Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtC.13 / 36
Chương 13

La Bàn Nói Không

Chiếc la bàn bằng đồng sáng loáng trên tay vị địa sư trẻ tuổi khẽ kêu lách cách giữa không gian tĩnh mịch của lòng chảo Hạ Khê.

Âm thanh kim loại va chạm khô khốc, sắc lẹm, lạc lõng hoàn toàn giữa cảnh tượng xám xịt của một vùng đất ngập ngụa tro xỉ. Từng tiếng bánh răng cọ xát nhỏ vụn vang lên đều đặn theo nhịp bước chân, lạnh lùng như tiếng gõ của chiếc đồng hồ cát đang đếm ngược thời gian sinh tồn của những kẻ cùng đường. Kỷ Vân dừng chân ngay bên bờ rãnh ngăn cách vườn thuốc Mộc gia với con đường đá dăm dẫn ra bến than. Y mặc một bộ trường bào màu xám tro viền chỉ xanh của Ty Địa sư phủ Bình Xuyên, vạt áo còn hồ cứng phẳng phiu, trên vai khoác chiếc tráp gỗ lim viền đồng đựng dụng cụ đo đạc. Sự sạch sẽ, ngay ngắn toát ra từ từng nếp gấp vải lụa ấy đối lập gay gắt với những gương mặt hốc hác, nứt nẻ vì bụi than và gió rét của đám đông đang đứng lặng lẽ vây quanh.

Gió từ phía những đống xỉ quặng cằn cỗi thổi thốc qua, mang theo bụi vôi trắng đục bám vào đuôi mắt người. Mộc Tầm bước ra đón, hai bàn tay vẫn còn lấm lem lớp bùn đất Thạch Nê vừa khô cong trên mu bàn tay, để lại những vệt xám sẫm màu nứt rạn như da cây già. Đứng sau lưng anh là Mộc An, tay ôm chặt cuốn sổ ghi chép bìa da mộc đã sờn rách bốn góc, và ông lão Phạm Nghi với gương mặt căng thẳng đến mức hai gò má giật giật, lưng còng rạp xuống như thể đang bước vào một phiên xử sinh tử tại công đường huyện phủ.

Kỷ Vân không nhìn đám đông bẩn thỉu xung quanh. Ánh mắt y dừng lại ở khoảnh đất trước hiên nhà Mộc gia, nơi một mảng xanh non khác thường mọc len lỏi giữa lớp đá dăm. Y rút từ trong ống tay áo rộng thùng thình ra một tờ công văn có đóng dấu đỏ son của huyện nha Bình Xuyên, giọng điệu khách khí nhưng từng âm tiết rành rọt, đều đặn như thể được đọc ra từ một cuốn quy chế đúc sẵn:

"Tại hạ là Kỷ Vân, Địa sư Luyện Khí tầng tư của Ty Địa sư Bình Xuyên, phụng mệnh Huyện quan Ngô Trực thụ lý công văn cứu nạn số bảy mươi hai của Hội giữ đất Hạ Khê. Huyện nha yêu cầu kiểm chứng thực địa: xác định xem khu vực quanh Giếng Cạn và thửa ruộng số ba Thạch Nê có phát sinh cấu trúc linh mạch mới hoặc mạch rẽ hồi sinh hay không, làm căn cứ xét miễn thuế điền trạch và cấp phát lương thực cứu trợ mùa khô."

Tờ giấy tuyên sắc đỏ rực phất phơ trong gió lạnh, dấu triện hình móng cọp của quan phủ đỏ tươi như một vết máu khô trên nền giấy bổi ngả vàng. Phạm Nghi vội chắp hai bàn tay run lẩy bẩy, khom lưng thật thấp, đầu gối gần như chạm vào mép đá sắc nhọn ven đường:

"Đội ơn Kỷ địa sư không quản ngàn dặm xôi đỗ, lặn lội đường xa tới chốn cùng trời cuối đất này. Xóm giếng chúng tôi mấy tháng nay chết dần chết mòn vì thiếu nước, người già kiệt sức, con trẻ ngắc ngoải vì nuốt tro nuốt bùn. May nhờ giếng cổ mấy hôm nay rỉ lại nước ngọt, đất đai quanh vườn Mộc gia bắt đầu nhả phèn, mầm thuốc mọc lên xanh mướt. Xin địa sư mở rộng mắt sáng của bậc tài danh, xem xét thấu đáo nguồn cơn, ghi nhận cho xóm nghèo một chữ cứu mạng trên công văn."

Kỷ Vân không đáp lời cầu xin thống thiết ấy. Đôi mày y khẽ chau lại, dường như âm thanh nài nỉ của người già đối với y chỉ là một dạng tạp âm thường tình nơi thôn dã, không có giá trị đối chiếu với các điều luật được khắc trên bia đá nha môn. Y cẩn thận tháo chiếc tráp gỗ lim trên vai, đặt nhẹ nhàng lên một phiến đá tương đối phẳng đã được thợ đập đá mài nhẵn từ sớm. Bàn tay thon dài, trắng trẻo với những khớp xương sạch sẽ mở từng chốt đồng của chiếc tráp. Bên trong lót nhung đỏ dày dặn, nâng niu một chiếc la bàn bằng đồng thau nặng trịch, to bằng chiếc bát ăn cơm lớn.

Mặt la bàn không hề phẳng mà hơi vồng lên như mai rùa, chia làm ba mươi sáu tầng vòng tròn đồng tâm khắc chi chít thiên can, địa chi, bát quái, nhị thập bát tú và các vạch độ số phân định mạch khí tinh vi đến từng ly. Ở trung tâm la bàn là một hồ dầu nhỏ trũng xuống, chứa đầy lớp dầu trâm tinh luyện trong suốt không gợn một hạt bụi. Nổi bồng bềnh trên lớp dầu ấy là một cây kim chỉ nam bằng huyền thiết thanh mảnh như sợi tóc, thân kim đen nhánh ánh lên sắc xanh lục của thứ kim loại được tôi luyện qua lò lửa địa nhiệt, mũi kim khẽ chao đảo theo từng luồng gió thoảng qua.

