu vào ngọn lửa giận âm ỉ trong lòng một số chủ hộ có con em tham gia đội đập đá. Những tiếng xì xào, bàn tán đồng tình bắt đầu rộ lên từ các góc phòng chật chội.
"Bác Bách nói chí phải đấy... Bột ngô trong kho dự trữ của Hội chỉ còn cầm cự được chưa đầy hai tuần lễ nữa thôi."
"Thửa ruộng số ba mới cấy được một ít mầm lúa thử nghiệm, đã biết có sống nổi qua đợt sương muối hay không đâu mà trông cậy. Phải mở thêm thửa số tư thì vụ này mới mong có hạt thóc chia nhau..."
"Cái kho chứa nốt rễ thì che tạm mái nứa, quây rào nứa trét đất vào là được chứ gì, việc gì phải gạch nung chịu lửa với thợ đầm tốn kém đến mức ấy..."
Mộc Tầm ngồi ở góc bàn đối diện, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên đầu gối. Anh lắng nghe từng lời, mắt nhìn chăm chú vào những vết nứt nẻ trên mặt bàn gỗ. Anh nhìn thấy sự kiệt quệ đến tận cùng trong đôi mắt vằn tia máu của Trịnh Bách. Anh hiểu rằng nỗi sợ chết đói của người thợ đập đá không phải là sự ích kỷ thấp hèn hay thói ngang ngạnh vô lý; đó là bản năng sinh tồn trần trụi và đau đớn nhất của những con người đã bị dồn vào chân tường suốt bao năm tháng hạn hán, mất mùa và bị trọc tức đè nặng lên số phận. Nhưng Mộc Tầm cũng thấu suốt một điều nghiệt ngã: chính bản năng sinh tồn mù quáng ấy, nếu thiếu đi sự tỉnh táo của kỹ thuật và cái nhìn dài hạn, sẽ đẩy toàn bộ cộng đồng này xuống một cái hố sâu chôn vùi không lối thoát.
Chưa đợi Mộc Tầm kịp lên tiếng phân giải, Đào Nguyệt đã đứng dậy từ chiếc ghế gỗ bên cạnh.
Chiếc áo chàm cũ kỹ của cô vẫn còn lấm lem những vệt nước thuốc màu nâu sẫm chưa kịp khô, vạt tay áo xắn cao để lộ đôi cẳng tay trắng trẻo nhưng hằn rõ những vết cào xước do cành gai quẹt phải lúc cô hớt hải chạy băng qua sườn đồi lên gò cứu người. Cô không đập bàn, không hề cao giọng gắt gỏng, nhưng khi cô bước lên một bước phía trước và nhẹ nhàng đặt một tấm vải điều nhuộm màu nước thuốc đã ngả màu xám xịt lên mặt bàn gỗ, căn phòng bỗng chốc im bặt như có một luồng gió lạnh vừa quét qua.
Dưới tấm vải điều mở ra là ba chiếc gạc lót mắt thẫm đẫm dịch vàng nhờ nhờ pha lẫn những vệt máu đen thẫm, bốc ra một mùi hôi nồng nặc và lợm giọng của lớp mô niêm mạc bị a-xít ăn mòn.
"Đây là những gì tôi vừa gắp ra từ hốc mắt của A Bình và hai người thợ phụ cách đây chưa đầy hai khắc đồng hồ," giọng Đào Nguyệt bình thản một cách lạnh lùng, từng lời từng chữ cất lên rõ ràng và sắc ngọt như một nhát dao mổ rạch qua da thịt. "Niêm mạc giác mạc của cả ba người đều bị phỏng hóa chất cấp tính do trọc tức nồng độ cao phát nổ ở cự ly gần. Mắt của A Bình bị nặng nhất. Dù tôi đã dùng hết số linh dược thanh lương cuối cùng mà chúng ta chắt chiu mang về từ Bến Tro để phong bế độc tính ăn sâu, mắt trái của cậu ta sau này may mắn lắm cũng chỉ nhìn thấy bóng người mờ lờ mờ như nhìn qua màn sương đục. Cậu ta vĩnh viễn mất đi khả năng nhìn rõ đường nét của một người thợ gốm."
Đào Nguyệt đảo mắt nhìn quanh căn phòng một lượt, ánh mắt sáng quắc dừng lại rất lâu trên khuôn mặt đang hầm hầm giận dữ nhưng đã bắt đầu dao động của Trịnh Bách:
"Bác Trịnh Bách bảo một cái chum nứt thì lấy bùn trét lại là xong chuyện? Bác nghĩ trọc tức kim loại nặng tích tụ trong nốt rễ Tức Căn là thứ bùn đất phèn chua thông thường ngoài đồng ruộng hay sao? Cây mẹ Tức Căn dưới đáy Giếng Cạn mất ròng rã một tháng trời mới lọc và cô đặc được một nốt rễ to bằng quả trứng chim le le. Nhưng những cây non cấy ngoài đồng ruộng Thạch Nê hấp thụ trực tiếp nguồn quặng đậm đặc trong đất, chỉ mất có bốn ngày đã phình to bằng quả trứng gà! Bác có hiểu điều đó có nghĩa là gì không? Nghĩa là lượng trọc tức bị nén trong mỗi nốt rễ ngoài đồng ruộng đậm đặc gấp mười lần dưới lòng giếng! Khi nó phát nổ do bí khí và quá nhiệt, nó không chỉ làm mù mắt người đứng cạnh trong tầm nửa trượng, mà hơi độc thoát ra sẽ ăn mòn niêm mạc phổi của bất cứ sinh vật sống nào hít phải trong phạm vi mười trượng!"
Cô tiến thêm một bước về phía vách ván, nơi treo tấm bản đồ vẽ sơ sài bằng than củi mô tả lòng chảo Hạ Khê:
"Và điều quan trọng hơn cả, các bác hãy mở to mắt ra mà nhìn vào vị trí địa lý của Lò Đất Kín! Cái lò đó nằm ngay trên mỏm gò đất sét cao nhất phía tây bắc. Dưới nền móng cũ của lò nung đó có một vết nứt địa tầng tự nhiên dài hơn một trượng, ăn thông thẳng xuống tầng ngậm nước Thạch Nê bên dưới — đó là mạch nước ngầm duy nhất đang rỉ từng giọt nước ngọt nuôi sống Giếng Cạn và các hố thử nghiệm lúa non của chúng ta! Trận mưa rào trưa nay tuy ngắn nhưng đã làm ẩm chân móng gò đất, và vết nứt địa tầng ấy theo quan sát của tôi đã tách rộng thêm nửa phân. Nếu chúng ta cứ nhắm mắt làm ngơ, nhét bừa hàng chục cái bình nứt vào một cái nền đất nứt nẻ không có đáy bảo vệ, đến khi mùa mưa dầm tháng bảy ập tới, nước mưa ngấm qua nền đất sẽ cuốn toàn bộ dịch độc từ các nốt rễ rò rỉ ngấm thẳng xuống mạch nước ngầm ấy!"
Đào Nguyệt nhấn mạnh từng tiếng, âm thanh gằn xuống nặng trĩu:
"Lúc đó, không còn là chuyện mất trắng một vụ lúa hay thiếu mười lăm bao bột ngô nữa đâu. Nước giếng làng, nước tưới ruộng, nước sinh hoạt của toàn bộ sáu xóm vùng Hạ Khê này sẽ biến thành nước độc vĩnh viễn! Cả cái vùng lòng chảo này sẽ biến thành một bãi tha ma hoang tàn không còn lấy một giọt nước ngọt để duy trì sự sống! Các bác muốn dồn hết bột ngô để đổi lấy một mùa lúa ngậm đầy kim loại độc rồi cả làng cùng nhau ho ra máu chết rục vì thối phổi hay sao?"
Cả gian nhà kho chìm vào một sự im lặng tuyệt đối, ngột ngạt và nặng nề đến nghẹt thở.
