Bí Mật Của Bông
Tiếng hạt rơi lạo xạo trên mặt đá sa thạch sắc lạnh phá vỡ hoàn toàn sự yên ả đọng lại nơi góc vườn ươm, đúng vào khoảnh khắc ngón tay khẳng khiu, run rẩy của người làm vườn già giơ lên, trỏ thẳng vào dải viền xám tro vừa lấp ló dưới ức chim Bông.
Chiếc giỏ tre đan dày trượt khỏi bờ đùi thô ráp của cụ, rơi nghiêng bên gờ đá phủ rêu. Hàng chục hạt mầm túi khí tròn trịa như ngọc trai nước ngọt lập tức bung ra, lăn lông lốc qua từng kẽ nứt nẻ lởm chởm của nền đá bazan xám xịt. Không một ai trong số những người vừa vội vã rẽ cành chạy tới kịp cúi xuống nhặt lấy dẫu chỉ một hạt giống quý giá. Mùi hương ngai ngái, nồng đậm của rễ mùn rừng sâu quyện chặt với vị the buốt đặc trưng toát ra từ những giề phong lan mây bỗng chốc bị xé rách tả tơi bởi một luồng gió đối lưu lạnh ngắt từ vực sâu phụt ngược lên qua các hốc hút gió.
Lam Nhi là người đầu tiên lách qua tấm rèm rễ cây buông rủ dài chấm đất. Lồng ngực cô phập phồng, hơi thở còn vướng lại chút gấp gáp sau chặng đường dài leo dốc từ xưởng bện dây cáp. Theo sát ngay sau cô, Tứ Hải vẫn còn cầm lỏng chỏng trên tay đầu dây lèo bện dở bằng xơ dừa mây, những sợi xơ vàng óng còn bay lơ thơ quanh mu bàn tay nám nắng. Cô Tùng Lâm rảo bước theo sau cùng với vẻ mặt nghiêm nghị hiếm thấy, đôi mắt sau cặp kính trắc đạc quầng thâm vì thiếu ngủ, hai cánh tay gầy gò ôm khư khư chiếc tráp gỗ đựng những hạt chuông gió vừa được các vị bô lão của Vườn Hạt Bay trao tặng cách đây ít phút.
Tại mỏm đá nhô ra cheo leo trước bức phù điêu cổ chạm nổi hình cánh buồm đứng độc lập không thân thuyền – biểu tượng ngàn năm trầm mặc giữa lòng vách đá sa thạch của đảo đá nổi – Bông vẫn đứng trơ trơ.
Toàn thân chú chim cánh mây cứng đờ như một pho tượng tạc vội bằng thạch cao trắng muốt. Bộ lông tơ vốn mềm mại như bông xơ dừa mọc non nay dựng đứng lên từng sợi nhỏ li ti. Đôi chân mảnh khảnh màu san hô bấu chặt vào gờ đá sắc cạnh đến mức các đầu móng vuốt cong vút ngả sang sắc trắng bợt. Và rồi, khi một cơn gió thốc dữ dằn từ khe nứt hẹp rít lên từng hồi rin rít như tiếng còi báo áp thấp, lớp lông tơ mịn màng dày dặn quanh vòm ngực nó rẽ hẳn sang hai bên, để lộ ra khoảng da cổ kín đáo nhất.
Dưới lớp lông trắng nõn thuần khiết ấy, một chiếc vòng bằng đá nhẹ màu tro cổ kính hiện ra rõ mồn một.
Đó không phải là một chuỗi hạt vụn vặt hay thứ trang sức thô thiển của đám buôn chim cảnh nơi các bến tàu phồn tạp. Chiếc vòng khép kín một cách hoàn hảo quanh cuống họng chú chim, khít khao đến từng thớ da mà không hề để lại bất kỳ mối hàn nhiệt, mấu chốt then cài hay dấu vết chắp nối nhân tạo nào của đục đẽo thông thường. Chất đá xốp mịn, màu xám tro nhạt tựa như tro núi lửa nguội ngắt đã ngủ vùi qua ngàn năm dưới lòng biển mây, nhưng lại nhẹ đến mức kỳ lạ; nó dường như không đè nặng lên cơ thể sinh vật dẫu chỉ nửa phân trọng lượng.
Khắc chìm tinh xảo trên bề mặt vòng đá là hoa văn một cánh sóng uốn lượn mềm mại lồng vào ba ngấn sóng dồn dập, sắc sảo như được vạch ra bởi một ngọn dao vi phẫu làm từ kim cương mây. Gặp luồng gió buốt lạnh từ Tầng Mù bất chợt dâng lên từ vực thẳm, những đường khắc chìm phủ đầy bụi thời gian ấy bỗng nhiên rực lên một ánh lam ngọc biếc u tịch, phát ra thứ ánh sáng lân tinh hư ảo soi rọi từng đường vân đá nứt nẻ và làm bừng sáng cả khoảng rêu ẩm dưới chân nó.
Đó chính là ấn ký hộ mệnh cổ xưa của Những Người Canh Neo tại Đảo Neo – dấu ấn thiêng liêng từng được ghi lại trong những trang chép tay mục nát nhất của Thư Viện Phi Diệp, thứ mà người đời ngỡ rằng đã vĩnh viễn tan biến theo những hải trình huyền thoại thời lập quốc.
Người làm vườn già ngã quỵ một bên gối xuống thảm rêu ướt đẫm sương đêm. Hai bàn tay thô ráp, chai sạn vì cả một đời cày xới đất mùn và ươm mầm túi khí run rẩy chắp chặt lại trước ngực. Đôi mắt cụ mờ đục, ngân ngấn nước, viền mắt đỏ hoe hằn sâu những nếp nhăn của năm tháng. Giọng cụ run bần bật, vỡ òa ra giữa thinh không như sắp hụt hơi:
"Là chim Hộ Mạch... chính là loài chim mang Vòng Sóng Xanh của Những Người Canh Neo... Trời đất gió mây ơi, bảy mươi năm ròng rã trôi qua, kể từ ngày ngọn đèn hiệu ở Tháp Canh Cực Bắc tắt ngấm giữa bão mù, ta mới lại được nhìn thấy ấn ký này bằng xương bằng thịt."
Vị trưởng vườn râu tóc bạc phơ cũng vừa chống gậy rẽ rễ cây bước tới. Vừa trông thấy ánh lam ngọc lập lòe tỏa ra từ cổ Bông, bước chân ông già bỗng khựng lại giữa chừng. Chiếc gậy bằng gỗ mun đen bóng trong tay ông khẽ chống mạnh xuống nền đá để giữ cho thân hình không run rẩy vì kinh ngạc. Bằng một cử chỉ trầm tĩnh nhưng dứt khoát, ông phất nhẹ ống tay áo rộng, ra hiệu cho nhóm người làm vườn trẻ tuổi đang tò mò xúm xít phía sau phải lập tức lùi xa ra năm bước chân, giữ khoảng cách tuyệt đối tôn kính đối với sinh linh trước mặt.