Ánh mắt Mộc An đảo nhanh qua vành ngoài của chiếc la bàn, dừng lại ở một ký hiệu hoa văn hình dải mây uốn lượn kèm theo triện ấn chìm hình chiếc lá liễu nằm khuất sau phương vị Khảm. Nàng khẽ nghiêng đầu, thì thầm bên tai anh trai bằng một giọng nói vừa đủ nghe:

"Đó là La bàn Tầm Mạch bát quái loại ba của Thanh Lộ Tông. Ty Địa sư cấp huyện nghèo nàn, đến cả pháp khí cơ bản cũng không tự đúc được, toàn bộ dụng cụ đo đạc đắt tiền đều phải thuê mượn từ kho khí tài của ngoại vụ đường tiên môn."

Kỷ Vân nghe thấy tiếng xì xào, bàn tay đang nâng la bàn khẽ khựng lại một nhịp. Y ngẩng đầu lên, ánh mắt quét qua khuôn mặt gầy gò của cô gái trẻ, nét mặt không hề lộ vẻ giận dữ nhưng sự kiêu hãnh của một người xuất thân từ quan nha có học thức lập tức hiện rõ trong từng lời đáp:

"Dụng cụ này do chính các Trưởng lão Khí giới các của Thanh Lộ Tông đích thân kiểm định và chuẩn hóa độ số theo Thiên Địa Khí Tượng Giác. Ty Bình Xuyên chúng ta đã sử dụng nó suốt ba mươi năm qua trong mọi đợt phân định ranh giới khai thác linh mỏ, chưa từng sai lệch lấy một phân một ly. Độ chuẩn xác của nó là quy chuẩn tối cao của cả hành chính lẫn tiên đạo, không phải thứ để người phàm nghi ngờ."

Nói đoạn, Kỷ Vân thò tay vào ngăn đáy của tráp gỗ, lấy ra ba chiếc cọc tiêu bằng đồng đỏ dài chừng hai thước. Thân cọc bóng loáng, chạm khắc những đường rãnh hình xoắn ốc dùng để dẫn khí, trên đầu cọc gắn một viên đá thanh thạch nhỏ bằng đầu ngón tay cái—thứ bùa tụ khí sơ cấp thường dùng để kích thích địa tầng phản ứng.

Y cất bước tiến về mép Giếng Cạn. Đôi giày vải đế mỏng của y giẫm lên lớp đất ẩm sát hàng rào đá Mộc gia, nơi những sợi rễ mảnh mai của Tức Căn vừa đâm xuyên qua kẽ nứt. Kỷ Vân không để ý đến những sợi rễ non ấy, y chỉ nhắm đúng phương vị Tây Bắc của miệng giếng, giơ chiếc cọc đồng lên cao rồi cắm phập xuống lớp đất bùn.

Chiếc cọc thứ hai được y cắm cách đó đúng mười bước chân, ngay mép hố đất nơi mạng lưới rễ ngầm của cây mẹ đang bò ngang qua vườn thuốc để vươn ra ngoài. Chiếc cọc thứ ba cắm tại bờ đất tiếp giáp với cánh đồng Thạch Nê, nơi mương nước bằng gỗ lim vừa mới hoàn thành vào buổi chiều hôm trước đang róc rách đưa dòng nước đệm trong vắt chảy qua các luống thử nghiệm.

Ba chiếc cọc tạo thành một thế chân vạc vây bọc lấy toàn bộ khu vực sinh sôi của mầm sống mới. Kỷ Vân đứng ở trung tâm tam giác ấy, hai chân đứng nghiêm, tay trái bưng la bàn ngang ngực, tay phải chụm ngón tay trỏ và ngón giữa lại thành kiếm quyết.

"Xin mọi người lùi lại ba trượng," Kỷ Vân cất giọng lạnh lùng, mang theo uy quyền của kẻ nắm quyền sinh sát trên giấy mực. "Địa mạch vô hình, nhạy cảm khôn cùng. Bất kỳ chân nguyên tu sĩ nào xao động, hay thậm chí chỉ là tạp khí hỗn loạn từ hơi thở dồn dập của đám đông các ngươi, cũng có thể làm sai lệch độ thăng bằng của huyền châm."

Đám đông thợ đập đá lực lưỡng đứng sau lưng Trịnh Bách vội vã níu áo nhau dạt lùi ra xa. Những người dân vừa theo Vũ Liên hồi hương từ các bãi quặng đổ nát cũng nín thở kéo nhau nép sát vào vách đá ven đường. Không ai dám ho he một tiếng. Bầu không khí căng thẳng đến mức ngột ngạt, chỉ còn nghe thấy tiếng gió rít qua rặng dâm bụt khô héo quắt queo, tiếng lách cách rời rạc của chiếc guồng nước đằng xa và tiếng tim đập thình thịch trong lồng ngực những kẻ đang chờ đợi một tia hy vọng sống.

Kỷ Vân hít một hơi thật sâu. Lồng ngực y phồng lên, chiếc trường bào viền xanh khẽ lay động khi y vận chuyển chân khí từ đan điền. Một luồng thanh khí tinh thuần của tu sĩ Luyện Khí tầng tư men theo kinh mạch cánh tay, rót thẳng vào chốt truyền dẫn dưới đáy khối đồng thau.

*Ong...*

Một tiếng ngân trầm thấp, sắc lạnh như tiếng chuông chùa vọng trong hang sâu vang lên từ khối đồng thau. Mặt dầu trâm trong lòng la bàn khẽ rung động, tạo thành những gợn sóng hình tròn lăn tăn. Ba chiếc cọc đồng cắm dưới đất dường như cùng lúc cộng hưởng, thân cọc phát ra tiếng rít xé gió rất nhỏ, đầu cọc lóe lên ánh sáng mờ nhạt màu lam nhạt như sương khói ban mai. Ba dải sáng nối liền lại với nhau, tạo thành một kết giới tam giác khép kín bao bọc lấy mép giếng và một góc vườn thuốc họ Mộc.

Tất cả ánh mắt, từ những người thợ đá thô kệch đến già làng Phạm Nghi, đều dồn cả vào cây kim huyền thiết đang bồng bềnh trên lớp dầu trâm.

Theo hiểu biết thông thường của giới phong thủy và tầm mạch, nếu nơi đây thực sự hình thành một nhánh linh mạch non—dù chỉ là một vi mạch nhỏ nhất thuộc mạt đẳng—thì khi bị trận pháp cọc đồng kích thích, linh khí dồi dào dưới lòng đất sẽ bốc lên theo thế xông thiên. Thứ linh khí tinh thuần ấy sẽ lập tức hút chặt lấy mũi kim huyền thiết, khiến nó xoay tròn ba vòng theo chiều kim đồng hồ rồi chỉ thẳng tắp xuống tâm phát xuất của địa khí, đứng sững bất động như bàn thạch, đồng thời làm bừng sáng các vạch khắc độ số trên mặt kính thạch anh.