Tiếng thở dốc của Trịnh Bách nghẹn ứ lại trong lồng ngực vạm vỡ. Đôi bàn tay hộ pháp từng quai hàng ngàn nhát búa tạ của người thợ đập đá siết chặt lại thành nắm đấm, run lên bần bật rồi từ từ buông lỏng ra buông thõng bên hông. Những chủ hộ vừa nãy còn xì xào đòi dẹp bỏ chi phí gia cố lò nung nay đều cúi gằm mặt xuống sàn đất, không ai dám nhìn thẳng vào Đào Nguyệt, ánh mắt họ dán chặt vào những vệt máu đen và dịch mủ khô cứng trên tấm gạc điều đặt giữa bàn.
Sự thật về mặt kỹ thuật và quy luật của tự nhiên luôn lạnh lùng, tàn nhẫn hơn bất kỳ sự nhiệt tình hay nỗi bức xúc nông nổi nào của con người. Người ta có thể liều mạng cắn răng chịu đựng cái đói cồn cào để tiếp tục quai búa, nhưng không một ai, dù khỏe mạnh đến đâu, có thể sống sót nếu uống phải thứ nước ngậm trọc tức kim loại đã ngấm sâu vào tủy xương.
Giữa sự im lặng trĩu nặng ấy, Mộc An khẽ thở dài một tiếng. Nàng ngồi thẳng lưng, đưa tay mở cuốn sổ bìa da mộc dày cộm đặt ngay ngắn trước mặt mình. Ngòi bút lông thỏ nhúng nhẹ vào nghiên mực đen, đầu ngón tay lật giở từng trang giấy bổi ghi chép chi tiết từng công điểm lao động, từng đấu lương thực và định mức khẩu phần đã được tính toán tỉ mỉ suốt nửa tháng qua.
Ánh mắt Mộc An lướt qua những con số khô khốc nhưng ẩn chứa bên trong đó là mồ hôi, nước mắt và cả máu của từng con người trong vùng trũng. Nàng ngẩng đầu lên, ánh mắt lướt qua Mộc Tầm đang khẽ gật đầu khích lệ, rồi nhìn thẳng vào Phạm Nghi và Trịnh Bách.
"Chúng ta tuyệt đối không thể bỏ mặc Lò Đất Kín, nhưng chúng ta cũng không thể để đội đập đá kiệt sức mà ngã gục ngoài đồng ruộng," Mộc An cất giọng. Tiếng nói của nàng thanh thoát, điềm tĩnh và rành rọt, từng con số tuôn ra mang theo sức nặng chuẩn xác của một người nắm giữ cán cân sinh tồn cho cả tập thể. "Hiện tại trong kho cứu tế chung của Hội, chúng ta còn tổng cộng bốn mươi hai bao bột ngô và bột mì thô do chị Vũ Liên vượt đường rừng mang về từ vùng Đường Nam. Theo phương án phân bổ cũ, số lương thực này vừa đủ để duy trì mức sống tối thiểu cho mười hai hộ dân và cấp thêm một phần ba phụ cấp lao động nặng cho đội đập đá để mở song song cả thửa số ba lẫn thửa số tư trong vòng mười tám ngày."
Nàng dừng lại một nhịp ngắn, ngón tay trỏ điểm nhẹ lên trang sổ:
"Giải pháp khả dĩ duy nhất lúc này là: Tạm hoãn toàn bộ kế hoạch phá đá mở rộng thửa ruộng số tư."
"Hoãn thửa số tư ư?" Trịnh Bách giật mình buột miệng thốt lên, nhưng giọng điệu của ông lần này không còn vẻ hung hãn đập bàn như ban trưa nữa, mà chùng xuống, pha lẫn sự xót xa cay đắng của một người thợ nhìn công sức dang dở.
"Phải, bắt buộc phải hoãn lại," Mộc An kiên quyết gật đầu, ánh mắt nàng không hề nao núng. "Thửa ruộng số ba rộng sáu sào hai thước đã được đội của bác bóc xong lớp váng quặng bề mặt từ hôm qua. Máng nước gỗ lim do bác Cả Thợ đóng đã dẫn thành công dòng nước ngọt từ mó ngầm về tận bờ ruộng, và quan trọng nhất là mầm Tức Căn ở hố thử nghiệm số một đã bắt đầu bén rễ, bung chồi và tỏa ra độ ẩm ổn định. Chúng ta chỉ cần dồn toàn lực tập trung gieo cấy kín diện tích thửa số ba là đã đủ bảo đảm sản lượng lương thực tối thiểu để cứu đói cho toàn xóm qua mùa đông đầu tiên này. Việc cố đấm ăn xôi dàn trải lực lượng để mở thêm thửa số tư trong lúc này chỉ làm vắt kiệt sức người và làm cạn sạch nguồn lương thực dự phòng sống còn."
Nàng lật nhanh sang trang tính toán vật tư và phân bổ nhân lực:
"Khi dừng thi công thửa số tư, chúng ta sẽ cắt giảm được ngay một nửa số công lao động nặng ngoài trời dưới nắng gắt. Tôi đề xuất trích một phần khẩu phần phụ cấp lao động nặng của toàn Hội — tương đương tám bao bột ngô — kết hợp với số tiền đồng thu được từ đợt bán rau rừng phơi khô trước đây còn lưu quỹ, bàn giao toàn bộ cho Tạ Hạnh để mua gạch và vôi. Đổi lại điều kiện đó, Tạ Hạnh phải mở cổng lò, đồng ý cho đội thợ của Hội cùng tham gia phụ việc, dùng số gạch chịu lửa mua về để xây dựng một hệ thống tường ngăn kép bên trong gian chứa của lò nung cũ."
Mộc Tầm lúc này mới ngẩng đầu lên, ánh mắt anh sáng bừng lên khi nghe em gái đưa ra một phương án vừa vặn cả về kinh tế lẫn nhân lực. Là người nắm rõ cấu trúc địa tầng và đặc tính vật liệu cách ly trọc tức hơn bất kỳ ai, anh lập tức tiếp lời để làm sáng tỏ các chi tiết kỹ thuật cốt lõi:
"Mộc An tính toán rất chuẩn xác. Xây tường ngăn kép là giải pháp duy nhất và triệt để nhất lúc này để khống chế nguy cơ rò rỉ. Chúng ta không thể tiếp tục phó mặc sự an nguy của cả vùng vào những chiếc vỏ bình gốm mỏng manh nữa. Với cấu trúc tường kép: lớp tường bên ngoài sẽ được xây bằng gạch chịu lửa dày đúng hai tấc, liên kết chặt chẽ bằng vữa vôi bột pha tro than xỉ quặng; lớp tường bên trong đầm bằng đất sét ngậm bột sắt dày trọn một thước. Quan trọng nhất là ở khoảng trống rộng nửa thước giữa hai bức tường, chúng ta sẽ đổ đầy tro trấu khô trộn xỉ quặng vụn để làm một tầng đệm xốp hút khí rò rỉ. Nếu trong tương lai có thêm một chiếc bình nào bị nứt vỡ do áp suất bên trong, trọc tức thoát ra sẽ bị lớp tro xỉ và bức tường kép này phong tỏa hoàn toàn, không thể thấm xuống vết nứt địa tầng ở chân móng và cũng không thể bốc ngược ra ngoài không khí."
Mộc Tầm quay sang nhìn thẳng vào Trịnh Bách, giọng anh trầm xuống, chan chứa sự chân thành và kính trọng đối với người thợ già:
"Bác Trịnh Bách, người của đội đập đá không hề phải nghỉ việc hay bị bỏ rơi. Thay vì phơi lưng quai búa phá váng đá ở thửa số tư dưới nắng gắt trưa hè, bác hãy lựa chọn ra sáu tráng đinh khỏe mạnh và cẩn trọng nhất trong đội, cùng bác lên gò Lò Đất Kín phụ giúp Tạ Hạnh đào rãnh móng sâu, khuân vác gạch và giã bùn sét đầm tường kép. Khẩu phần ăn của sáu người này vẫn được giữ nguyên chế độ lao động nặng cao nhất, do chính số bột ngô trích ra chi trả sòng phẳng. Họ không hề bị tước đoạt miếng ăn, mà chính sức lực và mồ hôi của họ đang dựng nên một tấm khiên vững chắc để bảo vệ nguồn nước uống cho chính gia đình, con em họ dưới chân đồi này."
Trịnh Bách ngồi chết lặng trên ghế tre. Đôi mắt người nông phu già chớp chớp liên hồi, nhìn xuống vạt áo đẫm mồ hôi quặng cáu bẩn của mình, rồi lại nhìn sang những dòng chữ mực đen thẳng thớm trong cuốn sổ của Mộc An và những vết phỏng rỉ máu trên tấm gạc của Đào Nguyệt. Cơn giận dữ bốc đồng ban trưa dần tan biến như làn khói loãng, nhường chỗ cho sự thấu hiểu thực tế nghiệt ngã của cuộc sinh tồn. Ông hiểu rằng mình không thể dùng sức mạnh cơ bắp hay sự liều lĩnh để chống lại những con số tính toán minh bạch và những vết thương đang rỉ máu ngay trước mắt.
"Sáu tráng đinh... vẫn được bảo đảm một bát cháo đặc mỗi bữa chứ?" Trịnh Bách hỏi khẽ, giọng khàn đặc và chùng xuống thấy rõ.
"Tôi xin lấy danh dự của người giữ sổ sách cho Hội ra bảo đảm," Mộc An đáp dứt khoát, ngòi bút lông của nàng vạch một đường mực đen đậm dưới dòng điều chỉnh ngân sách lương thực. "Mỗi người nửa đấu bột ngô mỗi ngày, phát tận tay sau mỗi buổi chiều kiểm tra nghiệm thu độ sâu của rãnh móng tường lò."
Phạm Nghi, người nãy giờ vẫn ngồi im lặng như một pho tượng gỗ ở đầu bàn, chầm chậm đưa tay gõ nhẹ đầu tẩu thuốc bằng đồng xuống mặt bàn gỗ phát ra ba tiếng cộc cộc giòn giã.
"Quyết định như thế đi," ông lão cất giọng trầm đục, mang theo uy quyền của người cao tuổi từng trải qua biết bao thăng trầm của vùng đất này. "Người Hạ Khê chúng ta lập ra cái Hội giữ đất này, không phải chỉ để giữ lấy vài thước đất bề mặt để cấy cày kiếm miếng ăn qua bữa, mà còn phải giữ lấy cái ruột đất bên dưới cho con cháu đời sau còn có chỗ mà cắm rễ. Cái lò gốm của con bé Hạnh nay không còn là việc riêng của nhà nó nữa, nó là cái hố chôn giữ chất độc của cả cái đất này. Ai đồng ý với cách tính toán của con bé An thì điểm chỉ vào sổ!"
Từng cánh tay thô ráp, chai sần lần lượt vươn ra mặt bàn. Mười hai ngón tay cái ấn ngập vào đĩa chu sa đỏ thẫm rồi in đều đặn thành một hàng dấu vân tay đỏ chót trên trang giấy bổi, bên cạnh những con số phân bổ lương thực và vật liệu được ghi chép rành mạch. Sự đồng thuận ấy không đến từ một sự thỏa hiệp dễ dãi hay nhượng bộ nhất thời, mà được tôi luyện qua sự va đập khốc liệt giữa sinh mạng con người, miếng cơm manh áo và những quy chuẩn kỹ thuật an toàn không thể khoan nhượng.
***
Hoàng hôn buông xuống lòng chảo Hạ Khê trong một gam màu đỏ quạch như máu quặng pha lẫn sắc tím bầm của mây chiều.
Tại Lò Đất Kín trên đỉnh gò cao, tiếng xích sắt lách cách mở khóa vang lên giữa buổi chiều muộn, xua tan đi bầu không khí ngột ngạt bao trùm cả sườn đồi. Tạ Hạnh đứng bên khung cửa vòm của xưởng gốm, ánh mắt bình thản nhìn sáu tráng đinh do đích thân Trịnh Bách dẫn đầu đang gánh theo xẻng sắt, cuốc bàn, những sọt gạch chịu lửa nặng trịch và hai bao bột ngô bước từng bước vững chãi lên đỉnh dốc. Không có một lời xin lỗi nào được thốt ra giữa hai bên, cũng không có bất kỳ sự đon đả khách khí thừa thãi nào; chỉ có một cái gật đầu cụt ngủn của người đàn bà góa và tiếng xẻng sắt sắc ngọt cắm phập xuống nền đất nung cứng như đá. Nhát cuốc đầu tiên bổ xuống, bắt đầu công việc đào đường rãnh móng cho bức tường kép cách ly trọc tức.
Dưới chân đồi, Mộc Tầm cùng Lê Cẩn đi dọc theo bờ con mương dẫn nước nhỏ nối từ mó ngầm đồi tây nam chảy về thửa ruộng số ba Thạch Nê. Máng gỗ lim do bác Cả Thợ tỉ mỉ đẽo gọt chạy dài ngoằn ngoèo trên bờ đất đỏ, dòng nước ngọt mát róc rách chảy qua lớp máng xối đưa nguồn sinh khí trong lành đổ dồn vào hố thử nghiệm số một.
Mộc Tầm ngồi xổm bên bờ ruộng, thò bàn tay chai sạn vốc một nắm đất phù sa ẩm xốp quanh gốc mầm Tức Căn. Mùi đất ngai ngái, tươi mới và ẩm ướt len lỏi vào sống mũi, xua tan đi phần nào mùi khét lẹt của vụ nổ ban trưa còn vương lại trong tâm trí anh. Rễ cây non vẫn kiên cường bám sâu vào tầng đá mềm bên dưới, tỏa ra thứ ánh sáng lam quang le lói như một nhịp thở thầm lặng và bền bỉ trong bóng chiều chập choạng.
"Tầm này," Lê Cẩn bỗng lên tiếng từ phía trước, giọng người thợ đào giếng có vẻ khang khác, trầm đục và run rẩy một cách bất thường.
Mộc Tầm ngẩng đầu lên. Lê Cẩn đang đứng cách anh chừng mười bước chân, ngay tại khúc quanh nơi con lạch dẫn nước tự nhiên chảy từ khe núi Thanh Lộ cắt ngang qua hệ thống máng nước gỗ lim của Hội để đổ về đầm trũng Thạch Nê.
Lê Cẩn không hề cầm cuốc, anh đứng chôn chân bên mép nước bùn lầy, hai bờ vai hơi so lại, ánh mắt dán chặt xuống dòng chảy đang lững lờ trôi dưới chân mình như nhìn thấy một điều gì đó vô cùng quái dị.
Mộc Tầm phủi lớp đất ẩm trên tay, bước nhanh lại gần: "Có chuyện gì thế, Cẩn?"
Lê Cẩn không trả lời ngay. Anh chỉ khẽ nuốt nước bọt, giơ ngón tay run rẩy chỉ thẳng xuống mặt nước lạch.
Dưới ánh hoàng hôn nhập nhoạng của buổi chiều tà, dòng nước khe núi vốn trong veo sau đợt mưa rào trưa nay bỗng đổi sang một màu xám đục nhờ nhờ như nước vo gạo lẫn tro bếp. Nhưng điều khiến sống lưng Mộc Tầm lập tức lạnh toát không phải là màu nước biến đổi — mà là những mảng bọt đen kịt, quánh đặc và dính dấp như dầu hắc, đang dập dềnh kết thành từng tảng lớn trôi xuôi dòng từ phía cửa Khe Táng Thủy đổ về.