"Cụ Thạch, cụ có chắc mình không nhìn lầm chứ?" Tùng Lâm nheo mắt lại, ngón tay đẩy gọng kính trắc đạc bằng đồng thau lên sát sống mũi. Cô bước nhón gót lại gần thêm nửa bước, hơi thở nín bặt, cẩn thận không để vạt áo choàng quét vào rêu làm kinh động chú chim. "Loài chim cánh mây này... tôi từng trực tiếp giải phẫu và đối chiếu mẫu xương ngực hóa thạch của chúng tại Viện Nghiên Cứu Thảo Mộc Trung Tâm. Toàn bộ tài liệu khí tượng và sinh học cổ chỉ ghi nhận chúng là sinh vật chỉ thị áp suất tầng cao thuần túy. Chưa từng có một dòng văn tự hay bản vẽ giải phẫu nào ghi nhận việc loài chim này mang trang sức hoặc vòng đá nhân tạo do con người chế tác."
"Bởi vì các người ở các viện hàn lâm cao ngạo chỉ nhìn chúng như những vật thể bay vô tri, như những cái phong vũ biểu biết cử động bằng xương thịt!" Cụ Thạch ngước khuôn mặt nhăn nheo, sạm màu nắng gió lên, giọng nghẹn ngào pha lẫn nỗi xót xa thăm thẳm từ đáy lòng. "Các người làm sao biết được... vào thời đại rực rỡ của Những Người Canh Neo, khi Điện Điều Hòa còn vận hành thông suốt nhịp thở của mười phương trời và Mạch Neo chưa bị chọc thủng bởi lòng tham không đáy của các phường buôn, loài chim cánh mây mang ấn ký này chính là bạn đồng hành trung thành nhất của những người giữ nhịp trời."
Lam Nhi bước thật chậm. Từng hạt bụi rêu mịn màng vỡ ra dưới đế ủng da mỏng của cô mà không phát ra bất kỳ tiếng lạo xạo nào. Cô từ từ hạ thấp trọng tâm, quỳ một gối xuống ngang tầm mắt với Bông, nhưng vẫn giữ đúng khoảng cách ba bước chân tôn trọng. Trong khoang ngực, cô cảm nhận được từng đợt rung động yếu ớt, đứt quãng đang truyền qua bầu không khí lạnh ngắt bao quanh chú chim nhỏ. Giọng cô cất lên, nhỏ nhẹ và ấm áp như giọt sương sớm:
"Cụ Thạch... xin hãy kể cho chúng cháu nghe. Bông... nó mang chiếc vòng này từ bao giờ? Tại sao suốt ngần ấy năm tháng ở xưởng Lam Bến cùng ông nội cháu, nó chưa từng để lộ ra dẫu chỉ một lần?"
Cụ Thạch run run đưa ngón tay khẳng khiu chỉ về phía bức bích họa khắc cánh buồm không thuyền sừng sững trên vách đá bazan:
"Năm xưa, Những Người Canh Neo không cưỡi chim, cũng chưa bao giờ dùng dây xích hay lồng sắt để giam cầm đôi cánh của chúng. Chiếc vòng đá nhẹ này được đẽo gọt vô cùng kỳ công từ loại đá bọt nổi ở tâm Mạch Neo – thứ đá kỳ diệu có khả năng tự triệt tiêu trọng lực khi đón đúng tầng gió lạnh đối lưu. Họ đeo chiếc vòng này cho những con chim non đầu đàn vừa đủ lông cánh, như một khế ước tâm giao vĩnh cửu giữa người giữ đất và kẻ ngự trời. Loài chim này sở hữu một giác quan huyền diệu mà không một la bàn cơ khí nào sánh nổi: chúng không nhìn thế giới bằng màu sắc thông thường, mà nhìn thấy các 'sợi chỉ áp suất' đan dệt chằng chịt giữa biển mây. Chúng dẫn đường cho các đoàn hoa tiêu cổ qua những eo gió hẹp nhất, tránh các túi chân không chết chóc. Đổi lại, con người bảo vệ các rạn đá tổ của chúng, không bao giờ xâm phạm dẫu chỉ một cọng lông tơ rụng."
Ánh mắt người làm vườn già bỗng chùng xuống, đen thẫm lại như một hốc đá không đáy, chứa đầy những ký ức đen tối của một thời kỳ hỗn loạn:
"Thế nhưng... thời thế đổi thay quá nhanh. Những Người Canh Neo biến mất sau biến cố lớn, Điện Điều Hòa sụp đổ và rơi vào quên lãng. Khi các thuyền buôn vũ trang bắt đầu giăng những cánh buồm bọc thép xé toạc biển mây để khai mở các tuyến vận tải siêu lợi nhuận, người ta phát hiện ra lông ngực của chim cánh mây không bao giờ thấm nước và có khả năng tích tụ hydro sinh học tự nhiên, còn xương cánh của chúng thì dẻo dai hơn bất kỳ loại nan buồm gỗ nào trên đời. Rồi các đội tàu săn bắt mở ra rầm rộ khắp các tầng trời. Các hội buôn... đặc biệt là những phường hoa tiêu trục lợi bất chấp tất cả... họ không cần sự hòa hợp, họ chỉ muốn cướp bóc và độc chiếm. Họ dùng lưới đồng tích điện quét qua các rạn đá san hô mây, bắt sạch chim bố mẹ để lấy lông dệt buồm thượng hạng chịu bão, cướp chim non về giam trong bóng tối, thuần hóa bằng đòn roi và bỏ đói khát để ép chúng phải cất tiếng dò tìm những dòng gió độc quyền cho riêng họ."
Tứ Hải đứng sững bên cạnh, bàn tay đang cầm cuộn dây lèo siết chặt lại đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, gân xanh nổi cộm trên mu bàn tay. Cậu nhớ lại những năm tháng lang bạt khắp các bến tàu phế liệu ở ngoại vi Vân Quốc. Cậu nhớ đến những kiện hàng bọc chì kín mít mà các thương đội lớn thường lén lút thuê đám phu bến như cậu bốc vác qua các cảng ngầm trong đêm mù – những chiếc lồng sắt phủ nhiều lớp vải đen dày cộm luôn phát ra tiếng đập cánh run rẩy, tuyệt vọng cùng những tiếng rên rỉ yếu ớt xé lòng. Cậu nuốt khan một ngụm nước bọt đắng ngắt nơi cuống họng.
"Kể từ mùa Gió Ngủ của bốn mươi năm về trước," cụ Thạch tiếp tục, giọng trầm đục và nhừa nhựa như tiếng đá mài vào kim loại gỉ, "đàn chim cánh mây mang vòng sóng đã hoàn toàn tuyệt tích khỏi các hải trình thông thương của Vân Quốc. Chúng học được cách lẩn tránh con người như lẩn tránh dịch bệnh. Chúng đem theo những con non còn sót lại bay sâu vào những rạn mây chết nơi rìa Tầng Mù, làm tổ trên những vách đá chênh vênh nơi gió cắt tầng cao có thể nghiền nát bất kỳ cánh buồm nào dám bén mảng tới gần. Chúng giấu kín tiếng hót giòn giã thuở xưa, chỉ bay lẻ loi trong bóng đêm dày đặc. Con chim nhỏ này... nó vẫn mang trên mình chiếc vòng của thế hệ cuối cùng được Những Người Canh Neo ban tặng. Làm sao một sinh linh bé bỏng như thế có thể sống sót, vượt qua hàng vạn bẫy lưới đồng mà giữ được chiếc vòng nguyên vẹn đến tận ngày hôm nay?"
Lời trần tình của cụ Thạch vừa dứt, một tiếng rít sắc lạnh, xé gió đột ngột rạch ngang bầu không khí đặc quánh.
Bông như bừng tỉnh khỏi cơn mê man hoài niệm trước vách đá cổ. Đôi mắt đen láy vốn tròn xoe của nó co rút lại thành hai chấm tròn nhỏ xíu, sắc lẹm và ngập tràn vẻ hoảng loạn tột cùng. Nó nhìn trừng trừng vào cụ Thạch, nhìn sang Tùng Lâm, quét qua Tứ Hải, và cuối cùng dừng lại trân trối trên gương mặt Lam Nhi.
Ánh mắt ấy không còn là sự tinh nghịch, tò mò hay cái cọ đầu nũng nịu đòi quả sấy ngọt ngào nơi góc xưởng ngày nào. Đó là ánh mắt của một sinh linh hoang dã vừa bị lột trần bí mật sống còn cay đắng nhất, thấy mình bỗng chốc rơi vào vòng vây của một bầy thú săn mồi mang hình dáng con người.
"Bông... bình tĩnh nào, Bông ơi, không sao đâu..." Lam Nhi khẽ đưa bàn tay trần lên, cử chỉ chậm rãi, dè dặt từng phân một như cái ngày đầu tiên cô làm quen với nó khi nó còn là một chú chim non bị thương nép dưới gầm bàn vẽ của ông nội.
Nhưng Bông không đợi bàn tay cô chạm tới khoảng không gian an toàn của nó. Chú chim phát ra một tiếng *quác* chói tai, khàn đặc và gắt gỏng chưa từng thấy trong suốt những tháng ngày đồng hành. Đôi cánh màu bạc vỗ mạnh một nhịp kinh hoàng, tạo ra một luồng gió quất thẳng vào mặt Lam Nhi khiến lọn tóc mai của cô bay ngược về phía sau. Thân hình nhỏ bé trắng muốt vút thẳng lên không trung như một mũi tên xé toạc màn sương lan mỏng manh, lượn một vòng gấp khúc đầy cảnh giác trên đỉnh đầu mọi người rồi lao vun vút về phía cầu cảng đá.
"Bông! Đứng lại!" Tứ Hải hốt hoảng hét lớn, buông rơi cuộn dây lèo xuống đất, toan cất bước lao thục mạng đuổi theo.
"Đứng yên đó! Tuyệt đối không được đuổi!" Lam Nhi quát khẽ, giọng dứt khoát nhưng run rẩy vì xúc động. Cô đứng bật dậy, tim đập thình thịch từng hồi đau nhói nơi lồng ngực. "Càng đuổi theo, nó sẽ càng nghĩ chúng ta muốn tóm lấy nó bằng dây thừng và lồng sắt!"
Cả nhóm vội vã rảo bước chạy ngược ra mép bến đá ngoại vi, nơi con thuyền Mầm Gió đang dập dềnh neo đậu.
Tại bến đỗ, tình hình tồi tệ hơn rất nhiều so với những gì họ tưởng tượng. Bông không hề bay đi xa khỏi hòn đảo – biển mây mù mịt ngoài kia dường như cũng chẳng còn chốn an toàn tuyệt đối – nhưng nó kiên quyết không chịu sà xuống. Chú chim đậu tót lên điểm cao nhất, hiểm trở nhất của con thuyền: đỉnh cột buồm chính, ngay trên thanh xà ngang đỡ cánh buồm đỉnh hình tam giác bằng vải bạt nhẹ.
Gió từ hẻm núi Vườn Hạt Bay thổi qua khiến các sợi dây cáp thép và dây lèo bện xơ dừa rung lên bần bật, phát ra những âm thanh u u trầm đục. Ở độ cao gần bốn trượng so với mặt sàn boong gỗ, Bông xù toàn bộ lớp lông tơ lên, biến mình thành một cục bông tròn xoe nhưng tua tủa những ngọn gai phòng thủ nhọn hoắt. Đôi mắt đen thẫm nhìn chằm chằm xuống boong tàu, mỏ ngậm chặt, hoàn toàn câm bặt.
Thông thường, mỗi khi con thuyền chuẩn bị rời bến nhổ neo, Bông luôn là hoa tiêu mẫn cán và sôi nổi nhất: nó sẽ đứng ở đầu mũi cọc tiêu, nghiêng đầu đón gió, dùng đuôi lái và nhịp gõ mỏ phát ra các tín hiệu lách cách đều đặn để Tứ Hải biết hướng gió tầng trung đang lệch bao nhiêu độ, túi khí nâng cần xả bớt hay nạp thêm khí ấm sinh học. Nhưng lúc này, nó hoàn toàn bất động như một khối đá tảng vô tri. Nó từ chối phát tín hiệu dẫn đường. Nó đã tự đóng chặt cánh cửa giao tiếp với con người.
Tùng Lâm đứng tựa vào cột mốc đá trên cầu tàu, ngước nhìn lên cột buồm cao vút, thở dài thườn thượt:
"Nó sợ hãi thực sự rồi. Giống chim này sở hữu trí thông minh vượt bậc mà giới nghiên cứu chưa từng đo lường hết. Lời trần tình của cụ Thạch ban nãy... nó hiểu không sót một lời. Nó biết chúng ta đang cầm trên tay tấm Bản Đồ Mây dệt bằng da rễ Neo, biết chúng ta chuẩn bị vượt qua Cửa Gió Ngủ để đi tới Đảo Neo tìm kiếm tung tích của ông Vân Kính. Nhưng trên hải trình hiểm trở đó... chắc chắn có rạn đá nơi đồng loại của nó, nơi những con chim non thế hệ mới đang trốn tránh sự săn lùng tàn bạo. Nó sợ những nét vẽ hoa tiêu của Lam Nhi sẽ vô tình vạch trần tọa độ thiêng liêng ấy lên giấy trắng mực đen, rước những kẻ săn bắt tàn độc tới tận tổ ấm của giống nòi nó."
"Khỉ thật chứ!" Tứ Hải vò đầu bứt tai, đôi chân bồn chồn đi đi lại lại trên mép ván boong tàu kêu cọt kẹt. "Không có Bông đọc luồng gió trượt và các mắt gió xoáy, làm sao chiếc thuyền này vượt qua nổi các túi chân không chết người ở Cửa Gió Ngủ? Huống chi Mầm Gió vừa mới được gia cố vây lái sau cú va đập ở Tháp Lịch Phong, chưa từng chạy thử nhịp gió lớn bao giờ. Cứ thế này thì mắc kẹt ở đây cả lũ mất! Để tớ trèo lên cột buồm tóm gọn nó xuống!"
Nói rồi, Tứ Hải nhanh tay thò vào túi dết bên hông, lôi ra một nắm quả sấy ngào mật thơm lừng, đồng thời rút thêm một sợi dây da mềm chuyên dùng để buộc chân chim cứu hộ, toan bám vào thang dây bước thoăn thoắt lên.
"Dừng lại ngay, Tứ Hải!" Lam Nhi bước nhanh tới, bàn tay thanh mảnh nhưng cứng cỏi nắm chặt lấy cổ tay áo của cậu bạn.
Ánh mắt Lam Nhi nhìn thẳng vào Tứ Hải, kiên định, quắc thước, nhưng sâu thẳm nơi đáy mắt lại ánh lên một sự thấu hiểu sâu sắc đến nao lòng. Cô nhìn nắm quả ngọt ngào trên tay cậu, rồi nhìn sợi dây da buộc gút lủng lẳng.
"Cậu dùng thức ăn ngọt để dụ dỗ nó, dùng dây thừng để trói buộc nó, thì chúng ta có khác gì phường hoa tiêu săn bắt mà cụ Thạch vừa kể lại?" Lam Nhi lắc đầu, giọng trầm lắng và rành rọt từng tiếng. "Bông đã ở bên cạnh ông nội tớ, ở bên cạnh tớ suốt bao nhiêu năm tháng bão giông nơi Lam Bến. Nó chia sẻ từng mẩu bánh khô, từng ngụm nước ngọt với tớ. Nó không phải là một công cụ dẫn đường vô tri, càng không phải là một con vật nuôi thuần hóa để phục vụ cho tham vọng hay sự sống còn của riêng chúng ta. Nếu hành trình này không bắt đầu bằng lòng tin bình đẳng và sự tôn trọng tuyệt đối, thì tấm Bản Đồ Mây kia dẫu có vẽ trọn vẹn đến Đảo Neo cũng chỉ là một thứ vũ khí cướp đoạt không hơn không kém."
Tứ Hải sững sờ. Đôi mắt cậu chớp chớp, bàn tay đang cầm sợi dây da chầm chậm hạ xuống. Cậu ngước nhìn lên đỉnh cột buồm cao ngút ngàn giữa vòm trời lộng gió, nơi sinh linh nhỏ bé màu trắng bạc đang cô độc thu mình trước cái lạnh và nỗi sợ hãi tột cùng, rồi lại nhìn bàn tay thô kệch của chính mình. Sự nóng nảy thường ngày của một kẻ lớn lên nơi chợ búa đầu sóng ngọn gió bỗng chốc tan biến. Cậu lẳng lặng cất nắm quả khô trở lại túi dết, giấu sợi dây da ra phía sau lưng.
"Vậy... cậu định làm thế nào?" Tứ Hải hỏi khẽ, giọng chùng xuống đầy ân hận. "Nó đang dựng lông đề phòng tất cả chúng ta. Chỉ cần bước hụt một nhịp, nó sẽ tung cánh bay vào Tầng Mù, và chúng ta sẽ vĩnh viễn mất nó."
Lam Nhi không trả lời ngay. Cô quay người sang mạn thuyền, từ tốn tháo bỏ chiếc túi đồ nghề hoa tiêu nặng trĩu đang đeo chéo bên hông – chiếc túi da chứa chiếc compa lăng kính bằng đồng thau nặng trịch, thước đo góc chia độ sắc cạnh và những ống đo thủy tinh đựng chất lỏng nhạy áp suất rất dễ vỡ. Cô tháo cả đôi găng tay da thuộc dày cộp thường dùng để kéo dây buồm, chỉ giữ lại trên mình bộ quần áo vải thô bạc màu mộc mạc và thỏi mực mộc lan khô cất kỹ nơi túi áo ngực sát bờ tim.
Cô đứng thẳng người, nhắm mắt lại và hít một hơi thật sâu. Kỹ thuật thở ba nhịp mà Đội trưởng Hạ Vũ từng dạy cô trong những ngày huấn luyện khắc nghiệt tại Trạm Khảo Sát – *hít sâu ba nhịp, giữ yên lồng ngực ba nhịp, thở ra nhẹ nhàng ba nhịp* – lập tức phát huy tác dụng. Luồng dưỡng khí mát lành tràn vào phổi, làm dịu đi cảm giác chao đảo, chênh vênh đang nhen nhóm nơi đáy mắt. Lam Nhi mở mắt, ngước nhìn lên thân cột buồm gỗ thông đứng sừng sững giữa trời. Nỗi sợ độ cao cố hữu – vết sẹo vô hình trong tâm trí từ ngày chiếc thuyền của gia đình cô trượt khỏi dòng nâng – vẫn như một bóng ma lẩn khuất dưới lòng bàn chân. Nhưng lúc này đây, một cảm xúc khác mạnh mẽ hơn, thiêng liêng hơn đã hoàn toàn đè bẹp nó: nỗi đau đớn tột cùng khi thấy lòng tin của một người bạn tri kỷ bị tổn thương.
Cô vươn hai bàn tay trần, nắm chặt lấy nấc thang dây đầu tiên bện bằng xơ dừa mây thô ráp.
"Lam Nhi, cẩn thận đấy con!" Cô Tùng Lâm khẽ nhắc nhở từ dưới bến đá, giọng không giấu nổi vẻ lo âu. "Gió tầng trên xà buồm đang giật cấp bốn, đối lưu không đều đâu."
Lam Nhi không nhìn xuống dưới. Cô gạt bỏ mọi sự xao nhãng xung quanh. Từng bước, từng bước một, những ngón chân cô bấm chặt vào từng nấc thang dây đu đưa. Gió bắt đầu rít mạnh hơn, gầm gào dữ dội hơn khi cô vượt qua khỏi tầm che chắn của mui thuyền. Gió thốc tung mái tóc buộc gọn của Lam Nhi, phả hơi lạnh buốt giá vào hai gò má, luồn qua lớp áo thô mỏng manh làm da thịt cô nổi gai ốc. Nhưng ánh mắt cô vẫn không hề rời khỏi bóng dáng nhỏ bé màu trắng bạc đang cô độc trên xà buồm.
Thấy Lam Nhi trèo lên mỗi lúc một gần, Bông lập tức phát ra những tiếng lách cách đe dọa dồn dập từ sâu trong cuống họng. Đôi cánh màu bạc hơi xòe rộng, để lộ ra những chiếc lông vũ dài cứng cáp ở mép ngoài. Móng vuốt sắc nhọn của nó bấu sâu vào thớ gỗ xà ngang, thân hình hơi chúi về phía trước, sẵn sàng đạp vào không khí để tung mình vào khoảng không vô tận của biển mây nếu cô có bất kỳ cử chỉ vồ bắt nào.
Lam Nhi dừng lại ở sàn thao tác nhỏ ngay dưới xà buồm chính – một gờ gỗ hình bán nguyệt chỉ rộng chừng hai gang tay, nơi người hoa tiêu chỉ đứng khi buộc phải sửa cánh buồm đỉnh trong giông bão. Độ cao lúc này cách mặt biển mây cuồn cuộn phía dưới hơn ba mươi trượng. Khoảng không trống hoác, thăm thẳm và hun hút gió dưới chân khiến các khớp đầu gối cô khẽ run rẩy. Nhưng Lam Nhi không để bản thân chao đảo dẫu chỉ một giây.
Cô từ từ ngồi xếp bằng xuống mặt sàn gỗ hẹp.
Không có thức ăn ngọt ngào làm mồi nhử. Không có dây thừng trói buộc. Không có bất kỳ cử chỉ vội vã, hấp tấp nào. Hai bàn tay trần của cô đặt ngửa một cách thanh thản trên hai đầu gối, hoàn toàn trống không và để mở dưới ánh sáng ban ngày.
Bông nhìn chằm chằm vào cô. Đầu nó nghiêng sang một bên, đôi mắt đen láy mở to, vẫn tràn ngập sự cảnh giác và ngờ vực sâu sắc.
"Bông này," Lam Nhi cất tiếng. Giọng nói của cô hòa quyện vào tiếng gió lộng thổi qua dây lèo, êm ả, dịu dàng và quen thuộc như tiếng thì thầm bên bếp lửa trong góc xưởng Lam Bến vào những đêm mưa mây rả rích. "Mày sợ chúng tao sẽ vẽ đường cho người ta tới rạn đá của đàn chim non, đúng không?"
Chú chim không hề nhúc nhích, nhưng tiếng lách cách đe dọa trong cổ họng nó khẽ ngưng bặt lại. Chiếc mỏ nhọn hơi khép lại.
"Tao hiểu mà," Lam Nhi cúi đầu, nhìn xuống những thớ gỗ sàn boong đã mòn vẹt vì mưa nắng và sương muối. "Mẹ tao từng dạy tao rằng, người ta chỉ giấu đi những gì họ yêu quý và trân trọng nhất trên đời khi họ cảm thấy chung quanh mình toàn là hiểm nguy và sự phản trắc. Mày giấu rạn đá ấy suốt bao năm qua, giấu kín cả chiếc vòng thiêng liêng này, cũng giống như cách ông nội tao phải chấp nhận mang tiếng gàn dở, giấu tấm Bản Đồ Mây khỏi tay đám người của Hội Kim Phong. Bởi vì một khi những kẻ chỉ biết đong đếm vạn vật bằng vàng bạc chạm tay được vào tọa độ ấy, sự sống của muôn loài sẽ lập tức biến thành món hàng hóa để mua bán và đổi chác."
Lam Nhi từ từ đưa một ngón tay trỏ ra. Cô không vươn tay về phía Bông để tìm kiếm sự ve vuốt. Cô cúi xuống, chấm nhẹ đầu ngón tay vào vũng nước sương đọng lại trong một hốc gỗ trên mặt sàn, rồi bắt đầu vẽ.
Đó không phải là những con chữ hoa mỹ của con người. Càng không phải là các con số trắc đạc khô khan của các viện hàn lâm. Đó là hệ ký hiệu khí tượng cổ mà ông nội Vân Kính từng kiên trì mày mò ghi chép lại suốt hàng chục năm trời từ những lần lặng lẽ quan sát loài chim cánh mây đón gió – một hệ thống ký hiệu hình học thuần khiết biểu đạt nhịp thở và tâm hồn của tự nhiên.
Lam Nhi vẽ một đường lượn sóng dài mềm mại: *đây là dòng gió tự do*. Cô vẽ một vòng tròn hở có mũi tên xoắn ngược ở đuôi: *đây là vùng xoáy áp thấp nguy hiểm*. Và rồi, cô vẽ một hình tam giác cân lồng gọn gàng bên trong một cánh buồm no gió: *đây là nơi nương náu bình yên*.
Bông khẽ giật giật đầu. Ánh mắt đen láy của nó dán chặt vào vệt nước sương đang từ từ loang ra trên mặt gỗ sẫm màu. Là loài sinh vật sống trọn vẹn bằng ngôn ngữ của bầu trời và khí áp, nó nhận ra những hình vẽ mộc mạc ấy ngay tức khắc. Đó chính là những ký hiệu mà ông lão tóc bạc năm xưa – người từng thức trắng nhiều đêm bôi thuốc mỡ thảo mộc và nẹp lại chiếc xương cánh gãy nát cho nó – thường cặm cụi vạch ra trên mặt bàn gỗ mỗi khi chỉ cho nó hướng bay an toàn qua các cơn bão.
Lam Nhi ngước nhìn Bông, ánh mắt trong veo, thẳng thắn và không một gợn toan tính:
"Tao không bao giờ ép mày phải lựa chọn giữa việc giúp chúng tao tìm lại ông nội và việc bảo vệ sự an toàn cho đồng loại của mày. Tấm bản đồ của tao được tạo ra để cứu người, để kết nối các hòn đảo cô độc, để giữ cho thế giới này không trượt ngã xuống đáy vực sâu thẳm, chứ không phải để biến nơi chôn rau cắt rốn của bạn bè mình thành bãi săn bắn đẫm máu cho bất kỳ ai."
Lam Nhi thò tay vào túi áo ngực, cẩn thận rút thỏi mực mộc lan khô và mở tấm Bản Đồ Mây dệt bằng da rễ Neo đang được gấp nếp phẳng phiu ra. Cô trải rộng tấm bản đồ lên đùi mình, hai bàn tay giữ chặt lấy mép da để gió không thổi lật. Trên mặt giấy da màu ngà ấm áp, những đường nét thể hiện hải trình từ Đảo Tiêu Sa, Tháp Lịch Phong cho tới Rừng Sương Quang đang ánh lên một màu xanh lam phỉ thúy huyền diệu. Nhưng ở khoảng không gian rộng lớn phía trước – nơi dẫn tới Cửa Gió Ngủ và Chợ Gió Bốn Phương – vẫn còn là những khoảng trống trắng tinh, mịt mùng mây phủ.
Lam Nhi rút chiếc bút trắc đạc đầu kim loại nhỏ xíu cài trên nẹp áo, hít một hơi thật sâu rồi nhìn thẳng vào mắt Bông:
"Tao lập một giao ước danh dự với mày, Bông à. Ngay tại đây, trên đỉnh cột buồm này, trước biển trời lồng lộng của Vân Quốc."
Cô đặt đầu ngòi bút sắc mảnh lên mặt bản đồ da rễ Neo, giọng nói cất lên dõng dạc, trang nghiêm và rành rọt từng lời:
"Tao vừa học được phương pháp mã hóa hai lớp từ những người làm vườn thông thái ở thung lũng bên dưới. Tao sẽ dùng chính phương pháp bảo tồn ấy để bảo vệ đàn chim của mày cho đến hơi thở cuối cùng. Lớp bản đồ công khai mà tao chia sẻ cho các hoa tiêu tự do sẽ chỉ ghi nhận những luồng gió cứu nạn, các trạm hải đăng tiêu chuẩn bắt buộc theo luật cổ của Đội Chuông Bão để tàu bè tránh nạn. Còn tọa độ thực sự của các rạn đá tổ nơi chim cánh mây đang ẩn náu... tao sẽ mã hóa hoàn toàn bằng dịch rễ ngân sương và hệ ký hiệu cổ của Những Người Canh Neo."
Cô bắt đầu dùng đầu ngón tay không dính mực vạch một đường nét vô hình uốn lượn lên khoảng trống mênh mông của tấm bản đồ:
"Lớp mực ẩn thiêng liêng đó sẽ chỉ hiện hình khi hội tụ đủ đúng ba điều kiện bất di bất dịch: tần số rung tự nhiên của mẫu rễ Neo cổ mà tao đang mang theo, hơi khói ấm của tinh dầu bách mù đốt trên đĩa đồng, và bóng râm quang học đổ xuống từ chính đôi cánh tự do của mày. Bất kỳ ai khác mở tấm bản đồ này ra – dù là Kim Thịnh mưu mô, các thương đoàn vũ trang ngạo mạn, hay thậm chí là Phường Giữ Bản Đồ đầy quyền uy – nơi làm tổ của đồng loại mày sẽ chỉ hiện lên như một khoảng mây mù hoang phế, một vùng đá ngầm chết chóc chứa đầy bẫy gió không thể nào tiếp cận. Tao xin thề sẽ biến nó thành vùng đất bất khả xâm phạm vĩnh viễn trên hải đồ."
Lam Nhi dừng tay lại. Cô ngước nhìn chú chim nhỏ, hai bàn tay mở rộng hoàn toàn, để trần trước gió lạnh:
"Tao không cần mày làm một kẻ dẫn đường mù quáng cam chịu số phận. Tao cần một người đồng hành thực sự có tiếng nói bình đẳng. Nếu mày cảm thấy việc tiếp tục hải trình này đe dọa đến sự an nguy của đàn con non nơi rạn đá, mày có thể tung cánh bay đi bất cứ lúc nào mày muốn. Tao sẽ không oán trách, không đuổi theo, và tao sẽ tự tìm đường đến Đảo Neo bằng những phép đo vụng về của riêng mình. Tao hứa bằng danh dự của một người vẽ bản đồ."
Sự im lặng tuyệt đối bao trùm lấy không gian trên đỉnh cột buồm. Chỉ còn lại tiếng gió rít qua những sợi dây cáp thép căng tròn và tiếng xào xạc xa xăm của rừng lá túi khí vọng lại từ đáy thung lũng.
Dưới boong tàu, Tứ Hải và Tùng Lâm nín thở ngước nhìn lên. Cả hai người đều đứng chôn chân tại chỗ, không dám phát ra một tiếng động nhỏ hay dịch chuyển nửa bước chân, như sợ rằng một làn gió thoảng vô tình cũng có thể thổi bay khoảnh khắc mong manh kỳ diệu này.
Bông đứng yên như một bức tượng thạch anh trên thanh xà ngang buồm chính. Chiếc vòng đá nhẹ xám tro trên cổ nó vẫn tỏa ra ánh lam ngọc u tịch, nhấp nháy theo từng nhịp đập nơi cuống họng. Đôi mắt đen láy sâu thẳm của chú chim nhìn xoáy thẳng vào đôi mắt của Lam Nhi – nơi chỉ có sự chân thành mộc mạc, sự tôn trọng thiêng liêng dành cho một sinh mệnh tự do của bầu trời, tuyệt nhiên không có lấy một tia toan tính, vụ lợi hay bóng dáng của sự chiếm đoạt.
Chầm chậm, từng lớp lông tơ đang dựng đứng tua tủa như gai nhọn của Bông khẽ xẹp dần xuống, áp sát vào thân mình mượt mà.
Cái cổ nhỏ nhắn của nó khẽ vươn dài ra phía trước, đầu hơi nghiêng nghiêng sang một bên.
Nó phát ra một tiếng *gù... gù...* trầm ấm, êm ả lạ thường – âm thanh dịu ngọt thân thương mà Lam Nhi vẫn thường nghe thấy mỗi buổi sớm mai khi sương mây vừa tan bên bậu cửa sổ gỗ của xưởng vẽ Lam Bến.
Rồi, bằng một động tác nhẹ nhàng thanh thoát như một chiếc lá mây rơi giữa chiều lặng gió, Bông khẽ vỗ cánh, sà xuống.
Nó không đậu lên bờ vai hay nép vào lòng bàn tay Lam Nhi như mọi khi. Chú chim cánh mây đáp thẳng xuống khoảng trống mênh mông trên tấm Bản Đồ Mây dệt bằng da rễ Neo đang trải rộng trên đùi cô.
Bông cúi đầu, dùng chiếc mỏ nhỏ nhắn gõ nhẹ ba nhịp dứt khoát *cốc, cốc, cốc* lên mặt giấy da rễ Neo thô mịn. Sau đó, trước ánh mắt kinh ngạc tột độ của Lam Nhi, chú chim giương một bên móng vuốt sắc nhọn lên. Nó cẩn trọng thu đầu vuốt nhọn hoắt vào trong, chỉ dùng cạnh bên phẳng lì của móng cào nhẹ một đường dứt khoát lên bề mặt da mây.
Nó không hề cào loạn xạ theo bản năng. Vệt móng của nó lướt đi vô cùng mềm mại, uyển chuyển, vẽ nên một đường cong uốn lượn tuyệt mỹ tạo thành hình một vòng xoắn số 8 hoàn hảo không một tì vết.
Vòng xoắn số 8 kỳ diệu ấy nằm vắt ngang qua khoảng không gian trống rỗng nối giữa rìa ngoài Vườn Hạt Bay và chân trời mịt mùng phía trước. Ngay khi đường cào vừa khép kín vòng tròn, vệt mực phong vũ xanh biếc từ các tuyến đường cũ trên bản đồ bỗng như tìm được mạch dẫn ngầm, lập tức rỉ ra từ các thớ da rễ cây, men theo rãnh móng vuốt của Bông mà bừng sáng lên lấp lánh như một chuỗi ngọc lam ngọc dưới ánh mặt trời.
Đó chính là biểu tượng cổ xưa của một dòng gió xoáy trượt an toàn – luồng gió đối lưu hai chiều cực kỳ hiếm hoi có khả năng đưa một con thuyền buồm xuyên qua tầng mây nhiễu loạn mà không bao giờ bị lực hút của vực sâu kéo tụt xuống. Đường gió ấy uốn lượn khéo léo qua một khoảng trời rực rỡ, lách qua các bẫy chân không nguy hiểm nhất của Tầng Mù, và điểm giao nhau then chốt ở chính tâm số 8 chỉ thẳng về một tọa độ rực sáng: Chợ Gió Bốn Phương.
Lam Nhi sững sờ nhìn vòng xoắn số 8 đang phát sáng rực rỡ trên đùi mình, rồi ngước nhìn Bông. Chú chim cánh mây khẽ ngẩng đầu lên, dụi nhẹ đỉnh đầu phủ đầy lông tơ mềm mại vào mu bàn tay đang run run của cô.
Giao ước đã được xác lập trọn vẹn. Không cần đến giấy trắng mực đen của các phường hội quyền lực, không cần đến những con dấu niêm phong bằng sáp đỏ, mà bằng chính sự thấu hiểu sâu xa giữa hai tâm hồn cùng biết yêu quý và trân trọng bầu trời tự do.
"Cảm ơn mày, Bông..." Lam Nhi thì thầm, một giọt nước mắt xúc động khẽ lăn dài trên má cô, rơi xuống mặt gỗ sàn thao tác, tan biến vào làn sương mây lãng đãng.
Dưới boong tàu, Tứ Hải thở phào một hơi dài đến mức hai bờ vai cậu sụp hẳn xuống, rồi cậu nhảy cẫng lên khỏi mặt sàn gỗ, vung mạnh nắm đấm vào không trung hét lớn:
"Tuyệt vời! Tuyệt vời quá Lam Nhi ơi! Mau xuống thôi, gió nâng ấm từ thung lũng đang bắt đầu tràn ra bến rồi!"
Cô Tùng Lâm cũng mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi nở trên khuôn mặt vốn luôn khắc khổ, cau có của nhà thực vật học lập dị. Bà khẽ gật đầu, đưa tay vuốt nhẹ nắp chiếc tráp gỗ đựng những chùm hạt chuông gió quý báu, ánh mắt tràn đầy sự khâm phục và tin tưởng dành cho cô học việc nhỏ tuổi.
Lam Nhi cẩn thận ôm Bông vào lòng. Chú chim ngoan ngoãn rúc sâu đầu vào hõm cổ cô, lớp lông tơ dày ấm áp che phủ lại chiếc vòng đá nhẹ Canh Neo như muốn giấu kín nó một lần nữa trước ánh nhìn của thế gian đầy cạm bẫy. Bám chắc hai tay vào từng nấc thang dây bện xơ dừa mây, Lam Nhi cẩn trọng tụt dần từng bước xuống boong tàu.
Khi đôi ủng da mỏng của cô vừa chạm vào mặt sàn gỗ thông của Mầm Gió, những người làm vườn đang đứng nghiêm trang dọc theo mép cầu cảng đá đồng loạt cúi gập người chào theo nghi thức cổ xưa nhất của những người gieo mầm sự sống. Vị trưởng vườn bước tới sát mép đá sa thạch, giơ cao chiếc gậy gỗ mun lên nền trời xanh thẳm:
"Hải trình bình an, hỡi những Người Giữ Bản Đồ Mây! Hạt giống của sự sống và niềm tin bất diệt đã nằm trọn trong tay các bạn. Cầu cho Mạch Neo ngàn năm dẫn lối cho cánh buồm của các bạn vượt qua muôn trùng sóng gió để đi tới đích cuối cùng!"
"Nhổ neo! Toàn bộ cánh buồm chuẩn bị đón gió!" Tứ Hải gầm lên một tiếng đầy kiêu hãnh, giọng nói đanh thép, hào sảng mang trọn phong thái của một thuyền trưởng trẻ tuổi thực thụ.
Cậu thoăn thoắt lao tới bệ tời neo nơi mũi tàu, đôi bàn tay gân guốc thoăn thoắt quay đều trục cáp thép bện. Chiếc mỏ neo ba ngạnh bằng gang đúc nặng trịch từ từ rời khỏi gờ đá vôi Vườn Hạt Bay, kéo theo những chùm rêu xanh mướt rơi rụng lả tả xuống biển mây cuồn cuộn bên dưới. Cô Tùng Lâm nhanh nhẹn phụ trách hệ thống dây lèo của buồm mũi, kéo căng góc đón gió với độ chuẩn xác tuyệt đối theo từng chỉ dẫn bằng ánh mắt sắc bén của Lam Nhi.
Lam Nhi bước nhanh tới đứng ngay sau bệ lái trung tâm, cẩn thận đặt tấm Bản Đồ Mây đã được cập nhật đường xoắn số 8 vào rãnh giữ bằng đồng có kính chắn gió bảo vệ. Ống đo áp suất chân không gia truyền của ông nội Vân Kính được cô treo lủng lẳng ngay trước tầm mắt; mực chất lỏng màu hổ phách bên trong ống thủy tinh bắt đầu dâng lên và dao động nhịp nhàng theo những nhịp thở đều đặn, khỏe khoắn của dòng khí nâng đang tràn tới.
Bông đã vỗ cánh bay vụt xuống, kiêu hãnh đậu vững chãi trên đầu mũi cọc tiêu bằng gỗ nhô ra phía trước mũi thuyền. Chú chim nghiêng đầu sang mạn trái ba mươi độ, xòe rộng cánh phải ra để chắn một luồng gió tạt ngang bất thường, cuống họng liên tục phát ra những tiếng *lách cách, lách cách* đanh gọn và giòn giã như tiếng gõ mõ báo hiệu luồng luân lưu thông suốt.
"Bẻ lái mạn hữu mười độ! Đón trọn dòng xoắn số 8!" Lam Nhi hô lớn, giọng đĩnh đạc vang rền trên mặt boong.
"Rõ! Mạn hữu mười độ, giữ chặt góc đón gió!" Tứ Hải ghì chặt bánh lái gỗ thông dày dặn, cả thân hình cậu dồn trọn trọng lực theo vòng xoay của các nan hoa gỗ.
Con thuyền Mầm Gió khẽ rùng mình một cái, tựa như một con kình ngư thức giấc sau giấc ngủ dài. Ba lớp túi nâng làm bằng vải tơ mây dệt dày căng phồng lên hết cỡ khi luồng khí hydro sinh học ấm áp từ thung lũng ươm mầm bơm căng các khoang gân chịu tải. Toàn bộ thân thuyền nhẹ bẫng đi trong tích tắc. Mầm Gió lướt êm ru ra khỏi vụng đá kín gió, rẽ đôi màn sương trắng xóa đặc quánh bao quanh Vườn Hạt Bay để lao vút ra khoảng không gian bao la, khoáng đạt của Biển Mây.
Cảm giác hẫng hụt quen thuộc khi lườn tàu rời khỏi lực nâng địa từ của hòn đảo đá nổi chỉ thoáng qua trong tích tắc ngắn ngủi. Lần này, nhờ vào vòng xoắn số 8 kỳ diệu mà Bông đã vạch ra bằng móng vuốt, con thuyền trượt thẳng một cách mượt mà vào một ống gió trượt êm ái đến kỳ lạ. Gió nồm cao từ phương nam thổi tới lồng lộng sau lưng, đẩy căng cánh buồm chính no tròn, đưa Mầm Gió lao đi vun vút với một vận tốc xé gió mà Tứ Hải chưa từng dám mạo hiểm thử nghiệm trong các chuyến hải trình trước đây.
Bọt mây trắng xóa cuộn trào dữ dội dưới lườn tàu tựa như những đợt sóng gầm gào của một đại dương vô tận, bắn tung tóe lên không trung hàng triệu hạt bụi nước li ti lấp lánh như kim cương dưới ánh mặt trời rực rỡ của Tầng Hành Trình.
Tứ Hải một tay giữ chặt nan bánh lái, một tay vươn lên kéo căng dây lèo buồm đỉnh để đón thêm lực đẩy của tầng khí quyển trung gian. Cậu đang hít một hơi dài, định cất tiếng hát một câu hò biển mây quen thuộc của dân hoa tiêu tự do vùng ngoại vi để ăn mừng cú xuất bến ngoạn mục chưa từng có, thì khóe mắt cậu bỗng giật nảy một cái dữ dội.
Một cảm giác bất an lạnh toát quen thuộc – bản năng sinh tồn nhạy bén của một đứa trẻ mồ côi lớn lên từ những góc chợ tối tăm đầu sóng ngọn gió – lập tức trỗi dậy cồn cào trong lồng ngực Tứ Hải.
Cậu nheo mắt lại, khẽ nghiêng đầu ra ngoài mạn thuyền, đưa tầm mắt sắc lạnh quét qua mạn tả phía sau đuôi tàu.
Ở khoảng cách chừng ba hải lý, ngay phía sau dải mây đuôi mắt hình lưỡi liềm xám xịt đang trôi bồng bềnh ở rìa ranh giới Tầng Mù, có một chuyển động vô cùng bất thường.
Đó hoàn toàn không phải là sự cuộn trào tự nhiên của một khối mây tích đang nở rộng. Càng không phải là bóng dáng uể oải của những đàn cá mây khổng lồ bơi lạc tầng nước lạnh.
Ẩn hiện mờ ảo sau làn hơi sương muối xám ngắt là một mũi tàu nhọn hoắt, đen sì và sắc lạnh như một lưỡi dao găm rèn bằng sắt nguội. Và ngay phía trên mũi tàu hẹp ấy, một cánh buồm xám đen mang hình dáng cánh dơi đang lướt đi âm thầm, lạnh lẽo và ma quái giữa tầng sương. Con thuyền bí ẩn ấy không hề treo cờ hiệu phường hội, không phát bất kỳ tín hiệu chuông đồng hay còi bão nào theo luật hàng hải, và điều đáng sợ nhất là: thân tàu lướt đi với tốc độ kinh hồn mà gần như không tạo ra bất kỳ tiếng động xé gió hay vệt bọt mây cuộn trào nào sau đuôi.
Nó đang bám sát theo hải trình của Mầm Gió.
Nó không hề vội vã tăng tốc áp sát để giáp lá cà, cũng không phát động bất kỳ đòn tấn công thăm dò nào bằng pháo móc hay tên lửa đồng. Nó chỉ lặng lẽ, kiên nhẫn trôi theo như một bóng ma đói khát bám riết lấy con mồi nơi hoang vu.
Tứ Hải nuốt khan một ngụm nước bọt cay đắng, bàn tay nắm chặt nan bánh lái siết mạnh đến mức những thớ gỗ thông phát ra tiếng kêu ken két khô khốc. Cậu liếc mắt nhìn sang Lam Nhi. Cô bạn vẫn đang đứng ngay ngắn bên bàn dẫn đường, cẩn trọng dùng thỏi mực mộc lan khô mài nhẹ để ghi chú từng thông số áp suất vừa đo được vào góc tấm Bản Đồ Mây. Khuôn mặt Lam Nhi lúc này ánh lên vẻ thanh thản, rạng rỡ và ngập tràn niềm hy vọng sau khi đã chuộc lại được lòng tin trọn vẹn của Bông.
Tứ Hải cắn chặt môi dưới. Cậu không muốn phá vỡ sự bình yên thiêng liêng vừa mới tìm lại được của người bạn đồng hành. Cậu không muốn nỗi sợ hãi lại một lần nữa bóp nghẹt lồng ngực cô gái nhỏ. Nhưng Tứ Hải thừa hiểu, bóng tối của thế giới này chưa bao giờ buông tha cho họ dẫu chỉ nửa bước. Bản hợp đồng hoa tiêu bị từ chối thẳng thừng ở Thư Viện Phi Diệp, những mưu mô độc quyền nham hiểm của Hội Kim Phong, hay một thế lực săn lùng bí mật nào khác từ vực sâu... những kẻ thù giấu mặt vẫn đang bám đuổi sát nút ngay sau lưng.
Cậu khẽ nghiến răng, âm thầm dùng mũi giày đạp mạnh vào bàn đạp chân ga điều khiển vây lái phụ dưới sàn boong. Chiếc vây lái bằng hợp kim nhẹ lập tức cụp xuống một góc mười lăm độ, ép toàn bộ thân thuyền Mầm Gió nghiêng hẳn sang mạn hữu, trượt sâu hơn nữa vào tâm của dòng gió xoắn số 8 để gia tăng tối đa tốc độ thoát ly.
Con thuyền gỗ nhỏ bé rạch một đường trắng xóa, dũng mãnh lao đi giữa biển mây mênh mông, bỏ lại sau lưng khoảng trời mịt mùng và kẻ bám đuôi ma quái, hướng thẳng về phía chân trời rực rỡ ánh dương.
Và rồi, khi chiếc mũi nhọn của Mầm Gió xé toạc dải mây tích cuối cùng của ranh giới ngoại vi, cảnh tượng phía trước đột ngột bừng sáng, mở toang ra một không gian tráng lệ đến mức khiến cả ba người trên boong tàu phải sững sờ nín thở.
Hàng trăm cánh buồm muôn màu xếp thành vòng tròn khổng lồ giữa biển mây hiện ra báo hiệu đã tới Chợ Gió Bốn Phương.