Thế nhưng, điều kỳ quặc đến mức khó hiểu đã xảy ra ngay trước mắt mọi người.

Cây kim trên tay Kỷ Vân vừa tiếp nhận linh lực kích hoạt liền bắt đầu run rẩy một cách bất thường. Nó không xoay tròn kiêu hãnh như thường lệ, mà giật cục từng nhịp ngắn ngủn, phát ra những tiếng va chạm li ti vào thành hồ: *tách... tách... tách...*

Mũi kim quay ngoắt sang hướng đông chừng nửa tấc, như thể vừa ngửi thấy một mùi hương lạ lùng, rồi ngay lập tức bị một lực hút phân tán vô hình kéo giật ngược sang phía tây—nơi rãnh đất ẩm ướt rỉ nước từ đáy giếng đang ngấm qua lớp rễ cây. Nó chao đảo qua lại như một con thuyền nan rách nát giữa dòng nước xoáy dữ dội, không thể nào tìm được phương hướng định vị, cũng dứt khoát không chịu dừng lại ở bất kỳ cung vị nào trong bát quái.

Trên mặt kính thạch anh trong suốt, các vạch đo linh quang mờ mịt đến thảm hại. Thước đo mười bậc khắc bằng bột dạ quang chỉ nhấp nháy le lói ở vạch đáy, liên tục trồi sụt quanh mức số không, chưa từng có một khoảnh khắc nào chạm nổi tới vạch số năm—ngưỡng tối thiểu mà nha môn quy định để xác nhận một "mạch khí ổn định có thể khai thác".

Kỷ Vân nhíu chặt đôi mày thanh tú. Sự bình thản ban đầu trên gương mặt y dần biến mất, thay vào đó là sự nghi hoặc tột độ. Y tưởng rằng luồng chân khí dẫn đường của mình chưa đủ mạnh để xuyên thấu lớp xỉ quặng dày đặc bọc trên bề mặt đất Hạ Khê. Nghĩ vậy, y liền cắn nhẹ đầu lưỡi, ép một giọt tinh huyết nhỏ chảy vào kinh mạch, vận khởi toàn bộ chân nguyên tầng thứ tư truyền thẳng qua lòng bàn tay vào khối kim loại.

*Két... két...*

Chiếc la bàn trên tay y rung lên bần bật, các bánh răng bên trong cọ xát dữ dội phát ra âm thanh chói tai. Lớp dầu trâm sóng sánh chực tràn ra khỏi miệng hồ. Cây kim huyền thiết giật giật từng cơn điên loạn, nó xoay vội vã ba phần tư vòng rồi đột ngột đứng khựng lại một cách thô bạo. Mũi kim lệch một góc kỳ dị ba mươi độ, chĩa thẳng xiên xuống bùn đen dưới đáy Giếng Cạn, rồi chỉ trong chớp mắt lại trượt dài sang hố cây con Thạch Nê—nơi lớp đất có độ ẩm cao nhất và tập trung nhiều rễ nhánh nhất.

Không có một cột sáng linh quang rực rỡ nào bùng phát từ lòng đất. Không có bất kỳ phản hồi mạch động nào theo đúng chu kỳ tuần hoàn thổ sinh kim, kim sinh thủy mà các kinh thư địa lý từng ghi chép.

"Kỳ quái..." Kỷ Vân lẩm bẩm trong cổ họng, giọng nói lộ rõ vẻ hoang mang. Y cúi sát mặt xuống mặt kính, đôi mắt mở to quan sát từng biến động của lớp dầu trâm.

Theo nguyên lý tầm quặng và tầm mạch mà sơn môn Thanh Lộ Tông đã đúc kết và truyền dạy suốt hàng trăm năm qua, kim huyền thiết chỉ phản ứng mạnh mẽ với các dòng linh thạch cô đặc hoặc các luồng linh khí thuần dương kết tụ thành dải mạch cứng cáp. Nơi nào có mỏ linh thạch kết tinh hoặc dòng suối ngầm tinh khiết chứa linh khí cô đọng, kim sẽ kéo căng như dây cung no gió, phương vị rõ ràng không chút mập mờ. Nhưng ở mảnh đất này, cây kim lại hành xử như một kẻ mất trí: nó bị mê hoặc bởi những vùng đất mềm xốp có độ ẩm cao, dường như muốn lao về phía những giọt nước rỉ ra từ rễ cây, nhưng cứ hễ chạm đến rìa rễ non thì toàn bộ năng lượng lại biến mất tăm, phân tán rải rác thành hàng vạn gợn sóng li ti yếu ớt, chìm nghỉm dưới mọi ngưỡng đo lường tiêu chuẩn.

Kỷ Vân không tin vào mắt mình. Y bước nhanh tới, nhổ phắt ba chiếc cọc tiêu bằng đồng lên khỏi mặt đất, sải bước dài tiến thẳng ra bờ cánh đồng Thạch Nê. Bụi xỉ quặng bám đầy vạt áo lụa xám tro của y nhưng y dường như không còn để tâm. Y dừng lại bên hố thử nghiệm số một, nơi cây con Tức Căn vừa được hạ thổ chiều qua, rễ non vẫn còn ngậm chặt những cục than bùn ẩm ướt.

*Phập! Phập! Phập!*

Ba chiếc cọc lại được cắm xuống đất theo thế tam giác vây quanh mầm cây bé nhỏ. Kỷ Vân một lần nữa bấm pháp ấn, rót chân khí vào đáy la bàn.

Nhưng kết quả vẫn lạnh lùng và tàn nhẫn như cũ.

Cây kim huyền thiết chỉ giật cục vài nhịp lười biếng, thân kim rung rinh yếu ớt rồi trôi dạt vô định trên mặt dầu. Vạch chỉ số trên thước đo thạch anh thậm chí còn không nhúc nhích nổi qua vạch số một. Đối với một địa sư được đào tạo bài bản theo quy chuẩn nghiêm ngặt của sơn môn và quan phủ, con số này không có ý nghĩa gì khác ngoài một đống tạp âm địa từ vô hại, một sự nhiễu loạn ngẫu nhiên của một bãi đất phế thải đã chết từ lâu.

Kỷ Vân thở hắt ra một hơi dài, luồng chân khí trong lồng ngực thu hồi về đan điền khiến sắc mặt y hơi tái đi vì tiêu hao sức lực. Y dứt khoát nhổ ba chiếc cọc tiêu, dùng khăn lụa lau sạch những vệt bùn đen bám trên đầu đồng bóng loáng, rồi đặt chiếc la bàn trở lại trên nắp tráp gỗ lim. Động tác của y dứt khoát, chuẩn xác, mang theo sự lạnh lùng của một viên phán quan vừa xem xong một bản án không thể đảo ngược.

Y rút từ trong ống tay áo ra một chiếc bút lông đầu nhọn bằng lông thỏ và cuốn sổ hành sự bọc da dê của Ty Địa sư phủ Bình Xuyên. Mở chiếc nghiên mực nhỏ mang theo bên hông, y cẩn thận chấm ngòi bút vào lớp mực đen nhánh đặc quánh.

Phạm Nghi nín thở, hai chân run rẩy bước tới gần, hai bàn tay gầy trơ xương chắp chặt trước ngực, giọng nói nghẹn ngào như sắp khóc:

"Kỷ đại nhân... lão Kỷ đại nhân... kết quả thế nào rồi? Mạch đất... mạch đất của xóm giếng sống lại rồi phải không ngài? Cây cọc đồng vừa sáng lên kia mà..."

Kỷ Vân ngẩng mặt lên. Đôi mắt y nhìn thẳng vào khuôn mặt nhăn nheo, sạm đen vì khói than của ông lão, ánh mắt bình thản đến mức tàn nhẫn. Y lắc đầu chậm rãi:

"Biên bản sơ bộ ghi nhận: Địa điểm Giếng Cạn và khoảnh ruộng số ba Thạch Nê không tồn tại cấu trúc linh mạch. Trị số dao động linh khí phân tán hoàn toàn nằm dưới ngưỡng ba phân độ chuẩn, không hình thành chu kỳ tuần hoàn ngũ hành, không đạt tiêu chuẩn phân cấp mạt mạch của phủ Bình Xuyên."

"Đại nhân nói sao?!"

Tiếng hét thất thanh của Trịnh Bách vang lên từ phía sau, làm rung chuyển cả bầu không khí im ắng. Gã thợ đập đá lực lưỡng bước xăm xăm tới, hai bàn tay thô ráp nắm chặt lấy cán búa tạ, ngực phập phồng dữ dội:

"Không có linh mạch? Ngài bảo mảnh đất này không có linh mạch là thế nào?! Nước ngọt múc từ đáy giếng lên uống ngọt lịm, mát tận ruột gan, cả xóm này ai cũng uống thật mà! Rau ngoài vườn Mộc gia xanh mướt ra đó, củ cải nhổ lên trắng nõn, người ốm ăn vào liền hạ cơn sốt tro! Rành rành trước mắt như thế, sao ngài lại bảo không có?!"

Kỷ Vân không hề nao núng trước sự giận dữ của gã lực điền. Với tư cách là một địa sư mang phẩm hàm của huyện nha, y đã quá quen với những phản ứng tuyệt vọng này của đám dân nghèo mỗi khi bị tước đoạt hy vọng. Ngòi bút lông trên tay y vẫn thoăn thoắt lướt trên mặt giấy da dê thô ráp, vừa viết vừa giải thích bằng cái giọng điệu khô khan, cứng nhắc của một kẻ chỉ tin vào sổ sách:

"Hiện tượng đất mềm và nước bớt chua chát chỉ là biến thiên khí hóa sinh học thông thường. Có thể do lớp bùn hữu cơ tích tụ lâu ngày dưới đáy giếng phân hủy tạm thời tạo ra kiềm tính, hoặc nước mưa ngầm từ triền núi xa rỉ qua các khe nứt địa tầng tẩy trôi bớt xỉ quặng bề mặt. Đây chỉ là sự nhiễu loạn nhất thời của một vùng đất chết trước khi hoại tử hoàn toàn. Thiết bị đo đạc chuẩn mực của tông môn không ghi nhận bất kỳ dòng chảy linh lực ổn định nào có khả năng duy trì mùa vụ lâu dài. Đất không có mạch, cũng như người không có kinh mạch, chỉ là một cái xác rỗng tạm thời bốc lên chút hơi ấm tàn dư mà thôi."

Ngòi bút của Kỷ Vân dứt khoát hạ xuống dòng chữ cuối cùng trên trang giấy trắng:

*Địa trạng: Thổ suy mộc kiệt, vô mạch khả tầm. Đề xuất: Không đủ điều kiện thụ lý cứu nạn theo ngạch phục hồi linh điền.*

Nhìn những con chữ đen ngòm như những chiếc đinh đóng chặt vào cỗ quan tài của xóm làng, Mộc An không thể nhẫn nhịn thêm được nữa. Nàng siết chặt cuốn sổ bìa da mộc trong tay, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng sức quá mạnh. Nàng bước vọt lên nửa bước, đứng chắn ngang giữa Kỷ Vân và ông lão Phạm Nghi, đôi mắt long lên ánh nhìn sắc sảo, cất giọng đanh thép:

"Kỷ địa sư! Ngài là công chức của huyện nha Bình Xuyên, ăn bổng lộc trích từ thuế đinh của trăm họ để phụng sự việc công, cứu nạn bá tánh, hay ngài chỉ là một kẻ phát ngôn làm thuê cho các giáo điều xơ cứng của Thanh Lộ Tông?"

Kỷ Vân giật mình, ngòi bút lông khựng lại giữa không trung, một giọt mực đen suýt nữa rớt xuống mép giấy. Y ngẩng đầu lên nhìn thiếu nữ trước mặt, ánh mắt lộ vẻ kinh ngạc.

Mộc An giơ cao cuốn sổ tay của mình, ngón tay lật phắt đến một trang giấy chi chít chữ viết tay nắn nót, dõng dạc nói từng lời:

"Điều mười bốn trong Khâm định Điền trạch Luật lệ của triều đình ban hành năm Cảnh Hưng thứ hai mươi đã quy định rõ ràng: Phàm là đất đai hoang hóa hoặc đất quặng suy kiệt, nếu người dân tự lực khai hoang mà tạo ra được sản lượng nông vụ thực tế, đồng thời nguồn nước sinh hoạt đạt chuẩn an toàn cho con người và gia súc sử dụng liên tục trong vòng ba mươi ngày, thì nha môn sở tại bắt buộc phải lập biên bản nghiệm thu để xét duyệt vào diện cứu trợ mùa hạn hoặc miễn giảm tô thuế ba năm! Điều luật đó viết bằng chữ son mực đen của Hoàng triều, ở dòng nào, mục nào nói rằng bắt buộc phải đo được linh mạch bằng chiếc la bàn lá liễu của Thanh Lộ Tông mới được cứu trợ?!"

Nàng tiến thêm một bước, giọng nói vang vọng khắp khoảnh đất:

"Tại sao ngài chỉ biết cắm ba cái cọc đồng mục ruỗng, nhìn vào một cây kim sắt vô tri do tông môn chế tạo riêng để tìm mỏ quặng, rồi gạt phăng sự sống có thật của cả trăm con người đang giãy giụa tìm đường sống nơi đây?!"

Kỷ Vân sững sờ. Y không ngờ ở một cái hốc núi bùn lầy tro quặng như Hạ Khê, nơi phần lớn cư dân chỉ biết đến việc cầm búa đập đá và nuốt bụi than qua ngày, lại có một cô gái trẻ thuộc làu từng điều khoản trong Khâm định Điền trạch Luật lệ—thứ luật pháp hành chính phức tạp mà ngay cả đám lại dịch dưới huyện nha nhiều kẻ còn chưa đọc hết một lần.

Một thoáng bối rối lướt qua đôi mắt của vị địa sư trẻ tuổi. Y khẽ hắng giọng, cố gắng chấn chỉnh lại phong thái đĩnh đạc của một quan chức cấp phủ, nhưng giọng điệu đã không còn giữ được vẻ trịch thượng ban đầu:

"Cô nương... cô nương am hiểu luật lệ nha môn, điều đó rất đáng khen. Nhưng công văn cứu nạn số bảy mươi hai của các người gửi lên huyện đường ghi rõ mục đích là 'yêu cầu khảo sát phục hồi linh mạch'. Huyện nha cử ta đến đây là với tư cách Địa sư, chức trách duy nhất của ta là xác minh xem có mạch hay không. Ty Địa sư chỉ có thẩm quyền báo cáo về địa chất và mạch khí dựa trên pháp khí đo đạc đã được kiểm định theo chuẩn mực của Thượng viện Thanh Lộ Tông và Nha Môn liên tịch. Còn việc xét duyệt lương thực cứu tế dựa trên diện tích rau dại, khoai củ hay nước ngọt dân sinh, đó là thẩm quyền hoàn toàn thuộc về Ty Hộ tịch và kho lương của Huyện thừa đại nhân, không nằm trong chức trách của một tiểu địa sư như ta!"

Y hạ mắt nhìn xuống cuốn sổ biên bản, ngón tay miết chặt mép giấy:

"Ta là người làm việc theo phép tắc. Ta chỉ có thể ghi lại những gì con số trên la bàn hiển thị trước mắt. Gian dối số liệu trên biên bản địa chất là trọng tội tày đình, bị tước bỏ phẩm hàm, thậm chí bị phế bỏ tu vi đày ra biên ải. Ta không thể vì vài lời van nài đầy cảm tính của các người mà tự tay chôn vùi tiền đồ và tính mạng của chính mình!"

Bầu không khí rơi vào sự bế tắc tột cùng. Lời nói của Kỷ Vân như một bức tường đá lạnh ngắt dựng đứng lên giữa quyền lực hành chính và nỗi thống khổ của đám cùng đinh. Phạm Nghi đứng chôn chân tại chỗ, đôi môi mấp máy không thốt nên lời, ánh sáng hy vọng cuối cùng le lói nơi đáy mắt ông lão vụt tắt như một ngọn đèn dầu cạn bấc.

Giữa lúc nỗi tuyệt vọng cay đắng đang bóp nghẹt lồng ngực mọi người, một tiếng vó ngựa dồn dập từ phía đường thiên lý bỗng xé toạc màn sương tro xám xịt.

*Cộp! Cộp! Cộp! Cộp!*

Tiếng móng sắt nện chan chát lên nền đá vôi cứng giòn, mỗi lúc một gần, mỗi lúc một gấp gáp. Từ khúc quanh của con đường dẫn ra bến than, một con tuấn mã toàn thân bọc giáp da màu xám tro lao vụt tới như một cơn lốc. Trên lưng ngựa là một kỵ sĩ mặc áo bào màu xanh lục viền bạc sáng chói—y phục đặc trưng của đệ tử chấp pháp thuộc Ngoại vụ đường Thanh Lộ Tông.

Bụi đá vôi và tro xỉ cuốn lên mù mịt sau vó ngựa. Tên đệ tử ghìm mạnh dây cương ngay giữa bãi đất trống trước cổng vườn thuốc họ Mộc. Con ngựa hí vang một tiếng dài, hai vó trước chồm lên cao rồi dẫm mạnh xuống đất, làm bắn tung tóe những mẩu đá sắc nhọn vào vạt áo của đám thợ đá đang đứng gần đó.

Kỵ sĩ ngồi trên lưng ngựa không thèm nhảy xuống đất. Hắn liếc nhìn đám đông xơ xác bằng nửa con mắt, bàn tay đeo bao tay da thuộc thô ráp rút phắt từ trong ống đồng bọc nẹp sắt bên hông ra một phong thư dán xi sáp đỏ tươi. Trên lớp sáp niêm phong in hằn hình triện chiếc lá liễu ngậm kiếm sắc nhọn của Ngoại vụ đường.

"Ai là Kỷ Vân, địa sư của Ty Bình Xuyên đang làm nhiệm vụ tại đây?" Kỵ sĩ cất giọng kẻ cả, âm thanh vang rền mang theo uy áp nhàn nhạt của tu sĩ Trúc Cơ sơ kỳ, nện thẳng vào màng nhĩ mọi người.

Kỷ Vân giật mình, vội vàng cất bút lông vào ống, chắp hai tay cung kính bước lên phía trước một bước:

"Báo cáo thượng sứ, tại hạ chính là Kỷ Vân của Ty Địa sư Bình Xuyên."

Tên kỵ sĩ không thèm nói nửa lời thừa thãi, hắn vung tay ném mạnh chiếc ống đồng thẳng vào ngực Kỷ Vân. Kỷ Vân vội vàng giơ hai tay đỡ lấy, chiếc ống đồng nặng trịch va vào các ngón tay khiến y hơi lảo đảo.

"Chấp sự Tống Khuê phái ta đưa hỏa tốc thư tới trạm đo đạc Hạ Khê!" Kỵ sĩ ngồi thẳng lưng trên yên ngựa, cất giọng sang sảng, cố tình truyền âm để toàn thể dân làng đang đứng quanh đó đều phải nghe thấy từng chữ một: "Chấp sự đã thông qua thám tử nắm rõ toàn bộ tình hình khảo sát sơ bộ tại khu vực Giếng Cạn. Nay thừa lệnh Thượng viện, truyền đạt ý chỉ tối cao của tông môn!"

Kỷ Vân run run bẻ gãy lớp xi sáp niêm phong, rút tờ giấy hoa tiên màu xanh nhạt bên trong ra đọc. Đôi mắt y lướt nhanh qua những dòng chữ viết bằng mực đen sắc như dao cạo, lông mày y càng lúc càng nhíu chặt lại, mồ hôi lạnh bắt đầu rỉ ra trên trán.

Tên kỵ sĩ trên lưng ngựa cười khẩy một tiếng đầy khinh miệt, ánh mắt đảo qua những luống đất ẩm và đám nông phu đang run rẩy:

"Chấp sự Tống Khuê tuyên bố rõ ràng: Dựa trên kết luận sơ bộ của Địa sư Ty Bình Xuyên xác nhận Hạ Khê 'vô mạch khả tầm', thổ nhưỡng nơi đây đã hoàn toàn chết, không có bất kỳ giá trị phục hồi nông nghiệp hay linh điền! Do đó, đơn xin cứu nạn khẩn cấp và đơn xin hoãn nộp hạn ngạch tô thuế năm nay của Hội giữ đất Hạ Khê hoàn toàn không có căn cứ pháp lý, chính thức bị Thượng viện và Huyện nha bác bỏ toàn bộ! Toàn bộ các hộ dân còn ngoan cố bám trụ tại lòng chảo phải nộp đủ một trăm phần trăm định mức xỉ quặng và tiền thuê đất theo đúng hạn kỳ ba ngày tới, thiếu một cân quặng, phạt mười roi, thiếu một đồng bạc, tịch thu toàn bộ gia sản trục xuất khỏi cảnh giới!"

"Trời đất ơi..." Phạm Nghi run rẩy thốt lên một tiếng nghẹn ngào, hai chân ông lão nhũn ra, ngã quỵ xuống đất nếu không có Lê Cẩn kịp thời lao tới đỡ lấy nách ông.

Đám thợ đập đá phía sau ồ lên những tiếng gầm gừ phẫn uất. Trịnh Bách nghiến răng trèo trẹo, mấy gã thanh niên lực lưỡng bên cạnh siết chặt cán xẻng, cán cuốc trong tay, đôi mắt vằn lên những tia máu đỏ ngầu như muốn lao vào xé xác tên kỵ sĩ ngạo mạn.

Thế nhưng, lời tuyên bố của tên đệ tử Thanh Lộ Tông vẫn chưa dừng lại ở đó. Hắn cười nhạt, thò tay vào trong bọc áo, rút ra một cuộn giấy da thuộc cổ xưa đã ngả sang màu vàng ố của thời gian, lắc mạnh trước gió tạo nên tiếng phần phật khô khốc:

"Đồng thời, Chấp sự Tống Khuê nhắc nhở những kẻ u mê tại đây: Chiếu theo Khế ước Khai thác Địa Mạch ngàn năm ký kết giữa Khai sơn Tổ sư Thanh Lộ Tông và các đời huyện quan Bình Xuyên tiền triều, toàn bộ mạch khí ngầm, nguồn nước phát xuất từ các triền núi thuộc dãy Thanh Lộ, và đặc biệt là 'mọi giống thực vật phát sinh dị tượng linh khí hoặc có khả năng hấp thụ biến đổi địa khí' nằm trong phạm vi mười dặm lòng chảo Hạ Khê, đều mặc nhiên thuộc quyền sở hữu độc quyền của tông môn theo khế ước ngàn năm lưu giữ tại từ đường!"

Hắn cúi rạp người xuống trên lưng ngựa, ngón tay chỉ thẳng vào khoảnh vườn thuốc họ Mộc và hố cây con Tức Căn ngoài ruộng Thạch Nê, giọng nói sắc lẻm như lưỡi gươm tuốt khỏi bao:

"Bất kỳ kẻ nào tự ý chiết ghép, di dời, ươm trồng, cất giấu hoặc lén lút trao đổi buôn bán các giống mầm phát sinh dị tượng mà không có sự thẩm định và phê chuẩn bằng văn bản của Ngoại vụ đường, đều bị coi là phạm vào trọng tội trộm cắp tài nguyên của tiên môn! Kẻ vi phạm chiếu theo luật tu chân mà xử trảm tại chỗ, tru di tam tộc, tịch thu toàn bộ điền sản sung công!"

Nói xong những lời tuyệt tình tàn nhẫn ấy, tên kỵ sĩ không buồn nán lại nửa giây. Hắn giật mạnh dây cương, con tuấn mã hí vang một tiếng chói tai rồi quay đầu phi nước đại ra phía con đường đá dăm, để lại một làn khói bụi xám xịt cay xè xộc thẳng vào mũi, vào miệng đám đông đang chết lặng giữa bờ ruộng.

Sự im lặng chết chóc bao trùm toàn bộ cánh đồng.

Một sự im lặng nặng nề hơn cả cái chết. Gương mặt già nua của Phạm Nghi xám ngoét không còn một giọt máu, hai mắt dại đi nhìn vào khoảng không vô định. Trịnh Bách đứng chết trân tại chỗ, bàn tay gân guốc buông lỏng làm chiếc búa tạ nặng ba mươi cân rơi 'phịch' một tiếng xuống đất, lún sâu vào lớp tro xỉ quặng xốp ráp.

Khế cũ ngàn năm của tiên môn!

Thứ xiềng xích vô hình đã trói buộc mảnh đất này qua hàng chục thế hệ, biến tổ tiên họ thành những kẻ đào quặng không công, nay lại được vung lên như một chiếc thòng lọng siết chặt lấy cổ từng người dân khốn khổ. Chúng vừa dùng la bàn phủ nhận sự sống của đất để cắt đứt con đường cứu trợ lương thực, vừa giương nanh múa vuốt dùng khế ước cũ đòi đoạt lấy mầm Tức Căn vừa mới đâm chồi từ mồ hôi và nước mắt của họ!

Kỷ Vân nắm chặt phong thư hỏa tốc trong tay, các ngón tay khẽ run rẩy. Trên gương mặt trẻ tuổi của y hiện rõ vẻ giằng xé phức tạp. Y hiểu rất rõ ý đồ của Chấp sự Tống Khuê: dùng biên bản "vô mạch" của Ty Địa sư làm vỏ bọc hành chính để ép người dân vào đường cùng, sau đó dùng khế ước cũ để danh chính ngôn thuận độc chiếm giống cây lạ.

Y thở dài một hơi thật khẽ, quay sang nhìn Mộc Tầm, toan nói một lời tạ từ khách sáo để thu xếp tráp đồ nghề rời khỏi cái chốn thị phi này.

Thế nhưng, y vừa nhấc chân thì một bóng người cao lớn đã bước tới, sừng sững chắn ngay trước mặt y.

Khoảng cách giữa Mộc Tầm và Kỷ Vân lúc này chỉ còn chưa đầy một sải tay. Mộc Tầm không rút đao, không vận khởi linh lực uy hiếp, nhưng đôi mắt anh—đôi mắt của một kẻ đã từng quỳ gối hàng đêm dưới đáy bùn đen hôi thối, hít từng ngụm khí độc xộc vào phổi chỉ để chăm chút cho từng sợi rễ non đâm chồi—đang bùng cháy một ngọn lửa dữ dội, sâu thẳm và ngoan cường đến mức khiến vị địa sư Luyện Khí tầng tư phải bất giác lùi lại nửa bước chân.

"Địa sư Kỷ Vân," giọng Mộc Tầm cất lên, trầm thấp nhưng sắc như chém đá, từng âm thanh nện thẳng vào lồng ngực người đối diện như tiếng búa nện trên đe sắt. "Ngài mở to mắt ra mà nhìn xem!"

Trước sự kinh ngạc của Kỷ Vân, Mộc Tầm đột ngột quỳ một chân xuống bờ ruộng. Anh không dùng xẻng sắt, không dùng bất kỳ công cụ nào, mà dùng chính mười ngón tay trần đầy vết chai sạn bới tung lớp đất ngay sát vị trí chiếc cọc tiêu bằng đồng mà Kỷ Vân vừa cắm xuống lúc nãy.

*Xoàn xoạt...*

Lớp tro xỉ khô cằn trên bề mặt bị gạt sang một bên. Bên dưới lớp váng xám xịt ấy, một mảng đất bùn màu nâu sẫm, tơi xốp, ẩm ướt và đan xen chằng chịt những sợi lông tơ trắng muốt của hệ thống rễ phụ lộ ra dưới ánh mặt trời nhợt nhạt.

Mộc Tầm bốc một nắm đất lớn đầy ắp trong lòng bàn tay. Anh đứng bật dậy, giơ thẳng nắm đất đen nhánh ấy lên sát tận chóp mũi của Kỷ Vân.

"Ngài ngửi đi!" Mộc Tầm gằn từng tiếng, lồng ngực anh phập phồng dữ dội. "Ngài dùng cái mũi của một con người sinh ra từ đất mẹ mà ngửi xem! Đây là mùi của tro xỉ chết chóc, hay là mùi của đất sống?!"

Kỷ Vân giật mình lùi lại theo bản năng, nhưng nắm đất ẩm ướt đã ở ngay trước mặt y. Không thể tránh né, một luồng khí tức xộc thẳng vào cánh mũi y.

Không có mùi lưu huỳnh nồng nặc khiến cuống họng khô rát như ở các bãi quặng ngoài kia. Không có mùi chua loét của phèn sắt hay mùi hăng hắc của đá vôi chết. Thay vào đó là một mùi ngai ngái, nồng ấm, thanh khiết của lớp mùn mục rữa hòa quyện với hơi ẩm ngọt ngào của nước ngầm—thứ mùi hương nguyên thủy của đất đai màu mỡ sau cơn mưa xuân, thứ mùi của sự sống đang cựa mình thức giấc!

Mộc Tầm không buông tha cho y. Anh xoay người, tay kia chỉ thẳng ra luống rau cải dại xanh mướt đang vươn mình mơn mởn bên mép Giếng Cạn, rồi lại chỉ sang hố thử nghiệm số một ở Thạch Nê, nơi mầm cây con Tức Căn đang tỏa ra những sợi rễ lam quang mờ ảo dưới làn nước đệm trong vắt:

"Rau xanh này người trong xóm đã hái ăn suốt nửa tháng qua! Không một ai nôn ra máu, không một đứa trẻ nào phát cơn ho tro quặng! Nước dưới đáy giếng kia ngọt lịm, đã cứu sống mẹ tôi sau ba ngày hôn mê, đã cứu sống hàng chục đứa trẻ đang thoi thóp vì chết khát! Cây con ngoài Thạch Nê kia đang đâm xuyên vỉa đá vôi để hút sạch độc chất, biến bùn quặng thành đất mềm cho lúa ngô đâm chồi!"

Mộc Tầm sải thêm một bước dài, ngực anh gần như chạm sát vào chiếc tráp đựng la bàn bằng gỗ lim trên tay Kỷ Vân:

"Tất cả những thứ đó sờ được bằng tay, ngửi được bằng mũi, nếm được bằng miệng, cứu sống được mạng người bằng xương bằng thịt! Vậy mà ngài cầm một cái la bàn bằng đồng vô tri mục ruỗng, chỉ vì cây kim sắt của ngài đứng yên, liền dám chấm một nét mực phán rằng mảnh đất này đã chết?! Ngài bảo hiện tượng đất mềm chỉ là sự nhiễu loạn khí hóa tạm thời, ngài bảo sự sống này không tồn tại chỉ vì nó không phát ra thứ linh khí thuần dương kết tinh mà cái tông môn trên núi kia muốn đoạt lấy để luyện đan, luyện khí?!"

Từng câu chất vấn đanh thép của Mộc Tầm như những chiếc búa tạ ngàn cân giáng thẳng vào niềm kiêu hãnh nghề nghiệp và bức tường quy chuẩn mà Kỷ Vân tôn thờ bấy lâu nay.

Kỷ Vân siết chặt quai tráp gỗ lim, các khớp ngón tay trắng bệch ra. Lồng ngực y phập phồng run rẩy, gương mặt lúc thì đỏ bừng vì xấu hổ, lúc lại tái mét vì bàng hoàng. Y nhìn chằm chằm vào nắm đất đen nhánh, ẩm ướt đang rỉ ra từng giọt nước mát lành trong tay Mộc Tầm, rồi lại nhìn xuống chiếc la bàn bằng đồng thau sáng loáng bên hông mình.

Trong thâm tâm người địa sư trẻ tuổi, một sự dao động dữ dội chưa từng có đang cuộn trào như sóng thần.

Y không phải là một kẻ gian xảo nhận tiền hối lộ để bẻ cong ngòi bút như đám sai nha biến chất dưới huyện. Y bước chân vào Ty Địa sư với lòng say mê địa lý sơn hà, được đào tạo để truy tìm sự thật của tạo hóa ẩn giấu dưới tầng sâu non nước. Ngay từ khoảnh khắc kích hoạt cọc đồng lúc nãy, khi thấy cây kim huyền thiết liên tục lệch về phía các vùng đất ẩm thay vì các tụ điểm kim thạch theo đúng nguyên lý tầm quặng thông thường, trực giác của một địa sư đã mách bảo y rằng có điều gì đó vô cùng bất thường đang diễn ra.

Thiết bị này... chiếc la bàn do Thanh Lộ Tông chế tạo này... thực chất hoàn toàn mù tịt trước một dạng thức sinh mệnh mới đang vận hành dưới lòng đất! Nó được thiết kế với một mục đích duy nhất: tìm kiếm những mỏ quặng cô đặc, những mạch năng lượng thuần dương để tông môn dễ dàng khai thác đến cạn kiệt. Nó chưa bao giờ được tạo ra để lắng nghe mạng lưới rễ cây đang âm thầm liên kết, chia sẻ dưỡng chất và chữa lành cho từng hạt bùn đất hoại tử!

Sự sống ở nơi này không vận hành theo quy luật cướp đoạt của tiên môn. Nó là một sự sống cộng sinh, khiêm nhường nhưng dẻo dai khôn cùng.

Thế nhưng, hàng chục năm khuôn phép của trường thi, hàng trăm trang quy chế khắc nghiệt của nha môn, và trên hết là cái bóng đen quyền lực khổng lồ của Thanh Lộ Tông đã đúc thành một gông cùm kiên cố trong tâm trí y. Phá vỡ quy chuẩn ấy đồng nghĩa với việc y tự tay hủy hoại tương lai của chính mình, trở thành kẻ dị giáo chống lại cả một hệ thống tu chân đã tồn tại hàng ngàn năm.

Kỷ Vân hít một hơi thật sâu, cố gắng đè nén sự run rẩy đang dâng lên trong đáy mắt. Y ngước nhìn Mộc Tầm, giọng nói khàn đặc đi vì xúc động nhưng vẫn cố bám víu lấy vẻ cứng rắn sau cùng:

"Mộc Tầm... ta hiểu nỗi uất ức của các người. Ta thấy luống rau xanh mọc lên, ta ngửi thấy mùi đất ẩm này. Nhưng... địa sư xuất thân từ Ty Bình Xuyên chỉ có thể làm việc dựa trên quy chuẩn đã được kiểm định! Dụng cụ không ghi nhận, độ số không vượt ngưỡng, thì trên mặt giấy tờ pháp lý của phủ huyện, nó vĩnh viễn không tồn tại! Ta không thể báo cáo bằng cảm giác, càng không thể dùng lời nói miệng của một nông phu để chống lại quy chuẩn đo đạc của cả một tông môn sừng sững!"

Y lùi lại một bước dài, cúi gầm mặt xuống để tránh né ánh mắt rực lửa như thiêu đốt của Mộc Tầm:

"Biên bản sơ bộ hôm nay... ta giữ nguyên kết luận. Ta không thể giúp các người. Bảo trọng."

Dứt lời, Kỷ Vân vội vã quay ngoắt người lại, bước thoăn thoắt về phía chiếc xe ngựa của Ty Địa sư đang chờ sẵn ở đầu làng. Dáng đi của y vội vã, chật vật như thể đang chạy trốn khỏi nắm đất đen ẩm ướt trên tay người chăm cây, chạy trốn khỏi sự thật trần trụi mà chiếc la bàn bằng đồng của y đã bất lực không thể đo lường.

Chiếc xe ngựa lăn bánh trên con đường đá dăm, tiếng bánh xe lộc cộc xa dần rồi chìm hẳn vào màn sương xám.

Phạm Nghi thở dài một tiếng não ruột thấu tận tâm can, buông xuôi hai cánh tay khẳng khiu xuống đất bùn. Mộc An cắn chặt bờ môi dưới đến mức rớm máu, vị tanh nồng lan tỏa nơi đầu lưỡi nhưng nàng không hề hay biết, cuốn sổ quy ước trong tay nàng run rẩy từng chặp. Cánh cổng hy vọng cuối cùng về một tờ giấy công nhận chính thức từ quan phủ dường như vừa sập sầm lại trước mắt họ, nhường chỗ cho cái bóng đen trừng phạt của Thanh Lộ Tông đang lừng lững đè nặng xuống xóm nghèo.

Thế nhưng, giữa sự tuyệt vọng bao trùm, Mộc Tầm vẫn đứng sững giữa bờ ruộng như một thân cây cổ thụ cắm sâu vào lòng đất.

Anh không gục ngã. Anh chầm chậm mở những ngón tay thô ráp của mình ra. Từng hạt đất màu nâu sẫm tơi xốp, ngậm đầy hơi ẩm và nhựa sống rơi lả tả qua kẽ tay anh, nhẹ nhàng phủ lên cuống rễ xanh biếc của mầm Tức Căn đang vươn lên dưới rãnh nước đệm.

Một luồng gió lạnh đột ngột từ hẻm núi phía bắc thổi thốc vào lòng chảo.

Cơn gió mang theo hơi lạnh buốt giá xua tan cái ngột ngạt, oi nồng tích tụ suốt mấy tháng khô hạn ròng rã. Luồng áp suất không khí ẩm ướt lạ kỳ từ đâu tràn tới, đè nặng lên từng tấc đất Hạ Khê. Từ chân trời xa xăm phía dãy núi Thanh Lộ, những đám mây đen kịt như mực tàu cuồn cuộn kéo đến với tốc độ kinh hoàng, nuốt chửng ánh mặt trời nhợt nhạt cuối ngày.

*Ầm... ầm...*

Tiếng sấm rền vang rúng động cả thung lũng, dội qua các vỉa đá xỉ quặng cằn cỗi như tiếng gầm của một con cự thú thức giấc dưới lòng sâu.

Bầu trời Hạ Khê kéo mây đen kịt; cơn mưa rào đầu tiên sau nhiều tháng khô hạn trút xuống lòng chảo.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn