Người Giữ Bản Đồ MâyC.19 / 44
Chương 19

Vườn Hạt Bay

Không khí lạnh buốt của những trũng rừng thấp dần dần tan biến, loãng ra rồi nhường chỗ cho một luồng hương hoa ngọt ngào khi mũi thuyền Mầm Gió nhẹ nhàng lướt vào giữa chuỗi đảo xanh rờn đang nối nhau bằng những dải dây leo vắt ngang trời mây.

Sau chuỗi ngày dài đằng đẵng ngột ngạt dưới tầng sương tích điện nặng trĩu của Rừng Sương Quang, khoảng trời đột ngột mở rộng ra trước mắt thủy thủ đoàn tựa như một tấm rèm lụa bừng sáng giữa thinh không. Ánh nắng tầng trung chiếu xiên qua các dải mây tơi xốp, dát một lớp vàng ấm áp, dịu ngọt lên những giàn dây leo khổng lồ to bằng bắp đùi người lớn, chằng chịt đan xen giữa hàng chục hòn đảo đá vôi nhỏ đang nổi bồng bềnh giữa không trung. Những hòn đảo ở nơi này không hề đứng yên tuyệt đối; chúng nhấp nhô theo nhịp thở êm ả của các túi nhiệt ngầm dâng lên từ vực thẳm, chầm chậm kéo căng rồi lại thả chùng mạng lưới rễ bện như những chiếc võng khổng lồ treo lơ lửng giữa cõi vô cùng.

Thế nhưng, điều khiến cả Tứ Hải lẫn Lam Nhi phải sững sờ nín thở, quên bẵng cả động tác điều khiển bánh lái, lại không đơn thuần là màu xanh mướt mải bạt ngàn của thảm thực vật trù phú, mà chính là bầu không khí bao bọc lấy toàn bộ quần đảo kỳ vĩ này.

Hàng vạn, có lẽ là hàng chục vạn, những quả hạt giống tròn xoe mang theo chùm lông tơ mịn màng đang lơ lửng giữa không trung. Chúng không hề rơi xuống vực thẳm tối tăm của Tầng Mù, cũng chẳng hề bị những ngọn gió giật cuốn phăng lên Tầng Sáng rực rỡ, mà tự mình trôi nổi bồng bềnh nhờ vào những túi khí hữu cơ căng mọng ẩn giấu ngay dưới lớp vỏ mỏng tang. Mỗi khi một luồng gió trượt ấm áp lướt qua từ phía nam, hàng ngàn chùm lông bạc lại khẽ rung rinh, bung xòe như những cánh dù tí hon mang đủ sắc độ tinh khôi: trắng ngà, ánh lục và phớt hồng. Từng cụm hạt trôi dạt kết lại thành những đám mây thực vật di động khổng lồ, chậm rãi chuyển dịch qua các vòm cầu dây leo, tựa như những đàn sinh vật hiền lành đang thong dong gặm cỏ giữa biển khí quyển mênh mông.

"Thánh thần gió trời ơi..." Tứ Hải buông lỏng hai bàn tay khỏi bánh lái bọc da thú, đôi mắt mở to tròn xoe ngắm nhìn một đám mây hạt trắng muốt vừa là là bay ngang qua trước mũi thuyền. "Đó là... cây cối thật sao? Chúng biết bay như chim trời vậy!"

"Đó là cây túi khí tự nổi, giống bản địa độc nhất vô nhị của Vườn Hạt Bay," Tùng Lâm đứng tựa hẳn vào be thuyền, hai mắt sáng quắc lên như một đứa trẻ vừa lạc bước vào kho tàng vô giá. Giọng bà rền rĩ vì phấn khích, bàn tay gầy gò nổi rõ những đường gân xanh khẽ run rẩy nâng một chùm lông bay vừa chầm chậm đậu xuống mạn tàu lên xem xét. "Nhìn cấu trúc sợi xốp này xem! Từng túi khí nhỏ li ti này chứa một lượng khí hydro sinh học cực nhẹ, có khả năng tự động co giãn linh hoạt theo từng bậc nhiệt độ của mây. Khi trời chuyển lạnh, túi khí lập tức co lại để hạt hạ thấp xuống đón lấy hơi ấm từ tầng đối lưu; khi trời hửng nắng ấm, túi giãn nở nhẹ nhàng đưa hạt vút lên cao để đón những ngọn gió tầng trên phân tán đi xa. Cả một kỳ quan sinh học đang sống... Một kiệt tác điều hòa tự nhiên không một bàn tay nhân tạo nào có thể sánh bằng!"

Lam Nhi bước chậm rãi đến gần mũi tàu, nơi con chim Bông đang nghiêng đầu tò mò ngắm nghía một hạt cây to bằng quả táo nhỏ treo lủng lẳng dưới một chùm lông tơ bạc sáng lấp lánh. Bông khẽ chớp mắt, cái mỏ nhọn gõ lách cách vào be gỗ thông, nhưng tuyệt nhiên không hề vồ lấy hạt giống như thói quen nghịch ngợm thường ngày. Dường như chú chim cánh mây nhỏ bé cũng cảm nhận được sự tĩnh lặng thiêng liêng và thanh bình đến kỳ lạ toát ra từ biển mầm trôi nổi này.

"Tứ Hải, hạ buồm mũi xuống một phần ba," Lam Nhi khẽ nhắc nhở, ánh mắt quan sát tỉ mỉ những luồng phấn hoa lấp lánh như bụi vàng trôi xuôi theo mạn thuyền. "Gió ở đây tuy rất êm nhưng các đảo lại trôi dạt liên tục theo dòng nhiệt ngầm. Nếu chúng ta để cánh buồm vướng vào mạng dây leo đằng kia, túi nâng của Mầm Gió sẽ bị cọ rách mất."

"Rõ rồi, Hoa tiêu!" Tứ Hải đáp giọng đầy tự tin. Cậu thoăn thoắt gạt chốt tời, đôi tay rắn rỏi kéo dây lèo ghìm chặt cánh buồm tơ mây lại, để con thuyền ba trượng từ từ trôi chậm dần trên dòng khí êm dịu.

Mầm Gió lướt nhẹ như một chiếc lá khô trôi trên mặt hồ phẳng lặng, nhẹ nhàng tiến sâu vào một vụng nước mây kín gió nằm lọt thỏm giữa ba hòn đảo đá vôi xanh ngắt. Nơi đây, những cây cầu treo kết bằng rễ cây si mây nối liền các sườn dốc đá dựng đứng, bên dưới là những thung lũng lòng chảo phủ kín thảm rêu ẩm ướt, nơi hàng ngàn phễu ươm mầm bằng đất mùn màu mỡ đang được chăm sóc tỉ mỉ từng li từng tí.

Tứ Hải khéo léo vung tay ném móc neo bọc đồng xuống một mỏm đá nhô ra phủ đầy dây leo xanh ngắt. Móc neo vừa bập chắc vào kẽ đá, phát ra một tiếng *cắc* giòn giã thì đột nhiên, từ khắp các lùm cây rậm rạp trên vách đá xung quanh, một loạt âm thanh sắc lạnh đồng loạt rít lên trong không khí.

*Vút! Vút! Phập!*

Hàng chục mũi lao gỗ gắn móc sắt nhọn hoắt và những tấm lưới bện bằng dây gai rừng thô ráp bung ra từ các tán cây cổ thụ, khóa chặt lấy mạn tàu và sàn trước của Mầm Gió với một lực giật cực mạnh khiến thân thuyền chao đảo nhẹ.

"Đứng yên! Kẻ nào trên thuyền dám bước ra khỏi boong sẽ bị lưới gai trói chặt!"

Một giọng nói sang sảng, sắc lạnh và đanh thép vang lên từ gờ đá nhô cao ngay phía trên đầu họ. Lam Nhi giật mình ngước nhìn lên. Xuất hiện trên những nhánh cây cổ thụ và bờ đá dốc đứng cheo leo là gần hai mươi người làm vườn. Họ khoác trên mình những tấm áo choàng dệt từ vỏ cây màu nâu xám lấm lem bùn đất, đầu đội mũ che sương đan bằng lá cọ mây dày dặn, tay cầm chắc những cây xẻng làm vườn cán dài đã bị mài sắc bén như giáo mác hoặc những ống thổi thuốc mê bằng trúc rỗng. Ánh mắt của họ rực lên sự cảnh giác cao độ, pha lẫn nét thù hằn và phẫn nộ không hề che giấu trước sự xuất hiện của những kẻ lạ mặt.

Dẫn đầu đoàn người là một cụ già trạc ngoài sáu mươi tuổi, dáng người quắt queo nhưng đôi mắt sáng quắc như mắt chim ưng săn mồi, chòm râu muối tiêu dài được tết gọn gàng bằng một sợi xơ dừa mộc mạc. Cụ cầm trên tay một cây gậy gỗ mun chắc nịch có gắn đầu đo độ ẩm bằng đồng thau tinh xảo, sải những bước chân vững chãi qua cây cầu dây leo chao đảo, tiến thẳng xuống gờ đá sát mũi thuyền Mầm Gió.

"Các người từ đâu tới?" Vị trưởng vườn gằn giọng, từng lời thốt ra như chứa đựng đá sỏi, ánh mắt quét sắc lẹm qua thân thuyền gỗ thông dát mỏng rồi dừng lại thật lâu trên cánh buồm tơ mây bóng bẩy. "Một con thuyền có vây lái đôi kiểu mới, túi nâng ba lớp gia cường... Lại là lũ chim kền kền đánh hơi thấy mùa hạt chín của Hội Kim Phong phải không? Lũ thương nhân tham lam các người chưa vét cạn mỏ quặng Tầng Sáng hay sao mà còn mò mẫm đến tận thung lũng ươm mầm hẻo lánh này để cướp bóc?"

"Khoan đã! Xin hãy nghe chúng tôi nói một lời!" Tứ Hải vội vã giơ hai tay lên quá đầu, chân bước chếch lên chắn phía trước Lam Nhi theo phản xạ tự nhiên của một thuyền trưởng luôn bảo vệ hoa tiêu của mình. "Chúng tôi không phải người của Hội Kim Phong! Đây là thuyền khảo sát độc lập Mầm Gió, chúng tôi vừa vượt qua Rừng Sương Quang để đến đây—"

"Độc lập?" Một người làm vườn trẻ tuổi đứng bên cạnh trưởng vườn bật cười khẩy, giọng đầy mỉa mai, bàn tay gân guốc siết chặt lấy cây lao gỗ. "Tháng trước cũng có một lũ hoa tiêu tự xưng là 'nghiên cứu tự do' đến đây xin nước ngọt, rồi nửa đêm lén lút thả ba thuyền con cào rách toạc cả một vạt đầm cây túi khí ba mươi năm tuổi mang về bán cho các xưởng chế tạo bóng khí của Kim Thịnh! Bọn chúng thậm chí còn rải chất độc làm chua đất để độc quyền số giống cướp được! Lũ lái buôn các người mở miệng ra là nói lời đạo đức, nhân nghĩa, nhưng trong bụng chỉ toàn tính chuyện vàng bạc và mưu mô độc quyền tuyến gió!"

Lời buộc tội cay đắng và phẫn uất khiến bầu không khí trên bến đá bỗng chốc đặc quánh lại, ngột ngạt đến nghẹt thở. Tùng Lâm không thể kiềm chế được tính khí bộc trực của mình, bà lập tức tiến bước lên mép thuyền, phẩy tay gạt phắt một mũi lao đang chĩa về phía mình, giọng sang sảng cất lên bằng toàn bộ uy thế của một học giả kỳ cựu:

"Bậy bạ! Thật là thiển cận và hàm hồ hết sức! Hãy nhìn cho kỹ ấn ký trên ngực áo ta đây! Ta là Tùng Lâm, từng là trưởng ban khảo sát thực địa của Hội Thực Vật Tầng Mây! Các người tưởng ai ai trên cõi đời này cũng hám mấy đồng bạc nén nhơ bẩn của Kim Thịnh hay sao? Ta đến đây vì đại cục sinh thái của toàn bộ Vân Quốc! Hệ rễ ngân sương ở Rừng Sương Quang vừa trải qua cơn co thắt đứt gãy Mạch Neo nghiêm trọng, khoảng lặng sụt áp kéo dài tới mười tám giây! Các hòn đảo tầng trung đang rơi tự do từng ngày, đất đai trôi dạt tán loạn, nếu không có hạt giống cây túi khí để cấy bổ sung lực nâng tạm thời cho các dầm đá rạn nứt, toàn bộ các đảo nông nghiệp phía nam sẽ chìm nghỉm xuống Tầng Mù trong vòng hai tuần tới! Các người giữ khư khư hạt giống trên hòn đảo cô lập này để làm gì khi mà cả cái bầu trời này sắp sụp đổ tan tành hả?"

Tùng Lâm nói như tát nước vào mặt, kiến thức thực vật và khí tượng học tuôn ra cuồn cuộn cùng sự phẫn nộ chân thành của một học giả cả đời cống hiến cho tự nhiên. Bà đưa hai tay chỉ về phía vực mây sâu thẳm ngoài kia, vạch trần thảm họa mang tính hệ thống đang đe dọa sinh mệnh vạn vật bằng những thuật ngữ hàn lâm chuẩn xác nhất.

Thế nhưng, đáp lại bài diễn thuyết nảy lửa và đầy nhiệt huyết của nhà nữ thực vật học lập dị không phải là sự thấu hiểu hay kính nể, mà là một khoảng lặng lạnh băng, tiếp nối bởi những tiếng cười gằn đầy cay đắng và chua chát của những người làm vườn.

Vị trưởng vườn già không hề lùi bước dù chỉ nửa bước. Cụ nhìn Tùng Lâm bằng ánh mắt trĩu nặng sự mệt mỏi, u uất và đau thương khôn nguôi của một người đã chứng kiến quá nhiều mất mát, lừa lọc qua năm tháng.

"Bà Tùng Lâm... nếu bà đúng thực là học giả Tùng Lâm lừng danh của viện nghiên cứu," cụ già chậm rãi cất lời, giọng trầm xuống nhưng nhức nhối như một vết thương lâu ngày mưng mủ. "Bà có học vấn uyên thâm, bà biết đọc nhịp thở của mây trời, nhưng bà chẳng hiểu một chút gì về nỗi đau đớn cùng cực của mảnh đất này cả. Sáu năm trước, cũng chính các học giả từ viện nghiên cứu của bà mang theo giấy tờ có con dấu đỏ chót đến đây, ngon ngọt bảo chúng tôi rằng họ cần mười vạn hạt giống để 'cứu vớt tầng sinh quyển trung tâm'. Những người làm vườn chất phác chúng tôi đã tin, đã dốc cạn kho dự trữ quý giá trao cho họ. Và rồi kết quả là gì? Bản báo cáo của bà bị xé bỏ không thương tiếc, hạt giống bị chia năm xẻ bảy đem ra bán đấu giá tại Chợ Gió Bốn Phương với cái giá cắt cổ! Những kẻ có tiền có thế thì mua được mầm cây nâng đảo của chúng lên Tầng Sáng hưởng trọn ánh mặt trời ấm áp, còn những làng nổi nghèo khó ở tầng dưới không có tiền mua đành phải trơ mắt nhìn mái nhà thân thương của mình chìm dần vào bóng tối Tầng Mù!"

Cụ già run rẩy giơ cây gậy mun chỉ thẳng về phía thung lũng ươm mầm ngút ngàn phía sau:

"Lũ người từ các thành phố lớn chưa bao giờ coi cây cối là sự sống! Với các người, hạt giống túi khí chỉ là một thứ quặng nâng giá rẻ mạt, là công cụ để các thương đoàn tranh giành quyền kiểm soát tuyến gió độc quyền! Hôm nay các người bảo cần hạt để cứu thế giới, ngày mai tấm bản đồ dẫn đến vườn ươm này sẽ nằm chễm chệ trên bàn nghị sự của Kim Thịnh, và ngày mốt, đại bác bọc thép sẽ dọn sạch thung lũng của chúng tôi để xây trạm tiếp tế quân sự! Học thuật cao siêu của bà không bảo vệ được chúng tôi trước lòng tham tàn bạo của lũ con buôn!"

Từng lời nói của vị trưởng vườn như một nhát búa nện thẳng vào ngực Tùng Lâm. Nhà thực vật học sững sờ, bờ môi mỏng mím chặt lại, hai bàn tay buông thõng xuống bên hông bất lực. Bà nhận ra sự cay đắng tột cùng của tri thức thuần túy: lý lẽ khoa học dù có đúng đắn, vĩ mô và cấp thiết đến đâu cũng không thể nào xoa dịu được một cộng đồng đã bị phản bội, bị tước đoạt và chịu đựng quá nhiều vết thương rỉ máu bởi làn sóng khai thác thương mại vô nhân đạo.

Những người làm vườn xung quanh bắt đầu siết chặt các vòng dây lưới. Không khí căng thẳng leo thang đến mức nghẹt thở. Tứ Hải nắm chặt lấy chuôi dao găm bên thắt lưng, những ngón tay run rẩy chuẩn bị cho một cuộc đụng độ khốc liệt mà cậu biết chắc phần thua cay đắng sẽ thuộc về thủy thủ đoàn nhỏ bé của mình.

Đúng lúc ngột ngạt ấy, một bóng dáng nhỏ nhắn bước qua giữa khoảng trống của Tứ Hải và Tùng Lâm.

Lam Nhi bước ra mép sàn tàu. Cô bé không hề cầm theo bất kỳ thứ vũ khí nào, hai bàn tay buông mở tự nhiên để lộ những ngón tay thon dài dính đầy vệt mực mộc lan đen nhánh ánh kim và những vết chai sần vì cầm compa đo đạc suốt những năm tháng học nghề. Đôi mắt trong veo, phẳng lặng như mặt hồ không gợn sóng của cô bé mười lăm tuổi nhìn thẳng vào ánh mắt giận dữ rực lửa của vị trưởng vườn già.

Ở khoảng cách rất gần, Lam Nhi nhìn thấy rõ những vết nứt nẻ sâu hoắm, thô ráp trên bàn tay cụ già – dấu tích không thể phai mờ của hàng chục năm ròng rã vùi mình trong bùn sương và gai góc nhọn hoắt để chăm chút ươm từng mầm cây cho sự sống. Cô cũng nhìn thấy sự run rẩy thấp thoáng trong ánh mắt của những người nông dân trẻ tuổi đang cầm vũ khí; họ không hề hung dữ hay khát máu, họ chỉ đang run sợ. Nỗi sợ hãi tột cùng trước nguy cơ mất đi mảnh đất duy nhất nuôi sống tổ tiên và con cháu họ, nỗi sợ bị thế giới bên ngoài xâu xé và cướp đoạt sạch trơn.

"Cháu hiểu sự bất an sâu sắc của ông," Lam Nhi cất tiếng, giọng cô trong trẻo, êm ả, không hề có chút cao ngạo, không giáo điều hàn lâm, nhưng lại mang một sự trầm tĩnh lạ lùng làm dịu đi những luồng gió giận dữ đang rít qua kẽ đá. "Các thương đoàn đến đây vẽ bản đồ không phải để hiểu Vườn Hạt Bay, mà là để định giá nó. Họ đánh dấu từng thung lũng ươm mầm như những mỏ vàng lộ thiên, ghi rõ tọa độ các luồng gió ấm để tàu săn trộm có thể lén lút lẻn vào ban đêm. Với họ, bản đồ chỉ là một công cụ sắc bén để sở hữu, chiếm đoạt và thống trị."

Vị trưởng vườn khẽ nhíu mày, cây gậy mun trên tay hơi hạ thấp xuống nửa tấc: "Cháu bé, cháu biết rõ điều đó, vậy cháu mang theo ống đựng bản đồ kia bên mình để làm gì?"

"Cháu là thợ học việc của Xưởng Vân Kính trên Đảo Lam Bến," Lam Nhi trả lời rành rọt, từng chữ thốt ra chắc nịch như đinh đóng vào cột gỗ. "Ông nội cháu từng dạy: một tấm bản đồ chân chính không bao giờ được phép trở thành sợi xích trói buộc tự nhiên hay vũ khí phục vụ cho kẻ có tiền. Nhiệm vụ cao cả của người giữ bản đồ là mở ra con đường sống cho những người gặp cơn hoạn nạn, đồng thời phải biết dựng lên bức tường kiên cố che chở cho những sinh linh yếu thế trước lòng tham."

Cô quay lại nhìn Tứ Hải, khẽ gật đầu: "Tứ Hải, mang chiếc bàn trắc đạc gấp và cuộn giấy da mây trắng ra đây giúp tôi."

Tứ Hải thoáng chút ngập ngừng, nhưng khi nhìn vào ánh mắt kiên định, sáng trong không một chút dao động của Lam Nhi, cậu lập tức gật đầu dứt khoát: "Có ngay đây!"

Cậu thanh niên thoăn thoắt luồn vào khoang lái, nhanh nhẹn mang ra chiếc bàn gỗ trắc đạc ba chân gọn nhẹ và trải cuộn giấy da dệt từ xơ mây dày dặn, trắng muốt lên mặt bàn phẳng. Lam Nhi mở hộp dụng cụ gia bảo của ông nội để lại. Cô cẩn thận lấy ra chiếc compa bằng đồng khảm xà cừ tinh xảo, thước đo độ cong khí áp bằng sừng mây và thỏi mực mộc lan kháng ẩm quý giá mà thủ thư Diệp Thanh đã tặng tại Thư Viện Phi Diệp.

Trước hàng chục cặp mắt kinh ngạc, hoài nghi và tò mò của hội đồng những người làm vườn, Lam Nhi không hề lùi bước hay mở lời thanh minh thêm một câu nào. Cô quỳ một bên gối xuống sàn boong gỗ, mài thỏi mực đen nhánh vào chiếc nghiên đá nhỏ bằng ba giọt nước sương tinh khiết lấy từ bình lọc. Hương thơm thanh khiết, ngát lành của hoa mộc lan lập tức lan tỏa nhẹ nhàng trong không khí, xua tan đi mùi ẩm mốc và sự ngột ngạt của nỗi ngờ vực.

"Các ông lo sợ rằng một tấm bản đồ sẽ làm lộ vườn ươm cho lũ cướp tiêu diệt," Lam Nhi ngẩng lên nhìn thẳng vào trưởng vườn. "Vậy thì, cháu sẽ vẽ cho Vườn Hạt Bay một tấm **bản đồ hai lớp**."

"Bản đồ hai lớp?" Trưởng vườn lẩm bẩm nhắc lại, đôi lông mày hoa râm cau chặt lại đầy nghi hoặc. "Đó là trò ảo thuật che mắt gì của lũ thợ vẽ các người?"

"Không phải ảo thuật, mà là đạo đức nghề nghiệp cốt lõi của Phường Giữ Bản Đồ kết hợp cùng quy luật vận hành của tự nhiên," Lam Nhi kiên nhẫn giải thích, bàn tay cô đã nhẹ nhàng nhúng ngòi bút lông ngỗng vào lớp mực mộc lan đen tuyền. "Lớp thứ nhất là lớp bản đồ công khai. Cháu sẽ vẽ lại toàn bộ các dòng đối lưu trượt, các cửa gió xoáy nguy hiểm chết người quanh quần đảo, và đặc biệt là đánh dấu thật rõ ràng tuyến luồng cứu hộ khẩn cấp. Nếu một con thuyền đánh cá nghèo nàn hay một con tàu buôn lạc lối gặp phải bão mây từ Tầng Mù dạt vào đây, lớp bản đồ này sẽ dẫn đường cho họ an toàn đi vào vụng nước ngoài rìa đảo để lánh nạn mà không đâm phải các rạn đá ngầm sắc nhọn. Theo Đạo luật chia sẻ tuyến cứu hộ ngàn đời của Đội Chuông Bão, thông tin cứu mạng này bắt buộc phải được mở ra cho mọi cánh buồm phiêu bạt trên biển mây."

Ngòi bút của Lam Nhi lướt đi thoăn thoắt, uyển chuyển trên mặt giấy da mây trắng. Bằng những đường nét kỷ luật, dứt khoát nhưng vô cùng mềm mại và chuẩn xác đến từng phân ly, cô phác họa lại toàn bộ cấu trúc hình học của ba luồng gió chính đang thổi vòng quanh Vườn Hạt Bay. Từng rãnh áp suất sâu, từng dòng đối lưu ấm bốc lên từ các hẻm vực hun hút hiện lên rõ mồn một với đầy đủ độ cao danh định và biên độ dao động theo mùa. Trên tấm bản đồ ấy, Vườn Hạt Bay chỉ hiện ra đơn thuần như một quần đảo đá vôi trơ trụi, khô cằn với một vụng neo đậu công cộng an toàn ở mép ngoài cùng, tuyệt nhiên không có lấy một dấu vết nào của các thung lũng đất mùn phì nhiêu hay các đầm cây túi khí bạt ngàn.

"Nhưng nếu chỉ vẽ có chừng đó," một người làm vườn lớn tuổi đứng trên gờ đá cất giọng chất vấn đầy lo ngại, "lũ săn trộm ranh ma vẫn có thể thả thuyền con lùng sục từng ngóc ngách hiểm trở bên trong các hẻm đá của chúng ta!"

"Đó chính là lý do vì sao chúng ta cần đến lớp thứ hai," Lam Nhi ngẩng đầu lên, khẽ mỉm cười nhẹ nhõm.

Cô đặt cây bút mực đen xuống giá đỡ, cẩn thận lấy ra một chiếc lọ thủy tinh nhỏ chứa thứ dung dịch màu hổ phách nhạt sóng sánh – đó là dịch chiết xuất từ rễ cây ngân sương đậm đặc mà Tùng Lâm đã kỳ công chưng cất suốt đêm qua trong khoang nghiên cứu. Lam Nhi dùng một ngòi bút khác làm bằng ống xương chim rỗng ruột, chấm nhẹ vào chất lỏng trong suốt rồi bắt đầu tỉ mỉ vẽ trực tiếp đè lên những khoảng trống tưởng chừng vô hại của tấm bản đồ vừa tạo.

Kỳ lạ thay, chất lỏng màu hổ phách khi vừa chạm vào bề mặt giấy da mây liền lập tức ngấm sâu và chìm nghỉm vào các thớ xơ thực vật, biến mất hoàn toàn không để lại một vệt ố vàng hay bất kỳ dấu vết thị giác nào. Nhìn bằng mắt thường dưới ánh sáng chan hòa của mặt trời, tấm bản đồ vẫn chỉ là một hải đồ cứu hộ thông thường, đơn giản và trống trải.

"Lớp thứ hai vô hình này," Lam Nhi vừa cẩn thận vạch từng nét bút mềm mại vừa nhẹ nhàng giải thích, nhịp thở của cô đều đặn và sâu lắng theo đúng phương pháp thở ba thì của hoa tiêu truyền thống, "ghi lại một cách tuyệt đối chính xác vị trí của mười hai thung lũng ươm mầm nhạy cảm nhất, toàn bộ mạng lưới dây leo chịu tải liên kết các đảo đá, và những hang đá sâu kín chứa hạt giống mẹ ngàn năm của các ông. Nhưng toàn bộ các tọa độ này không hề được ghi bằng con số hay hệ thống kinh vĩ độ khô khốc của viện hàn lâm. Cháu đã mã hóa chúng bằng toàn bộ hệ ký hiệu sinh thái cổ xưa của Những Người Canh Neo."

Cô dừng tay lại, ngón tay thanh mảnh chỉ vào một khoảng giấy dường như hoàn toàn trống không ở góc tây nam của tấm bản đồ:

"Dưới ánh sáng ban ngày rực rỡ, không một hoa tiêu nào, không một tên gián điệp hay lái buôn lọc lõi nào của Hội Kim Phong có thể nhìn thấy lớp vẽ ẩn này. Kể cả khi chúng dùng kính lúp phóng đại hay châm đèn dầu soi rọi sát mặt giấy, chúng cũng chỉ thấy một vùng đá xám hoang tàn và cằn cỗi."

"Vậy thì làm sao chúng ta có thể đọc được nó khi cần?" Trưởng vườn bước hẳn xuống sàn tàu Mầm Gió, bước chân cụ chậm lại, vẻ hoài nghi và giận dữ ban nãy dần bị thay thế hoàn toàn bởi sự tò mò và niềm thán phục không thể kìm nén. Cụ khom lưng xuống, chăm chú dán mắt nhìn vào mặt giấy phẳng phiu, sạch bóng.

Lam Nhi khẽ vẫy tay gọi chú chim Bông. Chú chim cánh mây thông minh hiểu ngay ý định của chủ nhân, nó liền nhảy tót từ cột buồm xuống, đậu vững chãi ngay trên thành bàn trắc đạc. Bông khẽ xòe rộng đôi cánh mỏng manh mang sắc bạc phớt xanh ngọc, tạo ra một bóng râm mát rượi, dịu nhẹ che phủ trọn vẹn lấy mặt bàn. Cùng lúc đó, Lam Nhi rút từ trong túi áo ra một mẩu rễ bách mù khô, dùng thanh đá lửa cọ nhẹ tạo ra một làn khói mỏng manh mang mùi tinh dầu the cay nồng ấm, rồi khẽ thổi làn khói ấy lướt là là qua mặt giấy da mây.

Dưới sự kết hợp kỳ diệu giữa bóng râm che chắn quang học từ cánh chim, độ ẩm ấm áp từ làn khói tinh dầu bách mù và phản ứng hóa học tự nhiên của thớ da rễ mây, một cảnh tượng kỳ ảo đã hiện ra trước mắt mọi người.

Những đường nét vô hình vừa được vẽ bỗng chốc phát ra một thứ ánh sáng lân tinh màu hổ phách dịu nhẹ và huyền ảo! Đó hoàn toàn không phải là những dòng chữ viết hay ký hiệu đo đạc khô cứng, mà là những hình vẽ cách điệu tuyệt mỹ và thiêng liêng: hình một búp lá non khép cánh tượng trưng cho thung lũng ươm mầm; hình ba giọt sương xếp thành hình tam giác cân biểu thị cho mạch nước ngầm tầng sâu tinh khiết; và hình một dải xoắn ốc kép mềm mại biểu thị cho vùng đệm khí ấm nâng đỡ các cụm cây túi khí cổ thụ ngàn đời.

"Chỉ khi hội tụ đủ ba yếu tố thiêng liêng: bóng râm che chắn quang học, độ ẩm ấm áp của tinh dầu bách mù và quan trọng nhất là tần số rung cảm tự nhiên của thớ thực vật, lớp bản đồ bí mật này mới chịu hiện hình," Lam Nhi ngước nhìn thẳng vào mắt vị trưởng vườn, ánh mắt cô bé chân thành và sâu thẳm đến mức khiến trái tim người đối diện phải rung động mãnh liệt. "Và đây chính là chiếc chìa khóa giải mã duy nhất."

Nói đoạn, Lam Nhi lấy ra một phiến đá phiến mỏng chỉ bằng lòng bàn tay, dùng mũi đột thép chuyên dụng khắc thật nhanh và dứt khoát lên đó sáu biểu tượng quy chuẩn tương ứng với sáu trạng thái sinh thái sống còn của khu vườn. Cô trang trọng dùng cả hai tay nâng phiến đá cùng tấm bản đồ hai lớp vừa ráo mực, cung kính trao tận tay vị trưởng vườn già.

"Bản sao công khai về tuyến luồng cứu hộ sẽ được lưu giữ tại bến đá ngoài cùng để bảo vệ cho sinh mạng của mọi tàu bè qua lại, hoàn thành trọn vẹn nghĩa vụ cứu người trên biển mây bao la," Lam Nhi dõng dạc cất lời, từng lời từng chữ như khắc sâu vào lòng đá núi uy nghiêm. "Còn tấm bản đồ gốc này, cùng với phiến đá giải mã duy nhất, vĩnh viễn thuộc về những người làm vườn chân chính. Tọa độ của sự sống phải luôn nằm trong tay những con người biết trân trọng và nâng niu sự sống, chứ tuyệt đối không bao giờ được rơi vào tay những kẻ muốn biến nó thành món hàng hóa độc quyền để trục lợi. Bảo vệ tự nhiên khỏi sự tàn phá của lòng tham cũng chính là một phần danh dự thiêng liêng nhất của người vẽ bản đồ."

Không gian trên vụng nước mây hoàn toàn chìm vào tĩnh lặng. Không một ai cất tiếng. Chỉ còn lại tiếng xào xạc êm ái của hàng vạn túi hạt lông bay đang cọ vào nhau trên tầng không vô tận và tiếng thở dài khe khẽ, mát lành của ngọn gió núi lướt qua rèm lá.

Những người làm vườn xung quanh từ từ hạ vũ khí xuống. Những mũi lao sắc nhọn cắm ngược xuống sàn đá, những ống thổi thuốc mê nguy hiểm được thu lại cẩn thận vào tay áo choàng. Trên gương mặt khắc khổ, chai sần của những người nông dân cả đời gắn bó với đất mây và sương gió, sự thù hằn, ngờ vực đã tan biến sạch trơn không còn dấu vết, chỉ còn lại sự xúc động nghẹn ngào khôn tả.

Vị trưởng vườn già run run đón lấy tấm bản đồ và phiến đá giải mã bằng cả hai bàn tay gân guốc, chai sạn. Cụ cúi đầu nhìn thật kỹ cô bé mười lăm tuổi trước mặt – một học việc vẽ bản đồ với vóc dáng nhỏ nhắn, đôi mắt hãy còn vương nét mệt mỏi sau chuyến vượt bão tố kinh hoàng, nhưng cốt cách, tâm hồn và sự chính trực lại vững chãi tựa như một cột mốc đá ngàn năm đứng sừng sững giữa biển mây dông bão.

"Ta đã sống hơn sáu mươi mùa gió trên những triền đá cheo leo này," giọng cụ già run run, hốc mắt trũng sâu đỏ hoe vì xúc động. "Ta đã từng tận mắt thấy hàng trăm hoa tiêu đi qua vùng trời này, mang theo đủ loại hải đồ dát vàng dát bạc hào nhoáng của các phường hội lớn mạnh nhất. Nhưng chưa từng có ai... thực sự chưa từng có một ai dạy cho những người dân quê mùa chúng ta cách dùng bản đồ để tự bảo vệ sinh mạng và mảnh đất của chính mình như cháu."

Cụ ngẩng cao đầu lên, nhìn sang Tùng Lâm và Tứ Hải với ánh mắt ấm áp đầy tôn trọng, rồi quay người hướng về phía cộng đồng người làm vườn đang đứng kín trên các mỏm đá cao:

"Thu hết lưới lại! Thu toàn bộ lao móc lại ngay! Đây không phải là quân cướp đoạt, đây là những người khách danh dự cao quý nhất của Vườn Hạt Bay chúng ta!"

Một tiếng reo hò vang dội lập tức rộ lên từ khắp các vách đá cheo leo. Mọi sự căng thẳng, nghi kỵ phút chốc tan biến sạch sẽ như sương sớm gặp ánh nắng ban mai. Những người làm vườn nhanh nhẹn nhảy xuống gỡ bỏ các móc sắt khóa chặt mạn thuyền, người thì mang đến những vò nước sương ngọt mát lành tinh khiết, người thì hái những rổ quả mọng thơm lừng, chín mọng để thết đãi đoàn khảo sát kiệt sức.

Trưởng vườn quay lại đối diện với Lam Nhi, vẻ mặt cụ trở nên vô cùng trang trọng và kính cẩn:

"Cháu bé, cháu đã trao lại cho chúng ta danh dự, niềm tin và sự an toàn thiêng liêng. Những người giữ đất mây này không bao giờ chịu nợ ân tình sâu nặng của người khác. Bà Tùng Lâm nói rất đúng, Mạch Neo của đất trời đang suy yếu từng khắc, bầu trời này sắp sửa phải đối mặt với một trận đại nạn diệt vong, và những hạt giống của vườn ươm chúng ta tuyệt đối không thể đứng ngoài cuộc cứu rỗi muôn loài."

Cụ già quay người lại, giơ tay ra hiệu cho hai thanh niên vạm vỡ mang tới một chiếc tráp cổ làm bằng gỗ tuyết tùng xám có chạm khắc những lỗ thông khí tinh xảo. Khi nắp tráp được nhẹ nhàng mở ra, bên trong lót một lớp rêu nhung xanh biếc ẩm ướt, đang nâng niu một chùm hạt giống kỳ lạ to bằng nắm tay trẻ nhỏ.

Những hạt giống này có lớp vỏ ngoài màu nâu đồng bóng loáng, mang hình dáng thanh thoát như những chiếc chuông nhỏ với những đường gân rỗng chạy dọc thân hạt một cách hoàn hảo. Ở phần đáy của mỗi hạt, một chùm lông tơ màu hoàng kim mịn màng như dải lụa khẽ rung rinh theo từng đợt gió nhẹ thoảng qua. Điều kỳ diệu nhất là, dù không hề có bất kỳ sự va chạm vật lý nào, từ sâu trong lòng những hạt giống ấy thỉnh thoảng lại phát ra những tiếng ngân vang trong trẻo, trầm bổng tựa như tiếng chuông gió bằng đồng gõ nhịp vào nhau giữa hư không vô tận.

"Đây chính là **hạt chuông gió**," trưởng vườn cẩn thận nhấc chiếc túi lưới chứa chùm hạt giống trao tận tay cho Lam Nhi. "Giống cây linh thiêng và quý giá nhất mà tổ tiên chúng ta đã mang theo gìn giữ từ thời Những Người Canh Neo thuở khai thiên lập địa. Chúng không chỉ sở hữu những túi khí nâng cực mạnh có thể sinh tồn ở những tầng mây khắc nghiệt và lạnh lẽo nhất, mà lớp vỏ của chúng còn chứa các khoang rỗng có khả năng cộng hưởng âm thanh vô cùng đặc biệt. Khi bay qua các túi khí ấm bí mật ẩn giấu giữa các tầng mây nghịch nhiệt, sự thay đổi vi tế của áp suất và nhiệt lượng sẽ lập tức kích hoạt luồng khí chạy xuyên qua các khoang rỗng này, khiến hạt giống cất lên tiếng ngân rung như một chiếc chuông dẫn đường kỳ diệu."

Lam Nhi nâng niu chùm hạt quý giá trên đôi tay mình, lòng tràn ngập một nỗi kinh ngạc và xúc động khôn cùng. Những rung động siêu nhỏ, ấm áp từ vỏ hạt truyền qua từng thớ da thịt của cô bé, sống động và nhịp nhàng như nhịp đập của một trái tim tí hon đang căng tràn nhựa sống.

"Các cháu đang muốn đi qua Cửa Gió Ngủ để lặn sâu xuống Tầng Mù, có phải không?" Cụ già hạ thấp giọng xuống thật trầm, ánh mắt lộ rõ vẻ âu lo sâu sắc nhưng ánh lên sự kiên quyết. "Ở nơi đó là một vùng lặng gió chết chóc, bị vây bọc bốn bề bởi những bức tường mây băng giá vĩnh cửu và những ảo ảnh quang học khôn lường. La bàn từ thạch khi vào đó sẽ hoàn toàn tê liệt, mắt thường của các hoa tiêu tài ba nhất cũng sẽ bị đánh lừa trong vô vọng. Nhưng khi mang theo túi hạt chuông gió này, mỗi khi con thuyền chạm vào một luồng gió trượt an toàn hay một túi nhiệt có thể cứu mạng các cháu, chúng sẽ cất tiếng hát trong trẻo để chỉ đường dẫn lối. Hãy dùng chúng để cứu lấy Mạch Neo, cứu lấy mái nhà chung của tất cả chúng ta trên bầu trời này."

"Cháu cảm ơn ông... Cảm ơn tất cả mọi người," Lam Nhi nghẹn ngào nói, vòng tay ôm chặt chiếc túi hạt chuông gió vào lồng ngực mình như đón nhận một niềm tin thiêng liêng, một trọng trách lớn lao vừa được cả một cộng đồng trao gửi.

Tùng Lâm đứng bên cạnh, đôi mắt ngấn lệ xúc động khi nhìn thấy chùm hạt giống huyền thoại trong truyền thuyết mà bà từng đau đớn nghĩ rằng đã tuyệt chủng vĩnh viễn sau các cuộc càn quét tàn bạo của các thương đoàn lớn. Tứ Hải thì đứng thẳng người, hai chân chụm lại, bàn tay phải đặt trang trọng lên ngực áo trái theo đúng nghi thức danh dự cao quý nhất của một hoa tiêu biển mây, ánh mắt tràn đầy sự kính phục và tự hào vô bờ bến đối với cô bạn đồng hành nhỏ tuổi của mình.

Trong khi vị trưởng vườn bắt đầu tỉ mỉ hướng dẫn Tùng Lâm kỹ thuật giữ ẩm cho hạt giống bằng nhựa của rễ cây mùn rừng sâu, và Tứ Hải đang hào hứng tụ tập chia sẻ với những thanh niên làm vườn về cách buộc nút dây lèo và gia cố vây lái chịu gió giật cho thuyền buồm, thì một sự việc tĩnh lặng và kỳ lạ khác lại đang âm thầm diễn ra ở góc xa nhất của bến đá.

Chú chim cánh mây Bông hoàn toàn không tham gia vào đám đông náo nhiệt và rộn rã ấy.

Kể từ khoảnh khắc Mầm Gió vừa cập bến đá này, Bông dường như đã bị một lực hút vô hình, một tiếng gọi bí ẩn nào đó từ xa xưa lôi kéo tâm trí. Nó lẳng lặng chuyền qua những cành dây leo mập mạp phủ đầy rêu phong, nhảy thoăn thoắt dọc theo một gờ đá sa thạch hẹp dẫn sâu vào một khe nứt tự nhiên của vách núi đá vôi dựng đứng phía sau thung lũng ươm mầm.

Nơi đây là một khoảng không gian hoàn toàn tách biệt với thế giới bên ngoài, khuất lấp sau những chùm phong lan mây trắng muốt rủ xuống như một tấm rèm ngọc bích dày đặc. Ánh nắng rực rỡ của tầng trời không thể nào rọi tới được đáy sâu của khe nứt này, chỉ có một thứ ánh sáng màu ngọc bích mờ ảo hắt ngược lên từ biển mây sâu thẳm bên dưới, soi rõ một mảng vách đá bazan phẳng lì, nhẵn nhụi như thể đã được mài giũa tỉ mỉ bởi bàn tay con người từ hàng trăm năm về trước.

Trên bề mặt của vách đá ấy, một bức bích họa cổ xưa đã bị thời gian, sương gió và rêu phong bào mòn phân nửa hiện ra mờ ảo và u tịch.

Bông dừng bước lại trên một mỏm đá nhỏ nhô ra ngay trước bức bích họa cổ. Đôi cánh mỏng manh mang sắc bạc của nó khép chặt lại vào thân mình, chiếc đầu nhỏ nghiêng sang một bên, đôi mắt đen láy trong veo phản chiếu ánh sáng u hoài, tịch mịch của vách đá cổ kính.

Bức phù điêu được chạm khắc chìm vào thớ đá núi sâu thẳm không hề vẽ hòn đảo nổi nào, không vẽ hoa lá tốt tươi, cũng chẳng hề khắc họa hình bóng của chim muông hay muôn thú.

Ngay chính giữa vách đá là hình ảnh một cánh buồm khổng lồ no gió, căng tràn sức sống mãnh liệt, nhưng điều kỳ lạ là bên dưới cánh buồm ấy lại hoàn toàn trống không. Tuyệt nhiên không có một thân thuyền bằng gỗ, không có vây lái điều hướng, không có dây neo xích sắt hay bóng dáng của bất kỳ con người nào. Một cánh buồm đơn độc, tự do lướt đi giữa những đường sóng uốn lượn nhịp nhàng tượng trưng cho Mạch Neo vĩnh cửu của trời đất — đó chính là biểu tượng thiêng liêng, cổ xưa và bí ẩn bậc nhất của Những Người Canh Neo huyền thoại tại Đảo Neo từ thuở hồng hoang.

Chú chim Bông đứng bất động như thể đã hóa đá trước bức phù điêu cổ. Ngọn gió lạnh buốt từ đáy vực sâu hun hút thổi thốc ngược lên qua khe nứt hẹp, làm xơ xác lớp lông tơ trắng muốt, mịn màng trên cơ thể nhỏ bé của nó. Từ sâu trong lồng ngực của chú chim cánh mây, một chuỗi âm thanh trầm buồn, rầu rĩ và da diết chưa từng thấy khẽ cất lên — một âm điệu ngắt quãng, thê lương tựa như một khúc ca hoài niệm đầy đau thương về một chốn quê hương xa xăm mù mịt mà nó đã vô tình lạc mất từ thuở mới lọt lòng.

Tiếng hót kỳ lạ, ai oán và đầy ma mị ấy vô tình lọt vào tai của một người làm vườn già đang lúi húi thu dọn những giỏ mùn ươm hạt giống gần mép khe núi đá.

Quá đỗi tò mò trước một âm điệu bi thương chưa từng được nghe thấy ở bất kỳ loài chim biển mây nào trong suốt cuộc đời mình, người làm vườn già liền rón rén bước chậm rãi qua rèm phong lan mây rủ, tiến lại gần vách đá bazan u tối.

Đúng vào khoảnh khắc ấy, một ngọn gió xoáy nghịch nhiệt dữ dội từ dưới đáy vực bất ngờ quất mạnh lên qua khe đá hẹp, thổi tốc ngược toàn bộ lớp lông tơ dày dặn, trắng xốp quanh cổ của con chim Bông.

Dưới làn lông trắng xốp vừa bị gió thổi rẽ sang hai bên, một chiếc vòng cổ mảnh mai làm bằng thứ đá nhẹ màu xám tro kỳ lạ bỗng hiện ra rõ mồn một. Trên bề mặt của phiến đá tí hon ấy, hoa văn hình một cánh sóng uốn lượn lồng vào ba ngấn sóng dồn dập — ấn ký hộ mệnh cổ xưa và linh thiêng nhất của Những Người Canh Neo — bỗng nhiên lóe lên một ánh quang xanh biếc huyền ảo giữa bóng râm tăm tối.

Người làm vườn già trừng trừng dán chặt mắt nhìn vào chiếc vòng cổ đá ấy. Đôi mắt mờ đục của cụ mở to ra đến cực điểm, đồng tử co rút lại vì kinh hoàng, choáng váng và sững sờ tột độ.

*Choảng!*

Chiếc giỏ tre đan dày đựng đầy những hạt giống quý giá trên tay người làm vườn già lập tức trượt khỏi những ngón tay run rẩy mất hết cảm giác, rơi cắm thẳng xuống nền đá sa thạch gồ ghề, làm hàng trăm hạt giống văng tung tóe khắp chân vách núi hoang tàn.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn